














Preview text:
10:42, 08/01/2026
Ôn tập tự luận cuối kỳ CSVH: Văn hóa tự chủ thời Lý Trần và Hậu Lê - Studocu 9
NỘI DUNG ÔN TẬP PHẦN TỰ LUẬN THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
1. Thời kỳ văn hoá tự chủ: giai đoạn Lý Trần và Hậu Lê:
bối cảnh, thành tựu, ý nghĩa 2. Tín ngưỡng:
-Khái niệm và nguồn gốc
Khái niệm: Tín ngưỡng là
Nguồn gốc ra đời của tín ngưỡng:
-Một số tín ngưỡng ở Việt Nam: tín ngưỡng thờ Thành
Hoàng Làng, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương,
-Tín ngưỡng trong đời sống hiện tại:a vai trò, ý nghĩa và
những bất cập trong thực hành tín ngưỡng 10:42, 08/01/2026
Ôn tập tự luận cuối kỳ CSVH: Văn hóa tự chủ thời Lý Trần và Hậu Lê - Studocu
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP CUỐI KỲ
A. GỢI Ý ÔN TẬP VỀ NỘI DUNG CÁC CÂU HỎI TỰ LUẬN.
ND1: Thời kỳ văn hoá tự chủ (giai đoạn Lý Trần và Hậu
Lê): Bối cảnh; - Thành tựu; Ý nghĩa.@
Thời Lý – Trần là thời kỳ Phục hưng văn hóa dân tộc lần
thứ nhất, được đề cao nhất và là nền tảng cho văn hóa
VIệt Nam ở những giai đoạn tiếp theo
Gợi ý: Cần nêu được:
Mỗi dân tộc trên thế giới đều có một hành trình tìm kiếm và khẳng định bản sắc
văn hóa riêng. Với Việt Nam, hành trình đó đặc biệt gian nan khi phải trải qua
hơn một nghìn năm Bắc thuộc, chịu nhiều ảnh hưởng sâu sắc từ nền văn hóa
phương Bắc. Tuy nhiên, với ý chí tự cường và tinh thần độc lập, người Việt đã
không ngừng sáng tạo và vun đắp nên một nền văn hóa riêng biệt, đậm đà bản
sắc dân tộc. Đặc biệt, từ thời Lý - Trần đến Hậu Lê, văn hóa Đại Việt bước vào
thời kì văn hóa tự chủ, giai đoạn mà văn hóa được phát triển rực rỡ. Giai đoạn Lý - Trần
- Bối cảnh lịch sử thời kỳ Lý - Trần:
Văn hóa Việt bước vào công cuộc phục hưng sau 100 năm Bắc thuộc
+ Thời Lý (1010 - 1225): dời đô, mở đầu công cuộc phục hưng …
+ Thời Trần (1225 - 1400): tiếp tục phát triển và bảo vệ đất nước… …
Sau hơn một thế kỷ bị đô hộ bởi nhà Đường, văn hóa Đại Việt
bước vào công cuộc phục hưng mạnh mẽ dưới triều Lý - Trần.
Thời Lý (1010 - 1225) bắt đầu với sự kiện năm 1010, Lý Công
Uẩn dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên thành Thăng
Long. Đồng thời mở đầu cho giai đoạn phục hưng văn hóa Đại
Việt. Từ năm 1226, sau khi Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi cho
chồng là Trần Cảnh, nhà Trần được lập nên và kéo dài đến năm
1400. Sang thời Trần, nền văn hóa Đại Việt tiếp tục phát triển
mang bản sắc riêng biệt của dân tộc. Ở thời Lý – Trần, lãnh thổ
nước ta được mở rộng về phía Nam. Có thể nhắc đến như sự
kiện lịch sử, cuộc liên hôn của công chúa Huyền Trân và Quốc
Vương Chế Mân đã giúp bờ cõi nước ta được mở rộng ở Chiêm
Thành. Và đây cũng là thời kì thường xuyên diễn ra các cuộc
chiến tranh chống giặc ngoại xâm và nội chiến. 10:42, 08/01/2026
Ôn tập tự luận cuối kỳ CSVH: Văn hóa tự chủ thời Lý Trần và Hậu Lê - Studocu
- Các thành tựu văn hóa về mặt vật chất và tinh thần:
+ Văn hóa vật chất: Kiến trúc (Hoàng thành Thăng Long, An
Nam tứ đại khí), kinh tế…
+ Văn hóa tinh thần: Tư tưởng (khai phóng đa nguyên, tam
giáo tịnh tồn), văn hóa bác học, giáo dục - khoa cử, luật pháp (bộ luật Hình thư)…
+ Dấu ấn văn hóa Chăm pa:
Trong thời kỳ Lý - Trần, nền văn hóa Đại Việt phát triển rực rỡ với nhiều thành
tựu quan trọng cả về vật chất và tinh thần.
Về văn hóa vật chất, kiến trúc thời Lý - Trần thể hiện sự sáng tạo, kết hợp hài
hòa giữa yếu tố cung đình và tôn giáo. Tiêu biểu là Hoàng thành Thăng Long,
trung tâm chính trị và văn hóa của Đại Việt, với nhiều cung điện, lầu gác nguy
nga. Các công trình tôn giáo cũng phát triển mạnh, điển hình là chùa Một Cột,
có kiến trúc độc đáo như một bông sen nở giữa hồ, thể hiện ảnh hưởng sâu sắc
của Phật giáo. Ngoài ra, thời kỳ này còn nổi bật với An Nam tứ đại khí, gồm
tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng Phật chùa Quỳnh Lâm và vạc
Phổ Minh,. Kinh tế thời Lý - Trần cũng có bước tiến quan trọng, với chính sách
khai hoang, đắp đê, điển hình là Đê Đỉnh Nhĩ, giúp bảo vệ mùa màng, phát
triển nông nghiệp. Các làng nghề như gốm Bát Tràng, dệt lụa La Khê, rèn đúc
Thăng Long… ngày càng phát triển, góp phần thúc đẩy thương mại. Hoạt động
giao thương được mở rộng, với các bến cảng lớn như Vân Đồn, nơi buôn bán sầm uất.
Về văn hóa tinh thần, thời kỳ này nổi bật với tư tưởng khai phóng, đa
nguyên, thể hiện qua chính sách tam giáo tịnh tồn – Nho giáo, Phật giáo, Đạo
giáo cùng tồn tại và phát triển. Phật giáo giữ vai trò quan trọng, ảnh hưởng sâu
sắc đến đời sống xã hội, với nhiều vị vua sùng đạo như Lý Thánh Tông, Lý
Nhân Tông, Trần Nhân Tông. Đặc biệt, vua Trần Nhân Tông đã sáng lập
Thiền phái Trúc Lâm, một dòng thiền đặc trưng của Việt Nam, với tư tưởng
nhập thế gắn liền với đời sống thực tiễn. Bài thơ nổi tiếng của ông thể hiện tinh thần giác ngộ: "Ở đời vui đạo hãy tùy duyên, Đói cứ ăn đi, mệt ngủ liền. Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền."
(Cư trần lạc đạo phú – Trần Nhân Tông)
Bên cạnh đó văn học bác học phát triển mạnh, với nhiều tác phẩm kinh điển như
Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn, Nam
quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, Hịch
tướng sĩ của Trần Hưng Đạo. Hệ thống giáo dục – khoa cử được tổ chức chặt
chẽ, với sự ra đời của Quốc Tử Giám – trường đại học đầu tiên của Đại Việt. 10:42, 08/01/2026
Ôn tập tự luận cuối kỳ CSVH: Văn hóa tự chủ thời Lý Trần và Hậu Lê - Studocu
Về luật pháp, nhà Lý ban hành bộ luật Hình thư, là bộ luật thành văn đầu tiên
của Việt Nam, thể hiện tinh thần pháp quyền và bảo vệ công lý.
Ngoài ra, văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần còn chịu ảnh hưởng từ văn hóa Chăm
Pa với nhiều công trình kiến trúc, đặc biệt là tháp Chăm và các tượng thần
Hindu, được tiếp thu và biến đổi theo phong cách Việt. Nghệ thuật múa Chăm
và nhạc cụ như trống Paranưng, đàn đáy cũng được hòa nhập vào văn hóa Đại Việt.
- Ý nghĩa: Nêu đánh giá, nhận xét về vai trò của giai đoạn Lý - Trần
+ Giai đoạn Lý - Trần (1010 - 1400) là thời kỳ phát triển rực rỡ của văn hóa Đại Việt
+ Đặt nền tảng cho văn hóa Việt Nam giai đoạn sau
+ Là lần phục hưng văn hóa dân tộc lần thứ nhất trong giai
đoạn văn hóa thời tự chủ. Trong 3 lần phục hưng văn hóa dân
tộc của giai đoạn tự chủ, văn hóa thời Lý - Trần được đánh giá và đề cao nhất …
Giai đoạn Lý - Trần (1010 - 1400) được xem là thời kỳ phát triển
rực rỡ của văn hóa Đại Việt, đánh dấu sự khẳng định bản sắc
văn hóa dân tộc sau nhiều thế kỷ bị ảnh hưởng bởi phương Bắc.
Đây là lần phục hưng văn hóa dân tộc lần thứ nhất trong
giai đoạn văn hóa thời tự chủ, đồng thời cũng là thời kỳ được
đánh giá cao nhất trong ba lần phục hưng văn hóa của dân tộc.
Những thành tựu về kiến trúc, văn học, tư tưởng và giáo dục
thời kỳ này không chỉ thể hiện sự sáng tạo của người Việt mà
còn tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của văn hóa Việt
Nam trong các giai đoạn sau. Đặc biệt, tư tưởng tam giáo tịnh
tồn giúp dung hòa và phát huy giá trị của Phật giáo, Nho giáo
và Đạo giáo, tạo nên một nền văn hóa đa dạng, giàu bản sắc.
Những dấu ấn văn hóa thời Lý - Trần không chỉ phản ánh sự
hưng thịnh của Đại Việt mà còn khẳng định vai trò quan trọng
của giai đoạn này trong lịch sử văn hóa dân tộc. Giai đoạn Hậu Lê:
- Bối cảnh lịch sử giai đoạn Hậu Lê:
+ Văn hóa dân tộc bước vào công cuộc phục hưng sau 20 năm Minh thuộc
+ Hậu Lê thành lập sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn. Hậu Lê (1428 - 1789) gồm thời Lê sơ (1428 - 1527), Lê Trung Hưng (1533 - 1789). 10:42, 08/01/2026
Ôn tập tự luận cuối kỳ CSVH: Văn hóa tự chủ thời Lý Trần và Hậu Lê - Studocu
+ Giai đoạn Lê sơ là giai đoạn phát triển hoàng kim …
Giai đoạn Hậu Lê (1428-1789) là một trong những thời kỳ quan
trọng của lịch sử Việt Nam. Sau 20 năm Bắc thuộc dưới ách đô
hộ nhà Minh, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi đã mở ra triều
đại Hậu Lê với sự khôi phục và phát triển mạnh mẽ của văn hóa
dân tộc. Thời kỳ này được chia thành hai giai đoạn chính: Lê Sơ
(1428-1527) và Lê Trung Hưng (1533-1789). Trong đó giai
đoạn Lê sơ là giai đoạn phát triển hoàng kim. Thời kỳ này hưng
thịnh dưới triều Lê Thánh Tông với sự phát triển mạnh về kinh
tế, văn hóa và luật pháp. Tuy nhiên, sau Lê Thánh Tông, triều
đình dần suy yếu, quan lại tham nhũng, nội bộ tranh giành
quyền lực, dẫn đến sự sụp đổ của nhà Lê Sơ vào năm 1527 khi
Mạc Đăng Dung cướp ngôi, lập ra nhà Mạc. Giai đoạn Lê Trung
Hưng (1533-1789) chứng kiến sự phân tranh giữa chúa Trịnh ở
Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Cuối thế kỷ XVIII,
phong trào Tây Sơn do Nguyễn Huệ lãnh đạo lật đổ cả chúa
Trịnh lẫn chúa Nguyễn, kết thúc triều Hậu Lê vào năm 1789.
- Các thành tựu văn hóa về mặt vật chất và tinh thần:
+ Văn hóa vật chất: Kiến trúc, kinh tế…
+ Văn hóa tinh thần: Tư tưởng (Nho giáo), văn hóa bác học,
giáo dục - khoa cử, luật pháp (bộ luật Hồng Đức)…
Trong thời kỳ Hậu Lê, đặc biệt là giai đoạn Lê Sơ nền văn hóa Đại Việt phát
triển rực rỡ, đạt nhiều thành tựu quan trọng cả về vật chất và tinh thần. Đây là
giai đoạn đất nước được củng cố vững chắc sau chiến thắng
chống quân Minh, với sự ổn định về chính trị, phát triển về kinh
tế và hưng thịnh trong đời sống văn hóa, giáo dục.
Về văn hóa vật chất, kiến trúc thời Hậu Lê mang đậm dấu ấn quyền uy của
triều đình và tính quy củ trong quản lý nhà nước. Hoàng thành Thăng Long
tiếp tục được mở rộng và tu bổ, trở thành trung tâm hành chính và chính trị quan
trọng của đất nước. Ngoài ra, nhiều công trình đình, chùa, đền miếu được xây
dựng, phản ánh sự phát triển của tôn giáo, tín ngưỡng. Tiêu biểu là khu di tích
Lam Kinh (Thanh Hóa) – nơi thờ cúng tổ tiên nhà Lê và là một công trình kiến
trúc đặc sắc thời kỳ này. (Một số công trình lớn khác như đền thờ Nguyễn Trãi,
đền thờ Lê Thánh Tông cũng thể hiện tinh thần tôn vinh hiền tài của triều
đình.) Về kinh tế, triều đình thực hiện chính sách quân điền, chia ruộng đất cho
nông dân nhằm khuyến khích sản xuất nông nghiệp, giúp kinh tế phát triển ổn
định. Thủ công nghiệp phát triển mạnh với các làng nghề nổi tiếng như gốm 10:42, 08/01/2026
Ôn tập tự luận cuối kỳ CSVH: Văn hóa tự chủ thời Lý Trần và Hậu Lê - Studocu
Chu Đậu, dệt lụa Vạn Phúc, đúc đồng Ngũ Xã… Hoạt động thương mại cũng
mở rộng, với hệ thống chợ và giao thương với các nước trong khu vực.
Về văn hóa tinh thần, thời Hậu Lê đặc biệt đề cao Nho giáo, biến nó trở thành
tư tưởng chính thống trong quản lý nhà nước. Điều này thể hiện rõ qua việc coi
trọng đạo đức, lễ nghi và kỷ cương xã hội theo mô hình Trung Hoa. Văn học bác
học phát triển mạnh, với nhiều tác phẩm nổi bật bằng chữ Hán và chữ Nôm,
phản ánh tinh thần yêu nước và tư tưởng nhân văn sâu sắc. Tiêu biểu là các tác
phẩm của Nguyễn Trãi, như Bình Ngô đại cáo, được coi là bản tuyên ngôn độc
lập thứ hai của nước Việt Nam: "Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác."
Ngoài ra, hệ thống giáo dục - khoa cử được tổ chức bài bản, với các kỳ thi
Hương, thi Hội, thi Đình nhằm tuyển chọn nhân tài cho bộ máy cai trị. Văn
Miếu – Quốc Tử Giám tiếp tục là trung tâm giáo dục quan trọng, thu hút nhiều
sĩ tử trên cả nước. Tấm bia Tiến sĩ đầu tiên được dựng năm 1484 đời vua
Lê Thánh Tông và tấm bia cuối cùng được dựng vào năm 1780, đều
được dựng ở thời Hậu Lê. Cho tới ngày này, Quốc Tử Giám vẫn luôn là địa
điểm du lịch lịch sử nổi tiếng với 82 bia tiến sĩ được dựng nên, là minh chứng
cho sự tôn vinh hiền tài, đúng với quan niệm: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia." (Thân Nhân Trung)
Một thành tựu quan trọng khác là Bộ luật Hồng Đức, được ban hành dưới thời
vua Lê Thánh Tông. Đây là một trong những bộ luật tiến bộ nhất thời phong
kiến, với nhiều điều khoản bảo vệ quyền lợi của nhân dân, đặc biệt là phụ nữ.
Lần đầu tiên trong lịch sử, quyền sở hữu tài sản, quyền thừa kế và quyền ly hôn
của phụ nữ được bảo vệ rõ ràng. Bộ luật Hồng Đức không chỉ phản ánh tư tưởng
pháp quyền của triều đại Hậu Lê mà còn đặt nền móng cho sự phát triển của hệ
thống luật pháp Việt Nam sau này.
- Ý nghĩa: Nêu đánh giá, nhận xét về vai trò của giai đoạn Hậu - Lê
+ Thời Lê sơ được đánh giá là lần phục hưng văn hóa dân tộc
lần thứ hai trong giai đoạn văn hóa thời tự chủ
+ Đây cũng là thời kỳ văn hóa Việt bị “Hán hóa” một cách chủ
động và mạnh mẽ nhất trong 3 lần phục hưng văn hóa dân
tộc ở giai đoạn văn hóa tự chủ.
+ Thời kỳ Hậu Lê, đặc biệt là giai đoạn Lê Sơ (1428 - 1527),
được coi là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nền văn hóa Việt
Nam thời phong kiến. Đây là giai đoạn đánh dấu sự hoàn 10:42, 08/01/2026
Ôn tập tự luận cuối kỳ CSVH: Văn hóa tự chủ thời Lý Trần và Hậu Lê - Studocu
thiện của chế độ quân chủ tập quyền, sự phát triển mạnh mẽ
của Nho giáo và văn học, cũng như những thành tựu quan
trọng về giáo dục, luật pháp, khoa học và nghệ thuật.
Giai đoạn Hậu Lê, đặc biệt là thời kỳ Lê Sơ (1428-1527), được
xem là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nền văn hóa Việt Nam
thời phong kiến. Đây là giai đoạn đánh dấu sự hoàn thiện của
chế độ quân chủ tập quyền, với bộ máy nhà nước được tổ chức
chặt chẽ, luật pháp hoàn thiện và giáo dục phát triển mạnh mẽ.
Nho giáo trở thành tư tưởng chính thống, ảnh hưởng sâu sắc
đến đời sống chính trị, xã hội và văn hóa. Văn học chữ Hán và
chữ Nôm đều phát triển rực rỡ, với nhiều tác phẩm mang giá trị
tư tưởng và nghệ thuật cao. Đặc biệt, thời Lê Sơ được đánh giá
là lần phục hưng văn hóa dân tộc lần thứ hai trong lịch sử Việt
Nam thời kỳ tự chủ. Tuy nhiên, đây cũng là thời kỳ mà văn hóa
Việt chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa Hán, với quá trình “Hán
hóa” diễn ra một cách chủ động và mạnh mẽ hơn so với các giai
đoạn trước. Dù vậy, các giá trị văn hóa truyền thống vẫn được
bảo tồn và phát triển, tạo nên bản sắc riêng biệt cho văn hóa
Đại Việt. Những thành tựu đạt được trong giai đoạn này không
chỉ phản ánh sự thịnh vượng của triều đại Lê mà còn đặt nền
móng vững chắc cho sự phát triển văn hóa Việt Nam trong các thời kỳ sau.
Kết: Như vậy, có thể nói, giai đoạn Lý - Trần và Hậu Lê là thời kỳ rực rỡ của
nền văn hóa Đại Việt, đánh dấu sự khẳng định mạnh mẽ bản sắc dân tộc sau thời
gian dài chịu ảnh hưởng ngoại lai. Những giá trị văn hóa được hun đúc trong
thời kỳ này không chỉ góp phần xây dựng một xã hội thịnh trị mà còn trở thành
nền tảng quan trọng cho sự phát triển lâu dài của dân tộc. Dù thời gian có trôi
qua, dấu ấn của thời kỳ văn hóa tự chủ vẫn in đậm trong đời sống tinh thần,
nghệ thuật và tư tưởng của người Việt, chứng minh sức sống bền bỉ của một nền
văn hóa độc lập và giàu bản sắc. ND2: Tín ngưỡng: - Khái niệm; - Nguồn gốc;
- Một số tín ngưỡng ở Việt Nam (tín ngưỡng thờ
Thành Hoàng Làng, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương);
- Những bất cập trong thực hành tín ngưỡng. 10:42, 08/01/2026
Ôn tập tự luận cuối kỳ CSVH: Văn hóa tự chủ thời Lý Trần và Hậu Lê - Studocu
MB: Từ bao đời nay, người Việt luôn coi trọng đạo lý “Uống
nước nhớ nguồn”, xem đó như một truyền thống quý báu, gắn
liền với tinh thần biết ơn những bậc tiền nhân đã có công với
đất nước. Chính từ ý thức đó, nhiều tín ngưỡng thờ cúng đã ra
đời, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa
tâm linh của dân tộc. Trong số đó, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng Làng và
tín ngưỡng thờ cúng Vua Hùng có vai trò đặc biệt, phản ánh sâu sắc tinh thần
"uống nước nhớ nguồn" của dân tộc. Không chỉ mang ý nghĩa tâm linh,
hai tín ngưỡng này còn là sợi dây kết nối cộng đồng, lưu giữ những
giá trị văn hóa truyền thống qua nhiều thế hệ.
Gợi ý: Cần nêu - Khái niệm
Theo Luật Tôn giáo tín ngưỡng năm 2016, tín ngưỡng là niềm
tin của con người được thể hiện qua những lễ nghi gắn liền với
phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc để mang lại sự
bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.
- Nguồn gốc (bản chất/nguyên nhân ra đời của tín ngưỡng)
Tín ngưỡng ra đời từ nhu cầu nhận thức và đời sống tinh thần
của con người trong quá trình tồn tại và phát triển. Khi chưa có
khoa học, con người cổ đại đã tìm cách lý giải các hiện tượng tự
nhiên như sấm sét, hạn hán, bão lụt bằng niềm tin vào các thế
lực siêu nhiên. Từ đó, họ hình thành quan niệm về thần linh, ma
quỷ, linh hồn và các nghi thức thờ cúng nhằm cầu mong sự bình
an. Bên cạnh đó, môi trường sống và văn hóa từng khu vực
cũng ảnh hưởng đến sự hình thành tín ngưỡng, khiến mỗi dân
tộc có những hình thức thờ cúng khác nhau. Nhìn chung, bản
chất của tín ngưỡng vẫn là sự thiêng hóa một điều gì đó để đem
lại cảm giác an tâm cho con người về mặt tinh thần.
- Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng + Nguồn gốc
+ Đặc điểm khi du nhập vào Việt Nam
+ Xuất thân: Thiên thần, nhiên thần, nhân thần (chính thần, tà thần) + Phân cấp
+ Việc thực hành tín ngưỡng: Nơi thờ tự, thời gian thờ tự, đồ
lễ, Lễ hội, lễ mật…
+ Giới thiệu về một lễ hội địa phương
+ Ý nghĩa trong đời sống của người Việt 10:42, 08/01/2026
Ôn tập tự luận cuối kỳ CSVH: Văn hóa tự chủ thời Lý Trần và Hậu Lê - Studocu
TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG Ở VIỆT NAM
Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng
làng là một trong những nét văn
hóa tâm linh quan trọng của người Việt, phản ánh tinh thần tôn
thờ những bậc tiền nhân có công với cộng đồng. Thành Hoàng
làng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Thuật ngữ “Thành hoàng” là
một từ Hán Việt xuất hiện sau này để chỉ một khái niệm đã có từ
lâu đời, mà một số dân tộc miền núi gọi là ma làng. Đây là tín
ngưỡng phổ biến ở các làng quê Việt Nam, nhằm bảo vệ cuộc
sống bình yên và mang lại may mắn cho dân làng. Thành hoàng
xuất hiện ở Trung Quốc từ thời cổ đại và được thờ như là vị thần
bảo hộ cho một thành trì, một phủ, một châu hay một huyện.
Việc thờ THành hoàng phổ biến khắp Trung Quốc thời cổ đại, ở
đâu xây thành, đào hào là ở đó có Thành hoàng.
Tuy tín ngưỡng thờ thành hoàng có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng vì quy mô
và cơ cấu làng cổ Trung Quốc có nhiều điểm khác với làng cổ của Việt Nam,
nên tín ngưỡng thờ Thành hoàng của các làng Việt cổ cũng không giống tín
ngưỡng thờ Thành hoàng của làng cổ Trung Quốc. Việc thờ Thành hoàng của
nhiều làng xã Việt Nam đôi khi là thờ một sức mạnh tự nhiên nào đó (như thần
sông, thần núi, thần sấm, thần sét, thần mây, thần mưa). Trong số các vị thần
này, nơi nào thờ loại thần gì là tùy thuộc vào đặc điểm cư trú của làng đó. Chẳng
hạn, những làng ở hai bên bờ các con sông thường là thờ các vị thủy thần;
những làng ở trên sườn núi thường thờ thần núi (sơn thần). Điểm đặc biệt của tín
ngưỡng thờ Thành hoàng của các làng Việt cổ là chỗ, dù thời cuộc có biến đổi
như thế nào, dù làng có chuyển nơi cư trú bao nhiêu lần, dù chính sách tôn giáo
của Nhà nước có chặt chẽ hay cởi mở, dù dân làng giàu sang hay nghèo túng,..
thì nhân vật được dân làng thờ làm Thành hoàng vẫn không thay đổi, mà tồn tại
mãi mãi, suốt từ đời này đến đời khác.
Các Thành hoàng có thể được chia thành: thiên thần (mây, mưa, không gian,
thời gian), nhiên thần (đất, nước, sông, núi, hà bá), nhân thần (chính thần, tà
thần). Thời xưa, các thành hoàng được vua sắc phong (gọi chung là Phúc Thần)
thành ba bậc. Thượng đẳng
thần gồm các Thiên thần (như Tản Viên Sơn
Thánh, Chử Đồng Tử, Mẫu Liễu Hạnh…) có sự tích linh thiêng, không rõ tung tích; và Nhân
thần (như Trần Hưng Đạo, Triệu Quang Phục…) có công lớn với
dân nước, được vua phong sắc hoặc dân thờ. Trung đẳng thần là những vị thần
dân làng thờ đã lâu, có họ tên mà không rõ công trạng; hoặc là có quan tước mà
không rõ họ tên, hoặc là những thần có chút linh vị, tới khi nhà vua sai tinh kỳ
đảo võ, cũng có ứng nghiệm thì triều đình cũng phong làm Trung đẳng thần. Hạ
đẳng thần do dân xã thờ phụng, mà không rõ sự tích ra làm sao, nhưng cũng
thuộc về bậc chính thần, thì triều đình cũng theo lòng dân mà phong cho làm Hạ đẳng thần 10:42, 08/01/2026
Ôn tập tự luận cuối kỳ CSVH: Văn hóa tự chủ thời Lý Trần và Hậu Lê - Studocu
Để thờ phụng Thần hoàng, nhiều làng lập miếu thờ. Rồi theo lệ ngày mùng 1 và
ngày rằm dân làng đến miếu để làm lễ Vấn (theo nghĩa kính viếng). Miếu này
còn gọi là “nghè”, nơi gìn giữ sắc thần. Ngày tế lễ, dân làng rước sắc thần từ
miếu đến đình để cử hành việc tế lễ, sau đó đưa trở về miếu. Để đơn giản hóa,
sau nhiều làng chỉ xây một cái đình lớn, phía ngoài làm nơi hội họp (đình), phía
trong là miếu. Lễ vật dâng cúng có thể gồm xôi, gà, rượu, hoa quả,
đôi khi có cả trâu, bò trong các lễ hội lớn. Ngoài ra, có những lễ
mật – nghi lễ bí truyền chỉ do các chức sắc trong làng thực hiện.
Một trong những lễ hội tiêu biểu gắn liền với tín ngưỡng thờ Thành Hoàng Làng
ở Việt Nam là Lễ hội làng Phù Đổng (hay còn gọi là hội Gióng), được tổ chức
hằng năm tại xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Lễ hội nhằm tưởng nhớ và
tôn vinh Thánh Gióng – vị anh hùng huyền thoại trong truyền thuyết, người đã
có công đánh đuổi giặc Ân, bảo vệ bờ cõi nước ta. Diễn ra từ mùng 6 đến mùng
12 tháng 4 âm lịch, lễ hội gồm nhiều nghi thức quan trọng như rước kiệu, tế
Thành Hoàng và đặc biệt là màn tái hiện trận đánh của Thánh Gióng. Ngoài các
nghi thức tâm linh, hội Gióng còn có nhiều hoạt động văn hóa như hát quan họ,
múa rối nước và các trò chơi dân gian, thu hút đông đảo người dân và du khách
tham gia. Không chỉ mang ý nghĩa tôn vinh bậc tiền nhân, lễ hội còn thể hiện
tinh thần đoàn kết cộng đồng và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Với những giá
trị lịch sử và văn hóa đặc sắc, hội Gióng đã được UNESCO công nhận là Di sản
văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (năm 2010).
Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng có ý nghĩa sâu sắc trong đời
sống của người Việt. Nó không chỉ thể hiện lòng biết ơn đối với
các bậc tiền nhân mà còn giúp cố kết cộng đồng, duy trì bản
sắc văn hóa và truyền thống làng quê. Thông qua các lễ hội,
người dân có cơ hội gặp gỡ, gắn kết, đồng thời giáo dục thế hệ
sau về lịch sử, đạo lý và tinh thần yêu nước. Tín ngưỡng này đã
góp phần tạo nên một nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.
- Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương + Nguồn gốc
+ Việc thực hành tín ngưỡng
+ Ý nghĩa trong đời sống của người Việt
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương bắt nguồn từ truyền thuyết về Các Vua Hùng
– những người được coi là thủy tổ của dân tộc Việt Nam, con của Lạc Long
Quân và Âu Cơ, đã dựng nên nhà nước Văn Lang. Theo sử sách và truyền
thuyết, các Vua Hùng là tổ tiên của dân tộc Việt Nam, có công
khai phá, xây dựng đất nước và truyền dạy cho con dân nghề 10:42, 08/01/2026
Ôn tập tự luận cuối kỳ CSVH: Văn hóa tự chủ thời Lý Trần và Hậu Lê - Studocu
nông, săn bắt, đánh cá. Chính vì vậy, từ xa xưa, nhân dân ta đã lập đền
thờ và tổ chức lễ cúng để tỏ lòng biết ơn công lao dựng nước của các vị vua
Hùng. Ban đầu, tín ngưỡng này phổ biến ở vùng trung du và miền núi phía Bắc,
đặc biệt là Phú Thọ – nơi vua Hùng đóng đo, và hiện nay là nơi đặt Đền Hùng,
sau đó lan rộng khắp cả nước, trở thành một nét văn hóa thiêng liêng. Tín
ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không chỉ là một phong tục dân
gian mà còn được Nhà nước công nhận, với ngày Giỗ Tổ Hùng
Vương (10/3 âm lịch) trở thành quốc lễ của Việt Nam.
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được thực hành rộng rãi trên cả nước, với
trung tâm chính là Khu di tích lịch sử Đền Hùng (Phú Thọ). Hằng năm, vào
ngày 10/3 âm lịch, hàng triệu người dân hành hương về đây để tham gia lễ Giỗ
Tổ, bày tỏ lòng thành kính với các bậc tiền nhân. Lễ hội diễn ra với nhiều nghi
thức long trọng như rước kiệu, dâng hương, tế lễ cùng với các lễ vật truyền
thống như bánh chưng, bánh dày – biểu tượng của trời đất, gắn liền với truyền
thuyết Lang Liêu. Hình ảnh con cháu tụ hội về Đền Hùng không chỉ thể hiện
tinh thần “Uống nước nhớ nguồn” mà còn làm sống lại câu ca dao quen thuộc:
"Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba."
Không chỉ tại Phú Thọ, nhiều địa phương khác cũng tổ chức nghi lễ thờ cúng
Hùng Vương tại đình làng, miếu thờ, thể hiện lòng tôn kính với tổ tiên dân tộc.
Ngay cả cộng đồng người Việt ở nước ngoài cũng tổ chức dâng hương, hướng
về cội nguồn, như một cách gìn giữ bản sắc dân tộc. Lễ hội Giỗ Tổ còn là dịp để
tổ chức các hoạt động văn hóa truyền thống như hát xoan, thi đấu vật, kéo co,
rước kiệu, góp phần duy trì những giá trị tinh thần lâu đời của dân tộc.
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương mang ý nghĩa to lớn trong đời
sống của người Việt, thể hiện truyền thống "Uống nước nhớ
nguồn" và tinh thần đoàn kết dân tộc. Việc thực hành tín ngưỡng này
giúp người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, hiểu về công lao của các Vua Hùng trong
thời kỳ dựng nước, từ đó hun đúc ý chí xây dựng và bảo vệ quê hương. Câu nói
của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu
ta phải cùng nhau giữ lấy nước” là lời nhắc nhở về trách nhiệm bảo vệ và phát
triển đất nước của mỗi thế hệ. Ngoài ra, tín ngưỡng này còn góp phần bảo tồn và
phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương không chỉ
là dịp để người dân dâng hương tưởng nhớ tổ tiên mà còn là cơ hội để giao lưu,
gìn giữ các phong tục cổ truyền như hát xoan, rước kiệu, đấu vật, kéo co.
Những hoạt động này tạo nên bản sắc riêng của nền văn hóa Việt Nam, giúp thế
giới hiểu hơn về truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Bên cạnh đó, năm
2012, UNESCO đã công nhận "Tín ngưỡng thờ cúng Hùng
Vương ở Phú Thọ" là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. 10:42, 08/01/2026
Ôn tập tự luận cuối kỳ CSVH: Văn hóa tự chủ thời Lý Trần và Hậu Lê - Studocu
- Những bất cập thực hành những tín ngưỡng: (tham khảo các ý sau)
+ Thương mại hóa tín ngưỡng
+ Mê tín dị đoan, lợi dụng tín ngưỡng để trục lợi …
Mặc dù tín ngưỡng có vai trò quan trọng trong đời sống tinh
thần, nhưng quá trình thực hành tín ngưỡng hiện nay cũng bộc
lộ nhiều bất cập. Một trong những vấn đề đáng lo ngại là sự
thương mại hóa tín ngưỡng, khi nhiều hoạt động thờ cúng, lễ
hội bị biến tướng thành cơ hội kinh doanh, trục lợi. Không ít
người sẵn sàng chi tiền mua lễ vật đắt đỏ, dâng sao giải hạn với
niềm tin rằng có thể "mua chuộc" thần linh, dẫn đến tình trạng
lệch lạc trong nhận thức và làm mất đi giá trị văn hóa vốn có.
Bên cạnh đó, mê tín dị đoan cũng là một hệ lụy tiêu cực, khi
nhiều người tin vào bói toán, cúng bái vô căn cứ, thậm chí bị lừa
đảo bởi những kẻ lợi dụng tín ngưỡng để kiếm lợi bất chính.
Những hiện tượng này không chỉ gây lãng phí tiền bạc, mà còn
ảnh hưởng đến sự trong sáng của đời sống tâm linh và làm méo
mó ý nghĩa tốt đẹp của tín ngưỡng trong xã hội. Do đó, cần
nâng cao nhận thức cộng đồng, giữ gìn bản sắc tín ngưỡng chân
chính và loại bỏ những hành vi lệch lạc, lợi dụng lòng tin của con người.
Kết: Như vậy, thông qua việc tìm hiểu về tín ngưỡng của người Việt Nam, ta đã
có một cái nhìn khái quát hơn về khái niệm, ý nghĩa và các tín ngưỡng tiêu biểu
của người Việt. Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng Làng và tín ngưỡng thờ cúng Vua
Hùng không chỉ là những hình thức thờ cúng mang ý nghĩa tâm linh, mà còn thể
hiện sâu sắc tinh thần biết ơn và niềm tự hào dân tộc của người Việt. Trải qua
bao thế hệ, hai tín ngưỡng này vẫn giữ được giá trị bền vững, góp phần gắn kết
cộng đồng và bảo tồn những nét đẹp văn hóa truyền thống. Việc gìn giữ và phát
huy những tín ngưỡng này không chỉ giúp con người tìm về cội nguồn mà còn
thể hiện trách nhiệm của mỗi thế hệ trong việc tiếp nối những giá trị tốt đẹp của dân tộc.
B. CÁCH TRÌNH BÀY CÂU TỰ LUẬN
- Mọi sự sao chép từ 15% trở lên đều bị tính là đạo văn, trừ các trích dẫn.
- Viết thành 1 bài viết hoàn chỉnh, đủ Mở - Thân - Kết. Tuyệt
đối không được viết GẠCH ĐẦU DÒNG như dạng đề cương.
Phần thân bài gồm các đoạn, mỗi đoạn là một luận điểm để 10:42, 08/01/2026
Ôn tập tự luận cuối kỳ CSVH: Văn hóa tự chủ thời Lý Trần và Hậu Lê - Studocu
trả lời câu hỏi. Trong đoạn cần nêu đặc điểm của hiện tượng,
dẫn chứng/ví dụ minh họa. Ví dụ:
Tính linh hoạt của người Việt được thể hiện trong
cách tiếp thu biến đổi các yếu tố văn hóa ngoại lai (Luận
điểm) . Người Việt không chối từ các ảnh hưởng của
văn hóa ngoại lai nhưng người Việt không sao chép y nguyên
mà biến đổi hoặc tiếp thu một phần nào đó phù hợp với lối
sống, điều kiện sống của dân tộc (Luận cứ hay lập luận để
làm rõ luận điểm). Ví dụ như hiện tượng lớp từ Hán - Việt
trong tiếng Việt. Đây là thành quả của quá trình người Việt
tiếp thu ngôn ngữ Trung Hoa trong suốt hàng nghìn năm. Từ
Hán - Việt là những từ gốc Hán nhưng đã được người Việt đọc,
hiểu theo cách của người Việt..... Về vấn đề này, nhà nghiên
cứu Nguyễn Tài Cẩn trong cuốn “Nguồn gốc và quá trình hình
thành từ Hán- Việt” đã có nhận xét rằng: “........” (luận chứng:
nêu các ví dụ cụ thể, trích dẫn thực tế để minh chứng) Bên cạnh ....., thì .... Ngoài ra, ......
Như vậy, ta có thể thấy, ...... 10:42, 08/01/2026
Ôn tập tự luận cuối kỳ CSVH: Văn hóa tự chủ thời Lý Trần và Hậu Lê - Studocu 10:42, 08/01/2026
Ôn tập tự luận cuối kỳ CSVH: Văn hóa tự chủ thời Lý Trần và Hậu Lê - Studocu