Thừa kế
I. Mở đầu
a. Vai trò của quyền thừa kế trong xã hội La Mã
Trong hội La cổ đại, quyền thừa kế (ius hereditarium) đóng vai trò cùng
quan trọng trong việc duy trì trật tự kinh tế hội củng cố nền tảng gia tộc. Tài
sản không chỉ mang giá trị vật chất mà còn là biểu tượng của địa vị, danh dự và quyền
lực của dòng họ. Khi người đứng đầu gia đình (paterfamilias) qua đời, quyền thừa kế
bảo đảm sự chuyển giao trật tự này sang thế hệ kế tiếp, nhằm duy trì sự ổn định
liên tục của đơn vị gia đình, vốn được xem tế bào cơ bản của nhà nước La Mã.
vậy, chế định thừa kế không chỉ là công cụ pháp lý điều chỉnh quan hệ tài sản, mà còn
biểu hiện của cấu trúc hội tưởng đạo đức thời bấy giờ: tôn ti, huyết thống
và bổn phận của con cháu đối với tổ tiên.
b. Khái niệm Hereditas
Theo pháp luật La Mã, hereditas được hiểu là quyền kế thừa toàn bộ tài sản, quyền lợi
và nghĩa vụ pháp lý của người đã chết. Người được thừa kế (heres) không chỉ nhận tài
sản còn tiếp nhận cả những khoản nợ nghĩa vụ người chết để lại. Điều này
cho thấy di sản (patrimonium) được nhìn nhận như một khối thống nhất, không tách
biệt giữa quyền và nghĩa vụ.
Khác với quan niệm hiện đại, hereditas không đơn thuần quyền lợi vật chất,
sự kế thừa địa vị pháp hội của người quá cố. vậy, việc được chỉ định làm
heres đồng nghĩa với việc trở thành “người kế vị” trong cả nghĩa pháp đạo đức,
tiếp tục duy trì danh dự và trách nhiệm của gia đình trong cộng đồng La Mã.
c. Hai hình thức thừa kế trong xã hội La Mã
Luật La Mã phân biệt hai hình thức thừa kế cơ bản:
Thừa kế theo di chúc (testamentum):
Đây là hình thức thể hiện rõ nhất ý chí cá nhân của người lập di chúc (testator). Người
này quyền chỉ định một hoặc nhiều người kế vị, cũng như phân chia tài sản, thiết
lập fideicommissum (tín thác thừa kế), hoặc đưa ra các điều kiện ràng buộc. Theo thời
gian, pháp luật La dần mở rộng phạm vi tự do lập di chúc, phản ánh sự phát triển
của tư duy cá nhân và tôn trọng quyền định đoạt của chủ sở hữu.
Thừa kế theo pháp luật (ab intestato):
Áp dụng khi người chết không để lại di chúc hợp pháp. Trong trường hợpy, pháp
luật xác định thứ tự những người có quyền thừa kế theo quan hệ huyết thống. Ban đầu,
Luật 12 Bảng ưu tiên người cùng huyết thống theo dòng cha (agnati), nhưng v sau,
đặc biệt dưới thời Justinian, phạm vi được mở rộng đến cả huyết thống tự nhiên
(cognati), vợ, con nuôi và những người phụ thuộc. Sự thay đổi này cho thấy bước tiến
lớn của tư duy pháp lý La Mã, từ chú trọng bảo tồn gia tộc sang bảo vệ quyền cá nhân
và tình thân tự nhiên.
d. Lịch sử ra đời của luật thừa kế trong xã hội La Mã
Luật thừa kế trong hội La Mã cổ đại ra đời phát triển song song với sự thay đổi
của cơ cấu hội La Mã. Ngay từ Luật XII Bảng (Lex Duodecim Tabularum, khoảng
năm 450 TCN) - bộ luật thành văn đầu tiên của La - đã quy định về hai hình
thức thừa kế cơ bản: thừa kế theo di chúc (testamentum) và thừa kế theo pháp luật (ab
intestato). giai đoạn này, việc lập di chúc phải tuân thủ những nghi lễ trang trọng,
phản ánh tưởng coi trọng trật tự gia đình vai trò của người gia trưởng (pater
familias). Đồng thời, khi người gia trưởng qua đời không để lại di chúc, tài sản sẽ
được chuyển cho những người đàn ông cùng huyết thống trong dòng họ cha (agnati)
theo thứ tự ưu tiên chặt chẽ (Buckland, 1921). Phụ nữ con đã ra khỏi quyền gia
trưởng không được hưởng di sản.
Sang thời Cộng hoà (thế kỷ III–I TCN), cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng
hoá nhân hoá tài sản, pháp luật thừa kế được mở rộng linh hoạt hơn. Người
lập di chúc (testator) quyền tự do chỉ định người thừa kế (heres) ngoài phạm vi
huyết thống. Các sắc lệnh của quan chấp chính (Praetor’s Edict) đã mở rộng quyền
thừa kế cho cả những người có quan hệ huyết thống thực (cognati), vợ hoặc con nuôi.
Đặc biệt, hình thức tín thác thừa kế (fideicommissum) ra đời, cho phép người lập di
chúc gửi gắm ý chí của mình thông qua người được uỷ thác.
Đến thời Đế chế (từ thế kỷ I TCN trở đi), luật thừa kế đạt đến mức độ hoàn thiện cao,
đặc biệt dưới triều đại Hoàng đế Justinian với Corpus Juris Civilis. H thống y
khẳng định nguyên tắc bình đẳng giữa các con, không phân biệt giới tính hay nguồn
gốc, đồng thời bảo vệ quyền lợi của vợ, con nuôi những người phụ thuộc. Thứ tự
thừa kế theo pháp luật được quy định chặt chẽ, phản ánh sự nhân đạo công bằng
trong pháp La Mã. Một số dụ cụ thể thể hiện mức độ hoàn thiện cao của quyền
thừa kế:
1. Mở rộng quyền lập di chúc (testamentum)
- Dưới thời Augustus (27 TCN 14 SCN), việc lập di chúc trở nên linh hoạt
hơn, không còn gắn chặt với nghi lễ tôn giáo cổ truyền.
- Luật cho phép công n lập di chúc bằng văn bản, được chứng thực trước 7
nhân chứng (testamentum per aes et libram dần được thay bằng hình thức giản
tiện hơn).
→ Thể hiện tính thực tiễn và cá nhân hóa trong quyền định đoạt tài sản.
2. Thừa nhận quyền thừa kế của phụ nữ và họ hàng bên mẹ (cognati)
- Dưới thời Hoàng đế Hadrian (117–138 SCN) Antoninus Pius (138–161
SCN), luật bắt đầu công nhận quyền thừa kế của: Con gái, cháu ngoại, thân
thích bên mẹ, vốn trước đây bị loại khỏi thừa kế theo agnati.
- Điều này phản ánh sự chuyển dịch từ hệ thống huyết thống cha (agnatic) sang
hệ thống huyết thống tự nhiên (cognatic).
Như vậy, từ Luật 12 Bảng (khoảng 450 TCN) đến thời (Justinian từ năm 527 đến 565)
SCN, luật thừa kế La đã phát triển từ khuôn khổ dòng họ sang chế thừa kế
nhân, thể hiện rõ xu hướng tiến bộ của nền pháp luật phương Tây cổ đại.
e. Mục tiêu và giá trị lịch sử – pháp lý
Nghiên cứu luật thừa kế La giúp nhận diện quá trình phát triển duy pháp
của nhân loại. Từ chỗ coi tài sản biểu tượng của gia tộc, pháp luật La đã tiến
đến coi thừa kế quyền dân sự cá nhân, đặt nền móng chotưởng pháp quyền hiện
đại. Những nguyên tắc như tự do lập di chúc, trách nhiệm kế thừa nghĩa vụ, công
bằng giữa những người thừa kế đều có nguồn gốc từ nền pháp luật này.
Ảnh hưởng của luật thừa kế La lan rộng khắp châu Âu, thể hiện trong Bộ luật
Dân sự Napoléon và các hệ thống luật dân sự hiện đại. Qua đó, có thể khẳng định rằng
chế định thừa kế của La Mã không chỉ là di sản lịch sử,còn là nền tảng lý luận
đạo lý pháp lý cho toàn bộ tư tưởng pháp luật phương Tây sau này.
2.Thừa kế theo di chúc
1. Khái niệm di chúc
- Di chúc quyết định của người tài sản sau khi chết sẽ chuyển tài sản của
mình cho người thừa kế
- Di chúc là giao dịch một bên (hành vi pháp lý đơn phương) vì nó thể hiện ý chí
của người lập di chúc. Di chúc không được coi một khế ước (những giao
dịch dân sự được thiết lập trên sở thỏa thuận giữa các bên với nhau), bởi
di chúc không thể hiện ý chí của người thừa kế. Hành vi của người lập di chúc
với hành vi của người thừa kế theo di chúc độc lập với nhau
- Người lập di chúc quyền sửa đổi, bổ sung hoặc hủy di chúc bất ckhi nào.
Nếu có người lập nhiều di chúc thì di chúc sau có giá trị hơn di chúc trước
2. Điều kiện có hiệu lực của di chúc
- Để di chúc có hiệu lực, cần bảo đảm các điều kiện về năng lực của người lập di
chúc, hình thức hợp pháp, và người được chỉ định thừa kế
Năng lực lập di chúc
- Người lập di chúc phải đầy đủ năng lực hành vi dân sự tại thời điểm lập di
chúc. Người chưa thành niên hoặc người bị tâm thần, mất năng lực hành vi hay
phạm tội nghiêm trọng không được lập di chúc
Hình thức của di chúc
- Di chúc phải được lập hợp pháp, có thể là bằng miệng hoặc bằng văn bản
+ Trong luật La Mã, di chúc được yêu cầu rất chặt chẽ (ví dụ: di chúc
miệng đòi hỏi phải có đủ 7 người làm chứng)
+ Di chúc văn bản không bắt buộc hình thức nghiêm ngặt. Di chúc thể
do người lập tự viết hoặc được xác nhận bởi quan thẩm quyền,
hoặc lập trước tòa án và được quan tòa chứng nhận
Người được chỉ định thừa kế
- Người thừa kế phải có năng lực hưởng di sản và được chỉ định rõ ràng trong di
chúc, nếu chỉ định không cụ thể thì di chúc không có giá trị
+ Trường hợp chỉ định thai nhi, thai nhi phải đã hình thành vào thời điểm
người lập di chúc chết
+ Con của người phạm tội phản quốc không được hưởng di sản
+ thể đặt điều kiện hưởng di sản, dụ phải chăm sóc phần mộ hoặc
hoàn thành nghĩa vụ nào đó; nếu không thực hiện, họ sẽ mất quyền
hưởng
+ Ngoài ra, di chúc có thể chỉ định người thừa kế dự bị, nhưng nếu người
được chỉ định đầu tiên chết trước thời điểm mở thừa kế thì người dự bị
không được hưởng thay
Nghĩa vụ của người thừa kế
- Người thừa kế có thể được giao một số nghĩa vụ nhất định (như xây lăng mộ, lo
tang lễ...). Nếu người thừa kế không thực hiện nghĩa vụ đó, Nhà nước thể
cưỡng chế thi hành để đảm bảo nghĩa vụ được hoàn tất
3. Kỷ phần bắt buộc cho những người thân thích
Lí do hình thành
- Ban đầu, trong Luật XII cổ đại, người lập di chúc toàn quyền định đoạti
sản, chia cho ai tùy ý “Chủ gia chia tài sản thế nào thì sẽ theo như thế”; những
người thân thuộc phải thực hiện ý nguyện người chết một cách đầy đủ
- Tuy nhiên, trong xã hội gia đình phụ hệ, tài sản là của gia đình, được tạo ra bởi
nhiều thành viên
Nếu người lập di chúc chia hết tài sản cho người ngoài hoặc chỉ một người, thì các
thành viên khác bị thiệt thòi, không được hưởng phần do mình góp tạo ra
vậy, pháp luật đặt ra giới hạn cho quyền định đoạt của người lập di chúc nhằm
bảo vệ quyền lợi chính đáng của người thân
Quy định ở thời kỳ cổ đại
- Người lập di chúc phải để lại tài sản cho những người phụ thuộc (thường
con)
- Nếu truất quyền thừa kế của họ không do chính đáng, di chúc thể
bị gia tộc phản đối hoặc bị coi là vô hiệu
- Khi truất quyền thừa kế con trai, phải nêu tên trong di chúc. Nếu chỉ nói
chung chung, di chúc không có giá trị
- Việc truất quyền thừa kế của con gái không cần nhất thiết phải nói rõ họ tên
Nếu những người thừa kế hưởng kỷ phần bắt buộc vi phạm nghiêm trọng nghĩa
vụ của mình đối với người lập di chúc thì thể theo quyết định của quan tòa,
người đó sẽ không được hưởng kỷ phần bắt buộc
=> Kỷ phần bắt buộc phần di sản tối thiểu người thừa kế được hưởng trong
trường hợp người để lại thừa kế không cho hưởng di sản hoặc cho hưởng ít hơn so với
với phần di sản tối thiểu mà họ được hưởng.vậy trong trường hợp này, người thừa
kế bắt buộc sẽ có quyền khởi kiện yêu cầu quan tòa cho hưởng một kỷ phần bắt buộc
hoặc yêu cầu được bổ sung phần tài sản hợp pháp để đủ kỷ phần bắt buộc
Chế định kỷ phần bắt buộc trong từng thời kỳ
a) Thời kỳ đầu: kỷ phần bắt buộc bằng ¼ một suất thừa kế nếu chia theo luật
dụ: A hai con B C, A di chúc cho B toàn bộ tài sản, truất quyền thừa kế
của C, vậy nếu A chết thì tài sản của A sẽ được chia như sau (giả sử A có 100 aosơ):
- Một suất thừa kế là 100 : 2 = 50 aosơ
- C sẽ được hưởng ¼ 50 aosơ = 12,5 aosơ, B được hưởng: 100 12,5 = 87,5
aosơ
b) Dưới thời Hoàng đế Justinian việc phân chia kỷ phần bắt buộc rất chi tiết với
nguyên tắc sau:
- Nếu như một suất thừa kế được chia lớn hơn ¼ di sản thừa kế thì kỷ phần bắt
buộc là 1/3 một suất thừa kế
- Nếu như một suất thừa kế nhỏ hơn hoặc bằng ¼ giá trị di sản thì kỷ phần bắt
buộc bằng ½ một suất thừa kế
dụ 1: A 3 con B, C, D. A di chúc cho B toàn bộ 900 aosơ, C D bị truất
quyền thừa kế.
- Đầu tiên ta phải xác định một suất thừa kế nếu chia theo luật = 900 : 3 = 300
aosơ
- Vì một suất thừa kế là 300 aosơ lớn hơn ¼ di sản (1/4 di sản bằng 900 : 4 = 225
aosơ)n C , D mỗi người sẽ được hưởng 1/3 một suất thừa kế = 1/3 x 300 =
100 aosơ, B được hưởng: 900 – (100 + 100) = 700 aosơ
Ví dụ 2: A có 6 con B, C, D, E, G, H; A di chúc cho B toàn bộ 900 aosơ, những người
còn lại bị truất quyền thừa kế
- Một suất thừa kế 900 : 6 = 150 aosơ. một suất thừa kế nhỏn ¼ di sản
(225 aosơ) nên một kỷ phần bắt buộc là ½ x 150 = 75 aosơ. Vậy C, D, E, G, H
mỗi người được hưởng 75 aosơ; B được hưởng: 900 – (75 x 5) = 525 aosơ
3. Thừa kế theo pháp luật
1. Sự phát triển của chế định thừa kế theo pháp luật
Trong luật La cổ đại tồn tại hình thức thừa kế theo pháp luật. Trình tự thừa
kế theo pháp luật được thực hiện đối với những tài sản mang tính chất chung của gia
đình đối với những người quan hệ huyết thống trực hệ. Trong Luật XII bảng quy
định những người được thừa kế theo pháp luật bao gồm những người thân thích theo
huyết thống. Trường hợp người chết không lập di chúc định đoạt tài sản của mình cho
người thừa kế thì di sản được chia cho những người thân thuộc theo thứ tự huyết
thống. Đấy nguyên tắc thừa kế chuyển tiếp một lần. Theo Luật XII bảng không
chấp nhận sự kế tục thừa kế giữa những người quan hệ huyết thống từ gần đến xa.
Trường hợp một người chết không những người thừa kế huyết thống trực hệ thì di
sản được chia cho những người cùng dòng họ theo huyết thống.
Quá trình phát triển kinh tế đã làm thay đổi đời sống hội xuất hiện sự
thay đổi của quan hệ sở hữu tư nhân. Quan hệ thừa kế tồn tại theo huyết thống trực hệ
dần dần được bổ sung quan hệ huyết thống thân thích và thừa kế được chia thứ tự nhất
định.
- Hàng thứ nhất gồm các con (con đẻ, con nuôi). thời kỳ cổ đại pháp luật
quy định những người con đẻ được thừa kế di sản của gia chủ. Vì những người con đẻ
họ trực tiếp đồng góp công sức của mình để tạo ra tài sản bằng nhiều phương thức
khác nhau. Họ làm ra tài sản đ cho chính họ hưởng hoặc tham gia vào các giao dịch
được tài sản thuộc về mình. Các quan tòa cho rằng con đẻ cũng như con nuôi
đều được thừa kế của gia chủ và đều dưới quyền của gia chủ.
- Hàng thừa kế thứ hai. Theo luật của Pháp quan bao gồm những người
quan hệ huyết thống trực hệ.
- Hàng thừa kế thứ ba bao gồm những người quan hệ huyết thống thân
thích trong vòng 6 đời. Theo thứ tự được hưởng là từ gần đến xa (có hàng gần thì loại
bỏ hàng xa).
- Hàng thừa kế thứ tư là vợ góa, chồng góa.
Trong quan hệ thừa kế theo huyết thống thân thích thì di sản thừa kế được
chuyển cho những người thừa kế hàng thứ nhất. Nếu không những người hàng
thứ nhất thì di sản được chuyển cho những người hàng thừa kế thứ hai hoặc các
hàng tiếp theo.
Hình thức thừa kế theo pháp luật được xây dựng hoàn thiện nhất trong luật của
Hoàng đế Justinian. Theo luật của Hoàng đế Justinian thì diện những người thừa kế
đầu tiên các con, các cháu, các chắt của người chết. Trước hết những người hưởng
thừa kế phải là các con, đây những người quan hệ gần gũi nhất đối với người để
lại thừa kế.
Trường hợp bố mẹ chết trước ông thì cháu thay thế vị trí của bố, mẹ hưởng
di sản của ông bà (thừa kế thế vị). Trường hợp này các cháu không phải là người nhận
thừa kế thay cho bố, mẹ cháu người thừa kế nhận di sản của ông bà. Nếu các
cháu chết trước ông bà, thì các chắt thay thế vị trí đó để nhận di sản của các cụ
Thừa kế thế vị còn được coi thừa kế đại diện. Trường hợp bố hoặc mẹ chết
trước ông bà thì các cháu thay thế vị trí của bố, mnhận một suất thừa kế mà lẽ ra bố,
mẹ chúng còn sống sẽ được hưởng thừa kế. Những người thừa kế thế vị không phải
thừa kế di sản của bố, mẹ mình mà họ là người thừa kế của ông, bà.
Nếu bố mẹ chết sau ông, bà nhưng chưa kịp nhận di sản của ông, bà thì khi mở
thừa kế phải xác định khối di sản của bố, mẹ bao gồm tài sản riêng i sản được
thừa kế của ông, bà. Phần di sản này thể được chia theo di chúc hoặc chia theo
pháp luật. Hàng thừa kế theo luật của Justinian :
- Hàng thứ nhất : Các con (cháu).Khi mở thừa kế các con của người thừa kế
(con đẻ, con nuôi) được nhận di sản của bố, mẹ mỗi người được hưởng một kỳ
phần ngang nhau. Trường hợp con chết trước bố hoặc mẹ thì các cháu sẽ nhận kỳ phần
mà lẽ ra bố, mẹ được hưởng nếu còn sống.
- Hàng thứ hai : bố, mẹ, (ông, bà), anh, chị em ruột (con của anh chị em
ruột...) Nếu hàng thừa kế thứ hai chỉ có những người trực hệ (bố, mẹ) và nếu bố và mẹ
đều đã chết thì di sản được chia cho ông theo nguyên tắc sau : Nếu ông nội, ông
ngoại, ngoại còn sống thì di sản được chia cho ông nội 50 % còn lại 50 % được
chia cho ông ngoại. Nếu còn c những người trực hệ (bố, mẹ) anh chị em ruột
thì tất cả họ được hưởng phần bằng nhau.
- Hàng thừa kế thứ ba : Anh, chị, em cùng mẹ khác cha, cùng cha khác mẹ
(các cháu) nếu cha, mẹ các cháu đã chết.
- Hàng thừa kế thứ : Những người huyết thống theo bàng hệ đến hàng thứ
sáu (trong đó nếu còn hàng gần sẽ loại hàng xa hơn).
Đối với người vợ góa, chồng góa theo nguyên tắc không thuộc hàng thừa kế
của người quá cố. Tuy nhiên, họ sẽ được thừa kế nếu không những người thừa kế
thuộc hàng thừa kế hoặc có nhưng họ đều không nhận thừa kế thì người vợ góa, chồng
góa sẽ được hưởng thừa kế của người chết.
Trường hợp người vợ không tài sản riêng hoặc không của hồi môn để
sống thì người vợ người thừa kế bắt buộc của người chồng được hưởng 1/4 di
sản thừa kế. Nếu người chết từ 3 người con trở lên thì người vợ được hưởng một
suất bằng với người thừa kế. Người chồng không có quyền tước kỳ phần bắt buộc trên
của người vợ
2. Di sản không có người nhận thừa kế
Trường hợp mở thừa kế không người thừa kế hoặc nhưng họ không
nhận thừa kế theo di chúc theo pháp luật. Di sản trở thành không người nhận
thừa kế.
Theo luật thừa kế thời kỳ cổ đại người nào muốn nhận di sản đó họ sẽ
quyền sở hữu đối với tài sản của người chết. Vào thời kỳ quân chủ, di sản không
người thừa kế thuộc về Nhà nước. Đến thời kỳ quân chủ chuyên chế thì pháp luật quy
định di sản không có ai nhận thừa kế thuộc chính quyền sở tại, nhà thờ, tu viện... Pháp
luật ưu tiên cho những người làm việc trong các tổ chức đó được hưởng di sản vô thừa
nhận.
3. Nhận thừa kế và hậu quả của việc nhận thừa kế
Kể từ thời điểm mở thừa kế, di sản thừa kế sẽ thuộc về người thừa kế (theo di
chúc,theo pháp luật). Tuy nhiên, những người thừa kế chưa có quyền sở hữu đối với di
sản thừa kế mà họ cần phải thể hiện ý chí của mình. Như vậy, từ thời điểm mở thừa kế
đến thời điểm những người thừa kế nhận di sản, thì di sản chưa thuộc quyền sở hữu
của ai. Vì vậy, những người thừa kế (theo di chúc, theo pháp luật) cần phải thể hiện rõ
ý chí của mình nhận hay từ chối nhận di sản (khước từ) để tránh những trường hợp
tài sản vô chủ và có các hành vi xâm hại đến khối di sản đó.
Theo nguyên tắc tài sản của người chết để lại, trước hết để trả nợ, sau đó đdi
tặng còn lại chia cho những người thừa kế. Việc nhận thừa kế thể chấm dứt các
nghĩa vụ đối với người để lại thừa kế hoặc chấm dứt quyền địa dịch đối với phần đất
đai được thừa kế.
4. Di tặng
Di tặng là quyết định của người lập di chúc tặng cho người khác một quyền lợi
hoặc một số lợi tức từ tài sản thừa kế. Di tặng có những đặc điểm sau đây :
-Di tặng cho người khác là sự thừa hưởng lợi ích, tài sản của người lập di chúc
không phải thừa kế di sản của người chết. Người được hưởng di tặng sẽ thừa
hưởng một số quyền lợi từ người để lại thừa kế không phải gánh chịu bất cứ nghĩa
vụ nào của người đó.
-Di tặng được chỉ định trong di chúc. Di tặng một phần nội dung của di
chúc,việc di tặng phải nói di tặng để phân biệt với người được chỉ định thừa kế
theo di chúc.
-Di tặng được thể hiện qua các hình thức khác nhau như người được hưởng di
tặng sẽ quyền sở hữu một tài sản của người lập di tặng hoặc người được hưởng di
tặng sẽ có quyền yêu cầu người thừa kế phải thực hiện một ý nguyện của người lập di
chúc đối với mình như trao cho người được di tặng một lợi ích nào đó.
Trong thực tế những trường hợp việc di tặng không được ghi chép cụ thể
trong di chúc, có nghĩa là không tuân theo hình thức nhất định.
Ví dụ như người để lại di sản không lập di chúc mà trao cho người thừa kế một
nghĩa vụ như chuyển cho một người nào đó một phần tài sản của người đã chết.
Trường hợp này việc chuyển giao tài sản được thực hiện hay không do
người thừa kế. Nếu người được hưởng di tặng chứng cứ chứng minh được
điều đó thì quyền yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ chuyển giao tài
sản hoặc một lợi ích nào đó.
Thời điểm phát sinh quyền lợi của người được di tặng thời điểm người được
di tặng nhận di tặng.
Nếu người được hưởng di tặng chưa nhận các lợi ích theo di tặng đã chết
thì những người thừa kế của người được hưởng di tặng sẽ được hưởng những lợi ích
di tặng đó.
4. Ảnh hưởng chính của luật thừa kế la mã đối với blds việt nam 2015
tưởng La cổ
đại
Sự kế thừa trong BLDS
Việt Nam 2015
Nhận xét
1. Hệ thống
thừa kế hai
nhánh: di chúc
và pháp luật
Luật La xác lập
hai con đường:
testamentum (theo di
chúc) intestatio
(theo pháp luật).
- Điều 649: “Thừa kế
theo di chúc thừa kế
theo pháp luật.”
- Điều 650: “Thừa kế
theo pháp luật được áp
dụng khi không di
chúc, di chúc không hợp
pháp, hoặc không định
đoạt hết di sản.”
Người lập di
chúc bị mất năng
lực hành vi dân
sự hoặc bị ép
buộc khi lập di
chúc.
Không người
làm chứng trong
trường hợp pháp
luật yêu cầu.
Di chúc miệng
nhưng không
được ghi chép,
xác nhận hợp lệ
trong thời hạn 5
ngày.
Việt Nam kế
thừa cấu trúc La
Mã, phân biệt
hai con đường
thừa kế nhưng
điều chỉnh cho
phù hợp với tính
thực tiễn và công
bằng xã hội.
Di chúc viết tay
nhưng không
chữ hoặc
điểm chỉ của
người lập di
chúc.
Nội dung di chúc
vi phạm pháp
luật (ví dụ: để lại
tài sản cho người
không quyền
hưởng di sản,
hoặc định đoạt
tài sản không
thuộc quyền sở
hữu của mình).
2. Nguyên tắc
kế vị toàn bộ
(Universalis
Successio)
Người thừa kế (heres)
kế vị toàn bộ quyền
và nghĩa vụ của người
chết.
- Điều 615: “Những
người thừa kế thực hiện
nghĩa vụ tài sản do
người chết để lại trong
phạm vi di sản.”
Khi người chết
nợ hoặc nghĩa
vụ tài chính (ví
dụ: vay nợ, thuế,
bồi thường thiệt
hại…), thì những
người thừa kế
phải dùng di sản
để trả nợ trước
khi chia.
Người thừa kế
không phải lấy
tài sản riêng của
mình để trả nợ
thay người chết
(trừ khi họ tự
nguyện hoặc
Giữ tinh thần La
(kế vị toàn
bộ) nhưng giới
hạn nghĩa vụ
trong phạm vi tài
sản để tránh rủi
ro gánh nợ, thể
hiện tính nhân
đạo bảo vệ
pháp lý.
thỏa thuận khác).
3. Bảo v phần
di sản tối thiểu
(Lex Falcidia
phần di sn
bắt buộc)
Lex Falcidia: người
thừa kế chính phải
còn ít nhất 1/4 di sản
sau khi trừ các khoản
di tặng.
- Điều 644: “Những
người thừa kế không
phụ thuộc nội dung di
chúc gồm: vợ, chồng,
con chưa thành niên,
cha mẹ, con đã thành
niên nhưng mất khả
năng lao động... được
hưởng 2/3 suất thừa kế
theo pháp luật nếu di
chúc cho ít hơn hoặc
truất quyền.”
Việt Nam mở
rộng phạm vi
bảo vệ từ “người
thừa kế chính”
sang “nhóm yếu
thế trong gia
đình”, thể hiện
giá trị nhân văn
Á Đông.
4. Trật tự hàng
thừa kế
thừa kế thế vị
La quy định
các hàng thừa kế, ưu
tiên huyết thống trực
hệ; chế định per
stirpes (thế vị).
- Điều 651: Xác định ba
hàng thừa kế, hàng 1
gồm vợ/chồng, cha mẹ,
con.
- Điều 652: Quy định
“thừa kế thế vị”: cháu
được hưởng phần của
cha/mẹ đã chết trước.
Bảo tồn khung
La về huyết
thống, đồng thời
bình đẳng hơn
về giới vị thế,
phản ánh tinh
thần pháp quyền
hiện đại.
5. Di tặng
nghĩa vụ di sản
La legatum (di
tặng)
fideicommissum (ủy
thác di sản).
- Điều 646: “Người lập
di chúc thểnh một
phần tài sản để di tặng
cho người khác không
phải là người thừa kế.”
- Điều 615: Nghĩa vụ
tài sản thực hiện trong
phạm vi di sản.
Việt Nam duy trì
quyền di tặng
nhưng bảo đảm
nghĩa vụ thanh
toán nghĩa vụ tài
sản trước khi
chia
6. Quyền từ
chối hoặc nhận
thừa kế
Heres thể từ chối
kế vị để không phải
gánh nợ hay trách
- Điều 620: “Người thừa
kế quyền từ chối
nhận di sản bằng văn
Giữ nguyên
quyền tự do
nhân của người
nhiệm. bản, nhưng không nhằm
trốn tránh nghĩa vụ i
sản.”
thừa kế, cùng
triết “tự
nguyện kế vị”
trong luật La
Mã.
7. Di sản
chủ vai trò
Nhà nước
Luật La giai đoạn
đầu chưa quy định
thống nhất; về sau tài
sản chủ thể quy
về công cộng (res
publica).
- Điều 622: “Trong
trường hợp không có
người thừa kế, di sản
thuộc về Nhà nước.”
Nhà nước trở
thành chủ thể kế
vị cuối cùng, bảo
đảm quản tài
sản công phản
ánh chế hiện
đại hóa từ gốc
La Mã cổ.
8. Di sản dùng
vào việc thờ
cúng (Việt
hóa)
Luật La thiên về
thế tục, không chế
định “thờ cúng tổ
tiên”.
- Điều 645: “Người lập
di chúc thểnh một
phần di sản dùng vào
việc thờ cúng.”
Điểm khác biệt
mang đậm bản
sắc Việt Nam
kết hợp luật học
phương Tây
truyền thống đạo
hiếu phương
Đông.
Có thể nói, tư tưởng về thừa kế trong Luật La

Preview text:

Thừa kế

Mở đầu

  1. Vai trò của quyền thừa kế trong xã hội La Mã

Trong xã hội La Mã cổ đại, quyền thừa kế (ius hereditarium) đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc duy trì trật tự kinh tế – xã hội và củng cố nền tảng gia tộc. Tài sản không chỉ mang giá trị vật chất mà còn là biểu tượng của địa vị, danh dự và quyền lực của dòng họ. Khi người đứng đầu gia đình (paterfamilias) qua đời, quyền thừa kế bảo đảm sự chuyển giao trật tự này sang thế hệ kế tiếp, nhằm duy trì sự ổn định và liên tục của đơn vị gia đình, vốn được xem là tế bào cơ bản của nhà nước La Mã. Vì vậy, chế định thừa kế không chỉ là công cụ pháp lý điều chỉnh quan hệ tài sản, mà còn là biểu hiện của cấu trúc xã hội và tư tưởng đạo đức thời bấy giờ: tôn ti, huyết thống và bổn phận của con cháu đối với tổ tiên.

  1. Khái niệm Hereditas

Theo pháp luật La Mã, hereditas được hiểu là quyền kế thừa toàn bộ tài sản, quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý của người đã chết. Người được thừa kế (heres) không chỉ nhận tài sản mà còn tiếp nhận cả những khoản nợ và nghĩa vụ mà người chết để lại. Điều này cho thấy di sản (patrimonium) được nhìn nhận như một khối thống nhất, không tách biệt giữa quyền và nghĩa vụ.

Khác với quan niệm hiện đại, hereditas không đơn thuần là quyền lợi vật chất, mà là sự kế thừa địa vị pháp lý và xã hội của người quá cố. Vì vậy, việc được chỉ định làm heres đồng nghĩa với việc trở thành “người kế vị” trong cả nghĩa pháp lý và đạo đức, tiếp tục duy trì danh dự và trách nhiệm của gia đình trong cộng đồng La Mã.

  1. Hai hình thức thừa kế trong xã hội La Mã

Luật La Mã phân biệt hai hình thức thừa kế cơ bản:

Thừa kế theo di chúc (testamentum):
Đây là hình thức thể hiện rõ nhất ý chí cá nhân của người lập di chúc (testator). Người này có quyền chỉ định một hoặc nhiều người kế vị, cũng như phân chia tài sản, thiết lập fideicommissum (tín thác thừa kế), hoặc đưa ra các điều kiện ràng buộc. Theo thời gian, pháp luật La Mã dần mở rộng phạm vi tự do lập di chúc, phản ánh sự phát triển của tư duy cá nhân và tôn trọng quyền định đoạt của chủ sở hữu.

Thừa kế theo pháp luật (ab intestato):
Áp dụng khi người chết không để lại di chúc hợp pháp. Trong trường hợp này, pháp luật xác định thứ tự những người có quyền thừa kế theo quan hệ huyết thống. Ban đầu, Luật 12 Bảng ưu tiên người cùng huyết thống theo dòng cha (agnati), nhưng về sau, đặc biệt dưới thời Justinian, phạm vi được mở rộng đến cả huyết thống tự nhiên (cognati), vợ, con nuôi và những người phụ thuộc. Sự thay đổi này cho thấy bước tiến lớn của tư duy pháp lý La Mã, từ chú trọng bảo tồn gia tộc sang bảo vệ quyền cá nhân và tình thân tự nhiên.

  1. Lịch sử ra đời của luật thừa kế trong xã hội La Mã

Luật thừa kế trong xã hội La Mã cổ đại ra đời và phát triển song song với sự thay đổi của cơ cấu xã hội La Mã. Ngay từ Luật XII Bảng (Lex Duodecim Tabularum, khoảng năm 450 TCN) - bộ luật thành văn đầu tiên của La Mã - đã có quy định về hai hình thức thừa kế cơ bản: thừa kế theo di chúc (testamentum) và thừa kế theo pháp luật (ab intestato). Ở giai đoạn này, việc lập di chúc phải tuân thủ những nghi lễ trang trọng, phản ánh tư tưởng coi trọng trật tự gia đình và vai trò của người gia trưởng (pater familias). Đồng thời, khi người gia trưởng qua đời mà không để lại di chúc, tài sản sẽ được chuyển cho những người đàn ông cùng huyết thống trong dòng họ cha (agnati) theo thứ tự ưu tiên chặt chẽ (Buckland, 1921). Phụ nữ và con đã ra khỏi quyền gia trưởng không được hưởng di sản.

Sang thời Cộng hoà (thế kỷ III–I TCN), cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá và cá nhân hoá tài sản, pháp luật thừa kế được mở rộng và linh hoạt hơn. Người lập di chúc (testator) có quyền tự do chỉ định người thừa kế (heres) ngoài phạm vi huyết thống. Các sắc lệnh của quan chấp chính (Praetor’s Edict) đã mở rộng quyền thừa kế cho cả những người có quan hệ huyết thống thực (cognati), vợ hoặc con nuôi. Đặc biệt, hình thức tín thác thừa kế (fideicommissum) ra đời, cho phép người lập di chúc gửi gắm ý chí của mình thông qua người được uỷ thác.

Đến thời Đế chế (từ thế kỷ I TCN trở đi), luật thừa kế đạt đến mức độ hoàn thiện cao, đặc biệt dưới triều đại Hoàng đế Justinian với Corpus Juris Civilis. Hệ thống này khẳng định nguyên tắc bình đẳng giữa các con, không phân biệt giới tính hay nguồn gốc, đồng thời bảo vệ quyền lợi của vợ, con nuôi và những người phụ thuộc. Thứ tự thừa kế theo pháp luật được quy định chặt chẽ, phản ánh sự nhân đạo và công bằng trong pháp lý La Mã. Một số ví dụ cụ thể thể hiện mức độ hoàn thiện cao của quyền thừa kế:

  1. Mở rộng quyền lập di chúc (testamentum)
  • Dưới thời Augustus (27 TCN – 14 SCN), việc lập di chúc trở nên linh hoạt hơn, không còn gắn chặt với nghi lễ tôn giáo cổ truyền.
  • Luật cho phép công dân lập di chúc bằng văn bản, được chứng thực trước 7 nhân chứng (testamentum per aes et libram dần được thay bằng hình thức giản tiện hơn).
    → Thể hiện tính thực tiễn và cá nhân hóa trong quyền định đoạt tài sản.

Thừa nhận quyền thừa kế của phụ nữ và họ hàng bên mẹ (cognati)

Dưới thời Hoàng đế Hadrian (117–138 SCN) và Antoninus Pius (138–161 SCN), luật bắt đầu công nhận quyền thừa kế của: Con gái, cháu ngoại, và thân thích bên mẹ, vốn trước đây bị loại khỏi thừa kế theo agnati.

  • Điều này phản ánh sự chuyển dịch từ hệ thống huyết thống cha (agnatic) sang hệ thống huyết thống tự nhiên (cognatic).

Như vậy, từ Luật 12 Bảng (khoảng 450 TCN) đến thời (Justinian từ năm 527 đến 565) SCN, luật thừa kế La Mã đã phát triển từ khuôn khổ dòng họ sang cơ chế thừa kế cá nhân, thể hiện rõ xu hướng tiến bộ của nền pháp luật phương Tây cổ đại.

  1. Mục tiêu và giá trị lịch sử – pháp lý

Nghiên cứu luật thừa kế La Mã giúp nhận diện rõ quá trình phát triển tư duy pháp lý của nhân loại. Từ chỗ coi tài sản là biểu tượng của gia tộc, pháp luật La Mã đã tiến đến coi thừa kế là quyền dân sự cá nhân, đặt nền móng cho tư tưởng pháp quyền hiện đại. Những nguyên tắc như tự do lập di chúc, trách nhiệm kế thừa nghĩa vụ, và công bằng giữa những người thừa kế đều có nguồn gốc từ nền pháp luật này.

Ảnh hưởng của luật thừa kế La Mã lan rộng khắp châu Âu, thể hiện rõ trong Bộ luật Dân sự Napoléon và các hệ thống luật dân sự hiện đại. Qua đó, có thể khẳng định rằng chế định thừa kế của La Mã không chỉ là di sản lịch sử, mà còn là nền tảng lý luận và đạo lý pháp lý cho toàn bộ tư tưởng pháp luật phương Tây sau này.

2.Thừa kế theo di chúc

Khái niệm di chúc

  • Di chúc là quyết định của người có tài sản sau khi chết sẽ chuyển tài sản của mình cho người thừa kế
  • Di chúc là giao dịch một bên (hành vi pháp lý đơn phương) vì nó thể hiện ý chí của người lập di chúc. Di chúc không được coi là một khế ước (những giao dịch dân sự được thiết lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên với nhau), bởi vì di chúc không thể hiện ý chí của người thừa kế. Hành vi của người lập di chúc với hành vi của người thừa kế theo di chúc độc lập với nhau
  • Người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung hoặc hủy di chúc bất cứ khi nào. Nếu có người lập nhiều di chúc thì di chúc sau có giá trị hơn di chúc trước

Điều kiện có hiệu lực của di chúc

  • Để di chúc có hiệu lực, cần bảo đảm các điều kiện về năng lực của người lập di chúc, hình thức hợp pháp, và người được chỉ định thừa kế
  • Năng lực lập di chúc
  • Người lập di chúc phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự tại thời điểm lập di chúc. Người chưa thành niên hoặc người bị tâm thần, mất năng lực hành vi hay phạm tội nghiêm trọng không được lập di chúc
  • Hình thức của di chúc
  • Di chúc phải được lập hợp pháp, có thể là bằng miệng hoặc bằng văn bản
  • Trong luật La Mã, di chúc được yêu cầu rất chặt chẽ (ví dụ: di chúc miệng đòi hỏi phải có đủ 7 người làm chứng)
  • Di chúc văn bản không bắt buộc hình thức nghiêm ngặt. Di chúc có thể do người lập tự viết hoặc được xác nhận bởi cơ quan có thẩm quyền, hoặc lập trước tòa án và được quan tòa chứng nhận
  • Người được chỉ định thừa kế
  • Người thừa kế phải có năng lực hưởng di sản và được chỉ định rõ ràng trong di chúc, nếu chỉ định không cụ thể thì di chúc không có giá trị
  • Trường hợp chỉ định thai nhi, thai nhi phải đã hình thành vào thời điểm người lập di chúc chết
  • Con của người phạm tội phản quốc không được hưởng di sản
  • Có thể đặt điều kiện hưởng di sản, ví dụ phải chăm sóc phần mộ hoặc hoàn thành nghĩa vụ nào đó; nếu không thực hiện, họ sẽ mất quyền hưởng
  • Ngoài ra, di chúc có thể chỉ định người thừa kế dự bị, nhưng nếu người được chỉ định đầu tiên chết trước thời điểm mở thừa kế thì người dự bị không được hưởng thay
  • Nghĩa vụ của người thừa kế
  • Người thừa kế có thể được giao một số nghĩa vụ nhất định (như xây lăng mộ, lo tang lễ...). Nếu người thừa kế không thực hiện nghĩa vụ đó, Nhà nước có thể cưỡng chế thi hành để đảm bảo nghĩa vụ được hoàn tất

Kỷ phần bắt buộc cho những người thân thích

  • Lí do hình thành
  • Ban đầu, trong Luật XII cổ đại, người lập di chúc có toàn quyền định đoạt tài sản, chia cho ai tùy ý “Chủ gia chia tài sản thế nào thì sẽ theo như thế”; những người thân thuộc phải thực hiện ý nguyện người chết một cách đầy đủ
  • Tuy nhiên, trong xã hội gia đình phụ hệ, tài sản là của gia đình, được tạo ra bởi nhiều thành viên

→ Nếu người lập di chúc chia hết tài sản cho người ngoài hoặc chỉ một người, thì các thành viên khác bị thiệt thòi, không được hưởng phần do mình góp tạo ra

→ Vì vậy, pháp luật đặt ra giới hạn cho quyền định đoạt của người lập di chúc nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người thân

  • Quy định ở thời kỳ cổ đại
  • Người lập di chúc phải để lại tài sản cho những người phụ thuộc (thường là con)
  • Nếu truất quyền thừa kế của họ mà không có lý do chính đáng, di chúc có thể bị gia tộc phản đối hoặc bị coi là vô hiệu
  • Khi truất quyền thừa kế con trai, phải nêu rõ tên trong di chúc. Nếu chỉ nói chung chung, di chúc không có giá trị
  • Việc truất quyền thừa kế của con gái không cần nhất thiết phải nói rõ họ tên
  • Nếu những người thừa kế hưởng kỷ phần bắt buộc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình đối với người lập di chúc thì có thể theo quyết định của quan tòa, người đó sẽ không được hưởng kỷ phần bắt buộc

=> Kỷ phần bắt buộc là phần di sản tối thiểu mà người thừa kế được hưởng trong trường hợp người để lại thừa kế không cho hưởng di sản hoặc cho hưởng ít hơn so với với phần di sản tối thiểu mà họ được hưởng. Vì vậy trong trường hợp này, người thừa kế bắt buộc sẽ có quyền khởi kiện yêu cầu quan tòa cho hưởng một kỷ phần bắt buộc hoặc yêu cầu được bổ sung phần tài sản hợp pháp để đủ kỷ phần bắt buộc

  • Chế định kỷ phần bắt buộc trong từng thời kỳ
  1. Thời kỳ đầu: kỷ phần bắt buộc bằng ¼ một suất thừa kế nếu chia theo luật

Ví dụ: A có hai con là B và C, A di chúc cho B toàn bộ tài sản, truất quyền thừa kế của C, vậy nếu A chết thì tài sản của A sẽ được chia như sau (giả sử A có 100 aosơ):

  • Một suất thừa kế là 100 : 2 = 50 aosơ
  • C sẽ được hưởng ¼ 50 aosơ = 12,5 aosơ, B được hưởng: 100 – 12,5 = 87,5 aosơ
  1. Dưới thời Hoàng đế Justinian việc phân chia kỷ phần bắt buộc rất chi tiết với nguyên tắc sau:
  • Nếu như một suất thừa kế được chia lớn hơn ¼ di sản thừa kế thì kỷ phần bắt buộc là 1/3 một suất thừa kế
  • Nếu như một suất thừa kế nhỏ hơn hoặc bằng ¼ giá trị di sản thì kỷ phần bắt buộc bằng ½ một suất thừa kế

Ví dụ 1: A có 3 con là B, C, D. A di chúc cho B toàn bộ 900 aosơ, C và D bị truất quyền thừa kế.

  • Đầu tiên ta phải xác định một suất thừa kế nếu chia theo luật = 900 : 3 = 300 aosơ
  • Vì một suất thừa kế là 300 aosơ lớn hơn ¼ di sản (1/4 di sản bằng 900 : 4 = 225 aosơ) nên C , D mỗi người sẽ được hưởng 1/3 một suất thừa kế = 1/3 x 300 = 100 aosơ, B được hưởng: 900 – (100 + 100) = 700 aosơ

Ví dụ 2: A có 6 con B, C, D, E, G, H; A di chúc cho B toàn bộ 900 aosơ, những người còn lại bị truất quyền thừa kế

  • Một suất thừa kế là 900 : 6 = 150 aosơ. Vì một suất thừa kế nhỏ hơn ¼ di sản (225 aosơ) nên một kỷ phần bắt buộc là ½ x 150 = 75 aosơ. Vậy C, D, E, G, H mỗi người được hưởng 75 aosơ; B được hưởng: 900 – (75 x 5) = 525 aosơ

3. Thừa kế theo pháp luật

1. Sự phát triển của chế định thừa kế theo pháp luật

Trong luật La Mã cổ đại tồn tại hình thức thừa kế theo pháp luật. Trình tự thừa kế theo pháp luật được thực hiện đối với những tài sản mang tính chất chung của gia đình đối với những người có quan hệ huyết thống trực hệ. Trong Luật XII bảng quy định những người được thừa kế theo pháp luật bao gồm những người thân thích theo huyết thống. Trường hợp người chết không lập di chúc định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế thì di sản được chia cho những người thân thuộc theo thứ tự huyết thống. Đấy là nguyên tắc thừa kế chuyển tiếp một lần. Theo Luật XII bảng không chấp nhận sự kế tục thừa kế giữa những người có quan hệ huyết thống từ gần đến xa. Trường hợp một người chết không có những người thừa kế huyết thống trực hệ thì di sản được chia cho những người cùng dòng họ theo huyết thống.

Quá trình phát triển kinh tế đã làm thay đổi đời sống xã hội và xuất hiện sự thay đổi của quan hệ sở hữu tư nhân. Quan hệ thừa kế tồn tại theo huyết thống trực hệ dần dần được bổ sung quan hệ huyết thống thân thích và thừa kế được chia thứ tự nhất định.

- Hàng thứ nhất gồm các con (con đẻ, con nuôi). Ở thời kỳ cổ đại pháp luật quy định những người con đẻ được thừa kế di sản của gia chủ. Vì những người con đẻ họ trực tiếp đồng góp công sức của mình để tạo ra tài sản bằng nhiều phương thức khác nhau. Họ làm ra tài sản để cho chính họ hưởng hoặc tham gia vào các giao dịch mà có được tài sản thuộc về mình. Các quan tòa cho rằng con đẻ cũng như con nuôi đều được thừa kế của gia chủ và đều dưới quyền của gia chủ.

- Hàng thừa kế thứ hai. Theo luật của Pháp quan bao gồm những người có quan hệ huyết thống trực hệ.

- Hàng thừa kế thứ ba bao gồm những người có quan hệ huyết thống thân thích trong vòng 6 đời. Theo thứ tự được hưởng là từ gần đến xa (có hàng gần thì loại bỏ hàng xa).

- Hàng thừa kế thứ tư là vợ góa, chồng góa.

Trong quan hệ thừa kế theo huyết thống thân thích thì di sản thừa kế được chuyển cho những người thừa kế hàng thứ nhất. Nếu không có những người ở hàng thứ nhất thì di sản được chuyển cho những người ở hàng thừa kế thứ hai hoặc các hàng tiếp theo.

Hình thức thừa kế theo pháp luật được xây dựng hoàn thiện nhất trong luật của Hoàng đế Justinian. Theo luật của Hoàng đế Justinian thì diện những người thừa kế đầu tiên là các con, các cháu, các chắt của người chết. Trước hết những người hưởng thừa kế phải là các con, đây là những người có quan hệ gần gũi nhất đối với người để lại thừa kế.

Trường hợp bố mẹ chết trước ông bà thì cháu thay thế vị trí của bố, mẹ hưởng di sản của ông bà (thừa kế thế vị). Trường hợp này các cháu không phải là người nhận thừa kế thay cho bố, mẹ mà cháu là người thừa kế nhận di sản của ông bà. Nếu các cháu chết trước ông bà, thì các chắt thay thế vị trí đó để nhận di sản của các cụ

Thừa kế thế vị còn được coi là thừa kế đại diện. Trường hợp bố hoặc mẹ chết trước ông bà thì các cháu thay thế vị trí của bố, mẹ nhận một suất thừa kế mà lẽ ra bố, mẹ chúng còn sống sẽ được hưởng thừa kế. Những người thừa kế thế vị không phải thừa kế di sản của bố, mẹ mình mà họ là người thừa kế của ông, bà.

Nếu bố mẹ chết sau ông, bà nhưng chưa kịp nhận di sản của ông, bà thì khi mở thừa kế phải xác định khối di sản của bố, mẹ bao gồm tài sản riêng và tài sản được thừa kế của ông, bà. Phần di sản này có thể được chia theo di chúc hoặc chia theo pháp luật. Hàng thừa kế theo luật của Justinian :

- Hàng thứ nhất : Các con (cháu).Khi mở thừa kế các con của người thừa kế (con đẻ, con nuôi) được nhận di sản của bố, mẹ và mỗi người được hưởng một kỳ phần ngang nhau. Trường hợp con chết trước bố hoặc mẹ thì các cháu sẽ nhận kỳ phần mà lẽ ra bố, mẹ được hưởng nếu còn sống.

- Hàng thứ hai : bố, mẹ, (ông, bà), anh, chị em ruột (con của anh chị em ruột...) Nếu hàng thừa kế thứ hai chỉ có những người trực hệ (bố, mẹ) và nếu bố và mẹ đều đã chết thì di sản được chia cho ông bà theo nguyên tắc sau : Nếu ông nội, ông ngoại, bà ngoại còn sống thì di sản được chia cho ông nội 50 % còn lại 50 % được chia cho ông bà ngoại. Nếu còn cả những người trực hệ (bố, mẹ) và anh chị em ruột thì tất cả họ được hưởng phần bằng nhau.

- Hàng thừa kế thứ ba : Anh, chị, em cùng mẹ khác cha, cùng cha khác mẹ (các cháu) nếu cha, mẹ các cháu đã chết.

- Hàng thừa kế thứ tư : Những người huyết thống theo bàng hệ đến hàng thứ sáu (trong đó nếu còn hàng gần sẽ loại hàng xa hơn).

Đối với người vợ góa, chồng góa theo nguyên tắc không thuộc hàng thừa kế của người quá cố. Tuy nhiên, họ sẽ được thừa kế nếu không có những người thừa kế thuộc hàng thừa kế hoặc có nhưng họ đều không nhận thừa kế thì người vợ góa, chồng góa sẽ được hưởng thừa kế của người chết.

Trường hợp người vợ không có tài sản riêng hoặc không có của hồi môn để sống thì người vợ là người thừa kế bắt buộc của người chồng và được hưởng 1/4 di sản thừa kế. Nếu người chết có từ 3 người con trở lên thì người vợ được hưởng một suất bằng với người thừa kế. Người chồng không có quyền tước kỳ phần bắt buộc trên của người vợ

2. Di sản không có người nhận thừa kế

Trường hợp mở thừa kế mà không có người thừa kế hoặc có nhưng họ không nhận thừa kế theo di chúc và theo pháp luật. Di sản trở thành không có người nhận thừa kế.

Theo luật thừa kế ở thời kỳ cổ đại người nào muốn nhận di sản đó họ sẽ có quyền sở hữu đối với tài sản của người chết. Vào thời kỳ quân chủ, di sản không có người thừa kế thuộc về Nhà nước. Đến thời kỳ quân chủ chuyên chế thì pháp luật quy định di sản không có ai nhận thừa kế thuộc chính quyền sở tại, nhà thờ, tu viện... Pháp luật ưu tiên cho những người làm việc trong các tổ chức đó được hưởng di sản vô thừa nhận.

3. Nhận thừa kế và hậu quả của việc nhận thừa kế

Kể từ thời điểm mở thừa kế, di sản thừa kế sẽ thuộc về người thừa kế (theo di chúc,theo pháp luật). Tuy nhiên, những người thừa kế chưa có quyền sở hữu đối với di sản thừa kế mà họ cần phải thể hiện ý chí của mình. Như vậy, từ thời điểm mở thừa kế đến thời điểm những người thừa kế nhận di sản, thì di sản chưa thuộc quyền sở hữu của ai. Vì vậy, những người thừa kế (theo di chúc, theo pháp luật) cần phải thể hiện rõ ý chí của mình là nhận hay từ chối nhận di sản (khước từ) để tránh những trường hợp tài sản vô chủ và có các hành vi xâm hại đến khối di sản đó.

Theo nguyên tắc tài sản của người chết để lại, trước hết để trả nợ, sau đó để di tặng và còn lại chia cho những người thừa kế. Việc nhận thừa kế có thể chấm dứt các nghĩa vụ đối với người để lại thừa kế hoặc chấm dứt quyền địa dịch đối với phần đất đai được thừa kế.

4. Di tặng

Di tặng là quyết định của người lập di chúc tặng cho người khác một quyền lợi hoặc một số lợi tức từ tài sản thừa kế. Di tặng có những đặc điểm sau đây :

-Di tặng cho người khác là sự thừa hưởng lợi ích, tài sản của người lập di chúc mà không phải thừa kế di sản của người chết. Người được hưởng di tặng sẽ thừa hưởng một số quyền lợi từ người để lại thừa kế và không phải gánh chịu bất cứ nghĩa vụ nào của người đó.

-Di tặng được chỉ định trong di chúc. Di tặng là một phần nội dung của di chúc,việc di tặng phải nói rõ là di tặng để phân biệt với người được chỉ định thừa kế theo di chúc.

-Di tặng được thể hiện qua các hình thức khác nhau như người được hưởng di tặng sẽ có quyền sở hữu một tài sản của người lập di tặng hoặc người được hưởng di tặng sẽ có quyền yêu cầu người thừa kế phải thực hiện một ý nguyện của người lập di chúc đối với mình như trao cho người được di tặng một lợi ích nào đó.

Trong thực tế có những trường hợp việc di tặng không được ghi chép cụ thể trong di chúc, có nghĩa là không tuân theo hình thức nhất định.

  • Ví dụ như người để lại di sản không lập di chúc mà trao cho người thừa kế một nghĩa vụ như chuyển cho một người nào đó một phần tài sản của người đã chết. Trường hợp này việc chuyển giao tài sản có được thực hiện hay không là do người thừa kế. Nếu người được hưởng di tặng có chứng cứ chứng minh được điều đó thì có quyền yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ chuyển giao tài sản hoặc một lợi ích nào đó.

Thời điểm phát sinh quyền lợi của người được di tặng là thời điểm người được di tặng nhận di tặng.

Nếu người được hưởng di tặng chưa nhận các lợi ích theo di tặng mà đã chết thì những người thừa kế của người được hưởng di tặng sẽ được hưởng những lợi ích di tặng đó.

4. Ảnh hưởng chính của luật thừa kế la mã đối với blds việt nam 2015

Tư tưởng La Mã cổ đại

Sự kế thừa trong BLDS Việt Nam 2015

Nhận xét

1. Hệ thống thừa kế hai nhánh: di chúc và pháp luật

Luật La Mã xác lập hai con đường: testamentum (theo di chúc) và intestatio (theo pháp luật).

- Điều 649: “Thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.”

- Điều 650: “Thừa kế theo pháp luật được áp dụng khi không có di chúc, di chúc không hợp pháp, hoặc không định đoạt hết di sản.”

  • Người lập di chúc bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị ép buộc khi lập di chúc.
  • Không có người làm chứng trong trường hợp pháp luật yêu cầu.
  • Di chúc miệng nhưng không được ghi chép, xác nhận hợp lệ trong thời hạn 5 ngày.
  • Di chúc viết tay nhưng không có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
  • Nội dung di chúc vi phạm pháp luật (ví dụ: để lại tài sản cho người không có quyền hưởng di sản, hoặc định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình).

Việt Nam kế thừa cấu trúc La Mã, phân biệt hai con đường thừa kế nhưng điều chỉnh cho phù hợp với tính thực tiễn và công bằng xã hội.

2. Nguyên tắc kế vị toàn bộ (Universalis Successio)

Người thừa kế (heres) kế vị toàn bộ quyền và nghĩa vụ của người chết.

- Điều 615: “Những người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản.”

  • Khi người chết có nợ hoặc nghĩa vụ tài chính (ví dụ: vay nợ, thuế, bồi thường thiệt hại…), thì những người thừa kế phải dùng di sản để trả nợ trước khi chia.
  • Người thừa kế không phải lấy tài sản riêng của mình để trả nợ thay người chết (trừ khi họ tự nguyện hoặc có thỏa thuận khác).

Giữ tinh thần La Mã (kế vị toàn bộ) nhưng giới hạn nghĩa vụ trong phạm vi tài sản để tránh rủi ro gánh nợ, thể hiện tính nhân đạo và bảo vệ pháp lý.

3. Bảo vệ phần di sản tối thiểu (Lex Falcidia → phần di sản bắt buộc)

Lex Falcidia: người thừa kế chính phải còn ít nhất 1/4 di sản sau khi trừ các khoản di tặng.

- Điều 644: “Những người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc gồm: vợ, chồng, con chưa thành niên, cha mẹ, con đã thành niên nhưng mất khả năng lao động... được hưởng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật nếu di chúc cho ít hơn hoặc truất quyền.”

Việt Nam mở rộng phạm vi bảo vệ từ “người thừa kế chính” sang “nhóm yếu thế trong gia đình”, thể hiện giá trị nhân văn Á Đông.

4. Trật tự hàng thừa kế và thừa kế thế vị

La Mã quy định rõ các hàng thừa kế, ưu tiên huyết thống trực hệ; có chế định per stirpes (thế vị).

- Điều 651: Xác định ba hàng thừa kế, hàng 1 gồm vợ/chồng, cha mẹ, con.

- Điều 652: Quy định “thừa kế thế vị”: cháu được hưởng phần của cha/mẹ đã chết trước.

Bảo tồn khung La Mã về huyết thống, đồng thời bình đẳng hơn về giới và vị thế, phản ánh tinh thần pháp quyền hiện đại.

5. Di tặng và nghĩa vụ di sản

La Mã có legatum (di tặng) và fideicommissum (ủy thác di sản).

- Điều 646: “Người lập di chúc có thể dành một phần tài sản để di tặng cho người khác không phải là người thừa kế.”

- Điều 615: Nghĩa vụ tài sản thực hiện trong phạm vi di sản.

Việt Nam duy trì quyền di tặng nhưng bảo đảm nghĩa vụ thanh toán nghĩa vụ tài sản trước khi chia

6. Quyền từ chối hoặc nhận thừa kế

Heres có thể từ chối kế vị để không phải gánh nợ hay trách nhiệm.

- Điều 620: “Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản bằng văn bản, nhưng không nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản.”

Giữ nguyên quyền tự do cá nhân của người thừa kế, cùng triết lý “tự nguyện kế vị” trong luật La Mã.

7. Di sản vô chủ và vai trò Nhà nước

Luật La Mã giai đoạn đầu chưa có quy định thống nhất; về sau tài sản vô chủ có thể quy về công cộng (res publica).

- Điều 622: “Trong trường hợp không có người thừa kế, di sản thuộc về Nhà nước.”

Nhà nước trở thành chủ thể kế vị cuối cùng, bảo đảm quản lý tài sản công – phản ánh cơ chế hiện đại hóa từ gốc La Mã cổ.

8. Di sản dùng vào việc thờ cúng (Việt hóa)

Luật La Mã thiên về thế tục, không có chế định “thờ cúng tổ tiên”.

- Điều 645: “Người lập di chúc có thể dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.”

Điểm khác biệt mang đậm bản sắc Việt Nam – kết hợp luật học phương Tây và truyền thống đạo hiếu phương Đông.

Có thể nói, tư tưởng về thừa kế trong Luật La