

















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61463864
1, Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng,
được chấp nhận 1 cách trực giác và tác động qua lại 1 cách hư ảo, lý giải những vấn
đề trên trần thế cũng như thế giới bên kia.
Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng tùy thuộc vào những thời kì lịch sử, hoàn
cảnh địa lý-vh khác, phụ thuộc vào từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi
lễ, hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau.
1 số quan niệm khác về tôn giáo: các nhà thần học “ tôn giáo là mối liên hệ giữa
thần thánh và con ng”, ý kiến khác “ tgiao là niềm tin vào siêu nhiên”
2, chức năng, vtro của tgiao, tín ngưỡng a, chức năng
-chức năng tgioi quan: + khi phản ánh 1 cách hư ảo hiện thực, tôn giáo tạo ra bức
tranh riêng mình về tgioi nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người phi hiện
thực + hướng con ng tới siêu nhiên, thần thánh
+ có thể tác động tiêu cực đến ý thức giáo dân
+ để trở thành 1 tgiao đích thực cần đáp ứng nhu cầu của con ng về nhận thức tgioi:
tự nhiên, xh, con người.
-chức năng đền bù hư ảo: +con ng trong thế giới đời thường luôn bị sức ép của
những sức mạnh tự nhiên cũng như xh(bóc lột gcap)
+ không tìm đc lời giải đáp chính xác về nguyên nhân của những bất bình đẳng xh
và biện pháp khắc phục nó
+ bất lực trong cuộc đấu tranh giai cấp, tìm đến tgiao làm niềm an ủi, hy vọng
+ sự đền bù hư ảo có td hiện thực
-chức năng điều chỉnh: tạo nên những chuẩn mực đạo đức
-chức năng liên kết: liên kết con người với tín ngưỡng. Những ng có chug 1 niềm
tin, chung 1 ràng buộc. Sự lket giữa các cộng đồng cùng tgiao chặt chẽ.
-chức năng giao tiếp: + thể hiện khả năng liên hệ giữa những ng có chung 1 tín
ngưỡng + được thực hiện chủ yếu trong hđ thờ cúng +ngoài ra còn giao tiếp
ngoài tgiao như lhe kinh thế,cs hàng ngày.
B, vai trò – cứu vớt con ng
-giáo dục, khuyên răn về những gtri phẩm hạnh lOMoAR cPSD| 61463864
-còn đc tổ chức thiện nguyện, cứu giúp các cá nhân hoạn nạn
-truyền ba thông điệp hòa bình
-vtro lớn là giữ cho xh 1 trật tự tương đối.
3. ptich nguồn gốc của tgiao v tín nưỡng A, nguồn gốc xh
*nguồn gốc xh: là toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện khách quan của đời sống xh tất yếu.
- mqh con ng với tự nhiên: sự bất lực của con ng trong cuộc đấu tranh với tự nhiên
là 1 nguồn gốc xh của tg.
+trong xh nguyên thủy, trình độ thấp của sự sự phát triển sản xuất đã làm cho con
người không có khả năng năm được một cách thực tiền các lực lượng tự nhiên.Tư
đó sinh ra tôn giáo, tín ngưỡng đê giải thích tự nhiên, hạn chế tác hại của tự nhiên
và câu xin tự nhiên đã được thân linh hóa che chơ. Như vậy, không phải bản thận
giới tự nhiên sinh ra tôn giáo, mà là mối quan hệ đặc thù của con người với giới tự
nhiên, do trình độ sản xuất quyêt định việc đó.
* Môi quan hệ giữa người và người: Nguồn gốc xã hội của tôn giáo còn bao gồm cả
phạm vi các mối quan hệ giữa con người với nhau, nghĩa là bao gồm các mối quan
hệ xã hội, trong đó có hai yếu tổ giữ vai trò quyết định là tính tự phát của sự phát
triển xã hội và ách áp bức giai cấp cùng chế độ người bóc lột người. -
Những quy luật phát triển của xã hội biểu hiện như là những lực lượng trối
buộc con người và ảnh hưởng quyết định đến số phận của họ. Những lực lượng
được thần thánh hóa và mang hình thức của siêu nhiên. Đây cũng là một trong
những nguồn gốc xã hội chủ yếu của tôn giáo. -
Trong các xã hội có đối kháng giai cấp, sự áp bức giai cấp, chế độ bóc lột là
một nhân tô quan trọng làm nảy sinh tôn giáo. Quân chúng không thê tìm ra lôi
thoát hiện thực khỏi sự kìm kẹp và áp bức trên trái đất, nhưng họ đã tìm ra lối thoát
đó ở trên trời, ở thế giới bên kia. Nguôn gôc nhận thức -
Khi chưa biết tự ý thức, con người chưa nhận thức được sự bất lực của mình
trước sức mạnh của thê giới bên ngoài, chưa có nhu câu sáng tạo ra tôn giáo đê bù
đặp cho sự bất lực ấy. lOMoAR cPSD| 61463864 -
Tôn giáo chỉ có thể ra đời ở một trình độ nhận thức nhất định, khicon người
tự ý thức vê bản thân mình trong môi quan hệ với thê giới bên ngoài.. 2.3.3. Nguồn gốc tâm lý -
Ngay từ thời cố đại, các nhà duy vật đã nghiên cứu đền ảnh hưởng của yêu
tô tâm lý (tâm trạng, xúc cảm) đên sự ra đời của tôn giáo. Họ đã đưa ra luận
điêm:"Sự sợ hãi sinh ra thân thánh". -
Các nhà duy vật cận đại đã phát triển tư tưởng của các nhà duy vật cổ đại -
đặc biệt là L.Phơbách, và cho rằng nguồn gốc đó không chỉ bao gồm;
+ Những tình cảm tiêu cực (sự lệ thuộc, sợ hãi, không thoa mãn, đau khổ, cô đơn...)
mà cả những tình cảm tích cực (niềm vui, sự thỏả mãn, tình yêu, sự kính trọng...),
+ Những điều mong muốn, ước vọng, nhu cầu khắc phục những tình cảm tiêu cực,
muốn được đền bù hư ảo. -
Như vậy, Nguyên nhân xuất hiện tôn giáo không chỉ bởi sự sợ hãicủa người
cố đại trước lực lượng tự nhiên, mà còn bởi nguồn gốc xã hội của sự sợ hãi đó.
4, tbay khái niệm có lquan đến tgiao
Trước khi thuật ngữ "Tôn giáo" du nhập, tại Việt Nam cũng có những từ tương đồng:
- Đạo: Từ này xuất xứ từ Trung Hoa, tuy nhiên nhiều trường hợp "đạo" không đồng nghĩa với tôn giáo.
+ "Đạo" có thể hiểu là con đường, học thuyết.
+ "Đạo" cũng có thể hiểu là cách ứng xử làm người: Đạo vợ chồng, đạo cha con, đạo thầy trò...
+ Khi sử dụng từ "đạo" với nghĩa tôn giáo thường phải đặt tên tôn giáo đó sau
từ"đạo". Ví dụ: đạo Phật, đạo Kitô...
- Giáo: Từ này có ý nghĩa tôn giáo khi nó đứng sau tên một tôn giáo cụ thể. Chẳng
hạn: Phật giáo, Nho giáo, Kitô giáo...
+ "Giáo" là dạy bảo theo đạo lý của tôn giáo (giáo hóa).
+ "Giáo" cũng có thê được hiêu với nghĩa phi tôn giáo, là lời dạy của thây dạy học.
+ Không sử dụng từ "giáo" đối với tôn giáo mới phát sinh như Cao đài, Hòà Hảo (mà
gọi là đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo)... lOMoAR cPSD| 61463864
- Thờ: Là từ thuần Việt cô.
+ Thờ có ý bao hàm hành động biểu thị sự sùng kính một đấng siêu linh: Thần thánh,
tổ tiên..., đồng thời có ý nghĩa như cách ứng xử tôn kính với bề trên, như thờ vua,
thờ cha mẹ, thờ thầy...
+ Thờ thường đi đôi với cúng. Cúng cũng có nhiều nghĩa: Vừa mang tính tôn giáo, vừa mang tính thế tục.
- Cúng: Theo ý nghĩa tôn giáo tiến dâng, cung phụng, vật hiến tế
+ Ở Việt Nam, cúng có nghĩa là dâng lễ vật cho các đấng siêu linh, cho người đã
Cúng với ý nghĩa trần tục là đóng góp cho việc công ích, việc từ thiện...
+ Từ ghép "thờ cúng" chỉ dành riêng cho các hành vi và nội dung tôn giáo.
+ Đối với người Việt, tôn giáo theo thuật ngữ thuần Việt là thờ hay thờ cúng hoặc
theo các từ gốc Hán phổ biến là đạo, là giáo. Thuật ngữ tôn giáo trong sinh hoạt đời thường ít dùng
6, các hình thức tgiao
2.5.1. Trong xã hội chưa có giai cấp (Tôn giáo nguyên thủy) -
Tôn giáo, tín ngưỡng xuất hiện từ thời kỳ nguyên thủy, từ những quan niệm
tối tăm của con người vê bàn thân mình và thiên nhiên bao quanh họ. -
Các tôn giáo nguyên thủy, sơ khai thê hiện niêm tin bản năng của con người
và lúc ây chưa găn với các lợi ích vê kinh tê - xã hội.
* Các hình thức phổ biến của tôn giáo nguyên thủy là các dạng sau:
- Tô tem giáo (thờ vật tổ): Tô tem theo ngôn ngữ của thổ dân Bắc Mỹ nghĩa là giống loài.
+ Đậy là hình thức tôn giáo cổ xưa nhất, thể hiện niềm tin vào mối quan hệ gần gũi,
huyết thống giữa một cộng đồng người (thị tộc, bộ lạc) với một loài động thực vật
hoặc một đối tượng nào đó.
+ Chẳng hạn: Một bộ lạc tồn tại được nhờ săn bắt một loài động vật nào đó dẫn
đến xuất hiện một ảo tưởng vê môi quan hệ giữa loài vật đó với cộng đông người
săn nó và cuôi cùng con vật này lại trở thành tô tiên chung - là một tô tem của một tập thê nào đó. lOMoAR cPSD| 61463864
- Ma thuật giáo : Ma thuật theo tiếng Hi lạp cổ là phép phù thủy.
+ Đây là biểu hiện của việc người nguyên thủy tin vào khả năng tác động đến tự
nhiên bằng những hành động tượng trưng (cầu khấn, phù phép, thần chú...) nghĩa
là băng con đường siêu nhiên.
+ Vê sau, ma thuật trở thành một thành tô quan trọng không thê thiêu được của
các tôn giáo phát triển.+ Đây là biểu hiện của việc người nguyên thủy tin vào khả
năng tác động đến tự nhiên bằng những hành động tượng trưng (cầu khấn, phù
phép, thần chú...) nghĩa là bằng con đường siêu nhiên.
+ Về sau, ma thuật trở thành một thành tố quan trọng không thể thiếu được của
các tôn giáo phát triển.
+ Việc thờ cúng của bất kỳ tôn giáo nào cũng phải có ma thuật (cầu nguyện, làm
phép...). Tàn dư của ma thuật là các hiện tượng bói toán, tướng số ngày nay. -
Bái vật giáo : Bái vật theo tiếng Bồ Đào Nha là bùa hộ mệnh, phép lạ.
+ Bái vật giáo đặt lòng tin vào những thuộc tính siêu nhiên của các vật thể như hòn
đá, gôc cây, bủa, tượng...
+ Họ cho rằng có một lực lượng siêu nhiên, thần bí trú ngụ trong vật đó. Bái vật giáo
là thành tố tất yếu của sự thờ cúng tôn giáo.
+ Đó là sự thờ cúng các tượng gỗ, cây thánh giá. .. hoặc lòng tin vào sức mạnh kỳ quái của các lá bùa... -
Vật linh giáo : Là hình thức tôn giáo xuất hiện muộn hơn, khi mà ý thức của
con người đã đủ khả năng hình thành nên những khái niệm.Vật linh giáo là lòng tin
ở linh hồn. Lòng tin này là cơ sở quan trọng để hình thành nên quan niệm về cái
siêu nhiên của người cổ xưa.
+ Giai đoạn này đã có ảo tưởng cho răng có hai thê giới: Một thế giới tồn tại thực
sự và một thế giới siêu nhiên, trong đó thể giới siêu nhiên thông trị thê giới thực tại.
+ Thê giới siêu nhiên này cũng đây đủ động vật, thực vật, các đôi tượng do tinh thân
tương tượng ra và không khác gì lăm so với thê giới thực tại.
2.5.2. Tôn giáo trong xã hội có giai cấp lOMoAR cPSD| 61463864 -
Khi xã hội phân chia giai cấp, xuất hiện các nhà nước, tôn giáo lúc này không
chỉ còn là một nhu cầu tinh thần của quần chúng, mà còn là một phương tiện để
giai cấp thống trị duy trì sự áp bức giai cấp và thực hiện sự bành trướng, xâm lược.
+ Vì vậy tôn giáo găn liên với chính trị và bị dân tộc hóa.
+ Từ đó đã dần đên sự xuất hiện các tôn giáo dân tộc và tôn giáo thê giới. -
Tôn giáo dân tộc: Đặc trưng của tôn giáo dân tộc là tính chất quốc gia dân tộc của
+ Các vị thần được tạo lập mang tính quốc gia dân tộc và phạm vi quyền lực giới
hạn trong phạm vi quôc gia.
+ Thậm chí một số tôn giáo lớn cũng bị dân tộc hóa ở mỗi quốc gia và trở thành tôn
giáo có tính chất quốc gia (Anh giáo/ Thanh giáo, các dòng khác nhau của đạo Hồi).
+ Trong khi đó, hâu hêt các tín ngưỡng đều mang tính dân tộc. -
Tôn giáo thê giới: Sự phát triên của các tôn giáo vượt ra khỏi biên giới của
một quốc gia đã hình thành nên các tôn giáo khu vực và thế giới như Phật giáo,
7, Niềm tin tôn giáo là một dạng nhận thức đặc biệt, dựa trên trực giác, tạo cho con
người một niềm tin có tính thiêng liêng, giúp người ta có thể nhận thức được những
thăng mà người thường kh cu thắy đ gố, Cho ta một sức mạnh đặc biệt mang tính -
Niềm tin tôn giáo là một niềm tin có thật và chắc chăn, là niêm tin mang tính
chủ quan, không cần lý giải một cách khoa học. Đó là điều kiện đê con người đên với tôn giáo. -
Không có niềm tin này con người không thể đến được với đạo. Để có được
niềm tin đó, người theo đạo cần phải có một sự hiểu biết nhất định về giáo lý, tuân
thủ những hành vi, phép tắc tôn giáo... theo cách của mình. -
Niềm tin tôn giáo có tính thiêng còn thể hiện ở những vật thể, những lời thề,
những sự kiêng cữ nào đó... thậm chí còn gắn với những con người cụ thể. * Đặc
điểm của niềm tin tôn giáo -
Đó là niềm tin vào một quyền lực siêu linh được san sẻ không đều cho những
cộng đồng tôn giáo, khẳng định sự ưu ái của quyền lực đó đối với một số người và
từ đó an ủi đối với thân phận của một số người khác. lOMoAR cPSD| 61463864 -
Niềm tin tôn giáo phải là một niềm tin siêu lý, không dựa vào lý tính, thực
nghiệm, một niềm tin được cảm nhận hoặc theo truyền thông kinh nghiệm, hoặc
do tu luyện dần để khăng định vững chắc.
+ Đó là một niềm tin không cần chứng minh.
+ Người ta tin vào những điều vĩnh hằng, tuyệt đối, một cuộc sống như ý muốn, cuộc sống bất diệt.
+ Niềm tin tôn giáo phụ thuộc vào những tín điều, giáo lý của từng tôn giáo khác nhau. -
Niềm tin tôn giáo có phần độc lập với việc am hiểu nội dụng tôn giáo.
+ Không phải cứ có nhận thức giảo lý một cách vững chắc là có được niềm tin sâu
+ E. Rousseau cho rằng: "chính cái mơ mơ hồ hồ lại tạo dựng cho Niềm tin tôn giáo,
làm cho tôn giáo tồn tại." -
Mặc dù nội dung tôn giáo có thể không thay đổi nhưng Niềm tin tôn giáo có
thể thay đổi trong từng cá nhân, từng cộng đồng. Vì vậy không nên nhầm lẫn hoặc
đánh đồng giữa tôn giáo với những ý thức hệ, những chủ nghĩa, những lý tưởng...
trong cuộc sống đời thường.
8, đ2 tín ngưỡng dân gin Vn
2.1. Mang dấu ấn của đời sống nông nghiệp -
Hầu hết các ngưỡng dân gian ở Việt Nam đều mang dấu ấn của đời sống nông
nghiệp, sinh kể chủ yêu của con người Việt Nam. -
Các tín ngưỡng tự nhiên, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng Mẫu, tục thờ
cúng tố tiên...đều có liên quan đến mong ước thiên nhiên thuận lợi, trời - đất - con
người giao hòa, thế giới phồn sinh, muôn vật phồn thịnh,... đó đều là khát vọng của
người làm nông nghiệp mong cho cây cối, vật nuôi, con người sinh sôi, nảy nở, ptr.
-tín ngưỡng nông nghiệp (quốc gia-xã tắc), tục cúng thần nông (ông thần trông coi
nghề nông...., mà còn biểu hiện thông qua các tín ngưỡng khác, như tín ngưỡng tự
nhiên (thờ mây-mưa-sấmchớp), lễ cầu mưa, lễ rước nước ở các lễ hội đồng bằng,
ở tục cúng xôi cho thần linh ở tất cả các tín ngưỡng...
2.2. Mang dấu ấn đặc sắc của thiên nhiên, lịch sử, văn hóa Việt Nam lOMoAR cPSD| 61463864 -
Thiên nhiên thế nào thì con người sẽ cách thức tác động phù hợpđể tạo ra
những giá trị văn hóa riêng, mang bản sắc khu vực. Thiên nhiên Việt Nam, do vậy
cũng góp phần tạo nên một diện mạo tín ngưỡng mang dấu ấn đặc sắc của nó.
+ Tín ngưỡng tự nhiên với các tục thờ trời, đất, sông, núi, cây cối, thú vật, các hiện
tượng tự nhiên... là bằng chứng về dấu ấn đặc sắc của thiên nhiên Việt Nam trong đời sống tín ngưỡng.
+ Các tín ngưỡng nông nghiệp, tín ngưỡng Mẫu... cũng thể hiện rất rõ dấu ấn của tự nhiên. -
Dấu ấn của lịch sử, văn hóa Việt Nam lại càng rõ nét trong đới sống tín ngưỡng. -
Các tín ngưỡng tổ tiên, tín ngưỡng Mẫu, tín ngưỡng thần Thành hoàng, tín
ngưỡng anh hùng, tín Đức Thánh Trần, tín ngưỡng Tứ bất tử...thực chất là những
huyền thoại về công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam thế hệ tiền nhân.
2.3. Mang giá trị nhân văn sâu sắc -
Tất cả các tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam đều mang giá trị nhân văn sâu sắc.
Bởi đó là niềm tin và khát vọng của một dân tộc nhân bản, hiếu nghĩa, yêu tự do và chuộng hòa bình. -
Tín ngưỡng tự nhiên không chỉ thần linh hóa, mà còn nhân cách hóa tự nhiên,
biến thiên nhiên thành bầu bạn của con người, biến thiên nhiên hung dữ thành
thiện thần bảo hộ, cứu giúp cho con người. -
Tín ngưỡng tổ tiên, tín ngưỡng Mẫu, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng gia thần -
Hiện tượng đốt nõ-nường (sinh thực khí), lây tro đê rải lên đông ruộng, vườn
tược cầu cho vạn vật phồn sinh là ví dụ về tính nhân bản vô cùng đặc sắc của người Việt. -
Tục cúng cháo sá tội vong nhân rằm tháng Bẩy là một bằng chứng khác về giá trịnày.
2.4. Có sự giao lưu, tiếp biến văn hóa với khu vực (Đông Nam Á, Đông Á) lOMoAR cPSD| 61463864 -
Văn hóa Việt Nam có nền tảng bản địa, nhưng cũng luôn tiếp biến với khu
vực, dung nạp các yếu tố ngoại sinh, đồng thời lan tỏa các giá trị ra bên ngoài. Tín
ngưỡng cũng mang đặc điểm ấy. -
Tín ngưỡng thần nông, tín ngưỡng Mẫu, tín ngưỡng gia tiên là hiện tượng
chung của khu vực, trong đó Việt Nam và khu vực miên Nam Trung Hoa có biêu hiện rõ nhất. -
Tín ngưỡng phồn thực không chỉ có riêng ở người Việt, mà còn cóở người Chăm, ngưỡi Mã Lai... -
Các tín ngưỡng Việt Nam đặc biệt có sự hòa nhập với Phật giáo (đến từ Ấn Độ),
Đạo giáo (đến từ Trung Hoa), khiến cho thần điện (tín ngưỡng) và Phật điện, thần
điện và Đạo quán ở Việt Nam đều có sự dung hợp lẫn nhau.
2.5. Có hiện tượng hỗn dung tín ngưỡng, hỗn dung tín ngưỡng và tôn giáo. -
Tín ngưỡng thờ Mẫu là biểu hiện dung hợp của tín ngưỡng Mẫu với tín ngưỡng tự nhiên. -
Hệ thống các chùa từ pháp ở Bắc Ninh, Hà Nội, Hưng Yên và Hà Nam. Chùa
Tứ pháp là biểu hiện của sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng Mẫu, tín
ngưỡng tự nhiên, tức là dung hợp giữa tín ngưỡng và tôn giáo. 10, nd của tgiao
4.1. Huyền thoại và triết lý
* Huyền thoại là một hình thức ra đời từ thuở nguyên sơ, là những lý giải của con
người, có thể sai hoặc đúng về một hiện tượng tự nhiên hay xã hội mà bản thân
con người không thể hiểu nổi và trong đó có những cái khác lạ, không giống bình -
Huyên thoại phải được củng cô bằng lễ thức mới thành nội dung của một
hình thức tôn giáo nhưng chủ yêu phải được người ta tin là có thật. -
Niêm tin là yêu tô quan trọng nhât đê người tạ lý giải những sự vật hiện tượng
mà con người quan tâm như nguốn gốc vũ trụ, nguồn gốc con người, nguồn gốc
dân tộc, tạo dựng thế giới bên kia...
* Nếu nội dung các tôn giáo sơ khai với chủ yếu là các huyền thoại nhằm lý giải
những nhu cầu của xã hội - bộ lạc thì đến xã hội có giai cấp, nội dung các tôn giáo lOMoAR cPSD| 61463864
được định hình không chỉ dừg lại ở các huyền thoại mà còn là những triết lý rút ra
trong đời sống thường ngày. -
Đó là các triết lý có hoặc không có tác giả, sau đó các nhà thần học, các triết
gia bo sung va he thong lai moi xdy dung nen duge giao ly.Giáo lý là hình thức hoàn
thiện hơn rất nhiều so với huyền thoại. 4.2. Thế giới bên kia -
Những yếu tố cấu thành nên nội dung của tôn giáo cho dù ở hìnhthức sơ khai
hay đã phát triển đều không nhằm ngoài mục đích tạo dựng nên một thế giới bên
kia đổi lập với thế giới trần tục.
+ Thế giới được tạo dựng này nhằm thỏa mãn một câu hỏi mà nếu không viện đến
tôn giáo thì không ai có thể trả lời được: sau cái chết là gì?
+ Câu hỏi này đã làm bừng lên một tia hị vọng muốn kéo dài cuộc sống quá ngắn
ngủi, đầy khổ đau và không toại nguyện để đến với một cuộc sống cực lạc, vĩnh cửu
của thế giới bên kia... tùy theo quan niệm của từng tôn giáo...
+ Thế giới bên kia với những sức mạnh của thần linh hướng con người đến một
cuộc sống tự thân lương thiện. Mọi tội ác của con người gây ra ở trần gian sẽ bị
phán xử khi bước qua thế giới ấy. -
Mỗi dân tộc hay mỗi khu vực tạo ra một bộ mặt của thế giới bên kia cơ bản
có thể giống nhau nhưng biểu hiện lại khác nhau. -
Thông thường thế giới bên kia được cấu trúc thành 3 tầng (ở trêntrời, trên
mặt đất và dưới mặt đất) và bốn thế giới (thiên giới, địa giới, thủy giới và âm phủ). -
"Địa ngục" là nơi đày ải những kẻ không ngoan đạo, những ngườingoan đạo
và lương thiện được lên "thiên đàng" hay "niết bàn".
12, Tín ngưỡng tứ bất tử
- Người Việt Nam còn có một tín ngưỡng đặc biệt là tục thờ Tứ Bất tử (bốn người
không chết): Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh.
* Thánh Tản Viên (với truyền thuyết Sơn Tinh Thủỷ Tinh) và Thánh Gióng (với truyền
thuyết Thánh Gióng) là biểu tượng cho sức mạnh đoàn kết của một cộng đồng cư dân nông nghiệp. lOMoAR cPSD| 61463864 -
Một mặt ứng phó với thiên tai: chống lụt, đánh thủy, mặt khác là chống giặc
ngoại xâm. Sự phôi hợp thần thánh ấy đã đựng nên Đất Nước. -
Có đât nước rôi, được sông yên ôn rồi, con người Việt Nam khôngmơ ước gì
hơn là xây dựng một cuộc sống phồn vinh về vật chất và hạnh phúc về tinh thần. *
Chử đồng Tử - người nông dân nghèo với hai bàn tay trắng, đã cùng vợ gây
dựng nên cơ nghiệp với phố xá sâm uất, mang vàng ra buôn bán với khách thương
nước ngoài - chính là biêu tượng cho ước mơ thứ nhất - phồn vinh về vật chất.
+ Chủ Đồng Tử được tôn vinh là ông tổ Đạo giáo (Chử Đạo tổ) vì biết cải tử hoàn
sinh cho người dân, được thờ ở đền Chử Đồng Tử, Khoái Châu, Hưng Yên.
+ Chử Đồng Từ còn được tôn vinh là ông tổ nghề buôn vì truyền bá nghề này cho người dân. *
Liễu Hạnh người com gái quê ở xã Vân Cát (huyện Vụ Bản Nam Định), tương
truyền là công chúa con Trời ba lần (con số 3!) từ bỏ cuộc sống đầy đủ trên Thiên
Đàng để xuống trần gian sống cuộc đời một người phụ nữ bình dị lấy chống, có con,
cùng chồng nuôi con) với khát vọng về tự do, hạnh phúc - chính là biểu tượng cho ước vong thứ hai.
- Hai ước muốn thiêng liêng nói trên (phồn vinh về vật chất và tự do, hạnh phúc)
ấy đã tạo nên CON người.
- Không phải là ngẫu nhiên mà Liễu Hạnh xuất hiện vào chính thờiLê-Mạc (bà sinh
năm 1577) - thời kỳ Nho giáo độc tôn, vai trò truyền thống của người phụ nữ bị xâm hại nghiêm trọng,
- Nhưng đây cũng là lúc Nho giáo bắt đầu suy vong bởi nhà Mạc - thân dân thay thế
cho nhà Lê sơ - chuyên chế.
- Kết quả của sự phản kháng này là (theo truyền thuyết):
+ Triều đình đã phải lùi bước mà trả lại tự do cho Liễu Hạnh;
+ Nhà vua (Nho giáo) đại diện cho thể lực cầm quyền - phải lùi bước trước Phật Bà
(Phật Giáo) đại diện cho quần chúng nhân dân.
- Ngoài cuộc đời, Liễu Hạnh được nhân dân tôn sùng một cách thành kính là
Thánh Mẫu, một cách dân dã là Bà Chúa Liễu (xem Truyện Trạng Quỳnh), một cách
gần gũi thân thương là Mẹ (thành ngữ có câu Tháng 8 giỗ cha, tháng 3 giỗ mẹ) lOMoAR cPSD| 61463864
- Đền, miếu, phủ thờ Liễu Hạnh mọc lên khắp nơi: + Phủ Giày ( Nam Định),
+ Phủ Tây Hồ (Hà Nội),
+ Đền Sòng và đền Phố Cát (Thanh Hoá), + Đền Phủ Giày (tp. HCM),..
- Ngoài hệ thống Tứ bất tử, bà con còn được bổ sung vào hệ thốngTam phủ, thêm
"Nhân phủ" do Mẫu Liễu Hạnh cai quản) để thành Tứ phủ.
- Mẫu Liễu Hạnh lại còn được thờ trong một tín ngưỡng riêng là Tam tòà Thánh Mẫu.
- Vai trò của thánh Mẫu Liễu Hạnh lớn đến mức vua Đồng Khánh phải tự nguyện
xin là đệ tử thứ 7 của Bà tại điện Hòn Chén (Huế).
* Tục thờ Tứ bất tử là một giá trị văn hóa tinh thần rất đẹp của dân tộc ta.
+ Đó là tinh hoa được chắt lọc qua suốt chiều dài lịch sử biểu tượng cho sức mạnh
liện kết của cộng đồng để làm ruộng và đánh giặc,
+ Biểu tượng cho khát vọng xây dựng một cuộc sống vật chất phồn vinh và tinh thần hạnh phúc.
1.9. Tín ngưỡng Đức Thánh Trần -
Đức Thánh Trần tên thật là Trần Quốc Tuấn, sinh năm 1228 tại hương Tức
Mặc, phủ Thiên Trường, mất năm Canh Tý (1300), thuộc dòng dõi Hoàng tộc Trần.
Trần Quốc Tuấn nổi tiếng là người học rộng hiểu nhiều đặc biệt là binh thư, binh
pháp, cưỡi ngựa, bắn cung... -
Năm 1283, ông được phong tước Quốc Công, giữ chức Tiết chế thống lĩnh
binh quyền. Ông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh bại hai cuộc xâm lược của
quân Nguyên Mông - đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới ở TK XIII.
Sau khi mất, ông được triều Trần phong: "Thái sư Thượng phụ Thượng Quốc công
Nhân vũ Hưng Đạo Đại vương". -
Việc Ngài được nhân dân "thánh hóa" là hiện tượng hợp với tâm thức và ước
nguyện của người Việt. lOMoAR cPSD| 61463864 -
Nhân dân không gọi trực tiếp tên của Ngài mà gọi là Hưng Đạo Đại Vương,
Đức Thánh Trần, là Cha. -
Hiện tượng Cha Rồng - Mẹ Tiên (Lạc Long Quân- Âu Cơ thời dựng nước) và
hiện Cha/Đức Thánh Trần - Mẹ/Chúa Liễu Hạnh là hiện tượng dặc biệt của văn hóa Việt Nam.
+ Thời dựng nước, đó là sự kết hợp của núi non (tiên) và sông biển (rồng) để tạo nên đất nước.
+ Thời độc lập, đó là sự kết hợp của Đức Thánh Cha đánh giặc và chúa Mẫu sinh con
và cai quản giang sơn, để giữ nước và phát triển đất nước.
+ "Tháng tám giỗ cha - tháng ba giỗ mẹ" đã trở thành một tập quán tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
+ Tháng tám giỗ cha là giỗ Đức Thánh Trần - tháng ba giỗ mẹ là giỗ Chúa Mẫu Liễu Hạnh. -
Việc thờ phụng Đức Thánh Trần hiện nay đã trở thành một hình thức tín
ngưỡng dân gian phổ biến của nước ta: Tín ngưỡng Đức Thánh Trần. -
Ghi nhận công lao to lớn của ông, ngày 18/02/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
kí sắc lệnh số 22C NV/CC, quy định những ngày Tết, kỷ niệm lịch sử và lễ tôn giáo,
trong đó có ngày kỷ niệm lịch sử Trần Hưng Đạo là ngày 20/8 âm lịch. -
Tháng 2 năm 1984, Hội Hoàng gia nước Anh đã tố chức một cuộchọp với sự
có mặt của 478 nhà khoa học, nhà nghiên cứu lịch sử quân sự của nhiều nước trên thế
+ Hội nghị đã đề cử danh sách 98 tướng, soái xuất sắc từ thời cổ đại cho tới ngày
nay rồi tiến hành bỏ phiếu lựa chọn 10 vị tướng, soái kiệt xuất để in trong cuốnBách khoa toàn thư nước Anh.
13, Tín ngưỡng là hệ thống những niềm tin, sự ngưỡng vọng cua con người vào cái
"siêu nhiên" hay còn gọi là "cái thiêng" để giải thích thế giới với ước muốn mang lại
sự bình an cho cá nhân và cộng đông. -
Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng với tôn giáo là ở chỗ tín ngưỡng mang tính
dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian. . Sự giống nhau lOMoAR cPSD| 61463864 -
Tín ngưỡng "là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ
nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh
thần cho cá nhân và cộng đồng"
Tôn giáo "là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động
bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tô chức".
Theo quan điểm truyền thống, người ta có ý thức phân biệt giữa tôn giáo và tín
ngưỡng, thường coi tín ngưỡng ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo. * Như vậy -
Tôn giáo và tín ngưỡng giống nhau trước hết là bởi đều cần phải có niềm tin. -
Cũng nhờ có niềm tin mà cả tôn giáo và tín ngưỡng đều có thể khiến con
người điều chỉnh hành vi của mình. . Sự khác biệt -
Sự khác nhau đầu tiên cũng là sự khác nhau về niềm tin. Niềm tin của tín
ngưỡng thuần túy và thuần khiết, nhưng niềm tin tôn giáo có thể bị đẩy tới cực đoan, cuồng tín. -
Nếu tôn giáo phải có đủ 4 yếu tố cấu thành, đó là: giáo chủ, giáolý, giáo luật
và tín đồ, thì các loại hình tín ngưỡng dân gian không có 4 yếu tố đó:
+ Giáo chủ là người sáng lập ra tôn giáo ấy (Thích ca Mâu ni sáng lập ra đạo Phật,
đức chúa Giê su sáng lập ra đạo Thiên chúa, nhà tiên tri Mô ha mét sáng lập ra đạo Hồi,.
+ Giáo lý là những lời dạy của đức giáo chủ đối với tín đồ;
+ Giáo luật là những điều luật do giáo hội soạn thảo và ban hành để duy trì nếp
sống đạo trong tôn giáo đó;
+ Tín đồ là những người tự nguyện theo tôn giáo đó. -
Nêu đôi với tín đô tôn giáo, một người, trong một thời điêm cụ thê, chỉ có
thê có một tôn giáo thì một người dân có thê đông thời sinh hoạt ở nhiêu tín ngưỡng khác nhau.
Nếu các tôn giáo đều có hệ thống kinh điển đầy đủ, đồ sộ thì các loại hình tín
ngưỡng chỉ có một số bài văn tế, văn khấn... lOMoAR cPSD| 61463864
Nếu các tôn giáo đều có các giáo sĩ hành đạo chuyên nghiệp và theo nghề suốt
đời, thì trong các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian không có ai làm việc này một
cách chuyên nghiệp cả; hoặc chỉ có một số ít người ở một số tín ngưỡng đặc
biệt (như tín ngưỡng Mẫu) làm việc này. -
Nếu như tôn giáo được truyền bá tại các thánh đường, chùa chiền, tu viện,
học viện...có hệ thống tố chức giáo hội, hội đoàn chặt chẽ, có nơi thờ cúng riêng
như nhà thờ, chùa chiên, thánh đường...., nghị lễ chặt chẽ, thì tín ngưỡng không
có một hệ thống cơ sở vật chất và cách thức truyền bá đồ sộ, quy củ như vậy. -
Nếu như tôn giáo có hệ thống tổ chức thống nhất trên toàn quốc gia, thậm
chí toàn cầu (như Công giáo, Tin lành Giáo...), thì tín ngưỡng sinh hoạt riêng rẽ
nhóm cộng đồng hoặc gia đình-dòng họ, và không vượt ra ngoài lãnh thổ quốc gia.
14,* Nội dung cơ bản của Phật giáo -
Thực chất của đạo Phật là một học thuyết về nỗi khổ và sự giải thoát. Đức
Phật từng nói:"Ta chỉ dạy một điều: Khô và khô diệt". Cốt lõi của học thuyết này là
Tứ diệu đế (Bốn chân lí kì diệu) hay Tứ thánh đế (Bốn chân lí thánh), đó là:
(1). Khổ đế là chân lí về bản chất của nỗi khổ. Khổ là gì? Đó là trạng thái buồn phiền
phổ biến ở con người do sinh, lão, bệnh, tử, do mọi nguyện vọng không được thoa mãn.
(2). Nhân đế, hay Tập đế là chân lí về nguyên nhân của nỗi khổ. Đó là do ái dục (ham
muốn) và vô minh (kém sáng suốt). Dục vọng thể hiện thành hành động gọi là
Nghiệp (karma); hành động xấu khiến con người phải nhận hậu quả của nó (nghiệp
báo), thành ra cứ luân quân trong vòng luân hôi không thoát ra được.
(3). Diệt đế là chân lí về cảnh giới diệt khổ. Nỗi khổ sẽ được tiêu diệt khi nguyên
nhân gây ra khổ bị loại trừ. Sự tiêu diệt khổ đau gọi là niết bàn (nirvana, nghĩa đen
là "không ham muốn, dập tắt"). Đó là thế giới của sự giác ngộ và giải thoát.
(4). Đao đế là chân lí chỉ ra con đường diệt khổ. Con đường diệt khổ, giải thoát và
giác ngộ đòi hỏi phải rèn luyện đạo đức (giới), tư tưởng (định) và khai sáng trí tuệ
(tuệ). Ba môn học này được cụ thể hóa trong khái niệm bát chính đạo (tám nẻo
đường chân chính). Đó là: chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng
(thuộc lĩnh vực rèn luyện đạo đức - giới); chánh niệm, chánh định (thuộc lĩnh vực
rèn luyện tư tưởng - định); chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tần (thuộc về lĩnh
vực vực khai sáng trí tuệ - tuệ). lOMoAR cPSD| 61463864 -
Trong toàn bộ giáo lí của Phật giáo được xêp thành ba tạng (tạng= chứa
đựng): Kinh tang chứa các bài thuyết pháp của Phật và một số đệ tử; Luật tạng chứa
các lời Phật dạy về giới luật và nghi thức sinh hoạt của chúng tăng; Luận tạng chứa những lời bàn luận. -
Phật giáo coi trọng Phật - Pháp - Tăng, gọi là tam bảo: Đức Phật sáng lập ra
Phật giáo; pháp (giáo lí) là côt tuỷ của đạo Phật; tăng chúng (người xuất gia tu hành)
truyền bá Phật pháp trong thế gian. ở trên đã nói đến Phật và Pháp, dưới đây sẽ nói đến tăng.
15, Vai trò của tôn giáo, tín ngưỡng -
Cứu vớt con người thoát khỏi những bề tắc về tinh thân; giữ cho họ sự cân
băng, yên phận với hiện tại và sống có hy vọng, mặc dù đó là hy vọng về một thê
giới "tốt đẹp hơn" khi họ đã từ giã cuộc sống thực tại (trần thế). -
Giáo dục, khuyên răn con người về những giá trị phẩm hạnh nhất định. -
Trong những trường hợp cụ thê, tôn giáo còn tô chức thiện nguyện, cứu giúp
các cá nhân hoạn nạn, thiêu may măn. -
Mỗi tôn giáo, tín ngưỡng đều ít nhiều truyền bá thông điệp hòa bình, giúp
ích giải quyết các xung đột xã hội giữa các cộng đồng, các quốc gia. -
Mặc dù giữa các tôn giáo cũng có xung đột, thậm chí chiến tranhdai dẳng,
song vai trò lớn nhât của các tôn giáo - tín ngưỡng vân là giữ cho xã hội một trật tự
tương đôi, ngay cả khi nhà nước và hệ thông chính trị đã mất vai trò.
* Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa tới sự hình thành và phát triển
của tôn giáo, tín ngưỡng
. Anh hưởng của điều kiện tự nhiên -
Thiên nhiên ảnh hưởng rất rõ rệt tới sự hình thành và phát triển tôn giáo, tín
ngưỡng. Một trong những lý do dẫn đến nảy sinh tôn giáo chính là sự bất lực của
con người trước các hiện tượng tự nhiên mà họ không lý giải được, phải mượn đến
những lý lẽ giải thích hoang đường. -
Thiên nhiên có những hiện tượng nào thì tôn giáo-tín ngưỡng củacon người
có thần biền, hần có đợu ổn gốc thi ếh hiện dđy đề têôn thầ: đí, thấm ác đas chỉ cố,
thầnrắn, thần cá ông... lOMoAR cPSD| 61463864 -
Ngày nay, khi trình độ nhận thức của con người càng cao, thì họ càng trở nên
bất lực, bởi sự vô tận của tự nhiên. -
Sự tác động có hại của con người vào tự nhiên khiến cho sinh quyển thạy đổi,
đe dọa trực tiêp đên cuộc sông, khiến cho con người hoài nghi chính mình, niềm
tin tôn giáo lại được củng cố.
. Ảnh hưởng của điều kiện lịch sử và văn hóa -
Tôn giáo-tín ngưỡng không xuât hiện ở thời kỳ trí não con người còn u tối.
Nhưng khi nhận thức của họ đã trình độ nhất định, nhưng chưa đủ để giải thích
được những hiện tượng lớn lao của thể giới xung quanh, tôn giáo-tín ngưỡng đã xuất hiện. -
Trình độ nhận thức nhất định ấy của con người (điều kiện đề nảy sinh tôn
giáo)chính là kết quả của một quá trình lịch sử chung sống của họ, với những bước
tiến văn hóa nhất định. -
Trong xã hội có giai cấp, chính những bất công xã hội, sự áp bức,nghèo đói,
đau khổ đã góp phần tạo ra tôn giáo hoặc đưa con người tìm kiếm đến tôn giáo. -
Tôn giáo dân tộc và tín ngưỡng bản địa là những bằng chứng rõ nhất của sự
ảnh hưởng bởi những điều kiện lịch sử, văn hóa đến sự hình thành và phát triển của tôn giáo. -
Tín ngưỡng của người Việt chủ yếu là những tín ngưỡng nông nghiệp. Điều
đó cũng phải ánh dấu ấn của lịch sử, văn hóa người Việt lên tín ngưỡng của họ.
*Mối quan hệ giữa tổ chức tôn giáo và cộng đồng xã hội
Giữa tổ chức tôn giáo và cộng đồng xã hội có mối quan hệ khăng khít nhưng trong
những điều kiện xã hội khac nhau thì mối quan hệ ấy là khác nhau.
. Trong xã hội không có giai cấp. Tổ chức tôn giáo thường có liên quan đến cộng
đồng bằng mối quan hệ đan xen, quyện chặt với cộng đồng và các tổ chức điều hành xã hội. -
Giữa cá nhân và cộng đồng dường như có sự hòa tan vào nhau: cá nhân là
cộng đồng, cộng đồng là cá nhân. -
Sự phân biệt rành rẽ hai thế giới trần tục và siêu linh nhưng con người thường
đắm mình vào cả hai thế giới ấy nên rất khó phân biệt. lOMoAR cPSD| 61463864
. Trong xã hội có giai cấp. Các tổ chức tôn giáo thế hiện rất khác nhau. -
Một tổ chức tôn giáo có người sáng lập, có thể hữu danh, có thể vô danh
hoặc được gán cho một cái tên nào đó.
Những nội dung, nghi lễ dẫn đến niềm tin tôn giáo hay tín ngưỡng ban đầu phải do
một người đưa ra, người đời sau làm phong phú thêm và có thể thích nghi được với thời đại.
. Cách thức tổ chức của các tôn giáo. Cách thức tổ chức của các tôn giáo rất khác nhau. -
Có những tôn giáo tổ chức của nó rất chặt chẽ và có hệ thống, tiêu biểu là
Công giáo, Chính thống giáo, Tin lành giáo.
+ Giáo hội được coi như là một nhà nước, vừa là một tổ chức bộ máy điều hành từ
trên xuống các địa phận, các cơ sở, vừa là một cộng đồng tôn giáo. -
Trong khi đó với đạo Phật, tổ chức của nó gọi là Tăng già, tổ chứckhông chặt
chẽ bằng, quần chúng tín đồ của đạo Phật sống ngoài đời, có nhiều người không
đứng trong tổ chức, có người xuất gia nhưng có người lại tu tại gia. -
Trong thời gian gần đây phát triển các tổ chức có tính xã hội gắn kết với một
tôn giáo. Đó là các giáo phái hòa quyện cả việc đạo lẫn việc đời, khó tách biệt rạch ròi.