lOMoARcPSD| 58675420
Ôn KTCT
Chương 2
Hàng hóa sản phẩm của lao động, thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó
của con người và có thể trao đổi với sản phẩm khác. Hàng hóa là phạm trù
kinh tế trung tâm khi nghiên cứu về sản xuất hàng hóa và nền kinh tế hàng
hóa.
Hàng hóa hai thuộc tính giá trị sử dụng giá trị. Giá trị sử dụng công
dụng của vật phẩm, ththỏa mãn nhu cầu cho sản xuất hoặc nhu cầu tiêu dùng
của con người. Giá trị là lao động trừu tượng của người sản xuất kết tinh trong
hàng hóa, biểu thị mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất trao đổi
hàng hóa. Hàng hóa hai thuộc tính là do lao động của người sản xuất hàng hóa
tính hai mặt, lao động cụ thể và lao động trừu tượng; lao động cụ thể tạo ra giá
trị sử dụng, lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng a. Việc phát hiện ra tính hai
mặt của lao động sản xuất hàng hóa là phát kiến quan trọng của C.Mác, giúp ông
luận giải triệt đvà khoa học về nguồn gốc, bản chất của giá trị - điều các nhà
kinh tế học trước Mác chưa giải quyết được. Trên thị trường, bên cạnh những
hàng hóa thông thường còn một số loại hàng hóa những thuộc tính hoặc
chức năng đặc biệt cũng được trao đổi, mua bán. Những hàng hóa này được coi
hàng hóa đặc biệt như dịch vụ, tiền tệ, sức lao động, đất đai, c phiếu, trái
phiếu... Nghiên cứu về các hàng hóa đặc biệt này có tác dụng hiểu hơn về tính
đa dạng của hàng hóa và thị trường trao đổi, mua bán chúng.
Thị trường đầu ra của sản xuất, là cầu nối giữa sản xuất tiêu dùng.
Không có thị trường thì sản xuất và trao đổi hàng hóa không thể tiến hành
trôi chảy được. Trên thị trường, các quy luật kinh tế hoạt động, tác động
lẫn nhau điều tiết toàn bộ quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu
dùng.
Vai trò của thị trường: một nền kinh tế dựa vào hoạt động của thị trường, chịu sự
điều tiết của các quy luật kinh tế trên thị trường được gọi nền kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triên cao của kinh tế hàng hóa; đó, mọi quan
hệ kinh tế đều được thực hiện trên thị trường, dưới hình thức quan hệ hàng hóa -
tiền tệ. Kinh tế thị trường có nhiều ưu thế trong phát triển sản xuất, đi mới công
nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm... nhằm đáp ứng
ngày càng đầy đủ hơn nhu câu hội. Tuy nhiên, kinh tê thị trường cũng đi liền
với những hạn chế nnh tự phát, chỉ quan tâm lợi ích trước mắt, bỏ qua lợi ích
lâu dài, làm tổn hại môi trường tự nhiên... Những hạn chế này thể khắc phục
lOMoARcPSD| 58675420
thông qua phát huy vai trò kinh tế của nhà nước, các tổ chức hội các thiết
chế kinh tế khác trong xã hội.
Vai trò của một số chủ thể chính tham gia thị trường:
- Người tiêu dùng có vai trò rất quan trọng trong định hướng sản xuất. Họ là
người đặt hàng chủ yếu của các doanh nghiệp, các hãng sản xuất trên thị
trường. Với tư cách là người mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ của doanh
nghiệp, người tiêu dùng có thể đưa ra ý kiến góp ý chính xác về sản phẩm,
dịch vụ đang sử dụng. Tùy thuộc vào thị hiếu tiêu dùng và ý kiến thu thập
được từ phía người tiêu dùng, người sản xuất có thể điều chỉnh lại phương
pháp sản xuất, hoàn thiện sản phẩm của nh cho phù hợp nhu cầu của
người tiêu dùng.
- Vai trò của thương nhân: sự xuất hiện của của các thương nhân giúp những
người sản xuất chỉ chuyên tâm vào sản xuất, không phải quan tâm đến khâu
tiêu thụ sản phẩm nên rút ngắn được thời gian lưu thông, tăng nhanh vòng
quay của vốn. Đồng thời, năng lục sản xuất không bị phân tán; các điều
kiện vvốn, công nghệ, kỹ năng quản lý... được tập trung vào sản xuất,
góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất.
- Vai trò quan trọng nhất của nnước điều tiết nền kinh tế thông
qua các công cụ, chính sách ca mình thực hiện các chức năng cơ bản
gồm: chức năng hiệu quả, chức năng công bằng, chức năng ổn định, chức
năng định hướng.
Liên hệ với kinh tế VN:
Chương 3
bản bất biến: Bộ phận bản tồn tại dưới hình thải liệu sản xuất
giá trị được lao động cụ thể của công nhân làm thuê bảo tồn chuyển
nguyên vẹn vào giá trị sản phẩm, tức giá trị không biến đổi trong quá
trình sản xuất( hiệu là c).
bản khả biến: Bộ phận bản tồn tại dưới hình thái sức lao động không tái
hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng của công nhân tăng lên, tức biến
đổi về số lượng trong quá trình sản xuất, được Mác gọi bản khả biến (kỷ
hiệu là v).
Mối quan hệ giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến: tư bản bất biến là điều kiện
cần thiết khỏng thể thiếu được để sản xuất ra giá trị thặng dư, còn bản khbiến
có vai trò quyết định trong quá trình đó, vì chính là bộ phận tư bản đã lớn lên.
lOMoARcPSD| 58675420
bản cố định: bộ phận bản sản xuất tồn tại dưới hình thái liệu lao động
tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất nhưng giá trị của nó chỉ chuyển dần dần,
từng phần vào giá trị sản phẩm theo mức độ hao mòn.
bản lưu động: bộ phận bản sản xuất tồn tại dưới hình thái sức lao động,
nguyên nhiên vật liệu, vật liệu phụ... , giá trị của được chuyển một lần, toàn
phần vào giá tr sản phẩm khi kết thúc từng quá trình sản xuất.
Bản chất giá trị thặng dư: Giá trị thặng bản chất kinh tế - hội
quan hệ giai cấp, trong đó giai cấp các nhà tư bản làm giàu dựa trên cơ sở
thuê mướn lao động.
Các phương thức sản xuất giá trị thặng dư: sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và
sản xuất giá trị thặng dư tương đối.
Sản xuất giá trị thặng tuyệt đối: giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày
lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, gtrị
sức lao động và thời gian lao động tắt yếu không thay đổi.
Sản xuất giá trị thặng dư tương đối: là giá trị thặng dư thu được nhờ rút ngắn thời
gian lao động tất yếu; do đổ kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi độ dài
ngày lao động không thay đổi hoặc thậm chí rút ngắn.
Tiền công trong chủ nghĩa bản: là giá trị thặng thu được nhờ rút ngắn thời
gian lao động tất yếu; do đổ kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi độ dài
ngày lao động không thay đổi hoặc thậm chí rút ngắn.
Tích lũy tư bản: là tư bản hóa giá trị thặng dư.
Nhân tố tăng lên tích lũy tư bản:
- Thứ nhất, nâng cao tỷ suất gtrị thặng bằng cách cắt xén tiền công,
tăng thời gian sử dụng tư liệu lao động trong ngày.
- Thứ hai, nâng cao năng suất lao động.
- Thứ ba, chênh lệch ngày càng lớn giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng.
- Thứ tư, đại lưọng tư bản ứng trước.
Lợi nhuận:
- Bản chất và biểu hiện: Khi giá trị hàng hóa biểu hiện thành: w = k + m, thì
giá trị thặng được biểu hiện như phần lớn thêm lên của số tư bản đã
được chi phí, từ lưu thông; hoặc phần giá trị tăng thêm của toàn bộ
bản, do bản thân tư bản sinh ra.
lOMoARcPSD| 58675420
Vai trò: vừa mục têu, vừa động lực, vừa điều kiện tồn tại phát
triển của doanh nghiệp, chỉ tiêu kinh tế bản đánh giá hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Liên hệ với kinh tế VN:
Chương 4:
Độc quyền: là sự liên minh giữa các doanh nghiệp lởn, nắm trong tay phần lớn việc sản xuất
êu thụ một sổ loại hàng hoá, có khả năng định ra giá cả độc quyền, nhằm thu lợi nhuận độc quyn
cao.
Đặc điểm của đc quyền:
- Đặc điểm thứ nhất là: Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền.
- Đặc điểm thứ hai là: Tư bản tài chỉnh và bọn tài phiệt.
- Đặc điểm thứ ba là: Xuất khẩu tư bản.
- Đặc điểm thứ là: Sự phân chia thế giới vkinh tế giữa các tập đoàn
bản độc quyền.
- Đặc điểm thứ năm là: Sự phân chia thế giới về lãnh th giữa các cường
quốc tư bản.
Tác động của đc quyền:
Tác động tích cực:
- Tạo ra khả năng to lớn trong việc nghiên cứu và triển khai các hoạt
động khoa học kỹ thuật, thúc đẩy sự tiến bộ kỹ thuật.
- Các tổ chức độc quyền khả năng tập trung được các nguồn lực,
đặc biệt là nguồn lực vtài chính trong việc nghiên cứu triển khai
các hoạt động khoa học kỹ thuật, thúc đẩy sự tiến bộ kỹ thuật.
- Độc quyền làm tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh
tranh.
- Độc quyền tạo được sức mạnh góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát
triển theo hướng sản xuất lớn hiện đại.
Tác động tiêu cực:
- Độc quyền xuất hiện làm cho cạnh tranh không hoàn hảo gây thiệt hại
cho người tiêu dùng và xã hội.
- Độc quyền đã phần nào kìm hãm sự tiến bộ kỹ thuật, theo đó kìm hãm
sự phát triển kinh tế, xã hội.
- Độc quyền chi phổi các quan hệ kinh tế, hội, làm tăng sự phân hóa
giàu nghèo.
Bản chất và biểu hiện độc quyền tư bản nhà nước trong CNTB:
lOMoARcPSD| 58675420
-
Bản chất: Chủ nghĩa bản độc quyền nhà nước sự kết hợp giữa các tổ chức
độc quyền tư nhân với nhà nước tư bản thành một thể chế thống nhất nhằm phục
vụ lợi ích của các tổ chức độc quyền tiếp tục duy trì, phát triển chnghĩa
bản.
Biểu hiện:
- Sự kết hợp về nhân sự giữa tổ chức độc quyền và nhà nước
- Sự hình thành, phát triển sở hữu nhà nước và thị trường nhà nước
- Sự điều tiết kinh tế ca nhà nước tư sản Vai trò lịch sử của cntb:
Mặt tích cực:
- Chuyển nền sản xuất nhỏ thành nền sản xuất lớn hiện đại -
Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng.
- Thực hiện xã hội hóa sản xuất.
Mặt hạn chế:
- Mục đích của nền sản xuất bản chủ nghĩa chyếu là vì lợi ích của
thiểu sổ giai cấp sản, không phải lợi ích của đại đa sổ quần
chúng nhân dân lao động.
- Chủ nghĩa tư bản cũng đã ít nhiều m hãm sự phát triển kinh tế -
hội
- Chủ nghĩa tư bản là một trong những nguyên nhân chỉnh của hầu hết
các cuộc chiến tranh trên thế giới.
- Chủ nghĩa bản cũng một trong những nguyên nhân chủ yếu của
sự phân a giàu nghèo ở chỉnh ngay trong lòng các nước tư bản và
giữa các quốc 149 gia trên thế giới.
Liên hệ với kinh tế việt nam:
Chương 5:
Khái niệm: là mô hình kinh tế tống quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam; nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh
tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; là nền kinh tế thị
trường hiện đại hội nhập quốc tế; sự quản của nhà nước pháp quyền
hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; nhằm mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Tính tất yếu khách quan:
lOMoARcPSD| 58675420
Một là: Phát triển kinh tế thị trường định hưởng hội chủ nghĩa tất yếu,
phù hợp với quy luật khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội
Việt Nam.
- Hai là: Phát triển kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa ỉà phương
tiện để đi đến mục tiêu của chủ nghĩa xã hội một cách có hiệu quả.
- Ba là: Phát triển kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa Việt Nam
sự lựa chọn định hướng phát triên hoàn toàn phũ hợp với quy luật phát
triển khách quan và xu thế tất yếu của thời đại.
Đặc trưng:
- Về mục đích: Kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa phưong
tiện để phát ưiển lực lượng sản xuất, xây dựng co sở vật chất - kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội; nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
- Về quan hệ sở hữu và thành phần kinh tế.
- Về quan hệ quản lý nền kinh tế
- Về quan hệ phân phổi
- Về tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội.
Sự cần thiết:
- Thứ nhất: Kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa ở Việt Nam
một nền kinh tế thị trường hiện đại, một mặt phải được vận 179 hành
theo các quy luật thị trường, mặt khác phải có sự quản lý, điều tiết của nhà
nuớc pháp quyền xã hi chủ nghĩa. Nhà nuớc quản lý, điều tiết nền kinh tế
thị truờng bằng pháp luật, chiến luợc, quy hoạch, kế hoạch và các công c
khác để giảm thiểu các thất bại của thị truờng, thực hiện công bằng xã hội.
Do đó, cần phải xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị truờng để phát
huy mặt tích cực, khắc phục mặt tiêu cực và khuyết tật của nó.
- Thứ hai Xuất phát từ yêu cầu nâng cao năng lực quản của nhà nuớc ữong
nền kinh tế thị truờng định huớng xã hội chủ nghĩa. Bởi YÌ, thể chế kinh tế
thị trường sản phẩm của nhà nước, nhà nước yới cách tác giả của
thể chế chính thức đưong nhiên nhân tố quyết định số, chất lượng của
thể chế cũng như toàn btiến trình xây dựng hoàn thiện thể chế. Với
bản chất nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân và do vậy thể chế kinh tế thị trường
ở Việt Nam phải thể chế phục vụ lợi ích, lợi ích của nhân dân. Trình
độ và năng lực tổ chức và quản lý nền kinh tế thị trường của nhà nước thể
hiện chủ yếu ở năng lực xây dựng và thực thi thể chế. Do
lOMoARcPSD| 58675420
-
vậy, nhà nước phải xây dựng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường để
thực hiện mục tiêu của nền kinh tế.
- Thứ ba: Xuất phát từ sự phát triển của các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội
- nghề nghiệp, các tổ chức này ngày càng vai trò quan trọng trong xây
dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường như đóng góp xây dựng, hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường; phản biện chính sách công; là cầu nối giữa
nhà nước, chính phủ với quần chúng nhân dân, với các tổ chức trong
ngoài nước.
Nội dung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường:
Kinh tế thị trường được xác lập trên nền tảng quan hệ giá trbiểu hiện của nó
quan hệ hàng hóa - tiền tệ, đằng sau quan hệ này chính các chủ thể kinh tế
sở hữu hàng hóa, tài sản hay vốn...BỞI vậy, điều tiên quyết của thể chế kinh tế
thị trường thể chế hóa về quyền sở hữu đối với vốn, tài sản, trí tuệ... nói
chung đối với của cải (hữu hình và hình). Đây sở của mọi quan hệ,
liên hệ, giao dịch lợi ích kinh tế của các chủ thể tham gia thị trường, định
dạng cơ sở của trò chơi, luật chơi của kinh tế thị trường. Khi của cải không được
luật pháp bảo vệ, lợi ích của các chủ thể bị xâm hại và không có sự phân định rõ
ràng thì bản thân kinh tế thị trường không thể tồn tại. Bởi vậy, thể chế về quyền
sở hữu vốn, tài sản hay của cải nói chung của các chủ thể tham gia thị trường
nền tảng của thể chế kinh tế thị trường. Cùng với thể chế về sở hữu - nền tảng của
thể chế kinh tế thị trường, thể chế về chủ thể kinh doanh (các thành phần kinh tế,
các loại hình doanh nghiệp) là yếu tố cấu thành nội dung chủ yếu của thế chế kinh
tế thị trường. Thị truờng là khâu trung tâm của thể chế kinh tế thị truờng. Sự vận
hành của thị truờng là linh hồn của cơ chế thị truờng. Sự phát triển các yếu tố thị
truờng, các loại thị truờng trở thành khâu quyết định của sự phát triển của kinh tế
thị truờng. Bởi vậy, cùng với sự phát triển của kinh tế thị truờng đòi hỏi một mặt,
các loại thị truờng chức năng phải có sự phát triển đồng bộ và mặt khác, để phát
triển phải một môi truờng pháp thích úng, phải đuợc đặt trong những thể
chế nhất định.
Lợi ích kinh tế: là phạm trù kinh tế xuất hiện khi các hoạt động kinh tế mang tỉnh
hội; phương thức mức độ thoả mãn các nhu cầu vật chất của con người
được quy định bởi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất địa vị của họ trong
hệ thống các quan hệ sản xuất xã hội; là kết quả trực tiếp của quan hệ phân phổi
và được thể hiện bằng thu nhập; là động lực của các hoạt động kinh tế khi sự
công bằng, hợp lỷ và đồng thuận của các chủ thể trong phân phổi thu nhập.
lOMoARcPSD| 58675420
Những đặc trưng:
Lợi ích kinh tế mang tính khách quan.
- Lợi ích kinh tế kết quả trực tiếp của quan hệ phân phổi -
Lợi ích kinh tế là quan hệ xã hội.
- Lợi ích kinh tế mang tỉnh lịch sử.
Vai trò của lợi ích kinh tế:
- Lợi ích kinh tế là mục tiêu của các hoạt động kinh tế. - Lợi ích
kinh tế là động lực của các hoạt động kinh tế - Lợi ích kinh tế
là động lực của các hoạt động xã hi.
- Lợi ích kinh tế còn sở thực hiện lợi ích chính trị, lợi ích
hội, lợi ích văn hóa.
Liên hệ với kinh tế VN:
Chương 6:
Tính tất yếu khách quan:
Sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của các cuộc cách mạng công
nghiệp nhân tbản thúc đẩy quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hỏa kinh tế,
phân công lao động hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng. Hội nhập kinh tế quốc
tế trở thành xu ớng khách quan của thời đại. Việc nhận thức bản chất, vai trò
những tác động, yêu cầu của cách mạng công nghiệp, đặc biệt cách mạng
công nghiệp lần thứ hội nhập kinh tế quốc tế có nghĩa to lớn trong việc
xây dựng đường lối, chính sách phát triển kinh tế hội của Đảng nhà nước,
đồng thời những chỉ dẫn quan trọng cho sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp.
Nội dung:
- Thúc đẩy sự phát triền lực lượng sản xuất.
- Thúc đẩy hoàn thiện quan hệ sản xuất.
- Thúc đẩy đổi mới phương thức quản trị phát triển.
CNH- HĐH ở VN trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần IV:
Cách mạng công nghiệp 4.0 là xu thế công nghệ tất yếu mà Việt Nam phải hướng
đến để bắt kịp các nước phát triển trên thế giới. Tuy nhiên, cách mạng công nghiệp
4.0 cũng mang đến nhiều thách thức cho các tổ chức và doanh nghiệp Việt Nam,
đặc biệt về vấn đề htầng công nghệ, an toàn và an ninh thông tin cũng như thích
ứng tận dụng hội mà làn sóng công nghệ 4.0 mang lại. Chính phủ Việt Nam
lOMoARcPSD| 58675420
-
khẳng định: Cách mạng công nghiệp 4.0 là cơ hội thực hiện khát vọng phồn vinh
của dân tộc, chính phủ sẽ cởi mở, sẵn sàng thay đổi và phát triển kinh tế số.
Khái niệm sự hội nhập kinh tế:
Hội nhập kinh tế quốc tế quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng Ciĩờng
sự gắn kết giữa các nền kinh tế của các quốc gia với nhau dựa trên sự chia s
nguồn lực và lợi ích trên cơ sở tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các
định chế hoặc tổ chức quốc tế.
Sự cần thiết khách quan của hội nhập kinh tế:
- Sự phát triển của phân công lao động quốc tế.
- Hội nhập kinh tế quốc tế là đòi hỏi khách quan của toàn cầu hóa kinh tế.
- Hội nhập kinh tế quốc tế phương thức phát triển chủ yếu phổ biến của
các nước, nhất là các nước đang kém phát triển trong điều kiện hiện nay.
Liên hệ

Preview text:

lOMoAR cPSD| 58675420 Ôn KTCT Chương 2
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó
của con người và có thể trao đổi với sản phẩm khác. Hàng hóa là phạm trù
kinh tế trung tâm khi nghiên cứu về sản xuất hàng hóa và nền kinh tế hàng hóa.
Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị. Giá trị sử dụng là công
dụng của vật phẩm, có thể thỏa mãn nhu cầu cho sản xuất hoặc nhu cầu tiêu dùng
của con người. Giá trị là lao động trừu tượng của người sản xuất kết tinh trong
hàng hóa, biểu thị mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất và trao đổi
hàng hóa. Hàng hóa có hai thuộc tính là do lao động của người sản xuất hàng hóa
có tính hai mặt, lao động cụ thể và lao động trừu tượng; lao động cụ thể tạo ra giá
trị sử dụng, lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hóa. Việc phát hiện ra tính hai
mặt của lao động sản xuất hàng hóa là phát kiến quan trọng của C.Mác, giúp ông
luận giải triệt để và khoa học về nguồn gốc, bản chất của giá trị - điều mà các nhà
kinh tế học trước Mác chưa giải quyết được. Trên thị trường, bên cạnh những
hàng hóa thông thường còn có một số loại hàng hóa có những thuộc tính hoặc
chức năng đặc biệt cũng được trao đổi, mua bán. Những hàng hóa này được coi
là hàng hóa đặc biệt như dịch vụ, tiền tệ, sức lao động, đất đai, cổ phiếu, trái
phiếu... Nghiên cứu về các hàng hóa đặc biệt này có tác dụng hiểu rõ hơn về tính
đa dạng của hàng hóa và thị trường trao đổi, mua bán chúng.
Thị trường là đầu ra của sản xuất, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng.
Không có thị trường thì sản xuất và trao đổi hàng hóa không thể tiến hành
trôi chảy được. Trên thị trường, các quy luật kinh tế hoạt động, tác động
lẫn nhau và điều tiết toàn bộ quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng.
Vai trò của thị trường: một nền kinh tế dựa vào hoạt động của thị trường, chịu sự
điều tiết của các quy luật kinh tế trên thị trường được gọi là nền kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triên cao của kinh tế hàng hóa; ở đó, mọi quan
hệ kinh tế đều được thực hiện trên thị trường, dưới hình thức quan hệ hàng hóa -
tiền tệ. Kinh tế thị trường có nhiều ưu thế trong phát triển sản xuất, đổi mới công
nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm... nhằm đáp ứng
ngày càng đầy đủ hơn nhu câu xã hội. Tuy nhiên, kinh tê thị trường cũng đi liền
với những hạn chế như tính tự phát, chỉ quan tâm lợi ích trước mắt, bỏ qua lợi ích
lâu dài, làm tổn hại môi trường tự nhiên... Những hạn chế này có thể khắc phục lOMoAR cPSD| 58675420
thông qua phát huy vai trò kinh tế của nhà nước, các tổ chức xã hội và các thiết
chế kinh tế khác trong xã hội.
Vai trò của một số chủ thể chính tham gia thị trường: -
Người tiêu dùng có vai trò rất quan trọng trong định hướng sản xuất. Họ là
người đặt hàng chủ yếu của các doanh nghiệp, các hãng sản xuất trên thị
trường. Với tư cách là người mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ của doanh
nghiệp, người tiêu dùng có thể đưa ra ý kiến góp ý chính xác về sản phẩm,
dịch vụ đang sử dụng. Tùy thuộc vào thị hiếu tiêu dùng và ý kiến thu thập
được từ phía người tiêu dùng, người sản xuất có thể điều chỉnh lại phương
pháp sản xuất, hoàn thiện sản phẩm của mình cho phù hợp nhu cầu của người tiêu dùng. -
Vai trò của thương nhân: sự xuất hiện của của các thương nhân giúp những
người sản xuất chỉ chuyên tâm vào sản xuất, không phải quan tâm đến khâu
tiêu thụ sản phẩm nên rút ngắn được thời gian lưu thông, tăng nhanh vòng
quay của vốn. Đồng thời, năng lục sản xuất không bị phân tán; các điều
kiện về vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý... được tập trung vào sản xuất,
góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất. -
Vai trò quan trọng nhất của nhà nước là điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông
qua các công cụ, chính sách của mình và thực hiện các chức năng cơ bản
gồm: chức năng hiệu quả, chức năng công bằng, chức năng ổn định, chức năng định hướng.
Liên hệ với kinh tế VN: Chương 3
Tư bản bất biến: Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thải tư liệu sản xuất mà
giá trị được lao động cụ thể của công nhân làm thuê bảo tồn và chuyển
nguyên vẹn vào giá trị sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi trong quá
trình sản xuất(ký hiệu là c).
Tư bản khả biến: Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái sức lao động không tái
hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng của công nhân mà tăng lên, tức biến
đổi về số lượng trong quá trình sản xuất, được Mác gọi là tư bản khả biến (kỷ hiệu là v).
Mối quan hệ giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến: tư bản bất biến là điều kiện
cần thiết khỏng thể thiếu được để sản xuất ra giá trị thặng dư, còn tư bản khả biến
có vai trò quyết định trong quá trình đó, vì nó chính là bộ phận tư bản đã lớn lên. lOMoAR cPSD| 58675420
Tư bản cố định: bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới hình thái tư liệu lao động
tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất nhưng giá trị của nó chỉ chuyển dần dần,
từng phần vào giá trị sản phẩm theo mức độ hao mòn.
Tư bản lưu động: bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới hình thái sức lao động,
nguyên nhiên vật liệu, vật liệu phụ... , giá trị của nó được chuyển một lần, toàn
phần vào giá trị sản phẩm khi kết thúc từng quá trình sản xuất.
Bản chất giá trị thặng dư: Giá trị thặng dư có bản chất kinh tế - xã hội là
quan hệ giai cấp, trong đó giai cấp các nhà tư bản làm giàu dựa trên cơ sở thuê mướn lao động.
Các phương thức sản xuất giá trị thặng dư: sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và
sản xuất giá trị thặng dư tương đối.
Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày
lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị
sức lao động và thời gian lao động tắt yếu không thay đổi.
Sản xuất giá trị thặng dư tương đối: là giá trị thặng dư thu được nhờ rút ngắn thời
gian lao động tất yếu; do đổ kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi độ dài
ngày lao động không thay đổi hoặc thậm chí rút ngắn.
Tiền công trong chủ nghĩa tư bản: là giá trị thặng dư thu được nhờ rút ngắn thời
gian lao động tất yếu; do đổ kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi độ dài
ngày lao động không thay đổi hoặc thậm chí rút ngắn.
Tích lũy tư bản: là tư bản hóa giá trị thặng dư.
Nhân tố tăng lên tích lũy tư bản:
- Thứ nhất, nâng cao tỷ suất giá trị thặng dư bằng cách cắt xén tiền công,
tăng thời gian sử dụng tư liệu lao động trong ngày.
- Thứ hai, nâng cao năng suất lao động.
- Thứ ba, chênh lệch ngày càng lớn giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng.
- Thứ tư, đại lưọng tư bản ứng trước. Lợi nhuận:
- Bản chất và biểu hiện: Khi giá trị hàng hóa biểu hiện thành: w = k + m, thì
giá trị thặng dư được biểu hiện như là phần lớn thêm lên của số tư bản đã
được chi phí, từ lưu thông; hoặc là phần giá trị tăng thêm của toàn bộ tư
bản, do bản thân tư bản sinh ra. lOMoAR cPSD| 58675420
Vai trò: vừa là mục têu, vừa là động lực, vừa là điều kiện tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp, là chỉ tiêu kinh tế cơ bản đánh giá hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Liên hệ với kinh tế VN: Chương 4:
Độc quyền: là sự liên minh giữa các doanh nghiệp lởn, nắm trong tay phần lớn việc sản xuất và 琀
椀 êu thụ một sổ loại hàng hoá, có khả năng định ra giá cả độc quyền, nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao.
Đặc điểm của độc quyền:
- Đặc điểm thứ nhất là: Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền.
- Đặc điểm thứ hai là: Tư bản tài chỉnh và bọn tài phiệt.
- Đặc điểm thứ ba là: Xuất khẩu tư bản.
- Đặc điểm thứ tư là: Sự phân chia thế giới về kinh tế giữa các tập đoàn tư bản độc quyền.
- Đặc điểm thứ năm là: Sự phân chia thế giới về lãnh thổ giữa các cường quốc tư bản.
Tác động của độc quyền: • Tác động tích cực:
- Tạo ra khả năng to lớn trong việc nghiên cứu và triển khai các hoạt
động khoa học kỹ thuật, thúc đẩy sự tiến bộ kỹ thuật.
- Các tổ chức độc quyền có khả năng tập trung được các nguồn lực,
đặc biệt là nguồn lực về tài chính trong việc nghiên cứu và triển khai
các hoạt động khoa học kỹ thuật, thúc đẩy sự tiến bộ kỹ thuật.
- Độc quyền làm tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Độc quyền tạo được sức mạnh góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát
triển theo hướng sản xuất lớn hiện đại. • Tác động tiêu cực:
- Độc quyền xuất hiện làm cho cạnh tranh không hoàn hảo gây thiệt hại
cho người tiêu dùng và xã hội.
- Độc quyền đã phần nào kìm hãm sự tiến bộ kỹ thuật, theo đó kìm hãm
sự phát triển kinh tế, xã hội.
- Độc quyền chi phổi các quan hệ kinh tế, xã hội, làm tăng sự phân hóa giàu nghèo.
Bản chất và biểu hiện độc quyền tư bản nhà nước trong CNTB: lOMoAR cPSD| 58675420 -
Bản chất: Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự kết hợp giữa các tổ chức
độc quyền tư nhân với nhà nước tư bản thành một thể chế thống nhất nhằm phục
vụ lợi ích của các tổ chức độc quyền và tiếp tục duy trì, phát triển chủ nghĩa tư bản. Biểu hiện:
- Sự kết hợp về nhân sự giữa tổ chức độc quyền và nhà nước
- Sự hình thành, phát triển sở hữu nhà nước và thị trường nhà nước
- Sự điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản Vai trò lịch sử của cntb: • Mặt tích cực:
- Chuyển nền sản xuất nhỏ thành nền sản xuất lớn hiện đại -
Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng.
- Thực hiện xã hội hóa sản xuất. • Mặt hạn chế:
- Mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa chủ yếu là vì lợi ích của
thiểu sổ giai cấp tư sản, không phải vì lợi ích của đại đa sổ quần
chúng nhân dân lao động.
- Chủ nghĩa tư bản cũng đã ít nhiều kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội
- Chủ nghĩa tư bản là một trong những nguyên nhân chỉnh của hầu hết
các cuộc chiến tranh trên thế giới.
- Chủ nghĩa tư bản cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu của
sự phân hóa giàu nghèo ở chỉnh ngay trong lòng các nước tư bản và
giữa các quốc 149 gia trên thế giới.
Liên hệ với kinh tế việt nam: Chương 5:
Khái niệm: là mô hình kinh tế tống quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam; là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh
tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; là nền kinh tế thị
trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; nhằm mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Tính tất yếu khách quan: lOMoAR cPSD| 58675420
Một là: Phát triển kinh tế thị trường định hưởng xã hội chủ nghĩa là tất yếu,
phù hợp với quy luật khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Hai là: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ỉà phương
tiện để đi đến mục tiêu của chủ nghĩa xã hội một cách có hiệu quả.
- Ba là: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
là sự lựa chọn định hướng phát triên hoàn toàn phũ hợp với quy luật phát
triển khách quan và xu thế tất yếu của thời đại. Đặc trưng:
- Về mục đích: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phưong
tiện để phát ưiển lực lượng sản xuất, xây dựng co sở vật chất - kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội; nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
- Về quan hệ sở hữu và thành phần kinh tế.
- Về quan hệ quản lý nền kinh tế - Về quan hệ phân phổi
- Về tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội. Sự cần thiết:
- Thứ nhất: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là
một nền kinh tế thị trường hiện đại, một mặt nó phải được vận 179 hành
theo các quy luật thị trường, mặt khác phải có sự quản lý, điều tiết của nhà
nuớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhà nuớc quản lý, điều tiết nền kinh tế
thị truờng bằng pháp luật, chiến luợc, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ
khác để giảm thiểu các thất bại của thị truờng, thực hiện công bằng xã hội.
Do đó, cần phải xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị truờng để phát
huy mặt tích cực, khắc phục mặt tiêu cực và khuyết tật của nó.
- Thứ hai Xuất phát từ yêu cầu nâng cao năng lực quản lý của nhà nuớc ữong
nền kinh tế thị truờng định huớng xã hội chủ nghĩa. Bởi YÌ, thể chế kinh tế
thị trường là sản phẩm của nhà nước, nhà nước yới tư cách là tác giả của
thể chế chính thức đưong nhiên là nhân tố quyết định số, chất lượng của
thể chế cũng như toàn bộ tiến trình xây dựng và hoàn thiện thể chế. Với
bản chất nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân và do vậy thể chế kinh tế thị trường
ở Việt Nam phải là thể chế phục vụ lợi ích, vì lợi ích của nhân dân. Trình
độ và năng lực tổ chức và quản lý nền kinh tế thị trường của nhà nước thể
hiện chủ yếu ở năng lực xây dựng và thực thi thể chế. Do lOMoAR cPSD| 58675420 -
vậy, nhà nước phải xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường để
thực hiện mục tiêu của nền kinh tế.
- Thứ ba: Xuất phát từ sự phát triển của các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội
- nghề nghiệp, các tổ chức này ngày càng có vai trò quan trọng trong xây
dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường như đóng góp xây dựng, hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường; phản biện chính sách công; là cầu nối giữa
nhà nước, chính phủ với quần chúng nhân dân, với các tổ chức trong và ngoài nước.
Nội dung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường:
Kinh tế thị trường được xác lập trên nền tảng quan hệ giá trị mà biểu hiện của nó
là quan hệ hàng hóa - tiền tệ, đằng sau quan hệ này chính là các chủ thể kinh tế
sở hữu hàng hóa, tài sản hay vốn...BỞI vậy, điều tiên quyết của thể chế kinh tế
thị trường là thể chế hóa về quyền sở hữu đối với vốn, tài sản, trí tuệ... và nói
chung là đối với của cải (hữu hình và vô hình). Đây là cơ sở của mọi quan hệ,
liên hệ, giao dịch và lợi ích kinh tế của các chủ thể tham gia thị trường, nó định
dạng cơ sở của trò chơi, luật chơi của kinh tế thị trường. Khi của cải không được
luật pháp bảo vệ, lợi ích của các chủ thể bị xâm hại và không có sự phân định rõ
ràng thì bản thân kinh tế thị trường không thể tồn tại. Bởi vậy, thể chế về quyền
sở hữu vốn, tài sản hay của cải nói chung của các chủ thể tham gia thị trường là
nền tảng của thể chế kinh tế thị trường. Cùng với thể chế về sở hữu - nền tảng của
thể chế kinh tế thị trường, thể chế về chủ thể kinh doanh (các thành phần kinh tế,
các loại hình doanh nghiệp) là yếu tố cấu thành nội dung chủ yếu của thế chế kinh
tế thị trường. Thị truờng là khâu trung tâm của thể chế kinh tế thị truờng. Sự vận
hành của thị truờng là linh hồn của cơ chế thị truờng. Sự phát triển các yếu tố thị
truờng, các loại thị truờng trở thành khâu quyết định của sự phát triển của kinh tế
thị truờng. Bởi vậy, cùng với sự phát triển của kinh tế thị truờng đòi hỏi một mặt,
các loại thị truờng chức năng phải có sự phát triển đồng bộ và mặt khác, để phát
triển phải có một môi truờng pháp lý thích úng, phải đuợc đặt trong những thể chế nhất định.
Lợi ích kinh tế: là phạm trù kinh tế xuất hiện khi các hoạt động kinh tế mang tỉnh
xã hội; là phương thức và mức độ thoả mãn các nhu cầu vật chất của con người
được quy định bởi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và địa vị của họ trong
hệ thống các quan hệ sản xuất xã hội; là kết quả trực tiếp của quan hệ phân phổi
và được thể hiện bằng thu nhập; là động lực của các hoạt động kinh tế khi có sự
công bằng, hợp lỷ và đồng thuận của các chủ thể trong phân phổi thu nhập. lOMoAR cPSD| 58675420 Những đặc trưng:
Lợi ích kinh tế mang tính khách quan.
- Lợi ích kinh tế là kết quả trực tiếp của quan hệ phân phổi -
Lợi ích kinh tế là quan hệ xã hội.
- Lợi ích kinh tế mang tỉnh lịch sử.
Vai trò của lợi ích kinh tế:
- Lợi ích kinh tế là mục tiêu của các hoạt động kinh tế. - Lợi ích
kinh tế là động lực của các hoạt động kinh tế - Lợi ích kinh tế
là động lực của các hoạt động xã hội.
- Lợi ích kinh tế còn là cơ sở thực hiện lợi ích chính trị, lợi ích xã hội, lợi ích văn hóa.
Liên hệ với kinh tế VN: Chương 6:
Tính tất yếu khách quan:
Sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của các cuộc cách mạng công
nghiệp là nhân tổ cơ bản thúc đẩy quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hỏa kinh tế,
phân công lao động và hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng. Hội nhập kinh tế quốc
tế trở thành xu hướng khách quan của thời đại. Việc nhận thức bản chất, vai trò
và những tác động, yêu cầu của cách mạng công nghiệp, đặc biệt là cách mạng
công nghiệp lần thứ tư và hội nhập kinh tế quốc tế có ỷ nghĩa to lớn trong việc
xây dựng đường lối, chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và nhà nước,
đồng thời là những chỉ dẫn quan trọng cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Nội dung:
- Thúc đẩy sự phát triền lực lượng sản xuất.
- Thúc đẩy hoàn thiện quan hệ sản xuất.
- Thúc đẩy đổi mới phương thức quản trị phát triển.
CNH- HĐH ở VN trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần IV:
Cách mạng công nghiệp 4.0 là xu thế công nghệ tất yếu mà Việt Nam phải hướng
đến để bắt kịp các nước phát triển trên thế giới. Tuy nhiên, cách mạng công nghiệp
4.0 cũng mang đến nhiều thách thức cho các tổ chức và doanh nghiệp Việt Nam,
đặc biệt về vấn đề hạ tầng công nghệ, an toàn và an ninh thông tin cũng như thích
ứng và tận dụng cơ hội mà làn sóng công nghệ 4.0 mang lại. Chính phủ Việt Nam lOMoAR cPSD| 58675420 -
khẳng định: Cách mạng công nghiệp 4.0 là cơ hội thực hiện khát vọng phồn vinh
của dân tộc, chính phủ sẽ cởi mở, sẵn sàng thay đổi và phát triển kinh tế số.
Khái niệm sự hội nhập kinh tế:
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng Ciĩờng
sự gắn kết giữa các nền kinh tế của các quốc gia với nhau dựa trên sự chia sẻ
nguồn lực và lợi ích trên cơ sở tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các
định chế hoặc tổ chức quốc tế.
Sự cần thiết khách quan của hội nhập kinh tế:
- Sự phát triển của phân công lao động quốc tế.
- Hội nhập kinh tế quốc tế là đòi hỏi khách quan của toàn cầu hóa kinh tế.
- Hội nhập kinh tế quốc tế là phương thức phát triển chủ yếu và phổ biến của
các nước, nhất là các nước đang và kém phát triển trong điều kiện hiện nay. Liên hệ