10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
1. Tính nước trong văn hóa truyền thống Việt
-Văn hóa truyền thống Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn do hoàn cảnh địa lý –
khí hậu. Hoàn cảnh địa lý – khí hậu của nước ta có 2 đặc điểm cơ bản: xứ
nóng và sông nước. Do nằm trong vùng nóng ẩm nên mưa nhiều, lượng
mưa trung bình trong năm của Việt Nam khoảng 2000mm, được xếp vào
những khu vực mưa nhiều nhẩt thế giới. Đồng thời mưa nhiều dẫn đến
Việt Nam là vùng sông nước. Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt,
chia cắt các vùng đất, đường bờ biển kéo dài dọc theo chiều dài đất nước.
Việt Nam có 2360 con sông có chiều dài hơn 10km, đường bờ biển kéo
dài 3260km. Do sự ảnh hưởng của tự nhiên, sự đa dạng của môi trường
sinh thái tác động đến cuộc sống hàng ngày nên văn hóa Việt Nam hình
thành hai tính trội: tính thực vật và tính sông nước.
-Trong ăn uống, mô hình bữa ăn truyền thống (có từ thời đại Hùng Vương)
của người Việt gồm 3 yếu tố: cơm, rau và cá, thịt. Trong các công cuộc
khảo cổ, các nhà khảo cổ học đã phát hiện vỏ của những loài nhuyễn thể
trong hang động cư trú của người tiền sử: động Người Xưa (VQG Cúc
Phương). Ăn cả cái lẫn nước: ăn bún, phở, cơm chan canh(HQ: không ăn
cơm chan canh – bị coi là thô tục, phàm phu tục tử) . Cách chế biến chủ
đạo là luộc (trong nước) (khác với TQ là xào, phương Tây: nướng)
-Trong cách ăn mặc truyền thống: nam ở trần, đóng khố, nữ mặc yếm, váy,
chất liệu làm mỏng nhẹ, dễ dàng di chuyển trên sông nước. Kể cả khi tiếp
thu cách mặc quần từ Trung Quốc, thì người Việt cũng biến tấu chiếc
quần thành cạp rộng, đũng sâu, ống to để dễ dàng điều chỉnh khi làm việc
trong môi trường sông nước. Lính canh ở trong các lớp vòng thành của
kinh thành Huế triều Nguyễn, tuy đã mặc quần hoàn toàn nhưng vẫn được
phân biệt
-Nơi cư trú của người Việt: hình thành làng ven sông, trên sông, thậm chí
là đô thị là những thương cảng ven sông. ( Vân Đồn, Phố Hiến) Dựng nhà
thì dựng ngói nhà vảy cá (từng lớp được xếp chồng lên nhau như vảy con
cá): mái cao, dốc để nhanh thoát nước, hai đầu mái cong vút hình chiếc
thuyền (VD: đình của làng ĐÌnh Bảng, hoa văn trống đồng Đông Sơn)
Dáng nhà truyền thống đầu tiên là kiểu nhà sàn (mái cao và sàn cũng cao)
sàn cao để chống ẩm ướt, lũ lụt, ngoài ra còn làm nhà thuyền, nhà bè, nhà
nổi trên sông nước
-Phương tiện di chuyển: đường bộ kém phát triển, đường thủy phát triển
mạnh về các mặt: phong phú về phương tiện (xuồng,thuyền độc mộc,
thuyền ba lá, thuyền nan,...), giỏi đi trên sông nước, giỏi bắc cầu (cầu
phao, cầu khỉ, cầu cây,...) và thủy chiến (
-Tín ngưỡng: thờ nước (nghi thức rước nước trong lễ hội đền Và – Sơn
Tây, nghi thức rước nước tế cá ở đền Trần – Nam Định), con vật sống ở
sông nước: cá voi, cá sấu, thuồng luồng,....
10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
-Lễ hội: tổ chức nhiều lễ hội trên sông nước: bơi lội, đua thuyền
-Ngay cả ca dao, tục ngữ cũng đưa thành tố nước vào để sử dụng: còn
nước còn tát, uống nước nhớ nguồn, nước đến chân mới nhảy,...
-Kinh thành đều nằm trong : “tứ giác nước” Thăng Long, Kinh thành Huế
2. Văn hóa Champa
-TS. Ngô Văn Doanh khẳng định: “một điều không thể phủ nhận được là
những ảnh hưởng Ấn Độ đã góp phần cực kì quan trọng vào quá trình
hình thành ra Vương quốc Chămpa cũng như một nền văn hóa phát triển
rực rỡ à đầy bản sắc – văn hóa Chămpa”. Sau khi Champa thoát khỏi ách
đô hộ của Trung Hoa thì dường như k còn mối liên hệ nào mà thay vào đó
là sự tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ, mà nói đến ảnh hưởng của Ấn Độ thì
Bà la môn giáo là yếu tố quan trọng nhất. Bà la môn giáo hình thành trên
cơ sở kinh Ve đa, thờ ba vị thần Brahma, Visnu và Siva. Không chỉ vậy,
kế thừa di sản phong phú từ văn hóa Sa Huỳnh nên văn hóa Chăm là sự
tổng hòa của văn hoa bản địa và văn hóa ngoại lai. Mặc dù thời gian tồn tạ
chỉ từ thế kỉ II đến thế kỉ XV nhưng văn hóa Champa đã để lại nhiều dấu
ấn.
-Về tôn giáo: nhìn chung bị ảnh hưởng bởi Ấn Độ nhưng đó chỉ là về mặt
hình thức còn nguồn bản địa và khu vực mới giữ vai trò quan trọng. Từ
chỗ thờ cả 3 vị thần Bà la môn khi mới du nhập, dần dần chỉ còn tháp thờ
Siva vì phù hợp với tính cách bản địa của người Chăm, đến cuối cùng,
Siva cũng được hình dung thành người Chăm, con bò thần cũng biến được
thể hiện dưới dạng con trâu, Linga bị thay thành ông vua – anh hùng dân
tộc hoặc mẹ quê hương xứ sở. Vậy với người dân chăm, thần Siva chỉ là
hình thức thể hiện ước vọng phồn thực chứ nội dung vẫn là lòng sùng
kính nữ thần địa phương và anh hùng dân tộc. Đạo Bà la môn được biến
cải thành đạo Bà Chăm, chỉ được coi là một dạng biến thể của đạo Bà la
môn thôi. Ngoài ra người Chăm còn có cải biến cả đạo Hồi.
-Về kiến trúc, tháp Chăm là tiêu biểu cho kiến trúc văn hóa Chăm, được
xây dựng rải rác dọc theo miền Trung Việt Nam hiện tại. Hiện tại còn
thống kê được 19 khu tháp với 40 tháp lớn nhỏ, nổi tiếng nhất là ở Mỹ
Sơn (Quảng Nam). Thap Chăm được thừa nhận về độ thẩm mĩ và độ tinh
tế, có nhịp điệu và sáng sủa hơn, được nhiều người công nhận về cấu trúc
tháp. Tháp Chăm chỉ yếu xây bằng gạch, đá chỉ dùng để trang trí hoặc
xây một số chi tiết kiến trúc. Tháp Chăm được trang trí chủ yếu là hoa lá,
hình người, hình động vật,... Về cấu trúc quân thể thì tháp Chăm chia làm
2 loại: một là quần thể thờ song song 3 vị thần, hai là quần thể với 1 tháp
chính thờ thần Siva và có tháp phụ vây quanh. Loại thứ nhất thể hiện giai
đoạn đầu mà Chămpa bị ảnh hưởng bởi Bà là môn giáo, thờ cả 3 vị thần
nhưng qua thời gian, người Chăm tôn thờ thần Siva nên hình thành loại
quần thể thứ 2. Nguyên nhân là cho tính dương tính trong tính cách bản
10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
địa của người Chăm, đồng thời cũng là sự chuyển đổi văn hóa, biến Bà la
môn giáo thành Siva giáo. Tháp Chăm được dựng theo dáng “núi” và có
tháp được xây dựng mô phỏng sinh thực khí nam (biến thể của tháp hình
núi), ngoài ra những kiến trúc phụ có mái cong hình thuyền, do đó tháp
Chăm k chỉ đơn thuần là ảnh hưởng bởi Bà la môn giáo mà còn ảnh
hưởng văn hóa khu vực
-
3. Một số thành tựu văn hóa thời Lý – Trần
Nhờ đã có được nền móng vững vàng tạo nên từ đỉnh cao rực rỡ trong lớp
văn hóa bản địa, tinh thần Văn Lang Âu Lạc vẫn tồn tại như một mạch
ngầm trong suốt thời kỳ chống Bắc thuộc, để khi bước sang giai đoạn văn
hóa Đại Việt, chỉ sau ba triều đại (Ngộ - Đinh – Tiền Lê) lo việc gây dựng lại,
văn hóa VN đã khôi phụcthăng hoa nhanh chóng. Được thành lập từ năm
1009-1225 (nhà Lý) từ 1225-1400 (nhà Trần), đây lần phục hưng văn
hóa thứ 2 trong lịch sử Việt Nam, được Quý Đôn đã nhận định “Nước
Nam ở hai triều Lý, Trần nổi tiếng là văn minh”
Đây không những thế kỷ phục hưng của văn hóa Việt cổ bản địa (văn
minh Văn Lang Âu Lạc) mà còn phát triển một tầm cao mới khi trải qua
quá trình tiếp biến và tích hợp văn hóa. Hai triều Lý – Trần đã tự nguyện, chủ
động tiếp thu và cải biến những yếu tố văn hóa Trung Hoa, Chămpa.
Dưới thời Lý – Trần đã xây dựng nhiều công trình kiến trúc quy mô lớn,
đẹp. Xây dựng nhiều cunng điện, đền đài, thành lũy. Hoàng Thành Thăng
Long là một công trình xây dựng thành lũy lớn nhất trong các triều đại phong
kiến, được xây dựng vào năm 1010 khi vua Lý Thái Tổ ban chiếu dời đô từ
Hoa Lư về Đại La. Thành được xây theo lối “tam trùng thành quách”, bao
gồm vòng ngoài cùng là La thành (Kinh thành) là nơi sinh sống của dân cư,
vòng thứ hai là Hoàng thành là nơi ở của các quan lại triều thần, vòng trong
cùng là Cấm thành, hay còn gọi là Long Phượng thành, nơi ở của vua, hoàng
hậu và thành viên trong hoàng tộc. Hoàng thành mở ra 4 cửa ở 4 hướng đông
tây nam bắc, trong thành có nhiều cung điện, có lầu 4 tầng, thời Lý xây dựng
các điện Càn Nguyên, Giảng Võ,... thời Trần xây dựng các cung Quan Triều,
Diên Hồng,... Ngoài thành quách, thời Lý Trần còn có khu lăng mộ và phủ đệ
như sơn lăng ở Đình Bảng, Long Hưng, An Sinh,... các dinh thự có quy mô
đồ sộ.
“An Nam tứ đại khí” bao gồm: tượng phật chùa Quỳnh Lâm, đây là pho
tượng Phật Di Lặc cao gần 20m được sư Nguyễn Minh Không cho đúc dưới
thời nhà Lý, bức tượng đầu thì mất thì được thiền sư Pháp Loa cho đúc lại
vào dưới thời Trần. Tháp Báo Thiên được xây dựng vào năm 1057 trong
khuôn viên chùa Sùng Khánh ở phường Báo Thiên, gồm 20 tầng và cao
khoảng 60 trượng, ngọn tháp được đúc bằng đồng, có khắc ba chữ Đao Ly
10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
Thiên. Trên đỉnh tháp còn dựng tượng tiên bưng mâm ngọc hứng nước.
Chuông Quy Điền: đúc trong lần sửa chữa chùa Diên Hựu năm 1101, đúng
xong đánh không kêu nên được đưa ra ruộng sau chùa. Vạc Phổ Minh: được
chạm khắc tinh vi: rồng uốn lợn, trên chim lạc tung bay, dưới non sông cẩm
tú. Trên thành vạc có 100 lỗ tròn, mỗi lỗ đềo được đặt tượng rồng vàng thể
hiện quan niệm về nguồn gốc “con rồng cháu tiên” của người Việt. Trên bệ
vạc còn được khắc tên các vị vua từ Kinh Dương Vương đến Lý Thánh Tông.
Các nghề thủ công rất phát triển, đồ mỹ nghệ, đồ gốm đều đơn giản, thanh
thoát, có các loại men ngọc trắng xanh, men hoa lam,... rất nổi tiếng. Các bức
phù điêu được chạm khắc tinh tường, có nhiều tượng người và thú vật bằng đá.
Ngoài ra dưới thời Lý Trần nghề thủ công còn có những bước pt mới, hình thành
những làng nghề chuyên sản xuất một mặt hàng, vậy nên chia thành Thăng Long
thành 61 phường
tưởng khai phóng, đa nguyên, “tam giáo đồng quy”. Nhìn chung, hai
triều đại Trần đã chủ trương chính sách khoan dung hòa hợp chung
sống hòa bình giữa Phật Đạo, Nho và tín ngưỡng dân gian. Đóhiện tượng
“Tam giáo đồng quy” trên sở truyền thống dân tộc, hiện tượng này đã
khiến cho văn hóa VN thời Lý-Trần phát triển mạnh mẽ. Phật giáo phát
triển rực rỡ, là tôn giáo thịnh đạt nhất trong xã hội Lý Trần, được coi là Quốc
giáo. tăng tín đồ phát triển về cả số lượng lẫn chất lượng, hầu hết các
vua Trần đều sùng Phật, thậm chí vua Trần Nhân Tông còn đi tu núi
Yên Tử, lập ra thiền phái Trúc Lâm, chùa chiền được xây dựng trên khắp cả
nước như chùa Diên Hựu, chùa Phật Tích,... Năm 1031 nhà Lý bỏ tiền dựng
950 ngôi chùa, năm 1129 mở hội khánh thành 84000 bảo tháp bằng đất nung.
Nhà chùa cũng là cơ sở giáo dục, đào tạo sư tăng và tri thức thời đại, vậy nên
các nhà cũng được tham gia chính sự. Xuất hiện rất nhiều vị tăng nổi
tiếng trong cả nước, uy tín địa vị chính trị - hội như nhà Vạn
Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Giác Hải,... Phật giáo thời Lý Trần chia làm 3 tông phái
chủ yếu: gồm thiền tông, Tịnh độ tông Mật tông. Nhà sử học Văn
Hưu từng nói “Nhân dân ắt quá nửa sãi, trong nước chỗ nào cũng
chùa”. Nho giáo dần được tiếp nhận. Bắt đầu từ nhu cầu củng cố vị trí vai trò
của bậc quân vương, hệ thống hóa đội ngũ quan liêu nhu cầu tuyển chọn
người tài, Nho giáo chính thức được tiếp nhận. Cùng tồn tại với Phật giáo
nhưng xu hướng phát triển ngược lại. Trong khi Phật giáo triều hướng
suy giảm dần thì thế lực Nho giáo ngày càng phát triển, trên đà trở thành ý
thức hệ thống trị hội. Thời Lý, Nho giáo được tiếp nhận nhưng chiếm vị
trí khiêm tốn, năm 1070 dựng Văn Miếu, đúc tượng Chu Công, thờ Khổng
Tử, là nơi dạy học cho Hoàng thái tử. 1076 dựng trường ĐH đầu tiên – Quốc
Tử Giám và lần đầu tổ chức khoa cử chọn nhân tài vào 1075, người đỗ đầu là
Văn Thịnh. Sau đó xây dựng Hàn Lâm Viện vào 1086. Chế độ giáo dục và
thi cử theo tinh tần Nho giáo được bắt đầu. Đến thời Trần, Nho giáo Nho
học khởi sắc hơn, tầng lớp Nho sĩ ngày càng đông đảo, Nho giáo dần dần lấn
át Phật giáo, thậm chí 1247 nhà Trần đã đặt ra danh hiệu “Tam khôi” trong
10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
thi Đình, nhiều trường Nho học được mở, khoa cử đều kỳ hơn, xuất hiện
những Nho nổi bật như Chu Văn An, Văn Hưu, Mạc Đĩnh Chi,... Đạo
giáo vẫn được tiếp nhận mở rộng phù hợp với nhiều tín ngưỡng dân gian
Việt Nam, hơn nữa đi vào Việt Nam bằng con đường hòa bình thông qua
các quan lại cai trị người Hấn, đạo sĩ hoặc tín đồ Đạo giáo. Những người này
cũng căm ghét sự cai trị của nhà Hán, đứng lên nổi dậy khởi nghĩa nhưng
thất bại nên chạy trốn, di xuống Việt Nam từ thế kỉ II qua sự chung
sống, truyền bá lâu dài nên được nhân dân ta chấp nhận
Các công trình kiến trúc mang dấu ấn văn hóa Chămpa. Nhắc tới mỹ thuật
thời này là nhắc tới kiến trúc ở các ngôi chùa và tượng phật. Nghệ thuật điêu
khắc trên đá, trên gốm cho thấy một phong cách đặc sắc và một tay nghề thuần
thục.
Nền văn học bác học hình thành, hình thành văn học chữ viết. Văn học thời
Trần phản ánh tư tưởng và tình cảm của con người thời đại, có 2 dòng văn
học chính: văn học Phật giáo và văn học yêu nước dân tộc. Tư tưởng phật
giáo trong thơ văn chủ yếu là của phái Thiền tông, do các sư tăng trí thức
viết. Dòng thơ văn yêu nước phản ánh tinh thần bất khuất, anh dũng chống
giặc và tự hào dân tộc, như: Nam Quốc Sơn Hà, Hịch tướng sĩ,... ngoài ra
còn có các bộ quốc sử, nhất là Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu. Một thành tự
quan trọng nữa là phổ biến chữ Nôm, được gọi là “Quốc ngữ,”Quốc âm”.
Văn hóa Lý Trần là giai đoạn phát triển thịnh đạt của Đại Việt, không chỉ
khôi phục lại những yếu tố văn hóa đã có mà còn cải biến tích hợp những văn
hóa ngoại sinh tạo nên phong cách riêng, vì thế đã mang tính dân tộc sâu sắc.
Văn hóa Đại Việt thời Lý Trần chính là một sức mạnh tinh thần, vừa là một
xung lực, vừa là một kháng thể trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất
nước, đồng thời là tố chất kết nối cộng đồng người Việt, trên cơ sở tìm về
một cội nguồn lịch sử và văn hóa chung, làm chín muồi ý thức quốc gia và
tinh thần dân tộc Việt.
4. Tín ngưỡng người Việt
-Việt Nam có một nền văn hóa rất đặc sắc và lâu đời. Bên cạnh các tôn
giáo được nhà nước công nhận thì Việt Nam cũng có rất nhiều loại hình
tín ngưỡng dân gian khác nhau. Người Việt thường đa tín, dị tín mê tín
nhưng không cuồng tín. Các tín ngưỡng nổi bật thì phải kể đến tín ngưỡng
phồn thực, sùng bái tự nhiên, sùng bái con người, thờ thành Hoàng làng,
thờ Tứ bất tử hay thờ Mẫu tam phủ tứ phủ. Trong đó, tín ngưỡng...
-Trước hết, tín ngưỡng được hiểu là niềm tin, sự ngưỡng mộ, ngưỡng
vọng, là sự thần thánh hóa, thiêng hóa của con người đối với một hay
nhiều hiện tượng, nhân vật nào đó. Tín ngưỡng là sản phẩm văn hóa hình
thành trong mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên – môi
trường xã hội. Tín ngưỡng không chỉ phản ánh nguyện vọng của con
10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
người về một cuộc sống tốt đẹp hơn mà còn phản ánh trình độ nhận thức
về tự nhiên xã hội và con người.
* Tín ngưỡng phồn thực
Tín ngưỡng phồn thực được coi là tín ngưỡng bản địa cổ truyền và là nét
đặc trưng của cư dân nông nghiệp. Tín ngưỡng phồn thực với “phồn” có
nghĩa là nhiều, “thực” là sinh sôi, nảy nở. Đây là tín ngưỡng thể hiện sự
sùng bái, thiêng hóa sự sinh sản với ước vọng, niềm cầu mong về sự sinh
sôi của tạo vật và con người.
Sự sùng bái tín ngưỡng phồn thực được thể hiện chủ yếu qua các lễ hội
nông nghiệp với 2 hình thức chính là thờ sinh thực khí (linga – yoni) và
thờ hành vi giao phối.
Về hình thức thờ sinh thực khí được biểu hiện qua việc người Việt thờ nõ
– nường, thờ trầu cau, thờ cột đá tự nhiên, hang động, kẽ nứt trên núi,...
Điều này được thể hiện rất rõ qua tục thờ Linga của người Chăm. Người
Chăm quan niệm rằng Linga biểu tượng cho đặc tính dương, Yoni là biểu
hiện của đặc tính âm và sự kết hợp Linga – Yoni được coi là biểu tượng
cho sự sáng tạo của thần Siva và sự sinh sôi, phát triển. Vì thế, bộ phận
kết hợp giữa sinh thực khí Linga – Yoni được đưa vào thờ trong tháp
Chăm. Trong lễ Ri chà nư cành, người Chăm sẽ múa điệu múa âm dương,
chọn trong làng một người đàn ông khỏe mạnh cầm lễ vật dâng cúng bằng
gỗ có hình dáng như sinh thực khí nam và múa cùng bà bóng. Hay như ở
người Mường, họ sẽ gắn vật tượng trưng cho sinh thực khí nam và nữ lên
thân một cây cột ở gian trong cùng của ngôi nhà để thể hiện cầu mong âm
dương giao hòa, vạn vật sinh sôi, con người khỏe mạnh và có cuộc sống
đủ đầy. Bên cạnh đó, hình thức này còn được in dấu đậm nét qua một số
các lễ hội thông qua các trò chơi, trò diễn xuất phong phú. Ở hội làng
Đồng Kỵ (Bắc Ninh) có tục rước sinh thực khí bằng gỗ vào ngày mùng 6
tháng Giêng. Trong đó, người ta đẽo chiếc kén tằm bằng gỗ hình sinh thực
khí nam và sinh thực khí nữa, mỗi câu hát “Cái sự làm sao, cái sự làm
vầy/ Cái sự thế này, cái sự làm sao” đôi sinh thực khí sẽ được xỏ vào nhau
mô phỏng hạnh động tính giao. Sau đám rước, chúng được đốt đi, lấy tro
than chia cho mọi người để đem ra rắc ngoài đồng ruộng. Không chỉ vậy,
ở tỉnh Lạng Sơn có lễ hội Ná Nhèm của người Tày, được tổ chức vào rằm
tháng Giêng. Trong số các lễ vật được người dân dâng lên có hai vật là
tàng thing và mặt nguyệt tượng trưng cho sinh thực khí nam và sinh thực
nữ. Hay như trong lễ hội TTrám hay còn gọi là lễ hội “Linh tinh tình
phộc” của người dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, người dân Tứ Xã sẽ
làm hai mô hình sinh thực khí nam và sinh thực khí nữa bằng gỗ mít. Hai
“linh vật” này được gói trong dải khăn son, đặt trong một chiếc hòm sơn
son rồi cất vào “ngăn bí mật” phía trên bàn thờ trong miếu. “Vật linh” này
sẽ luôn được gĩn giữ cẩn thận và chiếc hòm son cũng sẽ được khóa kín,
chỉ được mở ra vào đúng 0 giờ đêm ngày 11, rạng sáng 12 tháng Giêng.
10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
Lúc này, hai người được chọn sẽ cầm hai “vật linh” đập vào nhau 3 lần,
diễn cảnh giao hợp trong tiếng hò reo của dân làng.
Hình thức thờ hành vi giao phối cũng được biểu hiện chủ yếu qua các lễ
hội dân gian của người Việt. Trong lễ hội làng Nối (Hưng Yên), người dân
sẽ mang chày và cối ra giã theo nhịp câu xướng cổ: “cái này là cái gì, làm
thế nào, làm thế này” và trai gái nhân lúc đó đùa nghịch nhau. Đó còn là
trò múa với các điệu múa mô phỏng theo động tác tính giao của người
Tày, Dao như điệu múa “tùng dí” trong hội đền Hùng. Thanh niên nam
nữa sẽ múa từng đôi một, tay cầm biểu tượng cho sinh thực khí nam và
sinh thực khí nữa, cứ mỗi khi nghe tiếng trống đánh tùng họ lại dí hai vật
đó vào nhau. Hay như trong hội làng Rã la, đêm tắt đèn là tục bắt buộc
phải có. Trong khi đèn tắt, trai gái tự do gặp gỡ và đùa nghịch. Theo lời
các bô lão trong làng, nếu người con gái nào trót có thai từ dịp hội làng sẽ
không bị làng phạt vạ mà còn được giảm cho một nửa số tiền nộp cheo
khi cưới. Vì các cụ quan niệm rằng, có thai vào ngày ấy là được Thánh
ban lộc và cả làng sẽ gặp thuận luận, cả năm may mắn. Ngoài ra, hình
thức này còn được thể hiện qua những bức tượng mô phỏng lại hành vi
giao phối ở một nhà mồ ở Tây Nguyên. Trong một số các câu đố tục giải
thanh hoặc trong bức tranh dân gian Đông Hồ - Hứng dừa cũng phảng
phất hình ảnh của hình thức này. Ở một số nơi, tín ngưỡng này được thể
hiện tế nhị kín đáo thông qua các trò chơi nèm còn, kéo co, đánh đu, bắt
chạch trong chum, hát giao duyên,...
Trải qua bao thăng trầm lịch sử, tín ngưỡng phồn thực vẫn còn để lại dấu
ấn sâu sắc, đậm nét trong văn hóa Việt Nam. Tín ngưỡng này đã trở thành
một thứ trầm tích trong nền văn hóa Việt.
* Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Sùng bái tự nhiên là giai đoạn tất yếu trong quá trình phát triển của con
người. Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là sự sùng bái, thiêng hóa các hiện
tượng thiên nhiên qua đó thể hiện ước vọng, niềm cầu mong mưa thuận
gió hòa, cây cối xanh tốt. Người Việt là cư dân nông nghiệp, sống bằng
nghề trồng lúa nước thì sự gắn bó, phụ thuộc vào tự nhiên lại càng bền
chặt. Việc cùng lúc phải phụ thuộc vào nhiều yếu tốc tự nhiên dẫn đến
việc người Việt theo tín ngưỡng đa thần, tức là cùng một lúc thờ rất nhiều
vị thần tự nhiên.
Trước hết, tín ngưỡng này được thể hiện thông qua tục thờ các hiện tượng
tự nhiên. Người Việt từ xa xưa vẫn luôn tôn trọng và đề cao yếu tố nữ
cùng với chất âm tính của văn hóa nông nghiệp đã dẫn đến việc đồng nhất
các vị thần với Nữ thần. Vì thế mà số lượng nữ thần trong văn hóa của
người Việt luôn chiếm ưu thế. Nổi bật nhất là các bà Mây, bà Mưa, bà
Sấm, bà Chớp. Sau này khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam thì nhóm nữ
thần này trở thành hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ Pháp – bốn vị thần tự
nhiên có ảnh hưởng quyết định đến đời sống nông nghiệp. Đó là bốn vị:
10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
Pháp Vân (thần Mây), Pháp Vũ (thần Mưa), Pháp Lôi (thần Sấm), Pháp
Điện (thần Chớp). Ban đầu, Tứ Pháp chỉ được thờ trong các chùa ở vùng
Luy Lâu. Sau vì tính chất linh ứng nên lan dần ra nhiều vùng quê ở châu
thổ Bắc Bộ. Lòng tin của nhân dân vào Tứ pháp lớn đến nỗi vào thời nhà
Lí, triều đình đã phải nhiều lần rước tượng Pháp Vân về Thăng Long cầu
đảo, thậm chí rước theo đoàn quân đi đánh giặc...
Bên cạnh đó, người Việt còn thờ các hiện tượng tự nhiên khái quát như
không gian và thời gian. Thần không gian được hình dung theo Ngũ hành:
Ngũ Hành Nương Nương; Ngũ Phương chi thần coi sóc các phương trời,
Ngũ Đạo chi thần trông coi các ngả đường. Theo địa chi, người ra thờ
thần thời gian là Thập nhị Hành khiển. Thời gian kéo dài, bảo tồn sự sống
vô tận, nên 12 nữ thần này đồng thời có trách nhiệm coi sóc việc sinh nở -
đó là Mười hai Bà Mụ (Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt
Nam, tr 134). Tuy chỉ có 12 Bà Mụ nhưng khi cúng, người ta thường
chuẩn bị mâm cúng 13 thứ ứng với 12 Bà Mụ và 1 Bà Chúa Mụ cai quản
12 Bà Mụ. Ngoài ra, sự sùng bái thời gian còn được thể hiện qua nghi
thức cùng giao thừa, thờ ông Táo.
Trong mảng tín ngưỡng sùng bái giới tự nhiên còn có tục thờ động vật và
thực vật.
Các loại động vật mà cư dân Việt thờ phụng thường là những loài vật liên
quan đến sông nước, đến nông nghiệp. Người Việt có câu: Nhất điểu, nhì
xà, tam ngư, tứ tượng. Theo truyền thuyết thì người Việt thuộc “họ Hồng
Bàng” (loài chim lớn) và là “giống Rồng Tiên”. Những loài vật biểu trưng
cho sức mạnh như chim hạc, rồng, rùa, hổ cũng xuất hiện dày đặc trong
đời sống của cư dân Việt: rồng được xuất hiện trên những kiến trúc chạm
khắc, điêu khắc ở các đình chùa; chim hạc thường xuất hiện theo cặp đôi
ngậm ngọc minh châu biểu tượng cho sự sang quý hay ngậm hoa sen biểu
tượng cho giác ngộ; tục thờ “ông Hổ” thì ở các chùa, miếu nào cũng xuất
hiện. Không chỉ vậy, rùa – con vật biểu tượng cho sự trường thọ, sinh lực
và sức chịu đựng cũng là một trong những loài vật được thờ phụng phổ
biến. Trong kiến trúc Việt Nam, rùa thường được thể hiện cùng các linh
vật khác trong cùng bộ tứ linh nhưng phổ biến nhất là hình ảnh “rùa đội
bia”, “rùa đội hạc” trong các đình, chùa. Bên cạnh đó, tục thờ cá cũng rất
phổ biến ở cư dân sống ven biển để cầu mong những chuyến ra khơi
thuận lợi, có cuộc sống bình yên no ấm. Ngoài ra, tục thờ ngựa và thờ voi
cũng rất phổ biến trong các đền, chùa ở Việt Nam như ngựa trắng được
tôn lên làm thần và thờ ở đền Bạch Mã, ba thần ngựa được thờ trong đình
Thông Tây...; tượng voi phục ở chùa Keo Hành Thiện, điện Long Châu,
tượng voi chầu hầu ở lăng các vua Nguyễn và lăng vua Lê Thái Tổ...
Đối với cư dân trồng lúa như người Việt thì thực vật được tôn sùng nhất
chính là cây lúa. Tín ngưỡng thờ thần Lúa có mặt trên khắp cả nước, từ
vùng của người Kinh cho đến các dân tộc thiểu số. Trong các lễ hội
10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
thường sẽ có tục rước thần lúa. Tiêu biểu là lễ rước thần lúa của người Ê –
đê. Theo những người già ở buôn T’Liêr, cúng thần lúa phải trải qua nhiều
nghi thức khác nhau như: cúng thần gió, cúng cái cào cỏ, lễ trỉa lúa, lễ cầu
mưa, lễ cúng lúa sắp trổ bông, cúng ăn cơm mới,... Đồng bào Mạ ở tỉnh
Lâm Đồng cũng tổ chức lễ cúng thần lúa vào khoảng tháng 2 – 3 âm lịch
hàng năm. Đó là lễ hội Yang Koi – lễ hội quan trọng và lớn nhất trong
năm của họ. Trong lễ hội Trò Trám diễn ra vào sáng ngày 12 Giêng, dân
làng tổ chức rước lúa thần và diễn trò trình nghề Tứ dân chi nghiệp. “Lúa
thần” ở đây là một khóm lúa bông dài, hạt mẩy, được chọn từ vụ mùa năm
trước cùng với mộ cây mía đủ ngọn. Đám rước sẽ rước lúa thần đi quanh
làng, về miếu Trám và khóm “lúa thần” được đặt lên bàn thờ và phường
Trám diễn trò nghề. Ngoài ra, cư dân Việt cũng thờ một số loài cây xuất
hiện sớm như cây Cau, cây Đa, cây Dâu...
* Tín ngưỡng sùng bái con người
Trong thời kì nguyên thủy, trong văn hóa của người Việt xuất hiện tín
ngưỡng tôtem vật tổ. Đó là cư dân tôn vinh một vật trong tự nhiên có mối
quan hệ gần gũi với con người và thiêng hóa lên, tôn làm Tổ. Tuy nhiên
sau này, tín ngưỡng totem vật tổ ngày càng mai một và thay vào đó là tín
ngưỡng sùng bái con người. Tín ngưỡng sùng bái con người là một loại
hình tín ngưỡng dân gian có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của
người dân Việt Nam. Tín ngưỡng này không những chứa đựng những giá
trị đạo đức tốt đẹp mà còn thể hiện được quan niệm về nhân sinh quan,
thế giới quan của người Việt. Xét về nguồn gốc, tín ngưỡng này xuất phát
từ quan niệm con người là vốn quý nhất của mọi nền văn hóa, đối với nền
nông nghiệp lúa nước cần nhiều nhân lực cho sản xuất thì con người càng
trở nên cần thiết và quý giá hơn.
Trong con người có cái vật chất và cái tinh thần. Cái tinh thần trừu tượng
khó nắm bắt nên người xưa đã thần thánh hóa nó thành khái niệm “linh
hồn” (Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, tr.136 – 137).
Người Việt quan niệm rằng một người sẽ có 3 hồn gồm tinh, khí, thần;
đàn ông cóa 7 vía và phụ nữ có 9 vía. Hồn được xem là phần độc lập với
thể xác, còn vía phụ thuộc vào thể xác nên mới có người “lành vía”, người
“yếu vía”, người “cứng vía”... Thể xác được coi là phần trung gian giữa
hồn và vía. Người Việt cho rằng, khi một người mất đi thì chỉ là cơ thể
chuyển từ trạng thái động sang trạng thái tĩnh, chỉ là chết về mặt thể xác
còn phần hồn sẽ đi đến “thế giới bên kia”. Đối với cư dân nông nghiệp thì
“thế giới bên kia” ngăn cách với dương gian bằng “chín suối” vì thế người
đã khuất tới đó phải đi bằng thuyền. Đó là lí do trong tang ma có một số
lễ nghi như “chèo đò” – chèo một chuyến đò đưa linh hồn người đã khuất
về với “thế giới bên kia” hay lễ phạn hàm – bỏ gạo và ba đồng tiền xu vào
miệng người đã khuất để làm lộ phí đi đò. Ngoài ra, người Việt còn có tục
10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
chiêu hồn hay đặt người chết xuống đất và gọi hồn thể hiện hi vọng mong
người đã mất có thể sống lại.
Niềm tin rằng chết là về với tổ tiên nơi chín suối, tin rằng tổ tiên vẫn
thường về thăm và đi theo phù hộ con cháu là cơ sở để hình thành tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Xét về mặt bản chất thì tín ngưỡng này cũng
xuất phát từ truyền thống uống nước nhớ nguồn và đề cao đạo hiếu. Tín
ngưỡng này không chỉ có mặt ở Việt Nam mà còn phổ biến ở nhiều nước
trên thế giới như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều Tiên hay một số quốc gia
Đông Nam Á. Tuy nhiên, tín ngưỡng này lại phát triển hơn cả ở dân tộc
Việt. Ở người Việt, nó gần như trở thành một thứ tôn giáo (nhiều nơi gọi
là Đạo Ông Bà); ngay cả những gia đình không tin thần thánh cũng đặt
ban thờ tổ tiên trong nhà (Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt
Nam, tr.138). Nếu người phương Tây coi trọng ngày sinh nhật thì người
Việt ta coi trọng việc cúng giỗ vào ngày mất hơn cả. Bởi lẽ người ta tin
rằng đó là ngày con người sẽ đi vào cõi vĩnh hằng. Bên cạnh việc cúng
giỗ vào kị nhật thì người Việt vẫn tiến hành việc cúng tổ tiên đều đặn vào
ngày mùng 1 hay ngày rằm, dịp lễ Tết hay bất cứ khi nào có công việc
quan trọng. Ban thờ tổ tiên bao giờ cũng được đặt ở nơi trang trọng nhất
và những đồ thờ như bát hương, đài rượu, bình hoa, chân đèn... thì dù
nghèo khó cũng không được phép bán. Trong phạm vi gia đình, ngoài việc
thờ cúng tổ tiên, người Việt còn có tục thờ Thổ Công (ông Táo). Người
Việt quan niệm rằng “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá”, đó sẽ là vị thần
trông coi gia cư, định đoạt phúc họa cho một gia đình. Trong gia đình thì
Thổ Công sẽ là vị thần quan trọng, có quyền lực cao nhất, mỗi khi mời tổ
tiên về cần phải khấn xin với Thổ Công trước. Tuy nhiên, vì tổ tiên là bậc
sinh thành ra ta nên sẽ là đối tượng được tôn kính nhất. Vì để hài hòa
quan hệ giữa hai bên, người Việt sẽ đặt tổ tiên ngự tại gian giữa của bàn
thờ và Thổ Công ở gian bên trái ( là nơi quan trọng thứ hai sau phương
trung tâm theo Ngũ hành). Ở Nam Bộ, Thổ Công được thay bằng Ông Địa
với một số đặc điểm như bàn thờ đặt dưới đất, Ông Địa có khuôn mặt
phúc hậu, nữ tính, ngực lớn, bụng chình ình...
Tục thờ cúng tổ tiên không chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình mà còn
được mở rộng ra phạm vi dòng họ, làng xã, thậm chí là toàn dân tộc. Bởi
lẽ sau này, khái niệm tổ tiên không những để chỉ những bậc sinh thành mà
còn để chỉ những người có công tạo dựng, giữ gìn cuộc sống cho cộng
đồng: người truyền nghề, các anh hùng, danh nhân văn hóa...
Trong phạm vi làng xã, tục quan trọng nhất đó là thờ thần làng (Thành
Hoàng). Thành Hoàng cũng giống với Thổ Công trong một nhà, đó là vị
thần cai quản, che chở, định đoạt phúc họa cho dân làng đó. Thành Hoàng
làng thường sẽ là những vị tà thần, dâm thần hoặc những vị thần có công
với nước nhà. Mở rộng ra phạm vi quốc gia thì người Việt Nam thờ Vua
Tổ - vua Hùng. Từ xưa ông bà ta đã có câu:
10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng 10 tháng 3
Mảnh đất Phong Châu (Phú Thọ) – nơi đóng đô của các vua Hùng khi xưa
nay trở thành đất Tổ. Từ thời vua Lê Thánh Tông (1470-1497) ngày giỗ
Tổ Hùng Vương đã trở thành Quốc giỗ và được duy trì cho đến ngày nay.
Qua đây, ta có thể thấy được, tín ngưỡng sùng bài con người của người
Việt mang nhiều yếu tố tích cực. Nó thể hiện sự trân trọng, biết ơn của thế
hệ con cháu với những bậc cha anh thế hệ trước. Không chỉ vậy, tín
ngưỡng này còn là sợi dây liên kết chặt chẽ, gắn kết cá nhân với công
đồng, tạo nên khối đại đoàn kết trong lịch sử dựng nước và giữ nước của
dân tộc.
* Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng
Từ xưa đến nay, phong tục thờ Thành Hoàng làng của người Việt vẫn là
một tín ngưỡng rất độc đáo. Trong Đại Việt sử ký toàn thư (1968), tập 4,
bản dịch Viện Sử học, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, trang 86, 97 ghi:
“Người Việt phổ biến nhất, nổi bật nhất là thờ thần ở làng, không làng
nào là không có đình, đền, miếu thờ thần”. Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng
chính là sự kết hợp của tín ngưỡng sùng bái con người và tín ngưỡng sùng
bái thần linh. Thành Hoàng là từ Hán Việt: “Thành Hoàng có nghĩa là
thành hào, hào có nước gọi là trì, không có nước gọi là hoàng. Đắp đất
làm “thành”, đào hào làm “hoàng”. Tục thờ Thành Hoàng có nguồn gốc
từ thời nhà Chu ở Trung Quốc, nằm trong tục lệ thờ vị thần bảo hộ cho
một thành trì, đô thị, một phủ, hay một châu, một huyện. Đến thời nhà
Đường, phong tục này được du nhập vào Việt Nam. Do một số đặc điểm
văn hóa cũng như đền, phủ ở Việt Nam có tính lịch sử khác nên khi vào
đến Việt Nam phong tục này cũng có những sự biến đổi.
Ở Việt Nam, Thành Hoàng làng được chia thành Đô Thành Hoàng và
Thành Hoàng làng. Trong đó, chỉ có duy nhất vị thần sông Tô Lịch –
Thành Hoàng thành Đại La được coi là Đô Thành Hoàng. Về đến các làng
xã, dân ta đã kết hợp tín ngưỡng thờ Thành Hoàng với tín ngưỡng thờ các
thần bản địa, vì thế Thành Hoàng của các làng được chia ra thành ba
nhóm: Thiên Thần, Nhiên Thần và Nhân Thần.
Các vị Thiên Thần, Nhiên Thần được suy tôn làm Thành Hoàng làng
thường là các vị thượng thần như Đông Thiên Vương, Sóc Thiên Vương,
Chử Đồng Tử, Mẫu Liễu Hạnh... hay các vị cai quản về thời tiết như thần
Núi, thần Sông, thần Mây, thần Mưa, thần Sấm, thần Chớp. Thông
thường, việc chọn thờ vị thần nào sẽ dựa vào địa bàn sinh sống của dân
làng. Nếu cư dân sống vùng sông nước thì thường thờ Thủy thần (thần
Sông) như Lạc Long Quân, Linh Lang, Đông Hải Đại Vương... ; nếu cư
dân sinh sống gần các vùng núi thì sẽ thờ các Sơn thần (thần Núi) như
Tản Viên, Cao Sơn,... Ngoài ta, người Việt còn thờ thần Cây như thần
Linh Mộc ở xã La Chàng (Hưng Yên), Mộc Thần ở phủ Thanh Oai; hay
10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
thần Đá như tượng Mỵ Nương cụt đầu (Cây thiêng Hòn Đá được cho là
Mỵ Nương hóa thành) ở Cổ Loa...
Trong đời sống văn hóa của người Việt, không làng nào là không có
Thành Hoàng và số lượng Thành Hoàng là Nhân Thần chiếm số lượng áp
đảo. Trong Nhân Thần còn phân ra thành chính thần và tà thần, dâm thần.
Cái “lệ làng” này mạnh đến mức năm 1572 (đời vua Lê Anh Tông), triều
đình phải ra lệnh sưu tầm và soạn ra “thần tích” của Thành Hoàng các
làng để vua ban sắc phong thần (Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa
Việt Nam, tr.140). Mỗi làng sẽ phụng sự một vị Thành Hoàng, có làng thờ
hai ba vị, có làng thờ năm bảy vị, gọi chung là chính thần. Các chính thần
sẽ được chia làm ba cấp bậc: thượng đẳng thần, trung đẳng thần, hạ đẳng
thần.
Thượng đẳng thần bao gồm các vị thần thuộc cấp bậc Thiên Thần (Tản
Viên, Danh Sơn Đại Xuyên...) và những vị Nhân thần có công trạng hiển
hách với dân với nước như Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Hai bà
Trưng... Các vị này khi sinh thời có đại công lao được dân suy tôn, phụng
thờ hoặc cũng có thể được nhà vua tinh biểu công trạng mà lập đền thờ.
Trung đẳng thần là những vị thần được dân làng thờ phụng từ lâu đời, có
họ tên mà không rõ công trạng hoặc có quan tước mà không rõ họ tên. Đó
cũng có thể là những vị thần có chút linh dị, tới khi nhà vua sai kỳ tình
đảo võ, cũng có ứng nghiệm thì triều đình cũng liệt vào tự điển và phong
làm Trung đẳng thần (theo Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục,
tr.76). Các vị trung đẳng thần được thờ phổ biến hiện nay là anh em Cao
Lịch, Cao Khiển là tướng nhà Đinh. Tại Ninh Bình, Cao Lịch được sắc
phong Lịch Lộ Đại Vương trung đẳng thần, còn Cao Khiển được phong
Hành Khiển Đại Vương trung đẳng thần.
Hạ đẳng thần là những vị được dân xã thờ phụng nhưng không rõ lai lịch,
công trạng ra sao nhưng cũng thuộc vào bậc chính thần thì triều đình cũng
thuận theo mà phong làm Hạ đẳng thần.
Dù rằng nhà vua đã cho soạn ra một thần phả, nguời dân chỉ cần căn cứ
theo đó mà thờ phụng nhưng “trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào
làng ấy thờ” cho nên trong dân gian vẫn có nơi thờ các vị tà thần, dâm
thần như thần bán lợn, thần trẻ con, thần ăn xin... thậm chí là một vị gắp
phân (Thành Hoàng làng Cổ Nhuế - Hà Đông). Một số ít nơi thờ Thành
Hoàng làng là những quan lại phương Bắc như: Triệu Đà, Cao Biền... Tuy
nhiên, cũng vì việc hệ thống hóa các Thành Hoàng làng trong cả nước nên
số lượng các tà thần, dâm thần được thờ phụng cũng ít đi đáng kể.
Trong các lễ hội thuộc tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng thường gắn với
những tục hèm, lễ mật. Lễ mật thường được diễn ra vào đêm tối và chỉ có
dân làng được gia. Hèm được coi là biểu hiện cao nhất của khái niệm
kiêng kị. Tục hèm của mỗi làng là khác nhau nhưng thường sẽ mô phỏng
lại hành vi, lời nói, cử chỉ, những đặc điểm liên quan đến vị Thành Hoàng
10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
mà làng đó đang thờ phụng. Ví dụ như Thành Hoàng làng Cổ Nhuế (Hà
Đông) là một vị thần gắp phân, thì trên ban thờ Thành Hoàng sẽ có một
đôi đũa và một đôi quang gánh sơn son thiếp vàng; đồ cúng lễ như kẹo lạc
sẽ được vo tròn, cục, chuối màu đen và chè được làm theo hình xoáy trôn
ốc. Tuy rằng, các nghi lễ hèm này thường không giống với phong tục
cúng giỗ thông thường nhưng cũng chính điều này đã tạo ra dấu ấn riêng
cho các lễ hội của từng làng.
Việc duy trì phong tục thờ Thành Hoàng làng là góp phần vào việc bảo
tồn, duy trì và phát huy giá trị truyền thống Việt Nam.
* Tín ngưỡng thờ Mẫu
Trong tín ngưỡng dân gian của một số dân tộc phương Đông và phương
Tây đều có sự xuất hiện của tín ngưỡng thờ Mẫu. Điều đó xuất phát từ ý
niệm đề cao, suy tôn nữ tính và người mẹ của các dân tộc này. Xét về
nguồn gốc thì tín ngưỡng này bắt nguồn từ chế độ Mẫu hệ thời kì nguyên
thủy: đứng đầu là phụ nữ, người chia thức ăn, sinh sản và nuôi lớn và phát
triển cộng đồng. Ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mẫu bắt nguồn từ loại hình
tín ngưỡng thờ Nữ thần, Mẫu thần dưới sự ảnh hưởng của Đạo giáo. Tuy
nhiên, dù tín ngưỡng thờ Mẫu của dân ta có quan hệ mật thiết với tín
ngưỡng thờ Nữ thần nhưng chúng không đồng nhất với nhau, mọi Mẫu
đều là Nữ thần nhưng không phải mọi Nữ thần đều là Mẫu. Ngoài ra, tín
ngưỡng thờ Mẫu còn được hiểu theo một nghĩa hẹp hơn đó là Mẫu Tam
phủ, Tứ phủ. Đây là hình thức thờ cúng những vị Mẫu cai quản một lĩnh
vực nào đó trong vũ trụ.
Mẫu là từ Hán Việt, còn thuần Việt có từ tương ứng là Mẹ, Mụ. Cả ba từ
Mẫu, Mẹ, Mụ đều dùng để chỉ người phụ nữ sinh ra con nhưng từ Mẫu
mang ý nghĩa tôn vinh hơn như Mẫu nghi thiên hạ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu
Thượng Ngàn... Tín ngưỡng thờ Mẫu cũng xuất phát từ niềm tin vào tình
thương, sự che chở bảo bọc của người mẹ đối với con. Nói rộng ra, Mẫu
sẽ là đối tượng mang lại điều tốt đẹp, hạnh phúc, sự bình an đồng thời
cũng sẽ trừ khử, xua đuổi, hóa giải mọi bi kịch đau khổ cho con người.
Người Việt là cư dân nông nghiệp vì thế phụ thuộc rất nhiều vào thiên
nhiên, coi trọng yếu tố đất và nước đồng thời luôn mang theo quan niệm
“vạn vật hữu linh” nên trước hết dân ra tôn sùng các nữ thần tự nhiên như
nữ thần Mặt Trăng, thần Mặt Trời, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Địa, Mẫu
Thoải, Mẫu Thiên... ngoài ra còn có các vị thần cai quản thời tiết như
Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Dưới sự ảnh hưởng của Đạo
giáo, các mẫu tự nhiên được kết nạp vào tòa thành, vào điện thờ trở thành
Tam tòa Thánh Mẫu, Tứ phủ thánh linh. Đó là cách gọi quen thuộc của
người Việt với các vị nữ thần tự nhiên trong hình dung vũ trụ rộng lớn:
Mầu Thiên phủ (nữ thần coi sóc chín tầng trời), Mau Nhạc phù (nữ thần
rừng núi), Mầu Thoải phủ (nữ thần sông biển), Mầu Địa phủ (nữ thần đất
đai).
10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
Bên cạnh những nữ thần tự nhiên, người Việt còn thờ các vị thần nông
nghiệp như Mẹ Lúa, Mẹ Chè, Mẹ Mía, Bà Đậu, Bà Dâu... với niềm tin
rằng chỉ có nữ thần cai quản thì cây cối mới sinh sôi, mùa màng mới bội
thu.
Cuối cùng, không thể không kể đến những người phụ nữ có công với
nước nhà hay cả người phụ nữ xuất hiện trong thần tích, truyền thuyết
được dân ta suy tôn làm Mẫu, làm Thánh. Đó là Mẹ Âu Cơ (được tôn vinh
làm Quốc Mẫu), Hai Bà Trưng, Tứ vị Hồng Nương, Mẫu Man Nương,
Thánh Mẫu Ỷ Lan, Thánh Mẫu Liễu Hạnh (được nhân xếp vào hàng “Tứ
bất tử”), Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị Dung.... Những nhân vật lịch sử này
được dân ta thờ phụng, tôn kính, giữ một vị trí trang trọng trong đời sống
tinh thần của người Việt.
Tín ngưỡng thờ Mẫu không chỉ bó hẹp tại Bắc Bộ mà còn xuất hiện ở cả
miền Trung và miền Nam. Ở Huế, xưa có điện thờ Mẹ xứ sở PôI nư Nagar
của người Chăm, sau này được người Việt tiếp thu thành nữ thần Thiên
Yana và gọi là Bà Chúa Ngọc. Hay như ở vùng Nam Bộ, Mẫu được kết
hợp với thần Đất của người Khmer trở thành Bà Chúa xứ.
Đến khoảng thế kỉ XVI, do những biến động của xã hội, chiến tranh loạn
lạc dẫn đến việc nhân dân mất niềm tin với triều đình, với Nho giáo nên
đã đi tìm sự an ủi dựa dẫm về mặt tinh thần vào các các ngưỡng dân gian.
Từ đây, người dân kết hợp yếu tố thờ Mẫu thần với một số yếu tố Đạo
giáo tạo ra một tôn giáo sơ khai của người Việt – gọi là đạo Mẫu.
Trong Đạo Mẫu có sự xuất hiện của Tam tòa Thánh Mẫu tượng trưng cho
3 miền không gian: miền trời, miền đất, miền núi và người Việt đã thêm
một miền thoải phủ để trở thành “Tứ phủ”. Phía dưới các Mẫu là các vị
vương quan: Ngũ vị vương quan, Thập nhị Chầu Bà, Ngũ vị hoàng tử,
Thập nhị cô nương, Thập vị tôn ông, Tứ phủ Tiên Cô, Thập vị Triều Cậu,
Quan Ngũ Hổ, ông Lốt...
Trong Đạo mẫu đã có sự manh nha về thế giới quan và nhân sinh quan:
quan niệm thế giới có 4 miền không gian sinh thành (thế giới quan) thể
hiện qua ý thức về cội nguồn, đất nước, lòng yêu nước (nhân sinh quan) vì
các vị thần được thờ phụng thường là các vị anh hùng có công với đất
nước.
Tuy nhiên, quan điểm của TS. Vũ Hồng Vận và TS. Phạm Duy Hoàng
trong “Tín ngưỡng thờ Mẫu trong sinh hoạt tinh thần của người Việt
Nam” vẫn cho rằng “tục thờ Mẫu của người Việt không thể là một tôn
giáo vì trên thực tế hệ thống thờ Mẫu Việt Nam vẫn phân tán, thiếu một
giáo chủ và giáo hội”. Chính vì thế, tục thờ Mẫu vẫn chỉ là một tín
ngưỡng dân gian.
Việc thực hành thờ Mẫu đã có mặt và phát triển từ lâu đời nên hệ thống
điện thần, các phủ đền tương đối nhất quán, các nghi lễ trong tín ngưỡng
thờ phụng cũng được chuẩn hóa. Các đền, phủ thờ Mẫu trải khắp các
10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
vùng trên đất Việt Nam. Tỉnh Nam Định được coi là một trong những địa
phương có các trung tâm thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh tiêu biểu với những
nơi lưu giữ sự tích về sự giáng thế của Mẫu như Phủ Dầy, Phủ Nấp và gần
400 nơi thờ cùng thánh Mẫu (theo Cục di sản văn hóa, Thực hành tín
ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt trở thành Di sản văn hóa phi
vật thể đại diện của nhân loại). Mặt khác cũng phải kể đến phủ Tây Hồ
(Hà Nội), phủ Sòng (Thanh Hóa), phủ Vân Các thờ Bà Chúa Liễu, điện
Hòn Chén thờ Bà Chúa Ngọc, miếu Bà Chúa Xứ (Châu Đốc, An Giang)...
Nhìn vào một ban thờ mẫu có ba hoặc bốn vị thánh mẫu được thờ ở vị trí
cao nhất, ta sẽ biết được đó là ban thờ Tam phủ hay Tứ phủ. Hơn nữa,
nhìn vào màu sắc trang phục của các mẫu ta có thể nhận ra đó là vị thành
mẫu nào. Mẫu đệ nhất (mẫu thiên phủ) thường ngồi ở chính giữa, trang
phục màu đỏ tượng trưng cho thế giới bên trên, cho quyền lực và sự oai
nghi. Mẫu đệ nhị (mẫu nhạc phủ) thường ngồi ở bên phải mẫu đệ nhất, từ
ngoài nhìn vào thì mẫu ờ bên trái của ban thờ. Trang phục của mẫu màu
xanh, tượng trưng cho miền rừng núi, cho 81 cửa rừng mà mẫu cai quản,
màu của cây cối xanh tươi. Mẫu đệ tam (mẫu thoải phủ) ngồi ờ bên trái
mẫu đệ nhất, trang phục màu trắng, biểu tượng cho nước, cho sự trong
sạch, tinh khiết cùa thế giới thủy phủ, vùng nước sông biển. Mẫu Địa
thường ngồi ờ phía trước và thấp hơn mẫu Thiên một chút. Mẫu mặc áo
mầu vàng, màu tượng trưng cho đất đai (PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hà,
Thờ Mẫu và mã tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa Việt Nam, tr.745) Bên
cạnh các điện, phủ thờ riêng các mẫu thì việc thờ Mẫu còn được phối thờ
trong các đền “tiền Thần, hậu Mẫu” hay trong các chùa “tiền Phật, hậu
Mẫu”. Bên cạnh đó, tín ngưỡng thờ Mẫu đã đưa thêm Đức Thành Trần
vào hệ thống thờ thần. Đức Thánh là một thần chủ được đặt ngang hàng
với Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Liễu... Thánh có đền phủ, ban
thờ riêng phía bên phải, nơi không lập ban thờ thì vẫn cầu cúng và có văn
khấn, ca trầu về Người. Đó là những nét đặc sắc, độc đáo chỉ có duy nhất
ở tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam.
Tại các điện thờ Mẫu, nghi thức thờ cúng diễn ra hàng ngày do các thủ
nhang thực hiện. Thực hành cơ bản của tín ngưỡng thờ Mẫu là nghi lễ lên
đồng và lễ hội với các nghi lễ, diễn xướng dân gian, xếp chữ, lễ rước
thỉnh kinh... Hầu đồng là một nghi thức bắt nguồn từ Shaman giáo, được
cho là nghi thức để giao tiếp với thần linh. Người ta tin rằng các vị thần sẽ
nhập hồn vào thân xác các ông đồng, bà đồng nhằm phán truyền, diệt trừ
tà man, chữa bệnh, ban phúc lộc cho con nhang, đệ tử. Tuy nhiên, thực
chất của việc hầu đồng chỉ là việc các ông đồng, bà đồng rơi vào trạng
thái tự kỉ ám thị nhằm giải tỏa bớt áp lực.
Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt thể hiện ý thức nhân sinh, ý thức về
cội nguồn dân tộc, đất nước, đồng thời thể hiện truyền thống yêu nước,
uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Ngày 01 tháng 12 năm 2016,
10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
UNESCO chính thức công nhận tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ là di sản
văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại. Việc tín ngưỡng này được công
nhận đã cho thấy sự tác động và dấu ấn mạnh mẽ của nó lên nền văn hóa
dân tộc Việt Nam.
-Chưa có hệ thống giáo lý, mới chỉ có các huyền thoại, thần tích
-Chưa có hệ thống thần điện, mang tính chất đa thần
-Còn hòa nhập giữa thế giới thần linh và thế giới con người, chưa mang
tính cứu thế
-
Tín ngưỡng phồn thực: phồn là nhiều, thực là nảy nở, tín ngưỡng phồn
thực là sự sùng bái về việc sinh sôi nảy nở của cả con người lẫn tự nhiên. Tín
ngưỡng phồn thực đã từng tồn tại suốt chiều dài lịch sử với hai dạng biểu
hiện: thờ cơ quan sinh dục và thờ hành vi giao phối.
Việc thờ cơ quan sinh dục nam nữ là thờ những vật mô phỏng tạo sự sinh
sản, chẳng hạn như các nhà khảo cổ đã tìm thấy ở Văn Điền tượng đá hình
nam nữ với bộ phận sinh dục phóng to có niên đại hàng nghìn năm, hay ở hội
làng Đồng Kị tại Bắc Ninh có tục rước sinh thực khí bằng gỗ, sau khi tan hội,
chúng sẽ được mang đi đốt và lấy tro chia cho mọi người để rắc ra ngoài
ruộng. Việc thờ sinh thực khí còn thể hiện ở việc thờ các loại cột đá, gốc
cây,...
Bên cạnh đó, người dân Việt Nam còn thờ hành vi giao phối. Chẳng hạn
trên thạp Đào Thịnh điêu khắc thuyền nối đuôi nhai kiến cho hai con cá sấu
và rồng ở mũi thuyền chạm vào nhau trong tư thế giao hoàn, mặt nắp đồng
còn khắc 4 đôi nam nữ đang giao phối xung quanh mặt trời
Vai trò của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống của người Việt cổ lớn tới
mức chiếc trống đồng cũng là biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực. Hình dáng
trống đồng được phát triển từ cối giã gạo, cách đánh trống phỏng theo cách
giã gạo – dùng chày dài mà đâm lên mặt trống. Trên tâm mặt trống đồng là
hình mặt trời – biểu trưng cho sinh thực khí nam, giữa các tia sáng là hình lá
có khe ở giữa biểu trưng cho sinh thực khí nữ
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là giai đoạn tất yếu trong quá trình phát
triển của con người. Thờ bà Trời (Mẫu Cửu Trùng, Cửu Thiên Huyền Nữ,
Thiên Mụ,...), bà Đất (Mẹ Đất, bà Chúa Xứ), bà Nước (Bà Thủy, bà chúa
Sông). Hình thành hệ thống tứ pháp gồm: Pháp Vân (thần Mây) ở Chùa Dâu,
Tháp Vũ (Thần Mưa) thờ ở chùa Bà Đậu, Tháp Lôi (Thần Sấm) thờ ở chùa
Tướng, Pháp Điên (Thần Chớp) thờ ở chùa bà Dan. Ngoài ra thì còn có
việc thờ thực vật và thờ động vật. Thờ các loài động vật ở vùng sông nước:
nhất điểu, nhị xà, tam ngư, tứ tượng, thường thờ chim, rắn, cá sấu. Tất cả các
dân tộc đều tôn sùng cây lúa, sau đó là tín ngưỡng thờ cây đa, cây cau,...
10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
Tín ngưỡng sùng bái con người. Người Việt cổ đã thần thánh hóa khái
niệm “linh hồn” thậm chí phân ra hồn và vía. Cha ông ta cho rằng, nam có 3
hồn 7 vía, còn nữ có 3 hồn 9 vía.
5. Tổ chức Làng
-Làng là đơn vị cộng cư có một vùng đất chung của cư dân nông nghiệp,
một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cấp tự túc, mặt
khác là mẫu hình xã hội phù hợp, là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu
nông, với gia đình – tông tộc gia trưởng, đảm bảo sự cân bằng và bền
vững của xã hội nông nghiệp ấy.
-Nguồn gốc: Nước ta vốn là một nước nông nghiệp cổ truyền và gắn kết
với nó là làng xã cổ truyền. Theo như chiếu của vua Gia Long năm 1804
có viết “Nước là họp các làng mà thanh. Từ làng mà đến nước, dạy dân
nên tục, vương chính lấy làng làm trước” hay trong “Hồi kí Thanh Nghị”
của Vũ Đình Hòe có viết “Muốn tìm hiểu lịch sử hình thành dân tộc Việt
Nam thì phải tìm hiểu cộng đồng làng xã và muốn xây dựng lại đất nước
Việt Nam thì cũng phải băt đầu từ việc xay dựng lại cộng đồng làng xã, vì
không có làng xã Việt Nam thì không có quốc gia Việt Nam”. Vậy làng là
gì? Làng là tổ chức quần cư của một cộng đồng người có liên kết với nhau
về huyết thống, lịch sử cư trú hoặc phương thức kinh tế, nằm tại khu vực
hiện nay là vùng sản xuấ nông thôn hoặc từng là vùng sản xuất nông thôn.
Làng xã Việt Nam vốn bắt nguồn từ công xã nông thôn, ra đời vào giai
đoạn tan rã của công xã nguyên thủy, tức là vào khoảng thiên niên kỉ X
trở đi, cùng với sự thịnh vượng của chế độ phong kiến, các công xã nông
thôn dần dần bị phong kiến hóa và trở thành các đơn vị hành chính cơ bản
của chính quyền phong kiến với tên gọi chung là xã, cũng có khi gọi là
thôn hay làng. Làng xã giữ vai trò trung tâm nối các cá thể với nhà nước.
Tât cả các chỉ thị từ chính quyền trung ương đến với người dân đều phải
thông qua bộ lọc làng xã. Làng xã cổ truyền là đơn vị tụ cư, là cộng đồng
dựa trên quan hệ láng giềng kết hợp với quan hệ huyết thống, là môi
trường sinh hoạt văn hóa xã hội từ bao đời nay của người Việt.
-Nguyên tắc tổ chức: Làng Việt được tổ chức theo 2 nguyên tắc, trước hết
là theo huyết thống. Làng là nơi ở của một họ hoặc nhiều họ và có xu
hướng lấy tên họ làm tên làng, điều này còn lưu lại dấu ấn trong tên của
rât nhiều làng hiện nay như Nguyễn Xá, Lê Xá, Đoàn Xá,… Và giữa các
cư dân trong làng là có mỗi quan hệ huyết thống như câu ca dao “Tu hú là
chú bồ các/Bố các là bác chim di/Chim di là dì sáo sậu/Sáo sậu là cậu sáo
đen/Sáo đen là em tu hú…”. Để xác định một cá nhân này thì phải đặt cá
nhân ấy trong mối quan hệ với cả một tập thể vì thế trong tổ chức nông
thôn của người Việt, ta thấy sự thủ tiêu vai trò của cá nhân, cá nhân bị hòa
tan trong cộng đồng, vì cộng đồng. Điều này cũng thể hiện tính cộng
10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
đồng, tập thể của người Việt, lấy cộng đồng tập thể làm tiêu chuẩn để
đánh giá xã hội
-Nếu coi tổ chức nông thôn theo huyết thống là bước phát triển thứ nhât thì
tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú là bước phát triển tiếp theo để hình
thành nên làng và xóm. Tổ chức nông thôn theo địa vực bắt đầu xuất hiện
từ thời kì Hùng Vương. Những người sống gần nhau có xu hướng liên kêt
lại với nhau, thứ nhât là để đối phó với môi trường tự nhiên bởi nghề nông
nghiệp lúc nước mang tính thời vụ và cần nhiều nhân lực, thứ hay là dể
đối phó với môi trường xã hội đối phó với nạn ngoại xâm, chiếm đất
chiểm làng. Nếu như tổ chức làng xã theo quan hệ huyết thống đề cao
quan hệ cùng dòng máu thì tổ chức làng xã theo địa vực lại đề cao mối
quan hệ láng giềng. Sự liên kêt này chặt chẽ đến mức “bán anh em xa,
mua láng giềng gần”. Làng của người Việt thường có 2 tên: thứ nhất là tên
nôm , thứ hay là tên Hán. Tên nôm là tên gọi nôm na, nó thường bắt đầu
từ một đặc điểm đặc trưng nào đó của làng còn tên Hán là tên được sử
dụng trong các văn bản hành chính mang ý nghĩa riêng của từng làng.
dụ như ở Đông Anh có làng Rộc, tên Hán của làng Rộc là làng Rục Tú.
Ngoài ra, trong làng tổ chức theo địa vực có sự phân biệt vô cùng rạch ròi
giữa dân chính cư và dân ngụ cư, dân chính cư là dân gốc ở làng, đã sống
liên tục nhiều đời ở làng, có tiếng nói và được hưởng mọi quyền lợi; dân
chính cư được chia làm 5 hạng: hạng chức sắc, hạng chức dịch (đứng đầu
là lý trưởng hoặc lý dịch), hạng lão (các cụ từ 60 trở lên, có kinh nghiệm
sống, hàng năm tổ chức lễ lên lão, mừng thọ), hạng đinh (trai trong độ
tuổi lao động), hạng ti ấu( các bé trai cho tới dưới độ tuổi lao động). Trái
với dân chính cư thì dân ngụ cư là dân từ nơi khác tới sống ở làng, không
có tiếng nói và không được hưởng rất ít quyền lợi gì từ làng. Do dân
chính cư có nỗi sợ mơ hồ là nếu để dân ngụ cư tham gia hoạt động của
làng xóm thì có ngày họ sẽ lên nắm quyền hoặc học nghề truyền thống
của làng. Một số làng có quy định riêng: nếu dân ngụ cư liên tục sống 3
đời ở làng thì trở thành dân chính cư bởi vì khi sống liên tục 3 đời ở làng,
dân ngụ cư sẽ gắn bó hơn, thân thiết hơn với làng, đồng thời mối liên hệ
giữa họ và quê gốc của họ sẽ trở nên mờ nhạt đi sau 3 đời.
-Các mối liên kết trong làng có nghề nghiệp, tín ngưỡng tôn giáo, địa vực
láng giềng, xóm, giáp, đơn vị hành chính và họ hàng dòng máu, nhưng
mối liên kết họ hàng huyết thống vấn là bền vững nhất
-Kết cấu kinh tế làng xã Việt chủ yếu là tiểu nông, tự cấp, tự túc. Mỗi làng
có ruộng đất riêng, có sự phân chia ruộng đất của riêng làng mình cho các
gia đình trong làng xã nhưng sự phân công lao động không rõ ràng. Làng
Việt còn có tính hỗn hợp cao như: vào mùa vụ, người ta làm nghề nông,
khi mùa vụ nông nhàn, các làng có nghề phụ, họ sẽ sản xuất thêm các đồ
10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
thủ công rồi mang đi bán và một số làng khác còn kiêm thêm chức năng
thương nghiệp
-Các làng của người Việt thường được phân bố theo hình thức co cụm.
Loại co cụm thứ nhất là các gia đình trong làng sống quần cư với nhau
trong một cụm cư dân, xung quanh được bao bọc bởi lũy tre và có cổng
làng để phân chia ranh giới. Loại co cụm thứ hai của làng Việt là phân bố
bên sông theo từng cụm một và loại co cụm thứ ba cũng là phân bố ở sông
nhưng phân bố bên 2 bờ
-?Đặc trưng: Làng của người Việt có hai đặc trưng nổi bật. Đặc trưng thứ
nhất là tính cộng đồng, tập thể. Tính cộng đồng của làng xã Việt là nhấn
manj vào sự đồng nhất và tinh thần tập thể. Ưu điểm của tính cộng đồng
là tạo nên tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái lẫn nhau giữa những
người dân. Thế nhưng tính cộng đồng cũng hình thành lên thói dựa dẫm, ỷ
lại vào tập thể như người Việt ta có câu thành ngữ “Cha chung không ai
khóc”, “Làm sãi không ai đóng cửa chùa”. Người Việt có tính cộng đồng
rất cao nhưng tính cộng đồng này chỉ thực sự phát huy khi tất cả mọi
người cùng phải đối mặt với một nguy cơ, thách thức nào đó. Hơn thế,
tính cộng đồng cũng có mặt hạn chế là tạo ra tính cào bằng, đố kị như câu
“Cá mè một lứa” và rất nhiều tình huống thể hiện hạn chế này trong cuộc
sống. Biểu tượng cho tính cộng đồng ở làng Việt là hình ảnh cây đa, bến
nước, sân đình bởi đây là những địa điểm thường diễn ra các hoạt động
tập thể của làng, nơi mà người dân tụ tập, tụ họp.
-Đặc trưng thứ hai của làng Việt là tính tự trị mà nhấn mạnh vào sự khác
biệt giữa các làng như người Việt ta có câu: “Trống làng nào làng ấy
đánh/Thánh làng nào làng ấy thờ”. Biểu tượng của tính tự trị là lũy tre.
Người Việt có tục trồng tre từ thời kì Hùng Vương để bảo vệ đât đai của
làng chống lại nạn lấn đât, lấn làng, đồng thời lũy tre cũng tạo thành thành
lũy nội bất xuất, ngoại bất nhập, khiến cho các làng trở thành một vương
quốc thu nhỏ. Bên cạnh đó, lệ làng cũng là biểu tượng cho tính tự trị. Một
số lệ làng còn được văn bản hóa lên thành “hương ước”. Lệ làng mạnh
đến mức nếu quyền lực của triều đình chạm đến các làng xã và trái lại các
lệ làng thì người dân vẫn sẽ tuân theo lệ làng chứ không theo phép tắc của
triểu đình “Phép vua thua lệ làng” điều này cho thấy tính tự trị rất cao của
các làng xã Việt Nam. Tính tự trị còn là cơ sở của lòng yêu nước, lòng yêu
nước gắn liền với lòng yêu làng, hơn thế tính tự trị còn giúp nâng cao tinh
thần tự quản, cần cù, hiệu quả trong công việc. Mặt khác của tính tự trị
còn tạo ra tu tưởng tư hữu, ích kỉ: chỉ lo vun vén cho địa phương, đôi khi
không nghĩ cho lợi ích của số đông và còn có thể gây thiệt lại cho cái
chung; tính tự trị còn hình thành thói gia trưởng, áp đặt ý chí lên người
khác, thiếu sự lắng nghe học hỏi và những đột phá để xóa bỏ những nề
thói cũ.
10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
- Kết luận : Qua phần tìm hiểu về làng xã cổ truyền Việt Nam ở trên, ta có
thể thấy rằng thể chế làng xã Việt nam có những ưu điểm và nhược điểm
cụ thể. Nhận thức được vấn đề đó, chúng ta cần phải phát huy những ưu
điểm, chuyển biến trong giá trị văn hóa để thích ứng với những yêu cầu
mới, bỏ đi những văn hóa cổ hủ, lỗi thời cải thiện những hạn chế nhằm
xây dựng nên văn há đậm đà bản sắc dân tọc, và từ đó giúp đất nước phát
triển lớn mạnh hơn, sánh vai cùng các cường quốc năm châu.
-

Preview text:

10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
1. Tính nước trong văn hóa truyền thống Việt
-Văn hóa truyền thống Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn do hoàn cảnh địa lý –
khí hậu. Hoàn cảnh địa lý – khí hậu của nước ta có 2 đặc điểm cơ bản: xứ
nóng và sông nước. Do nằm trong vùng nóng ẩm nên mưa nhiều, lượng
mưa trung bình trong năm của Việt Nam khoảng 2000mm, được xếp vào
những khu vực mưa nhiều nhẩt thế giới. Đồng thời mưa nhiều dẫn đến
Việt Nam là vùng sông nước. Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt,
chia cắt các vùng đất, đường bờ biển kéo dài dọc theo chiều dài đất nước.
Việt Nam có 2360 con sông có chiều dài hơn 10km, đường bờ biển kéo
dài 3260km. Do sự ảnh hưởng của tự nhiên, sự đa dạng của môi trường
sinh thái tác động đến cuộc sống hàng ngày nên văn hóa Việt Nam hình
thành hai tính trội: tính thực vật và tính sông nước.
-Trong ăn uống, mô hình bữa ăn truyền thống (có từ thời đại Hùng Vương)
của người Việt gồm 3 yếu tố: cơm, rau và cá, thịt. Trong các công cuộc
khảo cổ, các nhà khảo cổ học đã phát hiện vỏ của những loài nhuyễn thể
trong hang động cư trú của người tiền sử: động Người Xưa (VQG Cúc
Phương). Ăn cả cái lẫn nước: ăn bún, phở, cơm chan canh(HQ: không ăn
cơm chan canh – bị coi là thô tục, phàm phu tục tử) . Cách chế biến chủ
đạo là luộc (trong nước) (khác với TQ là xào, phương Tây: nướng)
-Trong cách ăn mặc truyền thống: nam ở trần, đóng khố, nữ mặc yếm, váy,
chất liệu làm mỏng nhẹ, dễ dàng di chuyển trên sông nước. Kể cả khi tiếp
thu cách mặc quần từ Trung Quốc, thì người Việt cũng biến tấu chiếc
quần thành cạp rộng, đũng sâu, ống to để dễ dàng điều chỉnh khi làm việc
trong môi trường sông nước. Lính canh ở trong các lớp vòng thành của
kinh thành Huế triều Nguyễn, tuy đã mặc quần hoàn toàn nhưng vẫn được phân biệt
-Nơi cư trú của người Việt: hình thành làng ven sông, trên sông, thậm chí
là đô thị là những thương cảng ven sông. ( Vân Đồn, Phố Hiến) Dựng nhà
thì dựng ngói nhà vảy cá (từng lớp được xếp chồng lên nhau như vảy con
cá): mái cao, dốc để nhanh thoát nước, hai đầu mái cong vút hình chiếc
thuyền (VD: đình của làng ĐÌnh Bảng, hoa văn trống đồng Đông Sơn)
Dáng nhà truyền thống đầu tiên là kiểu nhà sàn (mái cao và sàn cũng cao)
sàn cao để chống ẩm ướt, lũ lụt, ngoài ra còn làm nhà thuyền, nhà bè, nhà nổi trên sông nước
-Phương tiện di chuyển: đường bộ kém phát triển, đường thủy phát triển
mạnh về các mặt: phong phú về phương tiện (xuồng,thuyền độc mộc,
thuyền ba lá, thuyền nan,...), giỏi đi trên sông nước, giỏi bắc cầu (cầu
phao, cầu khỉ, cầu cây,...) và thủy chiến (
-Tín ngưỡng: thờ nước (nghi thức rước nước trong lễ hội đền Và – Sơn
Tây, nghi thức rước nước tế cá ở đền Trần – Nam Định), con vật sống ở
sông nước: cá voi, cá sấu, thuồng luồng,.... 10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
-Lễ hội: tổ chức nhiều lễ hội trên sông nước: bơi lội, đua thuyền
-Ngay cả ca dao, tục ngữ cũng đưa thành tố nước vào để sử dụng: còn
nước còn tát, uống nước nhớ nguồn, nước đến chân mới nhảy,...
-Kinh thành đều nằm trong : “tứ giác nước” Thăng Long, Kinh thành Huế 2. Văn hóa Champa
-TS. Ngô Văn Doanh khẳng định: “một điều không thể phủ nhận được là
những ảnh hưởng Ấn Độ đã góp phần cực kì quan trọng vào quá trình
hình thành ra Vương quốc Chămpa cũng như một nền văn hóa phát triển
rực rỡ à đầy bản sắc – văn hóa Chămpa”. Sau khi Champa thoát khỏi ách
đô hộ của Trung Hoa thì dường như k còn mối liên hệ nào mà thay vào đó
là sự tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ, mà nói đến ảnh hưởng của Ấn Độ thì
Bà la môn giáo là yếu tố quan trọng nhất. Bà la môn giáo hình thành trên
cơ sở kinh Ve đa, thờ ba vị thần Brahma, Visnu và Siva. Không chỉ vậy,
kế thừa di sản phong phú từ văn hóa Sa Huỳnh nên văn hóa Chăm là sự
tổng hòa của văn hoa bản địa và văn hóa ngoại lai. Mặc dù thời gian tồn tạ
chỉ từ thế kỉ II đến thế kỉ XV nhưng văn hóa Champa đã để lại nhiều dấu ấn.
-Về tôn giáo: nhìn chung bị ảnh hưởng bởi Ấn Độ nhưng đó chỉ là về mặt
hình thức còn nguồn bản địa và khu vực mới giữ vai trò quan trọng. Từ
chỗ thờ cả 3 vị thần Bà la môn khi mới du nhập, dần dần chỉ còn tháp thờ
Siva vì phù hợp với tính cách bản địa của người Chăm, đến cuối cùng,
Siva cũng được hình dung thành người Chăm, con bò thần cũng biến được
thể hiện dưới dạng con trâu, Linga bị thay thành ông vua – anh hùng dân
tộc hoặc mẹ quê hương xứ sở. Vậy với người dân chăm, thần Siva chỉ là
hình thức thể hiện ước vọng phồn thực chứ nội dung vẫn là lòng sùng
kính nữ thần địa phương và anh hùng dân tộc. Đạo Bà la môn được biến
cải thành đạo Bà Chăm, chỉ được coi là một dạng biến thể của đạo Bà la
môn thôi. Ngoài ra người Chăm còn có cải biến cả đạo Hồi.
-Về kiến trúc, tháp Chăm là tiêu biểu cho kiến trúc văn hóa Chăm, được
xây dựng rải rác dọc theo miền Trung Việt Nam hiện tại. Hiện tại còn
thống kê được 19 khu tháp với 40 tháp lớn nhỏ, nổi tiếng nhất là ở Mỹ
Sơn (Quảng Nam). Thap Chăm được thừa nhận về độ thẩm mĩ và độ tinh
tế, có nhịp điệu và sáng sủa hơn, được nhiều người công nhận về cấu trúc
tháp. Tháp Chăm chỉ yếu xây bằng gạch, đá chỉ dùng để trang trí hoặc
xây một số chi tiết kiến trúc. Tháp Chăm được trang trí chủ yếu là hoa lá,
hình người, hình động vật,... Về cấu trúc quân thể thì tháp Chăm chia làm
2 loại: một là quần thể thờ song song 3 vị thần, hai là quần thể với 1 tháp
chính thờ thần Siva và có tháp phụ vây quanh. Loại thứ nhất thể hiện giai
đoạn đầu mà Chămpa bị ảnh hưởng bởi Bà là môn giáo, thờ cả 3 vị thần
nhưng qua thời gian, người Chăm tôn thờ thần Siva nên hình thành loại
quần thể thứ 2. Nguyên nhân là cho tính dương tính trong tính cách bản 10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
địa của người Chăm, đồng thời cũng là sự chuyển đổi văn hóa, biến Bà la
môn giáo thành Siva giáo. Tháp Chăm được dựng theo dáng “núi” và có
tháp được xây dựng mô phỏng sinh thực khí nam (biến thể của tháp hình
núi), ngoài ra những kiến trúc phụ có mái cong hình thuyền, do đó tháp
Chăm k chỉ đơn thuần là ảnh hưởng bởi Bà la môn giáo mà còn ảnh hưởng văn hóa khu vực -
3. Một số thành tựu văn hóa thời Lý – Trần
Nhờ đã có được nền móng vững vàng tạo nên từ đỉnh cao rực rỡ trong lớp
văn hóa bản địa, tinh thần Văn Lang – Âu Lạc vẫn tồn tại như một mạch
ngầm trong suốt thời kỳ chống Bắc thuộc, để khi bước sang giai đoạn văn
hóa Đại Việt, chỉ sau ba triều đại (Ngộ - Đinh – Tiền Lê) lo việc gây dựng lại,
văn hóa VN đã khôi phục và thăng hoa nhanh chóng. Được thành lập từ năm
1009-1225 (nhà Lý) và từ 1225-1400 (nhà Trần), đây là lần phục hưng văn
hóa thứ 2 trong lịch sử Việt Nam, được Lê Quý Đôn đã nhận định “Nước
Nam ở hai triều Lý, Trần nổi tiếng là văn minh”
Đây không những là thế kỷ phục hưng của văn hóa Việt cổ bản địa (văn
minh Văn Lang – Âu Lạc) mà còn phát triển ở một tầm cao mới khi trải qua
quá trình tiếp biến và tích hợp văn hóa. Hai triều Lý – Trần đã tự nguyện, chủ
động tiếp thu và cải biến những yếu tố văn hóa Trung Hoa, Chămpa.
Dưới thời Lý – Trần đã xây dựng nhiều công trình kiến trúc quy mô lớn,
đẹp. Xây dựng nhiều cunng điện, đền đài, thành lũy. Hoàng Thành Thăng
Long là một công trình xây dựng thành lũy lớn nhất trong các triều đại phong
kiến, được xây dựng vào năm 1010 khi vua Lý Thái Tổ ban chiếu dời đô từ
Hoa Lư về Đại La. Thành được xây theo lối “tam trùng thành quách”, bao
gồm vòng ngoài cùng là La thành (Kinh thành) là nơi sinh sống của dân cư,
vòng thứ hai là Hoàng thành là nơi ở của các quan lại triều thần, vòng trong
cùng là Cấm thành, hay còn gọi là Long Phượng thành, nơi ở của vua, hoàng
hậu và thành viên trong hoàng tộc. Hoàng thành mở ra 4 cửa ở 4 hướng đông
tây nam bắc, trong thành có nhiều cung điện, có lầu 4 tầng, thời Lý xây dựng
các điện Càn Nguyên, Giảng Võ,... thời Trần xây dựng các cung Quan Triều,
Diên Hồng,... Ngoài thành quách, thời Lý Trần còn có khu lăng mộ và phủ đệ
như sơn lăng ở Đình Bảng, Long Hưng, An Sinh,... các dinh thự có quy mô đồ sộ.
“An Nam tứ đại khí” bao gồm: tượng phật chùa Quỳnh Lâm, đây là pho
tượng Phật Di Lặc cao gần 20m được sư Nguyễn Minh Không cho đúc dưới
thời nhà Lý, bức tượng đầu thì mất thì được thiền sư Pháp Loa cho đúc lại
vào dưới thời Trần. Tháp Báo Thiên được xây dựng vào năm 1057 trong
khuôn viên chùa Sùng Khánh ở phường Báo Thiên, gồm 20 tầng và cao
khoảng 60 trượng, ngọn tháp được đúc bằng đồng, có khắc ba chữ Đao Ly 10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
Thiên. Trên đỉnh tháp còn dựng tượng tiên bưng mâm ngọc hứng nước.
Chuông Quy Điền: đúc trong lần sửa chữa chùa Diên Hựu năm 1101, đúng
xong đánh không kêu nên được đưa ra ruộng sau chùa. Vạc Phổ Minh: được
chạm khắc tinh vi: rồng uốn lợn, trên chim lạc tung bay, dưới non sông cẩm
tú. Trên thành vạc có 100 lỗ tròn, mỗi lỗ đềo được đặt tượng rồng vàng thể
hiện quan niệm về nguồn gốc “con rồng cháu tiên” của người Việt. Trên bệ
vạc còn được khắc tên các vị vua từ Kinh Dương Vương đến Lý Thánh Tông.
Các nghề thủ công rất phát triển, đồ mỹ nghệ, đồ gốm đều đơn giản, thanh
thoát, có các loại men ngọc trắng xanh, men hoa lam,... rất nổi tiếng. Các bức
phù điêu được chạm khắc tinh tường, có nhiều tượng người và thú vật bằng đá.
Ngoài ra dưới thời Lý Trần nghề thủ công còn có những bước pt mới, hình thành
những làng nghề chuyên sản xuất một mặt hàng, vậy nên chia thành Thăng Long thành 61 phường
Tư tưởng khai phóng, đa nguyên, “tam giáo đồng quy”. Nhìn chung, hai
triều đại Lý Trần đã chủ trương chính sách khoan dung hòa hợp và chung
sống hòa bình giữa Phật Đạo, Nho và tín ngưỡng dân gian. Đó là hiện tượng
“Tam giáo đồng quy” trên cơ sở truyền thống dân tộc, hiện tượng này đã
khiến cho văn hóa VN thời kì Lý-Trần phát triển mạnh mẽ. Phật giáo phát
triển rực rỡ, là tôn giáo thịnh đạt nhất trong xã hội Lý Trần, được coi là Quốc
giáo. Sư tăng và tín đồ phát triển về cả số lượng lẫn chất lượng, hầu hết các
vua Lý Trần đều sùng Phật, thậm chí vua Trần Nhân Tông còn đi tu ở núi
Yên Tử, lập ra thiền phái Trúc Lâm, chùa chiền được xây dựng trên khắp cả
nước như chùa Diên Hựu, chùa Phật Tích,... Năm 1031 nhà Lý bỏ tiền dựng
950 ngôi chùa, năm 1129 mở hội khánh thành 84000 bảo tháp bằng đất nung.
Nhà chùa cũng là cơ sở giáo dục, đào tạo sư tăng và tri thức thời đại, vậy nên
các nhà sư cũng được tham gia chính sự. Xuất hiện rất nhiều vị sư tăng nổi
tiếng trong cả nước, có uy tín và địa vị chính trị - xã hội như nhà sư Vạn
Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Giác Hải,... Phật giáo thời Lý Trần chia làm 3 tông phái
là chủ yếu: gồm thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông. Nhà sử học Lê Văn
Hưu từng nói “Nhân dân ắt quá nửa là sư sãi, trong nước chỗ nào cũng có
chùa”. Nho giáo dần được tiếp nhận. Bắt đầu từ nhu cầu củng cố vị trí vai trò
của bậc quân vương, hệ thống hóa đội ngũ quan liêu và nhu cầu tuyển chọn
người tài, Nho giáo chính thức được tiếp nhận. Cùng tồn tại với Phật giáo
nhưng có xu hướng phát triển ngược lại. Trong khi Phật giáo có triều hướng
suy giảm dần thì thế lực Nho giáo ngày càng phát triển, trên đà trở thành ý
thức hệ thống trị xã hội. Thời Lý, Nho giáo được tiếp nhận nhưng chiếm vị
trí khiêm tốn, năm 1070 dựng Văn Miếu, đúc tượng Chu Công, thờ Khổng
Tử, là nơi dạy học cho Hoàng thái tử. 1076 dựng trường ĐH đầu tiên – Quốc
Tử Giám và lần đầu tổ chức khoa cử chọn nhân tài vào 1075, người đỗ đầu là
Lê Văn Thịnh. Sau đó xây dựng Hàn Lâm Viện vào 1086. Chế độ giáo dục và
thi cử theo tinh tần Nho giáo được bắt đầu. Đến thời Trần, Nho giáo và Nho
học khởi sắc hơn, tầng lớp Nho sĩ ngày càng đông đảo, Nho giáo dần dần lấn
át Phật giáo, thậm chí 1247 nhà Trần đã đặt ra danh hiệu “Tam khôi” trong kì 10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
thi Đình, nhiều trường Nho học được mở, khoa cử đều kỳ hơn, xuất hiện
những Nho sĩ nổi bật như Chu Văn An, Lê Văn Hưu, Mạc Đĩnh Chi,... Đạo
giáo vẫn được tiếp nhận mở rộng vì phù hợp với nhiều tín ngưỡng dân gian
Việt Nam, hơn nữa là đi vào Việt Nam bằng con đường hòa bình thông qua
các quan lại cai trị người Hấn, đạo sĩ hoặc tín đồ Đạo giáo. Những người này
cũng căm ghét sự cai trị của nhà Hán, đứng lên nổi dậy khởi nghĩa nhưng
thất bại nên chạy trốn, di cư xuống Việt Nam từ thế kỉ II và qua sự chung
sống, truyền bá lâu dài nên được nhân dân ta chấp nhận
Các công trình kiến trúc mang dấu ấn văn hóa Chămpa. Nhắc tới mỹ thuật
thời này là nhắc tới kiến trúc ở các ngôi chùa và tượng phật. Nghệ thuật điêu
khắc trên đá, trên gốm cho thấy một phong cách đặc sắc và một tay nghề thuần thục.
Nền văn học bác học hình thành, hình thành văn học chữ viết. Văn học thời
Lý Trần phản ánh tư tưởng và tình cảm của con người thời đại, có 2 dòng văn
học chính: văn học Phật giáo và văn học yêu nước dân tộc. Tư tưởng phật
giáo trong thơ văn chủ yếu là của phái Thiền tông, do các sư tăng trí thức
viết. Dòng thơ văn yêu nước phản ánh tinh thần bất khuất, anh dũng chống
giặc và tự hào dân tộc, như: Nam Quốc Sơn Hà, Hịch tướng sĩ,... ngoài ra
còn có các bộ quốc sử, nhất là Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu. Một thành tự
quan trọng nữa là phổ biến chữ Nôm, được gọi là “Quốc ngữ,”Quốc âm”.
Văn hóa Lý Trần là giai đoạn phát triển thịnh đạt của Đại Việt, không chỉ
khôi phục lại những yếu tố văn hóa đã có mà còn cải biến tích hợp những văn
hóa ngoại sinh tạo nên phong cách riêng, vì thế đã mang tính dân tộc sâu sắc.
Văn hóa Đại Việt thời Lý Trần chính là một sức mạnh tinh thần, vừa là một
xung lực, vừa là một kháng thể trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất
nước, đồng thời là tố chất kết nối cộng đồng người Việt, trên cơ sở tìm về
một cội nguồn lịch sử và văn hóa chung, làm chín muồi ý thức quốc gia và tinh thần dân tộc Việt.
4. Tín ngưỡng người Việt
-Việt Nam có một nền văn hóa rất đặc sắc và lâu đời. Bên cạnh các tôn
giáo được nhà nước công nhận thì Việt Nam cũng có rất nhiều loại hình
tín ngưỡng dân gian khác nhau. Người Việt thường đa tín, dị tín mê tín
nhưng không cuồng tín. Các tín ngưỡng nổi bật thì phải kể đến tín ngưỡng
phồn thực, sùng bái tự nhiên, sùng bái con người, thờ thành Hoàng làng,
thờ Tứ bất tử hay thờ Mẫu tam phủ tứ phủ. Trong đó, tín ngưỡng...
-Trước hết, tín ngưỡng được hiểu là niềm tin, sự ngưỡng mộ, ngưỡng
vọng, là sự thần thánh hóa, thiêng hóa của con người đối với một hay
nhiều hiện tượng, nhân vật nào đó. Tín ngưỡng là sản phẩm văn hóa hình
thành trong mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên – môi
trường xã hội. Tín ngưỡng không chỉ phản ánh nguyện vọng của con 10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
người về một cuộc sống tốt đẹp hơn mà còn phản ánh trình độ nhận thức
về tự nhiên xã hội và con người. * Tín ngưỡng phồn thực
Tín ngưỡng phồn thực được coi là tín ngưỡng bản địa cổ truyền và là nét
đặc trưng của cư dân nông nghiệp. Tín ngưỡng phồn thực với “phồn” có
nghĩa là nhiều, “thực” là sinh sôi, nảy nở. Đây là tín ngưỡng thể hiện sự
sùng bái, thiêng hóa sự sinh sản với ước vọng, niềm cầu mong về sự sinh
sôi của tạo vật và con người.
Sự sùng bái tín ngưỡng phồn thực được thể hiện chủ yếu qua các lễ hội
nông nghiệp với 2 hình thức chính là thờ sinh thực khí (linga – yoni) và thờ hành vi giao phối.
Về hình thức thờ sinh thực khí được biểu hiện qua việc người Việt thờ nõ
– nường, thờ trầu cau, thờ cột đá tự nhiên, hang động, kẽ nứt trên núi,...
Điều này được thể hiện rất rõ qua tục thờ Linga của người Chăm. Người
Chăm quan niệm rằng Linga biểu tượng cho đặc tính dương, Yoni là biểu
hiện của đặc tính âm và sự kết hợp Linga – Yoni được coi là biểu tượng
cho sự sáng tạo của thần Siva và sự sinh sôi, phát triển. Vì thế, bộ phận
kết hợp giữa sinh thực khí Linga – Yoni được đưa vào thờ trong tháp
Chăm. Trong lễ Ri chà nư cành, người Chăm sẽ múa điệu múa âm dương,
chọn trong làng một người đàn ông khỏe mạnh cầm lễ vật dâng cúng bằng
gỗ có hình dáng như sinh thực khí nam và múa cùng bà bóng. Hay như ở
người Mường, họ sẽ gắn vật tượng trưng cho sinh thực khí nam và nữ lên
thân một cây cột ở gian trong cùng của ngôi nhà để thể hiện cầu mong âm
dương giao hòa, vạn vật sinh sôi, con người khỏe mạnh và có cuộc sống
đủ đầy. Bên cạnh đó, hình thức này còn được in dấu đậm nét qua một số
các lễ hội thông qua các trò chơi, trò diễn xuất phong phú. Ở hội làng
Đồng Kỵ (Bắc Ninh) có tục rước sinh thực khí bằng gỗ vào ngày mùng 6
tháng Giêng. Trong đó, người ta đẽo chiếc kén tằm bằng gỗ hình sinh thực
khí nam và sinh thực khí nữa, mỗi câu hát “Cái sự làm sao, cái sự làm
vầy/ Cái sự thế này, cái sự làm sao” đôi sinh thực khí sẽ được xỏ vào nhau
mô phỏng hạnh động tính giao. Sau đám rước, chúng được đốt đi, lấy tro
than chia cho mọi người để đem ra rắc ngoài đồng ruộng. Không chỉ vậy,
ở tỉnh Lạng Sơn có lễ hội Ná Nhèm của người Tày, được tổ chức vào rằm
tháng Giêng. Trong số các lễ vật được người dân dâng lên có hai vật là
tàng thing và mặt nguyệt tượng trưng cho sinh thực khí nam và sinh thực
nữ. Hay như trong lễ hội Trò Trám hay còn gọi là lễ hội “Linh tinh tình
phộc” của người dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, người dân Tứ Xã sẽ
làm hai mô hình sinh thực khí nam và sinh thực khí nữa bằng gỗ mít. Hai
“linh vật” này được gói trong dải khăn son, đặt trong một chiếc hòm sơn
son rồi cất vào “ngăn bí mật” phía trên bàn thờ trong miếu. “Vật linh” này
sẽ luôn được gĩn giữ cẩn thận và chiếc hòm son cũng sẽ được khóa kín,
chỉ được mở ra vào đúng 0 giờ đêm ngày 11, rạng sáng 12 tháng Giêng. 10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
Lúc này, hai người được chọn sẽ cầm hai “vật linh” đập vào nhau 3 lần,
diễn cảnh giao hợp trong tiếng hò reo của dân làng.
Hình thức thờ hành vi giao phối cũng được biểu hiện chủ yếu qua các lễ
hội dân gian của người Việt. Trong lễ hội làng Nối (Hưng Yên), người dân
sẽ mang chày và cối ra giã theo nhịp câu xướng cổ: “cái này là cái gì, làm
thế nào, làm thế này” và trai gái nhân lúc đó đùa nghịch nhau. Đó còn là
trò múa với các điệu múa mô phỏng theo động tác tính giao của người
Tày, Dao như điệu múa “tùng dí” trong hội đền Hùng. Thanh niên nam
nữa sẽ múa từng đôi một, tay cầm biểu tượng cho sinh thực khí nam và
sinh thực khí nữa, cứ mỗi khi nghe tiếng trống đánh tùng họ lại dí hai vật
đó vào nhau. Hay như trong hội làng Rã la, đêm tắt đèn là tục bắt buộc
phải có. Trong khi đèn tắt, trai gái tự do gặp gỡ và đùa nghịch. Theo lời
các bô lão trong làng, nếu người con gái nào trót có thai từ dịp hội làng sẽ
không bị làng phạt vạ mà còn được giảm cho một nửa số tiền nộp cheo
khi cưới. Vì các cụ quan niệm rằng, có thai vào ngày ấy là được Thánh
ban lộc và cả làng sẽ gặp thuận luận, cả năm may mắn. Ngoài ra, hình
thức này còn được thể hiện qua những bức tượng mô phỏng lại hành vi
giao phối ở một nhà mồ ở Tây Nguyên. Trong một số các câu đố tục giải
thanh hoặc trong bức tranh dân gian Đông Hồ - Hứng dừa cũng phảng
phất hình ảnh của hình thức này. Ở một số nơi, tín ngưỡng này được thể
hiện tế nhị kín đáo thông qua các trò chơi nèm còn, kéo co, đánh đu, bắt
chạch trong chum, hát giao duyên,...
Trải qua bao thăng trầm lịch sử, tín ngưỡng phồn thực vẫn còn để lại dấu
ấn sâu sắc, đậm nét trong văn hóa Việt Nam. Tín ngưỡng này đã trở thành
một thứ trầm tích trong nền văn hóa Việt.
* Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Sùng bái tự nhiên là giai đoạn tất yếu trong quá trình phát triển của con
người. Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là sự sùng bái, thiêng hóa các hiện
tượng thiên nhiên qua đó thể hiện ước vọng, niềm cầu mong mưa thuận
gió hòa, cây cối xanh tốt. Người Việt là cư dân nông nghiệp, sống bằng
nghề trồng lúa nước thì sự gắn bó, phụ thuộc vào tự nhiên lại càng bền
chặt. Việc cùng lúc phải phụ thuộc vào nhiều yếu tốc tự nhiên dẫn đến
việc người Việt theo tín ngưỡng đa thần, tức là cùng một lúc thờ rất nhiều vị thần tự nhiên.
Trước hết, tín ngưỡng này được thể hiện thông qua tục thờ các hiện tượng
tự nhiên. Người Việt từ xa xưa vẫn luôn tôn trọng và đề cao yếu tố nữ
cùng với chất âm tính của văn hóa nông nghiệp đã dẫn đến việc đồng nhất
các vị thần với Nữ thần. Vì thế mà số lượng nữ thần trong văn hóa của
người Việt luôn chiếm ưu thế. Nổi bật nhất là các bà Mây, bà Mưa, bà
Sấm, bà Chớp. Sau này khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam thì nhóm nữ
thần này trở thành hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ Pháp – bốn vị thần tự
nhiên có ảnh hưởng quyết định đến đời sống nông nghiệp. Đó là bốn vị: 10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
Pháp Vân (thần Mây), Pháp Vũ (thần Mưa), Pháp Lôi (thần Sấm), Pháp
Điện (thần Chớp). Ban đầu, Tứ Pháp chỉ được thờ trong các chùa ở vùng
Luy Lâu. Sau vì tính chất linh ứng nên lan dần ra nhiều vùng quê ở châu
thổ Bắc Bộ. Lòng tin của nhân dân vào Tứ pháp lớn đến nỗi vào thời nhà
Lí, triều đình đã phải nhiều lần rước tượng Pháp Vân về Thăng Long cầu
đảo, thậm chí rước theo đoàn quân đi đánh giặc...
Bên cạnh đó, người Việt còn thờ các hiện tượng tự nhiên khái quát như
không gian và thời gian. Thần không gian được hình dung theo Ngũ hành:
Ngũ Hành Nương Nương; Ngũ Phương chi thần coi sóc các phương trời,
Ngũ Đạo chi thần trông coi các ngả đường. Theo địa chi, người ra thờ
thần thời gian là Thập nhị Hành khiển. Thời gian kéo dài, bảo tồn sự sống
vô tận, nên 12 nữ thần này đồng thời có trách nhiệm coi sóc việc sinh nở -
đó là Mười hai Bà Mụ (Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt
Nam, tr 134). Tuy chỉ có 12 Bà Mụ nhưng khi cúng, người ta thường
chuẩn bị mâm cúng 13 thứ ứng với 12 Bà Mụ và 1 Bà Chúa Mụ cai quản
12 Bà Mụ. Ngoài ra, sự sùng bái thời gian còn được thể hiện qua nghi
thức cùng giao thừa, thờ ông Táo.
Trong mảng tín ngưỡng sùng bái giới tự nhiên còn có tục thờ động vật và thực vật.
Các loại động vật mà cư dân Việt thờ phụng thường là những loài vật liên
quan đến sông nước, đến nông nghiệp. Người Việt có câu: Nhất điểu, nhì
xà, tam ngư, tứ tượng. Theo truyền thuyết thì người Việt thuộc “họ Hồng
Bàng” (loài chim lớn) và là “giống Rồng Tiên”. Những loài vật biểu trưng
cho sức mạnh như chim hạc, rồng, rùa, hổ cũng xuất hiện dày đặc trong
đời sống của cư dân Việt: rồng được xuất hiện trên những kiến trúc chạm
khắc, điêu khắc ở các đình chùa; chim hạc thường xuất hiện theo cặp đôi
ngậm ngọc minh châu biểu tượng cho sự sang quý hay ngậm hoa sen biểu
tượng cho giác ngộ; tục thờ “ông Hổ” thì ở các chùa, miếu nào cũng xuất
hiện. Không chỉ vậy, rùa – con vật biểu tượng cho sự trường thọ, sinh lực
và sức chịu đựng cũng là một trong những loài vật được thờ phụng phổ
biến. Trong kiến trúc Việt Nam, rùa thường được thể hiện cùng các linh
vật khác trong cùng bộ tứ linh nhưng phổ biến nhất là hình ảnh “rùa đội
bia”, “rùa đội hạc” trong các đình, chùa. Bên cạnh đó, tục thờ cá cũng rất
phổ biến ở cư dân sống ven biển để cầu mong những chuyến ra khơi
thuận lợi, có cuộc sống bình yên no ấm. Ngoài ra, tục thờ ngựa và thờ voi
cũng rất phổ biến trong các đền, chùa ở Việt Nam như ngựa trắng được
tôn lên làm thần và thờ ở đền Bạch Mã, ba thần ngựa được thờ trong đình
Thông Tây...; tượng voi phục ở chùa Keo Hành Thiện, điện Long Châu,
tượng voi chầu hầu ở lăng các vua Nguyễn và lăng vua Lê Thái Tổ...
Đối với cư dân trồng lúa như người Việt thì thực vật được tôn sùng nhất
chính là cây lúa. Tín ngưỡng thờ thần Lúa có mặt trên khắp cả nước, từ
vùng của người Kinh cho đến các dân tộc thiểu số. Trong các lễ hội 10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
thường sẽ có tục rước thần lúa. Tiêu biểu là lễ rước thần lúa của người Ê –
đê. Theo những người già ở buôn T’Liêr, cúng thần lúa phải trải qua nhiều
nghi thức khác nhau như: cúng thần gió, cúng cái cào cỏ, lễ trỉa lúa, lễ cầu
mưa, lễ cúng lúa sắp trổ bông, cúng ăn cơm mới,... Đồng bào Mạ ở tỉnh
Lâm Đồng cũng tổ chức lễ cúng thần lúa vào khoảng tháng 2 – 3 âm lịch
hàng năm. Đó là lễ hội Yang Koi – lễ hội quan trọng và lớn nhất trong
năm của họ. Trong lễ hội Trò Trám diễn ra vào sáng ngày 12 Giêng, dân
làng tổ chức rước lúa thần và diễn trò trình nghề Tứ dân chi nghiệp. “Lúa
thần” ở đây là một khóm lúa bông dài, hạt mẩy, được chọn từ vụ mùa năm
trước cùng với mộ cây mía đủ ngọn. Đám rước sẽ rước lúa thần đi quanh
làng, về miếu Trám và khóm “lúa thần” được đặt lên bàn thờ và phường
Trám diễn trò nghề. Ngoài ra, cư dân Việt cũng thờ một số loài cây xuất
hiện sớm như cây Cau, cây Đa, cây Dâu...
* Tín ngưỡng sùng bái con người
Trong thời kì nguyên thủy, trong văn hóa của người Việt xuất hiện tín
ngưỡng tôtem vật tổ. Đó là cư dân tôn vinh một vật trong tự nhiên có mối
quan hệ gần gũi với con người và thiêng hóa lên, tôn làm Tổ. Tuy nhiên
sau này, tín ngưỡng totem vật tổ ngày càng mai một và thay vào đó là tín
ngưỡng sùng bái con người. Tín ngưỡng sùng bái con người là một loại
hình tín ngưỡng dân gian có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của
người dân Việt Nam. Tín ngưỡng này không những chứa đựng những giá
trị đạo đức tốt đẹp mà còn thể hiện được quan niệm về nhân sinh quan,
thế giới quan của người Việt. Xét về nguồn gốc, tín ngưỡng này xuất phát
từ quan niệm con người là vốn quý nhất của mọi nền văn hóa, đối với nền
nông nghiệp lúa nước cần nhiều nhân lực cho sản xuất thì con người càng
trở nên cần thiết và quý giá hơn.
Trong con người có cái vật chất và cái tinh thần. Cái tinh thần trừu tượng
khó nắm bắt nên người xưa đã thần thánh hóa nó thành khái niệm “linh
hồn” (Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, tr.136 – 137).
Người Việt quan niệm rằng một người sẽ có 3 hồn gồm tinh, khí, thần;
đàn ông cóa 7 vía và phụ nữ có 9 vía. Hồn được xem là phần độc lập với
thể xác, còn vía phụ thuộc vào thể xác nên mới có người “lành vía”, người
“yếu vía”, người “cứng vía”... Thể xác được coi là phần trung gian giữa
hồn và vía. Người Việt cho rằng, khi một người mất đi thì chỉ là cơ thể
chuyển từ trạng thái động sang trạng thái tĩnh, chỉ là chết về mặt thể xác
còn phần hồn sẽ đi đến “thế giới bên kia”. Đối với cư dân nông nghiệp thì
“thế giới bên kia” ngăn cách với dương gian bằng “chín suối” vì thế người
đã khuất tới đó phải đi bằng thuyền. Đó là lí do trong tang ma có một số
lễ nghi như “chèo đò” – chèo một chuyến đò đưa linh hồn người đã khuất
về với “thế giới bên kia” hay lễ phạn hàm – bỏ gạo và ba đồng tiền xu vào
miệng người đã khuất để làm lộ phí đi đò. Ngoài ra, người Việt còn có tục 10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
chiêu hồn hay đặt người chết xuống đất và gọi hồn thể hiện hi vọng mong
người đã mất có thể sống lại.
Niềm tin rằng chết là về với tổ tiên nơi chín suối, tin rằng tổ tiên vẫn
thường về thăm và đi theo phù hộ con cháu là cơ sở để hình thành tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Xét về mặt bản chất thì tín ngưỡng này cũng
xuất phát từ truyền thống uống nước nhớ nguồn và đề cao đạo hiếu. Tín
ngưỡng này không chỉ có mặt ở Việt Nam mà còn phổ biến ở nhiều nước
trên thế giới như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều Tiên hay một số quốc gia
Đông Nam Á. Tuy nhiên, tín ngưỡng này lại phát triển hơn cả ở dân tộc
Việt. Ở người Việt, nó gần như trở thành một thứ tôn giáo (nhiều nơi gọi
là Đạo Ông Bà); ngay cả những gia đình không tin thần thánh cũng đặt
ban thờ tổ tiên trong nhà (Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt
Nam, tr.138). Nếu người phương Tây coi trọng ngày sinh nhật thì người
Việt ta coi trọng việc cúng giỗ vào ngày mất hơn cả. Bởi lẽ người ta tin
rằng đó là ngày con người sẽ đi vào cõi vĩnh hằng. Bên cạnh việc cúng
giỗ vào kị nhật thì người Việt vẫn tiến hành việc cúng tổ tiên đều đặn vào
ngày mùng 1 hay ngày rằm, dịp lễ Tết hay bất cứ khi nào có công việc
quan trọng. Ban thờ tổ tiên bao giờ cũng được đặt ở nơi trang trọng nhất
và những đồ thờ như bát hương, đài rượu, bình hoa, chân đèn... thì dù
nghèo khó cũng không được phép bán. Trong phạm vi gia đình, ngoài việc
thờ cúng tổ tiên, người Việt còn có tục thờ Thổ Công (ông Táo). Người
Việt quan niệm rằng “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá”, đó sẽ là vị thần
trông coi gia cư, định đoạt phúc họa cho một gia đình. Trong gia đình thì
Thổ Công sẽ là vị thần quan trọng, có quyền lực cao nhất, mỗi khi mời tổ
tiên về cần phải khấn xin với Thổ Công trước. Tuy nhiên, vì tổ tiên là bậc
sinh thành ra ta nên sẽ là đối tượng được tôn kính nhất. Vì để hài hòa
quan hệ giữa hai bên, người Việt sẽ đặt tổ tiên ngự tại gian giữa của bàn
thờ và Thổ Công ở gian bên trái ( là nơi quan trọng thứ hai sau phương
trung tâm theo Ngũ hành). Ở Nam Bộ, Thổ Công được thay bằng Ông Địa
với một số đặc điểm như bàn thờ đặt dưới đất, Ông Địa có khuôn mặt
phúc hậu, nữ tính, ngực lớn, bụng chình ình...
Tục thờ cúng tổ tiên không chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình mà còn
được mở rộng ra phạm vi dòng họ, làng xã, thậm chí là toàn dân tộc. Bởi
lẽ sau này, khái niệm tổ tiên không những để chỉ những bậc sinh thành mà
còn để chỉ những người có công tạo dựng, giữ gìn cuộc sống cho cộng
đồng: người truyền nghề, các anh hùng, danh nhân văn hóa...
Trong phạm vi làng xã, tục quan trọng nhất đó là thờ thần làng (Thành
Hoàng). Thành Hoàng cũng giống với Thổ Công trong một nhà, đó là vị
thần cai quản, che chở, định đoạt phúc họa cho dân làng đó. Thành Hoàng
làng thường sẽ là những vị tà thần, dâm thần hoặc những vị thần có công
với nước nhà. Mở rộng ra phạm vi quốc gia thì người Việt Nam thờ Vua
Tổ - vua Hùng. Từ xưa ông bà ta đã có câu: 10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng 10 tháng 3
Mảnh đất Phong Châu (Phú Thọ) – nơi đóng đô của các vua Hùng khi xưa
nay trở thành đất Tổ. Từ thời vua Lê Thánh Tông (1470-1497) ngày giỗ
Tổ Hùng Vương đã trở thành Quốc giỗ và được duy trì cho đến ngày nay.
Qua đây, ta có thể thấy được, tín ngưỡng sùng bài con người của người
Việt mang nhiều yếu tố tích cực. Nó thể hiện sự trân trọng, biết ơn của thế
hệ con cháu với những bậc cha anh thế hệ trước. Không chỉ vậy, tín
ngưỡng này còn là sợi dây liên kết chặt chẽ, gắn kết cá nhân với công
đồng, tạo nên khối đại đoàn kết trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.
* Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng
Từ xưa đến nay, phong tục thờ Thành Hoàng làng của người Việt vẫn là
một tín ngưỡng rất độc đáo. Trong Đại Việt sử ký toàn thư (1968), tập 4,
bản dịch Viện Sử học, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, trang 86, 97 ghi:
“Người Việt phổ biến nhất, nổi bật nhất là thờ thần ở làng, không làng
nào là không có đình, đền, miếu thờ thần”. Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng
chính là sự kết hợp của tín ngưỡng sùng bái con người và tín ngưỡng sùng
bái thần linh. Thành Hoàng là từ Hán Việt: “Thành Hoàng có nghĩa là
thành hào, hào có nước gọi là trì, không có nước gọi là hoàng. Đắp đất
làm “thành”, đào hào làm “hoàng”. Tục thờ Thành Hoàng có nguồn gốc
từ thời nhà Chu ở Trung Quốc, nằm trong tục lệ thờ vị thần bảo hộ cho
một thành trì, đô thị, một phủ, hay một châu, một huyện. Đến thời nhà
Đường, phong tục này được du nhập vào Việt Nam. Do một số đặc điểm
văn hóa cũng như đền, phủ ở Việt Nam có tính lịch sử khác nên khi vào
đến Việt Nam phong tục này cũng có những sự biến đổi.
Ở Việt Nam, Thành Hoàng làng được chia thành Đô Thành Hoàng và
Thành Hoàng làng. Trong đó, chỉ có duy nhất vị thần sông Tô Lịch –
Thành Hoàng thành Đại La được coi là Đô Thành Hoàng. Về đến các làng
xã, dân ta đã kết hợp tín ngưỡng thờ Thành Hoàng với tín ngưỡng thờ các
thần bản địa, vì thế Thành Hoàng của các làng được chia ra thành ba
nhóm: Thiên Thần, Nhiên Thần và Nhân Thần.
Các vị Thiên Thần, Nhiên Thần được suy tôn làm Thành Hoàng làng
thường là các vị thượng thần như Đông Thiên Vương, Sóc Thiên Vương,
Chử Đồng Tử, Mẫu Liễu Hạnh... hay các vị cai quản về thời tiết như thần
Núi, thần Sông, thần Mây, thần Mưa, thần Sấm, thần Chớp. Thông
thường, việc chọn thờ vị thần nào sẽ dựa vào địa bàn sinh sống của dân
làng. Nếu cư dân sống vùng sông nước thì thường thờ Thủy thần (thần
Sông) như Lạc Long Quân, Linh Lang, Đông Hải Đại Vương... ; nếu cư
dân sinh sống gần các vùng núi thì sẽ thờ các Sơn thần (thần Núi) như
Tản Viên, Cao Sơn,... Ngoài ta, người Việt còn thờ thần Cây như thần
Linh Mộc ở xã La Chàng (Hưng Yên), Mộc Thần ở phủ Thanh Oai; hay 10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
thần Đá như tượng Mỵ Nương cụt đầu (Cây thiêng Hòn Đá được cho là
Mỵ Nương hóa thành) ở Cổ Loa...
Trong đời sống văn hóa của người Việt, không làng nào là không có
Thành Hoàng và số lượng Thành Hoàng là Nhân Thần chiếm số lượng áp
đảo. Trong Nhân Thần còn phân ra thành chính thần và tà thần, dâm thần.
Cái “lệ làng” này mạnh đến mức năm 1572 (đời vua Lê Anh Tông), triều
đình phải ra lệnh sưu tầm và soạn ra “thần tích” của Thành Hoàng các
làng để vua ban sắc phong thần (Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa
Việt Nam, tr.140). Mỗi làng sẽ phụng sự một vị Thành Hoàng, có làng thờ
hai ba vị, có làng thờ năm bảy vị, gọi chung là chính thần. Các chính thần
sẽ được chia làm ba cấp bậc: thượng đẳng thần, trung đẳng thần, hạ đẳng thần.
Thượng đẳng thần bao gồm các vị thần thuộc cấp bậc Thiên Thần (Tản
Viên, Danh Sơn Đại Xuyên...) và những vị Nhân thần có công trạng hiển
hách với dân với nước như Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Hai bà
Trưng... Các vị này khi sinh thời có đại công lao được dân suy tôn, phụng
thờ hoặc cũng có thể được nhà vua tinh biểu công trạng mà lập đền thờ.
Trung đẳng thần là những vị thần được dân làng thờ phụng từ lâu đời, có
họ tên mà không rõ công trạng hoặc có quan tước mà không rõ họ tên. Đó
cũng có thể là những vị thần có chút linh dị, tới khi nhà vua sai kỳ tình
đảo võ, cũng có ứng nghiệm thì triều đình cũng liệt vào tự điển và phong
làm Trung đẳng thần (theo Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục,
tr.76). Các vị trung đẳng thần được thờ phổ biến hiện nay là anh em Cao
Lịch, Cao Khiển là tướng nhà Đinh. Tại Ninh Bình, Cao Lịch được sắc
phong Lịch Lộ Đại Vương trung đẳng thần, còn Cao Khiển được phong
Hành Khiển Đại Vương trung đẳng thần.
Hạ đẳng thần là những vị được dân xã thờ phụng nhưng không rõ lai lịch,
công trạng ra sao nhưng cũng thuộc vào bậc chính thần thì triều đình cũng
thuận theo mà phong làm Hạ đẳng thần.
Dù rằng nhà vua đã cho soạn ra một thần phả, nguời dân chỉ cần căn cứ
theo đó mà thờ phụng nhưng “trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào
làng ấy thờ” cho nên trong dân gian vẫn có nơi thờ các vị tà thần, dâm
thần như thần bán lợn, thần trẻ con, thần ăn xin... thậm chí là một vị gắp
phân (Thành Hoàng làng Cổ Nhuế - Hà Đông). Một số ít nơi thờ Thành
Hoàng làng là những quan lại phương Bắc như: Triệu Đà, Cao Biền... Tuy
nhiên, cũng vì việc hệ thống hóa các Thành Hoàng làng trong cả nước nên
số lượng các tà thần, dâm thần được thờ phụng cũng ít đi đáng kể.
Trong các lễ hội thuộc tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng thường gắn với
những tục hèm, lễ mật. Lễ mật thường được diễn ra vào đêm tối và chỉ có
dân làng được gia. Hèm được coi là biểu hiện cao nhất của khái niệm
kiêng kị. Tục hèm của mỗi làng là khác nhau nhưng thường sẽ mô phỏng
lại hành vi, lời nói, cử chỉ, những đặc điểm liên quan đến vị Thành Hoàng 10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
mà làng đó đang thờ phụng. Ví dụ như Thành Hoàng làng Cổ Nhuế (Hà
Đông) là một vị thần gắp phân, thì trên ban thờ Thành Hoàng sẽ có một
đôi đũa và một đôi quang gánh sơn son thiếp vàng; đồ cúng lễ như kẹo lạc
sẽ được vo tròn, cục, chuối màu đen và chè được làm theo hình xoáy trôn
ốc. Tuy rằng, các nghi lễ hèm này thường không giống với phong tục
cúng giỗ thông thường nhưng cũng chính điều này đã tạo ra dấu ấn riêng
cho các lễ hội của từng làng.
Việc duy trì phong tục thờ Thành Hoàng làng là góp phần vào việc bảo
tồn, duy trì và phát huy giá trị truyền thống Việt Nam. * Tín ngưỡng thờ Mẫu
Trong tín ngưỡng dân gian của một số dân tộc phương Đông và phương
Tây đều có sự xuất hiện của tín ngưỡng thờ Mẫu. Điều đó xuất phát từ ý
niệm đề cao, suy tôn nữ tính và người mẹ của các dân tộc này. Xét về
nguồn gốc thì tín ngưỡng này bắt nguồn từ chế độ Mẫu hệ thời kì nguyên
thủy: đứng đầu là phụ nữ, người chia thức ăn, sinh sản và nuôi lớn và phát
triển cộng đồng. Ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mẫu bắt nguồn từ loại hình
tín ngưỡng thờ Nữ thần, Mẫu thần dưới sự ảnh hưởng của Đạo giáo. Tuy
nhiên, dù tín ngưỡng thờ Mẫu của dân ta có quan hệ mật thiết với tín
ngưỡng thờ Nữ thần nhưng chúng không đồng nhất với nhau, mọi Mẫu
đều là Nữ thần nhưng không phải mọi Nữ thần đều là Mẫu. Ngoài ra, tín
ngưỡng thờ Mẫu còn được hiểu theo một nghĩa hẹp hơn đó là Mẫu Tam
phủ, Tứ phủ. Đây là hình thức thờ cúng những vị Mẫu cai quản một lĩnh
vực nào đó trong vũ trụ.
Mẫu là từ Hán Việt, còn thuần Việt có từ tương ứng là Mẹ, Mụ. Cả ba từ
Mẫu, Mẹ, Mụ đều dùng để chỉ người phụ nữ sinh ra con nhưng từ Mẫu
mang ý nghĩa tôn vinh hơn như Mẫu nghi thiên hạ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu
Thượng Ngàn... Tín ngưỡng thờ Mẫu cũng xuất phát từ niềm tin vào tình
thương, sự che chở bảo bọc của người mẹ đối với con. Nói rộng ra, Mẫu
sẽ là đối tượng mang lại điều tốt đẹp, hạnh phúc, sự bình an đồng thời
cũng sẽ trừ khử, xua đuổi, hóa giải mọi bi kịch đau khổ cho con người.
Người Việt là cư dân nông nghiệp vì thế phụ thuộc rất nhiều vào thiên
nhiên, coi trọng yếu tố đất và nước đồng thời luôn mang theo quan niệm
“vạn vật hữu linh” nên trước hết dân ra tôn sùng các nữ thần tự nhiên như
nữ thần Mặt Trăng, thần Mặt Trời, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Địa, Mẫu
Thoải, Mẫu Thiên... ngoài ra còn có các vị thần cai quản thời tiết như
Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Dưới sự ảnh hưởng của Đạo
giáo, các mẫu tự nhiên được kết nạp vào tòa thành, vào điện thờ trở thành
Tam tòa Thánh Mẫu, Tứ phủ thánh linh. Đó là cách gọi quen thuộc của
người Việt với các vị nữ thần tự nhiên trong hình dung vũ trụ rộng lớn:
Mầu Thiên phủ (nữ thần coi sóc chín tầng trời), Mau Nhạc phù (nữ thần
rừng núi), Mầu Thoải phủ (nữ thần sông biển), Mầu Địa phủ (nữ thần đất đai). 10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
Bên cạnh những nữ thần tự nhiên, người Việt còn thờ các vị thần nông
nghiệp như Mẹ Lúa, Mẹ Chè, Mẹ Mía, Bà Đậu, Bà Dâu... với niềm tin
rằng chỉ có nữ thần cai quản thì cây cối mới sinh sôi, mùa màng mới bội thu.
Cuối cùng, không thể không kể đến những người phụ nữ có công với
nước nhà hay cả người phụ nữ xuất hiện trong thần tích, truyền thuyết
được dân ta suy tôn làm Mẫu, làm Thánh. Đó là Mẹ Âu Cơ (được tôn vinh
làm Quốc Mẫu), Hai Bà Trưng, Tứ vị Hồng Nương, Mẫu Man Nương,
Thánh Mẫu Ỷ Lan, Thánh Mẫu Liễu Hạnh (được nhân xếp vào hàng “Tứ
bất tử”), Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị Dung.... Những nhân vật lịch sử này
được dân ta thờ phụng, tôn kính, giữ một vị trí trang trọng trong đời sống
tinh thần của người Việt.
Tín ngưỡng thờ Mẫu không chỉ bó hẹp tại Bắc Bộ mà còn xuất hiện ở cả
miền Trung và miền Nam. Ở Huế, xưa có điện thờ Mẹ xứ sở PôI nư Nagar
của người Chăm, sau này được người Việt tiếp thu thành nữ thần Thiên
Yana và gọi là Bà Chúa Ngọc. Hay như ở vùng Nam Bộ, Mẫu được kết
hợp với thần Đất của người Khmer trở thành Bà Chúa xứ.
Đến khoảng thế kỉ XVI, do những biến động của xã hội, chiến tranh loạn
lạc dẫn đến việc nhân dân mất niềm tin với triều đình, với Nho giáo nên
đã đi tìm sự an ủi dựa dẫm về mặt tinh thần vào các các ngưỡng dân gian.
Từ đây, người dân kết hợp yếu tố thờ Mẫu thần với một số yếu tố Đạo
giáo tạo ra một tôn giáo sơ khai của người Việt – gọi là đạo Mẫu.
Trong Đạo Mẫu có sự xuất hiện của Tam tòa Thánh Mẫu tượng trưng cho
3 miền không gian: miền trời, miền đất, miền núi và người Việt đã thêm
một miền thoải phủ để trở thành “Tứ phủ”. Phía dưới các Mẫu là các vị
vương quan: Ngũ vị vương quan, Thập nhị Chầu Bà, Ngũ vị hoàng tử,
Thập nhị cô nương, Thập vị tôn ông, Tứ phủ Tiên Cô, Thập vị Triều Cậu, Quan Ngũ Hổ, ông Lốt...
Trong Đạo mẫu đã có sự manh nha về thế giới quan và nhân sinh quan:
quan niệm thế giới có 4 miền không gian sinh thành (thế giới quan) thể
hiện qua ý thức về cội nguồn, đất nước, lòng yêu nước (nhân sinh quan) vì
các vị thần được thờ phụng thường là các vị anh hùng có công với đất nước.
Tuy nhiên, quan điểm của TS. Vũ Hồng Vận và TS. Phạm Duy Hoàng
trong “Tín ngưỡng thờ Mẫu trong sinh hoạt tinh thần của người Việt
Nam” vẫn cho rằng “tục thờ Mẫu của người Việt không thể là một tôn
giáo vì trên thực tế hệ thống thờ Mẫu Việt Nam vẫn phân tán, thiếu một
giáo chủ và giáo hội”. Chính vì thế, tục thờ Mẫu vẫn chỉ là một tín ngưỡng dân gian.
Việc thực hành thờ Mẫu đã có mặt và phát triển từ lâu đời nên hệ thống
điện thần, các phủ đền tương đối nhất quán, các nghi lễ trong tín ngưỡng
thờ phụng cũng được chuẩn hóa. Các đền, phủ thờ Mẫu trải khắp các 10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
vùng trên đất Việt Nam. Tỉnh Nam Định được coi là một trong những địa
phương có các trung tâm thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh tiêu biểu với những
nơi lưu giữ sự tích về sự giáng thế của Mẫu như Phủ Dầy, Phủ Nấp và gần
400 nơi thờ cùng thánh Mẫu (theo Cục di sản văn hóa, Thực hành tín
ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt trở thành Di sản văn hóa phi
vật thể đại diện của nhân loại). Mặt khác cũng phải kể đến phủ Tây Hồ
(Hà Nội), phủ Sòng (Thanh Hóa), phủ Vân Các thờ Bà Chúa Liễu, điện
Hòn Chén thờ Bà Chúa Ngọc, miếu Bà Chúa Xứ (Châu Đốc, An Giang)...
Nhìn vào một ban thờ mẫu có ba hoặc bốn vị thánh mẫu được thờ ở vị trí
cao nhất, ta sẽ biết được đó là ban thờ Tam phủ hay Tứ phủ. Hơn nữa,
nhìn vào màu sắc trang phục của các mẫu ta có thể nhận ra đó là vị thành
mẫu nào. Mẫu đệ nhất (mẫu thiên phủ) thường ngồi ở chính giữa, trang
phục màu đỏ tượng trưng cho thế giới bên trên, cho quyền lực và sự oai
nghi. Mẫu đệ nhị (mẫu nhạc phủ) thường ngồi ở bên phải mẫu đệ nhất, từ
ngoài nhìn vào thì mẫu ờ bên trái của ban thờ. Trang phục của mẫu màu
xanh, tượng trưng cho miền rừng núi, cho 81 cửa rừng mà mẫu cai quản,
màu của cây cối xanh tươi. Mẫu đệ tam (mẫu thoải phủ) ngồi ờ bên trái
mẫu đệ nhất, trang phục màu trắng, biểu tượng cho nước, cho sự trong
sạch, tinh khiết cùa thế giới thủy phủ, vùng nước sông biển. Mẫu Địa
thường ngồi ờ phía trước và thấp hơn mẫu Thiên một chút. Mẫu mặc áo
mầu vàng, màu tượng trưng cho đất đai (PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hà,
Thờ Mẫu và mã tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa Việt Nam, tr.745) Bên
cạnh các điện, phủ thờ riêng các mẫu thì việc thờ Mẫu còn được phối thờ
trong các đền “tiền Thần, hậu Mẫu” hay trong các chùa “tiền Phật, hậu
Mẫu”. Bên cạnh đó, tín ngưỡng thờ Mẫu đã đưa thêm Đức Thành Trần
vào hệ thống thờ thần. Đức Thánh là một thần chủ được đặt ngang hàng
với Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Liễu... Thánh có đền phủ, ban
thờ riêng phía bên phải, nơi không lập ban thờ thì vẫn cầu cúng và có văn
khấn, ca trầu về Người. Đó là những nét đặc sắc, độc đáo chỉ có duy nhất
ở tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam.
Tại các điện thờ Mẫu, nghi thức thờ cúng diễn ra hàng ngày do các thủ
nhang thực hiện. Thực hành cơ bản của tín ngưỡng thờ Mẫu là nghi lễ lên
đồng và lễ hội với các nghi lễ, diễn xướng dân gian, xếp chữ, lễ rước
thỉnh kinh... Hầu đồng là một nghi thức bắt nguồn từ Shaman giáo, được
cho là nghi thức để giao tiếp với thần linh. Người ta tin rằng các vị thần sẽ
nhập hồn vào thân xác các ông đồng, bà đồng nhằm phán truyền, diệt trừ
tà man, chữa bệnh, ban phúc lộc cho con nhang, đệ tử. Tuy nhiên, thực
chất của việc hầu đồng chỉ là việc các ông đồng, bà đồng rơi vào trạng
thái tự kỉ ám thị nhằm giải tỏa bớt áp lực.
Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt thể hiện ý thức nhân sinh, ý thức về
cội nguồn dân tộc, đất nước, đồng thời thể hiện truyền thống yêu nước,
uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Ngày 01 tháng 12 năm 2016, 10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
UNESCO chính thức công nhận tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ là di sản
văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại. Việc tín ngưỡng này được công
nhận đã cho thấy sự tác động và dấu ấn mạnh mẽ của nó lên nền văn hóa dân tộc Việt Nam.
-Chưa có hệ thống giáo lý, mới chỉ có các huyền thoại, thần tích
-Chưa có hệ thống thần điện, mang tính chất đa thần
-Còn hòa nhập giữa thế giới thần linh và thế giới con người, chưa mang tính cứu thế -
Tín ngưỡng phồn thực: phồn là nhiều, thực là nảy nở, tín ngưỡng phồn
thực là sự sùng bái về việc sinh sôi nảy nở của cả con người lẫn tự nhiên. Tín
ngưỡng phồn thực đã từng tồn tại suốt chiều dài lịch sử với hai dạng biểu
hiện: thờ cơ quan sinh dục và thờ hành vi giao phối.
Việc thờ cơ quan sinh dục nam nữ là thờ những vật mô phỏng tạo sự sinh
sản, chẳng hạn như các nhà khảo cổ đã tìm thấy ở Văn Điền tượng đá hình
nam nữ với bộ phận sinh dục phóng to có niên đại hàng nghìn năm, hay ở hội
làng Đồng Kị tại Bắc Ninh có tục rước sinh thực khí bằng gỗ, sau khi tan hội,
chúng sẽ được mang đi đốt và lấy tro chia cho mọi người để rắc ra ngoài
ruộng. Việc thờ sinh thực khí còn thể hiện ở việc thờ các loại cột đá, gốc cây,...
Bên cạnh đó, người dân Việt Nam còn thờ hành vi giao phối. Chẳng hạn
trên thạp Đào Thịnh điêu khắc thuyền nối đuôi nhai kiến cho hai con cá sấu
và rồng ở mũi thuyền chạm vào nhau trong tư thế giao hoàn, mặt nắp đồng
còn khắc 4 đôi nam nữ đang giao phối xung quanh mặt trời
Vai trò của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống của người Việt cổ lớn tới
mức chiếc trống đồng cũng là biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực. Hình dáng
trống đồng được phát triển từ cối giã gạo, cách đánh trống phỏng theo cách
giã gạo – dùng chày dài mà đâm lên mặt trống. Trên tâm mặt trống đồng là
hình mặt trời – biểu trưng cho sinh thực khí nam, giữa các tia sáng là hình lá
có khe ở giữa biểu trưng cho sinh thực khí nữ
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là giai đoạn tất yếu trong quá trình phát
triển của con người. Thờ bà Trời (Mẫu Cửu Trùng, Cửu Thiên Huyền Nữ,
Thiên Mụ,...), bà Đất (Mẹ Đất, bà Chúa Xứ), bà Nước (Bà Thủy, bà chúa
Sông). Hình thành hệ thống tứ pháp gồm: Pháp Vân (thần Mây) ở Chùa Dâu,
Tháp Vũ (Thần Mưa) thờ ở chùa Bà Đậu, Tháp Lôi (Thần Sấm) thờ ở chùa
Bà Tướng, Pháp Điên (Thần Chớp) thờ ở chùa bà Dan. Ngoài ra thì còn có
việc thờ thực vật và thờ động vật. Thờ các loài động vật ở vùng sông nước:
nhất điểu, nhị xà, tam ngư, tứ tượng, thường thờ chim, rắn, cá sấu. Tất cả các
dân tộc đều tôn sùng cây lúa, sau đó là tín ngưỡng thờ cây đa, cây cau,... 10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
Tín ngưỡng sùng bái con người. Người Việt cổ đã thần thánh hóa khái
niệm “linh hồn” thậm chí phân ra hồn và vía. Cha ông ta cho rằng, nam có 3
hồn 7 vía, còn nữ có 3 hồn 9 vía. 5. Tổ chức Làng
-Làng là đơn vị cộng cư có một vùng đất chung của cư dân nông nghiệp,
một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cấp tự túc, mặt
khác là mẫu hình xã hội phù hợp, là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu
nông, với gia đình – tông tộc gia trưởng, đảm bảo sự cân bằng và bền
vững của xã hội nông nghiệp ấy.
-Nguồn gốc: Nước ta vốn là một nước nông nghiệp cổ truyền và gắn kết
với nó là làng xã cổ truyền. Theo như chiếu của vua Gia Long năm 1804
có viết “Nước là họp các làng mà thanh. Từ làng mà đến nước, dạy dân
nên tục, vương chính lấy làng làm trước” hay trong “Hồi kí Thanh Nghị”
của Vũ Đình Hòe có viết “Muốn tìm hiểu lịch sử hình thành dân tộc Việt
Nam thì phải tìm hiểu cộng đồng làng xã và muốn xây dựng lại đất nước
Việt Nam thì cũng phải băt đầu từ việc xay dựng lại cộng đồng làng xã, vì
không có làng xã Việt Nam thì không có quốc gia Việt Nam”. Vậy làng là
gì? Làng là tổ chức quần cư của một cộng đồng người có liên kết với nhau
về huyết thống, lịch sử cư trú hoặc phương thức kinh tế, nằm tại khu vực
hiện nay là vùng sản xuấ nông thôn hoặc từng là vùng sản xuất nông thôn.
Làng xã Việt Nam vốn bắt nguồn từ công xã nông thôn, ra đời vào giai
đoạn tan rã của công xã nguyên thủy, tức là vào khoảng thiên niên kỉ X
trở đi, cùng với sự thịnh vượng của chế độ phong kiến, các công xã nông
thôn dần dần bị phong kiến hóa và trở thành các đơn vị hành chính cơ bản
của chính quyền phong kiến với tên gọi chung là xã, cũng có khi gọi là
thôn hay làng. Làng xã giữ vai trò trung tâm nối các cá thể với nhà nước.
Tât cả các chỉ thị từ chính quyền trung ương đến với người dân đều phải
thông qua bộ lọc làng xã. Làng xã cổ truyền là đơn vị tụ cư, là cộng đồng
dựa trên quan hệ láng giềng kết hợp với quan hệ huyết thống, là môi
trường sinh hoạt văn hóa xã hội từ bao đời nay của người Việt.
-Nguyên tắc tổ chức: Làng Việt được tổ chức theo 2 nguyên tắc, trước hết
là theo huyết thống. Làng là nơi ở của một họ hoặc nhiều họ và có xu
hướng lấy tên họ làm tên làng, điều này còn lưu lại dấu ấn trong tên của
rât nhiều làng hiện nay như Nguyễn Xá, Lê Xá, Đoàn Xá,… Và giữa các
cư dân trong làng là có mỗi quan hệ huyết thống như câu ca dao “Tu hú là
chú bồ các/Bố các là bác chim di/Chim di là dì sáo sậu/Sáo sậu là cậu sáo
đen/Sáo đen là em tu hú…”. Để xác định một cá nhân này thì phải đặt cá
nhân ấy trong mối quan hệ với cả một tập thể vì thế trong tổ chức nông
thôn của người Việt, ta thấy sự thủ tiêu vai trò của cá nhân, cá nhân bị hòa
tan trong cộng đồng, vì cộng đồng. Điều này cũng thể hiện tính cộng 10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
đồng, tập thể của người Việt, lấy cộng đồng tập thể làm tiêu chuẩn để đánh giá xã hội
-Nếu coi tổ chức nông thôn theo huyết thống là bước phát triển thứ nhât thì
tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú là bước phát triển tiếp theo để hình
thành nên làng và xóm. Tổ chức nông thôn theo địa vực bắt đầu xuất hiện
từ thời kì Hùng Vương. Những người sống gần nhau có xu hướng liên kêt
lại với nhau, thứ nhât là để đối phó với môi trường tự nhiên bởi nghề nông
nghiệp lúc nước mang tính thời vụ và cần nhiều nhân lực, thứ hay là dể
đối phó với môi trường xã hội đối phó với nạn ngoại xâm, chiếm đất
chiểm làng. Nếu như tổ chức làng xã theo quan hệ huyết thống đề cao
quan hệ cùng dòng máu thì tổ chức làng xã theo địa vực lại đề cao mối
quan hệ láng giềng. Sự liên kêt này chặt chẽ đến mức “bán anh em xa,
mua láng giềng gần”. Làng của người Việt thường có 2 tên: thứ nhất là tên
nôm , thứ hay là tên Hán. Tên nôm là tên gọi nôm na, nó thường bắt đầu
từ một đặc điểm đặc trưng nào đó của làng còn tên Hán là tên được sử
dụng trong các văn bản hành chính mang ý nghĩa riêng của từng làng. Ví
dụ như ở Đông Anh có làng Rộc, tên Hán của làng Rộc là làng Rục Tú.
Ngoài ra, trong làng tổ chức theo địa vực có sự phân biệt vô cùng rạch ròi
giữa dân chính cư và dân ngụ cư, dân chính cư là dân gốc ở làng, đã sống
liên tục nhiều đời ở làng, có tiếng nói và được hưởng mọi quyền lợi; dân
chính cư được chia làm 5 hạng: hạng chức sắc, hạng chức dịch (đứng đầu
là lý trưởng hoặc lý dịch), hạng lão (các cụ từ 60 trở lên, có kinh nghiệm
sống, hàng năm tổ chức lễ lên lão, mừng thọ), hạng đinh (trai trong độ
tuổi lao động), hạng ti ấu( các bé trai cho tới dưới độ tuổi lao động). Trái
với dân chính cư thì dân ngụ cư là dân từ nơi khác tới sống ở làng, không
có tiếng nói và không được hưởng rất ít quyền lợi gì từ làng. Do dân
chính cư có nỗi sợ mơ hồ là nếu để dân ngụ cư tham gia hoạt động của
làng xóm thì có ngày họ sẽ lên nắm quyền hoặc học nghề truyền thống
của làng. Một số làng có quy định riêng: nếu dân ngụ cư liên tục sống 3
đời ở làng thì trở thành dân chính cư bởi vì khi sống liên tục 3 đời ở làng,
dân ngụ cư sẽ gắn bó hơn, thân thiết hơn với làng, đồng thời mối liên hệ
giữa họ và quê gốc của họ sẽ trở nên mờ nhạt đi sau 3 đời.
-Các mối liên kết trong làng có nghề nghiệp, tín ngưỡng tôn giáo, địa vực
láng giềng, xóm, giáp, đơn vị hành chính và họ hàng dòng máu, nhưng
mối liên kết họ hàng huyết thống vấn là bền vững nhất
-Kết cấu kinh tế làng xã Việt chủ yếu là tiểu nông, tự cấp, tự túc. Mỗi làng
có ruộng đất riêng, có sự phân chia ruộng đất của riêng làng mình cho các
gia đình trong làng xã nhưng sự phân công lao động không rõ ràng. Làng
Việt còn có tính hỗn hợp cao như: vào mùa vụ, người ta làm nghề nông,
khi mùa vụ nông nhàn, các làng có nghề phụ, họ sẽ sản xuất thêm các đồ 10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
thủ công rồi mang đi bán và một số làng khác còn kiêm thêm chức năng thương nghiệp
-Các làng của người Việt thường được phân bố theo hình thức co cụm.
Loại co cụm thứ nhất là các gia đình trong làng sống quần cư với nhau
trong một cụm cư dân, xung quanh được bao bọc bởi lũy tre và có cổng
làng để phân chia ranh giới. Loại co cụm thứ hai của làng Việt là phân bố
bên sông theo từng cụm một và loại co cụm thứ ba cũng là phân bố ở sông nhưng phân bố bên 2 bờ
-?Đặc trưng: Làng của người Việt có hai đặc trưng nổi bật. Đặc trưng thứ
nhất là tính cộng đồng, tập thể. Tính cộng đồng của làng xã Việt là nhấn
manj vào sự đồng nhất và tinh thần tập thể. Ưu điểm của tính cộng đồng
là tạo nên tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái lẫn nhau giữa những
người dân. Thế nhưng tính cộng đồng cũng hình thành lên thói dựa dẫm, ỷ
lại vào tập thể như người Việt ta có câu thành ngữ “Cha chung không ai
khóc”, “Làm sãi không ai đóng cửa chùa”. Người Việt có tính cộng đồng
rất cao nhưng tính cộng đồng này chỉ thực sự phát huy khi tất cả mọi
người cùng phải đối mặt với một nguy cơ, thách thức nào đó. Hơn thế,
tính cộng đồng cũng có mặt hạn chế là tạo ra tính cào bằng, đố kị như câu
“Cá mè một lứa” và rất nhiều tình huống thể hiện hạn chế này trong cuộc
sống. Biểu tượng cho tính cộng đồng ở làng Việt là hình ảnh cây đa, bến
nước, sân đình bởi đây là những địa điểm thường diễn ra các hoạt động
tập thể của làng, nơi mà người dân tụ tập, tụ họp.
-Đặc trưng thứ hai của làng Việt là tính tự trị mà nhấn mạnh vào sự khác
biệt giữa các làng như người Việt ta có câu: “Trống làng nào làng ấy
đánh/Thánh làng nào làng ấy thờ”. Biểu tượng của tính tự trị là lũy tre.
Người Việt có tục trồng tre từ thời kì Hùng Vương để bảo vệ đât đai của
làng chống lại nạn lấn đât, lấn làng, đồng thời lũy tre cũng tạo thành thành
lũy nội bất xuất, ngoại bất nhập, khiến cho các làng trở thành một vương
quốc thu nhỏ. Bên cạnh đó, lệ làng cũng là biểu tượng cho tính tự trị. Một
số lệ làng còn được văn bản hóa lên thành “hương ước”. Lệ làng mạnh
đến mức nếu quyền lực của triều đình chạm đến các làng xã và trái lại các
lệ làng thì người dân vẫn sẽ tuân theo lệ làng chứ không theo phép tắc của
triểu đình “Phép vua thua lệ làng” điều này cho thấy tính tự trị rất cao của
các làng xã Việt Nam. Tính tự trị còn là cơ sở của lòng yêu nước, lòng yêu
nước gắn liền với lòng yêu làng, hơn thế tính tự trị còn giúp nâng cao tinh
thần tự quản, cần cù, hiệu quả trong công việc. Mặt khác của tính tự trị
còn tạo ra tu tưởng tư hữu, ích kỉ: chỉ lo vun vén cho địa phương, đôi khi
không nghĩ cho lợi ích của số đông và còn có thể gây thiệt lại cho cái
chung; tính tự trị còn hình thành thói gia trưởng, áp đặt ý chí lên người
khác, thiếu sự lắng nghe học hỏi và những đột phá để xóa bỏ những nề thói cũ. 10:34, 08/01/2026
Ôn thi - Văn hóa nước trong và ảnh hưởng Champa (VH101) - Studocu
- Kết luận : Qua phần tìm hiểu về làng xã cổ truyền Việt Nam ở trên, ta có
thể thấy rằng thể chế làng xã Việt nam có những ưu điểm và nhược điểm
cụ thể. Nhận thức được vấn đề đó, chúng ta cần phải phát huy những ưu
điểm, chuyển biến trong giá trị văn hóa để thích ứng với những yêu cầu
mới, bỏ đi những văn hóa cổ hủ, lỗi thời cải thiện những hạn chế nhằm
xây dựng nên văn há đậm đà bản sắc dân tọc, và từ đó giúp đất nước phát
triển lớn mạnh hơn, sánh vai cùng các cường quốc năm châu. -