






Preview text:
Buổi 1: Những vấn đề chung của TLHLS. Định nghĩa, vai trò, chức năng
1. Khái niệm lâm sàng
-Lâm sàng có nguồn gốc từ thuật ngữ Hy Lạp, có nghĩa là những gì liên quan đến giường (lâm sàng có nghĩa là thăm khám tại giường)
- Theo Đại từ tiếng Việt, Nguyễn Như Ý (1999) lâm sàng có nghĩa là tất cả những gì quan sát được ở bệnh nhân, giường bệnh
-Nguyễn Khắc Viện(2001) cho rằng lâm sàng là một từ y học nguyên nghĩa là khám bệnh nhân đang nằm trên giường, tức tiếp xúc với một con người yêu cầu thầy thuốc cứu chữa một chứng bệnh
2. Phân biệt lâm sàng y học và lâm sàng tâm lý
-Lâm sàng y học: Theo nghĩa hẹp, là hoạt động khám và hỏi chuyện người bệnh, vận dụng 5 giác quan để tìm hiểu người bệnh, tìm hiểu bệnh và các triệu chứng của nó. Theo nghĩa rộng thì lâm sàng là tổng hợp tất cả các thông tin (kể cả cận lâm sàng) để chẩn đoán và có những chỉ định điều trị cụ thể. Cận lâm sàng bao gồm các hoạt động xét nghiệm, đo nhịp tim, siêu âm,...nhằm hỗ trợ bác sĩ khám bệnh (tương tự như các bài test trong tâm lý). Lâm sàng y học bao gồm các hoạt động:
+ Khám
+ Hỏi
+ Xét nghiệm
+ Đưa ra chuẩn đoán
+ Kiểm định các giả thuyết để tìm giả thuyết đúng
+ Trị liệu và theo dõi kết quả
Ký hiệu TD đặt cạnh hình tam giác được bác sĩ viết trong đơn thuốc nghĩa là “theo dõi” tức những giả thuyết bệnh được nghi ngờ và cần kiểm chứng.
-Lâm sàng tâm lý:
+ Loại trừ các nguyên nhân y khoa/ nguyên nhân sinh học bằng cách yêu cầu thân chủ khám các chuyên khoa
+ Quan sát, hỏi chuyện người bệnh và người thân của họ
+ Thu thập các thông tin liên quan đến người bệnh và các thông tin về môi trường hoặc các mối quan hệ liên quan đến người bệnh đó
+ Chẩn đoán (thường trong tâm lý sẽ sử dụng thuật ngữ giả thuyết chẩn đoán để tránh nhầm lẫn với y khoa)
+ Xây dựng kế hoạch trị liệu
+ Tiến hành trị liệu và theo dõi tiến triển
+ Đánh giá hiệu quả trị liệu và điều chỉnh cách trị liệu nếu cần
+ Kết thúc quá trình trị liệu
Công việc của bác sĩ: Nhìn – sờ - gõ - nghe
Công việc của nhà tâm lý: Nghe - nhìn
3. Khái niệm và các lĩnh vực của Tâm lý học lâm sàng
Quan điểm thứ nhất: Tâm lý học lâm sàng là một phương pháp tiếp cận. Đối tượng trợ giúp của nhà tâm lý là bất kỳ cá nhân nào có khó khăn tâm lý cần được trợ giúp. Với Witmer, tâm lý học lâm sàng nghĩa là làm việc với từng trường hợp người bệnh cụ thể bằng phương pháp quan sát và thực nghiệm nhằm tạo ra sự thay đổi tích cực ở họ. Đây là cách định nghĩa TLHLS như là một phương pháp làm việc của nhà tâm lý.
Quan điểm thứ hai: TLH lâm sàng là một lĩnh vực ứng dụng của tâm lý học nghiên cứu các rối loạn tâm lý, cách thức đánh giá và can thiệp chúng. Đối tượng của TLHLS theo quan điểm này là các cá nhân có tâm bệnh. Với quan điểm này:
+ TLHLS được coi là một chuyên ngành của TLH
+ Chuyên nghiên cứu các đặc điểm tâm lý của những người có các rối loạn tâm lý
+ Nghiên cứu các phương pháp và cách thức chẩn đoán các cách lệch lạc tâm lý
+ Ngoài ra, phân loại các hiện tượng tâm lý (với ý nghĩa là các đặc điểm tâm lý cá nhân riêng biệt) và các hội chứng, triệu chứng tâm bệnh
+ Các phương pháp dự phòng và can thiệp tâm lý
+ Các khía cạnh tâm lý và mối quan hệ giữa bệnh cơ thể và bệnh tâm lý
Tâm lý học lâm sàng có một số ngành hẹp:
+ Tâm lý bệnh nhân
+ Tâm lý học về quá trình tương tác trị liệu
+ Bình thường và bệnh lý trong hoạt động tâm lý
+ Tâm bệnh học
+ Tâm lý học về những khác biệt cá nhân
+ Tâm lý lâm sàng gia đình
Chức danh chính thức của nghề là nhà tâm lý lâm sàng và có chứng chỉ hành nghề chính thức, hợp pháp.
Theo hiệp hội tâm lý Mỹ, tâm lý học lâm sàng liên kết lý thuyết và thực hành với mục đích hiểu biết, ngăn ngừa và trợ giúp tâm lý, làm giảm bớt sự đau khổ hay kém thích ứng của chủ thể, làm cho họ hạnh phúc hơn và phát triển được nhân cách của mình.
Tâm lý học lâm sàng là lĩnh vực quan tâm đến mọi mặt: Sinh học, tâm lý, xã hội và hành vi của con người trong suốt quá trình phát triển cá thể của cá nhân, ở mọi văn hóa và trình độ kinh tế - xã hội.
4. Đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ của Tâm lý học lâm sàng
a) Đối tượng nghiên cứu
- Quan điểm phổ biến ở các nước châu Âu như Nga, Đức:
+ Các rối loạn tâm lý và hành vi
+ Các phương pháp, công cụ chẩn đoán và đánh giá các rối loạn tâm lý
+ Các đặc điểm nhân cách, hành vi của người có các rối loạn tâm lý
+ Các biến đổi tâm lý (nhận thức, cảm xúc, hành vi) của người bệnh/người mắc rối nhiễu tâm lý
+ Tác động của các yếu tố tâm lý với sự xuất hiện, tiến triển và trị liệu các rối loạn, rối nhiễu tâm lý. Ví dụ như một đứa trẻ có hành vi bạo lực ở trường học, người ta sẽ nghiên cứu điều gì làm xuất hiện hành vi đó, điều gì làm hành vi đó tiếp diễn nhiều lần, điều gì làm cấp độ nghiêm trọng của hành vi đó ngày càng tăng,...
+ Đặc điểm mối quan hệ giữa người bệnh và môi trường sống của họ
+ Các yếu tố nâng đỡ và làm nặng thêm các rối loạn, rối nhiễu tâm lý
+ Các hoạt động dự phòng các rối nhiễu tâm lý: Các hoạt động phòng ngừa hoặc giúp phát hiện sớm các rối nhiễu tâm lý. Đối với các nhà tâm lý học đường, 80% hoạt động của họ là hoạt động phòng ngừa (thiết kế các chương trình, tọa đàm,... để phòng ngừa các rối nhiễu tâm lý), 15% là làm việc với nhóm người có nguy cơ cao, 5% còn lại là hoạt động chuyên sâu với thân chủ.
-Quan điểm TLHLS là một lĩnh vực ứng dụng của TLH sử dụng các pp lâm sàng để nghiên cứu, thăm khám và trị liệu thì xác định đối tượng rộng hơn:
+ Bất kỳ một hiện tượng tâm lý nào cũng có thể sử dụng tiếp cận của TLHLS để tìm hiểu và giải quyết vấn đề. Đối tượng nghiên cứu có thể là các hiện tượng tâm lý bình thường cũng như các hiện tượng bất thường hay rối nhiễu.
b) Nhiệm vụ
+ Thăm khám, chẩn đoán tâm lý
+ Tham vấn, trị liệu tâm lý
+ Dự phòng, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cộng đồng
+ Chăm chữa, trợ giúp, nâng đỡ cho những đối tượng có khó khăn về tâm lý
+ Vận hành và xây dựng các kỹ thuật trị liệu
+ Thiết kế và áp dụng các phương pháp dự phòng tâm lý để nâng cao tiềm lực và năng lực thích ứng của con người
+ Phục hồi các chức năng tâm lý - xã hội cho người bệnh
+ Xây dựng các nguyên tắc làm việc của nhà tâm lý lâm sàng, thiết kế các phương pháp và công cụ lâm sàng
Như vậy, một nhà tâm lý lâm sàng cần có kiến thức về tâm bệnh học, tâm lý học phát triển. Ví dụ như một đứa trẻ chậm đi thì có thể trẻ đang có các vấn đề ở vùng thần kinh trung ương, trẻ không giữ được đầu nên không thể đứng vững được. Có một số trường hợp trẻ bị chậm nói (3-4 tuổi vẫn không nói được). Biết về tâm lý phát triển tức là biết về các mốc phát triển bình thường của con người, từ đó mới nhận biết được các hiện tượng bất thường trong lâm sàng.
Sức khỏe tâm thần nói chung và các rối loạn tâm thần nói riêng (khái niệm tâm thần bấy lâu được sửdụng rộng rãi trong cộng đồng được định nghĩa là loạn thần, đây là một khái niệm sai). Khái niệm tâm thần bao gồm các hoạt động của hệ thần kinh trung ương, và trầm cảm được tổ chức y tế thế giới định nghĩa là một rối loạn tâm thần phổ biến.
Khi một bệnh nhân trầm cảm tìm đến bác sĩ tâm thần và nhà tâm lý thì đối tượng làm việc của 2 người này là khác nhau. Đối với bác sĩ tâm thần, họ tập trung vào những trục trặc trong việc vận hành các chức năng của não (nguyên nhân sinh lý, quan tâm đến căn bệnh trầm cảm). Đối với nhà tâm lý, họ tập trung vào các nguyên nhân tâm lý như sang chấn, căng thẳng kéo dài, chấn thương tâm lý trong quá khứ,... (tập trung vào con người và các mối quan hệ với con người).
5. Những tiền đề cho sự ra đời của Tâm lý học lâm sàng trên thế giới
Tiền đề cho sự ra đời của tâm lý học lâm sàng được đánh dấu bởi các nghiên cứu của W. Tuke (1732-1822), P. Pinel (1745-1826), E. Todd (1762-1832), D. Dix (1802-1877).
6. Sự khác biệt về chức năng của nhà tâm lý lâm sàng với nhà tham vấn tâm lý, nhà tâm thần học, nhân viên công tác xã hội và nhà tâm lý học đường
- Tâm lý học phát triển: nghiên cứu các quy luật phát triển tâm lý của con người, nghiên cứu các cơ chế và động lực của quá trình này, xem xét các tiếp cận khác nhau về nguồn gốc, chức năng và căn nguyên của sự phát triển tâm lý cũng như sự thay đổi các hiện tượng tâm lý người từ khi sinh ra đến khi mất đi
=> giúp xác định ranh giới giữa “chuân” và “lệch chuân”, giữa “bình thường" và “bệnh lý”
- Tâm bệnh học: nghiên cứu các rối loạn hoạt động tâm lý; quan tâm nhiều hơn đến các khía cạnh tâm lý của rối loạn (biến đổi nhận thức, nhân cách, và các quá trình tâm lý).
- Chẩn đoán tâm lý (đánh giá tâm lý): cung cấp phương pháp, quy trình và công cụ đánh giá các rối nhiễu tâm lý ở thân chủ
- Y học hành vi: định hướng vào mô hình sinh học – tâm lý – xã hội => dự phòng, can thiệp và phục hồi hiệu quả; đặt nền móng cho các nguyên tắc trị liệu hành vi
- Tâm lý học y học: ứng dụng các tri thức và phương pháp tâm lý học để giải quyết các vấn đề y học; nhấn mạnh mối quan hệ bác sĩ – bệnh nhân, quá trình chăm sóc sức khỏe bệnh nhân
- Tâm lý học sức khỏe: nghiên cứu các vấn đề dự phòng, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, ngăn ngừa bệnh tật và chỉ ra các hành vi nguy cơ tác động tới sức khỏe thể chất và tinh thần
- Y tế công cộng: lĩnh vực khoa học liên ngành, nghiên cứu vấn đề sức khỏe ở các khía cạnh vĩ mô; gồm dịch tễ học, sinh thống kê và dịch vụ y tế
- Tâm lý học thần kinh lâm sàng: nghiên cứu ảnh hưởng của các rối loạn và tổn thương não bộ đến cảm xúc, hành vi nhằm tìm ra phương pháp chẩn đoán và can thiệp phù hợp
- Tâm thần học: quan tâm đến khía cạnh thể chất của các rối loạn tâm lý; trong khi tâm lý học lâm sàng tập trung vào các đặc điểm tâm lý của rối loạn, nhân cách của người có rối loạn, những biến đổi tâm lý của họ
- Tâm lý học tham vấn: tập trung vào những thân chủ có các vấn đề tâm lý không nghiêm trọng, không mang tính bệnh lý.
- Tâm lý học học đường: đào tạo về giáo dục, đánh giá và can thiệp các khuyết tật học tập của học sinh, các tiếp cận và chương trình phòng ngừa rối loạn học tập, trí tuệ, cảm xúc và hành vi của học sinh.
- Công tác xã hội: tập trung vào các hoạt động kết nối, quản lý trường hợp, biện hộ cho quyền lợi của người có rối loạn tâm lý và hỗ trợ họ trong hòa nhập xã hội, cộng đồng.
Buổi 2: Chẩn đoán và phân loại trong TLHLS
-Chẩn đoán là quá trình xác định và nhận diện bản chất của rối loạn thông qua việc nghiên cứu mô hình triệu chứng, xem xét hồ sơ y khoa và các hồ sơ khác, timg hiểu các yếu tố nền tảng, và khi cần thiết, tiến hành các trắc nghiệm tâm lsy
Buổi 3: Các phương pháp và công cụ đánh giá lâm sàng. Quan sát lâm sàng. Phỏng vấn lâm sàng
Buổi 4: Đánh giá trí tuệ
Buổi 5: Đánh giá nhân cách
Buổi 6: Đánh giá hành vi
Buổi 7: Trị liệu/Can thiệp tâm lý. Định nghĩa, quan hệ trị liệu, khuyến khích, phòng ngừa, trị liệu trong TLHLS
Buổi 8: Trị liệu phân tâm
Buổi 9: Trị liệu nhân văn
Buổi 10: Trị liệu hành vi
Buổi 11: Trị liệu nhận thức. Trị liệu nhận thức-hành vi
Buổi 12: Các trị liệu nhận thức-hành vi làn sóng thứ ba
Buổi 13: Can thiệp tâm lý. Hiệu quả và các yếu tố chung. Tiến trình thực hiện trị liệu tâm lý. Trở thành chuyên gia tâm lý học lâm sàng