



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA TIẾNG ANH
-------- BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: Phân tích 3 bước đột phá đầu tiên trong đổi mới
tư duy về kinh tế và ý nghĩa:
Bước đột phá thứ nhất: HNTW6 (8/1979);
Bước đột phá thứ hai: HNTW8 (6/1985);
Bước đột phá thứ ba: HN Bộ Chính trị khoá V (8/1986)
Giảng viên hướng dẫn : Nhóm thực hiện : Lớp học phần : 1 HÀ NỘI, 2022 MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU..................................................................................................................6
B. NỘI DUNG..............................................................................................................7
I. Cơ sở của việc quyết định thay đổi tư duy kinh tế của Đảng................................7
1. Cơ sở lý luận.............................................................................................................7
2. Cơ sở thực tiễn..........................................................................................................8
2.1. Ảnh hưởng của các chương trình cải cách của Liên Xô và công cuộc cải cách của
Trung Quốc....................................................................................................................8
2.2. Ảnh hưởng của tình hình trong nước....................................................................11
2.2.1. Tình hình Việt Nam sau năm 1975....................................................................11
2.2.2. Những hạn chế của cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung bao cấp...................12
II. Ba bước đột phá đầu tiên trong đổi mới tư duy kinh tế.....................................14
1. Bước Đột Phá Thứ Nhất: Hội nghị Trung ương 6 (T8/1979)...............................14
1.1. Hoàn cảnh.............................................................................................................14
1.2. Chủ trương............................................................................................................14
1.2.1. Trong công nghiệp.............................................................................................15
1.2.2. Trong nông nghiệp.............................................................................................19
1.3. Kết quả thực tiễn...................................................................................................21
1.4. Những đánh giá về bước đột phá thứ nhất.............................................................22
1.4.1. Ưu điểm.............................................................................................................22
1.4.2. Hạn chế..............................................................................................................22
1.5. Ý nghĩa..................................................................................................................23
2. Bước Đột Phá Thứ Hai: Hội nghị Trung ương 8 T6/1985....................................23
2.1. Hoàn cảnh.............................................................................................................24
2.2. Chủ trương............................................................................................................24
2.2.1. Tình hình vấn đề về giá – lương – tiền...............................................................25
2.2.2. Mục tiêu và phương hướng giải quyết vấn đề giá - lương - tiền.........................29
2.2.3. Biện pháp giải quyết vấn đề giá – lương – tiền..................................................31
2.3. Kết quả thực tiễn...................................................................................................38
2.4. Những đánh giá về bước đột phá thứ hai..............................................................39
2.4.1. Ưu điểm.............................................................................................................39
2.4.2. Nhược điểm........................................................................................................39
2.5. Ý nghĩa..................................................................................................................42
3. Bước Đột Phá Thứ Ba: Hội nghị Bộ Chính trị Khóa V T8/1986.........................42
3.1. Hoàn Cảnh............................................................................................................42
3.2. Chủ Trương...........................................................................................................42
3.2.1. Về Cơ Cấu Kinh Tế............................................................................................42
3.2.2. Về Cải Tạo Xã hội Chủ nghĩa Và Củng Cố Quan Hệ Sản Xuất Mới.................45
3.2.3. Về Cơ Chế Quản Lý Kinh Tế.............................................................................49 2
3.3. Những đánh giá về bước đột phá thứ ba................................................................52
C. KẾT LUẬN............................................................................................................54
Danh mục tài liệu tham khảo....................................................................................55 A. MỞ ĐẦU
Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta chiến thắng trong cuộc chiến giành lại độc lập
dân tộc cũng như đạt được nhiều thành tựu trong công cuộc xây dựng đất nước theo
con đường xã hội chủ nghĩa. Chiến thắng lịch sử mùa xuân năm 1975, đã đưa một
đất nước không có tên trên bản đồ thế giới (xứ thuộc địa ở Đông Dương) đã trở
thành một Việt Nam vang danh toàn cầu, vị thế, uy tín trên trường quốc tế ngày
càng được nâng cao. Tuy nhiên, cùng lúc đó, Việt Nam phải đối mặt vô vàn những
khó khăn, thử thách. Do ảnh hưởng của chiến tranh kéo dài, nước ta không thể hoàn
thành mục tiêu về mặt kinh tế, xã hội, đất nước bị bao vây, cô lập, đời sống nhân
dân hết sức khổ cực, lòng tin đối với Đảng, Nhà nước và chế độ từ đó cũng bị giảm
sút. Việc vận dụng đường lối, chủ trương được đưa ra có nhiều khuyết điểm, về kế
hoạch hoá, về xây dựng chính sách cụ thể, về các biện pháp tổ chức và quản lý kinh
tế, quản lý xã hội. Từ những khó khăn đó, Đảng ta đã tìm thấy những bất cập của cơ
chế, đồng thời phát hiện những điểm sáng của thực tiễn đặt ra và có được những
bước đột phá trong đổi mới tư duy về kinh tế. Ba bước đột phá đầu tiên trong đó
chính là nền tảng cho những bước tiến kinh tế về sau này, giúp đất nước ta đạt được
những thành tựu nhất định, giữ vững ổn định xã hội, giữ vững chế độ, tạo lập được
niềm tin trong nhân dân, đồng thời đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của
đất nước. Những thắng lợi bước đầu được Đảng ta từng bước hoàn thiện, cụ thể hóa
đường lối đổi mới mà nội dung cơ bản, cốt lõi được thể hiện trong Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Bài nghiên cứu này của chúng tôi với mục tiêu là phân tích ba bước đột phá
đầu tiên trong đổi mới tư duy về kinh tế. Bài nghiên cứu chỉ ra hoàn cảnh, nội dung,
kết quả và ý nghĩa của ba bước đột phá: Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (15-
23/8/1979), Hội nghị Trung ương 8 khóa V (1-7/6/1985), Hội nghị Bộ Chính trị
khóa V tháng 8-1986. Từ đó, có thể rút ra những điểm được và chưa được, so sánh
được thành tựu qua ba bước đột phá. Cùng với đó, bài nghiên cứu giúp tăng thêm
hiểu biết cho người làm bài nghiên cứu nói riêng và thế hệ trẻ Việt Nam nói chung 3
về nền kinh tế nước nhà để vận dụng và phát triển vào đời sống, đóng góp cho đất nước. B. NỘI DUNG
I. Cơ sở của việc quyết định thay đổi tư duy kinh tế của Đảng. 1. Cơ sở lý luận
Trước hoàn cảnh trong nước và thế giới có nhiều thuận lợi đồng thời cũng có
nhiều khó khăn thách thức, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IV tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 14 đến ngày 20/12/1976. Đại hội IV
đã đưa ra những đường lối kinh tế quán triệt sâu sắc những nhiệm vụ cấp bách lúc
bấy giờ, sửa chữa những sai lầm, thiếu sót về tổ chức và quản lý kinh tế, quản lý xã
hội. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình đất nước, tự phê bình về những sai lầm,
khuyết điểm, đổi mới tư duy lý luận trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm từ thực tiễn,
Đại hội đề ra đường lối đổi mới: Trước hết là đổi mới cơ cấu kinh tế (cơ cấu công-
nông nghiệp; cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp; ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủ
công nghiệp; công nghiệp nặng và kết cấu hạ tầng; cơ cấu kinh tế huyện). Thực hiện
3 chương trình kinh tế bao gồm: Chương trình lương thực, thực phẩm; chương trình
hàng tiêu dùng; chương trình hàng xuất khẩu. Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất
XHCN, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế. Cải tiến các chính sách
lưu thông, phân phối (giá, lương, tiền tài chính, ngân hàng) phải nhằm thúc đẩy sản
xuất phát triển mạnh theo đường lối của Đảng và phương hướng của kế hoạch Nhà
nước, kết hợp lợi ích của toàn xã hội với lợi ích của tập thể và cá nhân, khuyến
khích người lao động hăng hái sản xuất, làm nhiều được hưởng nhiều, đồng thời bảo
đảm cho Nhà nước nắm được nguồn hàng, làm chủ được thị trường.
Đại hội VI đã đưa ra quan điểm mới về cải tạo XHCN dựa trên 3 nguyên tắc:
Nhất thiết phải theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất để xác định bước đi và hình thức thích hợp. Phải
xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh
tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ. Trong công cuộc
cải tạo XHCN, phải xây dựng quan hệ sản xuất mới trên cả 3 mặt xây dựng chế độ
công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối XHCN. Những 4
mục tiêu và nhiệm vụ mà Đại hội IV chính là nền tảng, tiền đề chính cho ba bước
đột phá đầu tiên trong tư duy về kinh tế của Đảng ta sau này.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Ảnh hưởng của các chương trình cải cách của Liên Xô và công cuộc cải cách
của Trung Quốc.
Năm 1975, Liên Xô đã trải qua 2 chương trình cải cách diễn ra trong hai giai
đoạn 1927 - 1953 và 1953 - 1964 và đang trong chương trình cải cách lần thứ ba bắt
đầu từ năm 1964. Trong chương trình cải cách lần thứ nhất diễn ra trong khoảng thời
gian 1927 - 1953 do Gi.Xta-lin lãnh đạo, Liên Xô chỉ trong 10 năm, từ một nước có
nền kinh tế và công nghiệp lạc hậu trở thành cường quốc công nghiệp hàng đầu thế
giới nhờ vào chương trình công nghiệp hóa ưu tiên phát triển công nghiệp nặng cùng
chủ trương hợp tác kinh tế và công nghiệp với các nước tư bản phát triển hàng đầu thế
giới, trước hết là Mỹ, trên cơ sở đường lối chính trị độc lập, tự chủ dưới sự lãnh đạo
tập trung thống nhất của Đảng Cộng sản Liên Xô. Bên cạnh đó, trong chương trình cải
cách này, nhà lãnh đạo Liên Xô nhận thấy những hạn chế và khiếm khuyết của nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở Liên Xô và đưa ra chủ trương tổ chức các cuộc thảo
luận rộng rãi trên toàn Liên bang về lợi ích của phương pháp hạch toán kinh tế theo cơ
chế thị trường để triển khai rộng rãi phương pháp này trong thực tế. Chương trình cải
cách thứ hai do N. Khru-sốp lãnh đạo trong giai đoạn 1953 - 1964 gần như đã phủ
nhận hoàn toàn giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội rực rỡ nhất và thành công nhất ở
Liên Xô trước đó, đưa Liên Xô lâm vào tình trạng khủng hoảng lý luận và nhận thức
về chủ nghĩa xã hội và tạo tiền đề cho công cuộc Cải tổ thời kỳ M. Goóc-ba-chốp dẫn
tới sự sụp đổ của Liên Xô. Chương trình cải cách lần thứ ba ở Liên Xô diễn ra trong
những năm 1964 - 1982 dưới sự trực tiếp chỉ đạo thực hiện của A. Cô-xư-gin. Chương
trình áp dụng phương pháp hạch toán kinh tế theo cơ chế thị trường và trao quyền tự
chủ cho các xí nghiệp đã từng được đề xuất trong cải cách lần thứ nhất và mang lại kết
quả ấn tượng, trong đó cơ chế quản lý kinh tế mới là động lực đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng kinh tế và xuất khẩu sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp, đồng thời góp phần
nâng cao đáng kể mức sống của người dân. Tuy nhiên, sau đó, chương trình cải cách này đã bị ngừng lại. 5
Trung Quốc đã vạch ra đường đối mới, mở đầu cho công cuộc cải cách kinh tế,
xã hội thông qua Hội nghị Trung ương 3 khóa XI Đảng Cộng sản Trung Quốc năm
1978 do Đặng Tiểu Bình khởi xướng. Công cuộc đổi mới này lấy xây dựng kinh tế làm
trọng tâm, kiên trì nguyên tắc: Con đường xã hội chủ nghĩa - Chuyên chính nhân dân -
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Mao Trạch
Đông. Trong giai đoạn đầu chuyển đổi thể chế kinh tế từ năm 1978, Đảng Cộng sản
Trung Quốc với phương châm “giải phóng tư tưởng, thực sự cầu thị”, chuyển trọng
tâm công tác từ “lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh” sang “lấy xây dựng kinh tế
làm trung tâm” nhằm mục tiêu xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa. Giai đoạn đầu
tập trung vào chuyển đổi thể chế kinh tế với việc “khoán ruộng đất”, “phát triển xí
nghiệp hương trấn” ở nông thôn, sau đó tiến hành mở rộng thí điểm quyền tự chủ kinh
doanh của xí nghiệp quốc hữu ở thành phố, tiến hành mở cửa, xây dựng đặc khu kinh
tế, xây dựng các loại thị trường. Thành tựu của công cuộc cải cách này ở thời điểm đó
chưa thể nhìn nhận ngay tức khắc, tuy nhiên, cho tới nay, Trung Quốc đã đạt được
thành tựu đáng nể về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, là quốc gia phát triển hàng đầu thế giới.
Các chương trình cải cách kinh tế xã hội của Liên Xô và công cuộc cải cách của
Trung Quốc có ảnh hướng không nhỏ tới quyết định thay đổi tư duy kinh tế của Đảng
ta từ Đại hội Đảng lần IV cho tới các bước đột phá về kinh tế sau đó và công cuộc Đổi
mới năm 1986. Các chương trình cải cách ở Liên Xô được nhận xét là thiếu nhất quán
và chậm trễ trong quá trình tìm tòi mô hình phát triển phù hợp từng giai đoạn trên con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thậm chí mâu thuẫn, thiếu tính cập nhật, thậm chí là
chệch hướng, sai lầm, là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên
Xô. Tuy vậy, một số chủ trương của Liên Xô thực hiện trong các cuộc cải cách này rất
đang học hỏi nếu Đảng ta có thể chọn lọc những gì phù hợp để áp dụng cho nước ta.
Những bài học từ công cuộc cải cách của Trung Quốc cũng vậy, thời kì năm 1978, có
rất nhiều bài học để Đảng ta học tập và tiếp thu về về trọng tâm, nguyên tắc phát triển
đất nước, chính sách “mở cửa”, về thay đổi trong công nghiệp, nông nghiệp, phát triển
nội lực, tuy nhiên, vẫn còn một số nhược điểm phải nhắc đến như thiếu sự nhất quán,
thiếu ổn định và liên tục hay sự khác biệt về chính sách vẫn còn tồn tại. Có thể thấy,
trong các chính sách được đưa ra của Đảng ta sau này có nhiều điểm tương đồng với
một số tư duy, chính sách được áp dụng tại Liên Xô và Trung Quốc trong các cuộc cải 6
cách trên. Các quốc gia anh em theo chủ nghĩa xã hội đã lần lượt bước lên con đường
đổi mới kinh tế, xã hội là động lực, đốc thúc Đảng ta phải bắt đầu có những thay đổi.
Xuất phát từ những chủ trương, chính sách của những cuộc cải tổ, cải cách này được
thực hiện, dù thành công hay thất bại, Đảng Cộng sản Việt Nam có thể có thêm kinh
nghiệm cho các bước phục hồi và phát triển kinh tế tiếp theo.
2.2. Ảnh hưởng của tình hình trong nước
2.2.1. Tình hình Việt Nam sau năm 1975.
Về mặt chính trị, sau Đại thắng Xuân 1975, sau hơn 20 năm chiến đấu gian khổ,
đất nước Việt Nam đã giành được hòa bình độc lập trọn vẹn, nhân dân Bắc Nam sum
họp một nhà. Tiếp đến, Đảng đã nhanh chóng thực hiện nhiệm vụ đầu tiền và bức thiết
nhất lúc bấy giờ, đó là hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước ngay cuối năm
1975, đầu năm 1976. Thống nhất về mặt nhà nước sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp của
nền kinh tế trên cả nước, chính trị ổn định sẽ cơ sở vững chắc cho công cuộc thống
nhất, phục hồi, xây dựng và phát triển kinh tế, tiền vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, ở miền Nam, các cơ sở của chủ nghĩa thực dân mới ở địa phương vùng mới
giải phóng cùng bao di hại xã hội vẫn còn tồn tại.
Về kinh tế, tuy đất nước đã thống nhất, nhưng kinh tế hai miền trải qua chiến
tranh tồn lại nhiều chênh lệch. Trải qua hơn 20 năm (1954 - 1975) tiến hành cách
mạng xã hội chủ nghĩa, miền Bắc đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện, đã xây
dựng được những cơ sở vật chất - kĩ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội. Miền Bắc
trong giai đoạn này vẫn đang tiếp tục áp dụng cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập
trung quan liêu bao cấp và kinh tế phát triển với tốc độ khá, có nhiều cải thiện tuy
nhiên vẫn vấp phải nhiều khó khăn và tồn tại nhiều yếu kém. Bên cạnh đó, cuộc chiến
tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mĩ hết sức ác liệt, đã tàn phá nặng nề,
gây hậu quả lâu dài đối với miền Bắc. “Chiến tranh phá hoại của Mĩ đã phá hủy hầu
hết những cái mà nhân dân ta đã tốn biết bao công sức để xây dựng nên, làm cho quá
trình tiến lên sản xuất lớn bị chậm lại đến vài ba kế hoạch 5 năm”. Miền Nam có nền
kinh tế trong chừng mực nhất định phát triển theo hướng tư bản với nhiều thành phần
kinh tế song về cơ bản vẫn mang tính chất của nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản
xuất nhỏ và phân tán, phát triển mất cân đối, lệ thuộc nặng nề vào viện trợ từ bên ngoài. 7
Đất nước mặc dù hoàn toàn giải phóng, nhưng cuộc chiến tranh của Mĩ đã gây
ra hậu quả nặng nề. Nhiều làng mạc, đồng ruộng bị tàn phá, bỏ hoang, chất độc hóa
học và bom mìn còn bị vùi lấp nhiều nơi. Số người thất nghiệp lên tới hàng triệu
người. Số người mù chữ chiếm tỉ lệ lớn trong dân cư. Đây cũng là một trong những
yếu tố quan trọng trong công cuộc quyết định hướng đi cho con đường phát triển kinh
tế nước nhà của các đồng chí lãnh đạo lúc bấy giờ.
2.2.2. Những hạn chế của cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung bao cấp trong thời kỳ này.
Nước ta bắt đầu xây dựng và áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung
cho miền Bắc ngay khi miền Bắc giành được độc lập vào năm 1954 và tiến lên con
đường xây dựng chủ nghĩa xã hội để tập trung sức người, sức của làm hậu phương
vững chắc chi viện cho miền Nam. Sau năm 1975, khi Việt Nam hoàn toàn giải phóng,
cả nước bước vào thời kì xây dựng và phát triển kinh tế - xá hội, do hậu quả nặng nề
của chiến tranh, Đảng và Nhà nước ta xác định tiếp tục xây dựng và phát triển kinh tế
theo mô hình kế hoạch hóa tập trung trên cả nước.
Cơ chế này có những ưu điểm thích hợp cho hoàn cảnh hiện tại lúc đó của Việt
Nam, nhưng thực chất lại tồn tại nhiều hạn chế, khuyết tật kìm hãm sự phát triển của
quốc gia sau này. Mà những hạn chế đó lại được bộc lộ rõ ràng, gay gắt nhất thời điểm
sau năm 1975, sau khi đất nước thống nhất.
Khiếm khuyết đầu tiên của cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp là
nó thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học công nghệ, triệt tiêu động lực kinh tế,
sáng tạo đối với người lao động, không kích thích được tính năng động, sáng tạo của
các đơn vị sản xuất, kinh doanh. Do chế độ công hữu về tư liệu sản suất của mô hình
này khiến cho các tư liệu sản xuất của nền kinh tế quốc tế dân thành vô chủ, bởi vô
chủ cho nên chúng được sử dụng lãng phí, bừa bãi, gây thiệt hại về kinh tế. Doanh
nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của nhà nước, mọi phương hướng sản xuất,
vật tư, vốn, giá thành, lương, nhân sự,... đều do nhà nước quản lý. Nhà nước giao chỉ
tiêu kế hoạch, cấp vốn, doanh nghiệp sản xuất nộp lại sản phẩm cho nhà nước. Doanh
nghiệp không có quyền tự chủ và gần như không có dấu ấn gì trong quá trình vận
hành, nghiên cứu thị trường, sản xuất kinh doanh,... mà chỉ có nhiêm vụ sản xuất ra
sản phẩm được giao, đồng thời cũng không bị ràng buộc về trách nhiệm và kết quả sản
xuất kinh doanh. Bởi vậy mà mất đi năng lực cạnh tranh và sáng tạo của một doanh 8
nghiệp thực sự, đơn giản làm việc theo yêu cầu. Bên cạnh đó, xã hội cũng xuất hiện
tình trạng cầu nhiều - cung thiếu do bộ máy quản lý vô cùng cồng kềnh mà thậm chí không cần thiết.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan hệ H-T (hàng hóa - tiền tệ) chỉ
là hình thức, nhà nước quản lý kinh tế theo chế độ “cấp phát - giao nộp”. Điều này làm
cho loại hàng hóa đặc biệt là sức lao động hay bằng phát minh sáng chế không được
coi là hàng hóa về mặt pháp lý. Bởi vậy mà người lao động cũng không thể được trả
công xứng đáng cho sức lao động hay sáng tạo mà mình bỏ ra. Bên cạnh đó, người lao
động là trở thành người làm thuê cho các doanh nghiệp Nhà nước và hợp tác xã, là lực
lượng chính, bỏ sức lao động của mình tạo ra của cải cho xã hội nhưng của cải đó lại
không thuộc về họ, bởi cơ chế mọi của cải làm ra đều được phân phối bình quân. Qua
các hình thức như bao cấp qua giá, bao cấp qua chế độ tem phiếu, bao cấp theo chế độ
cấp phát đã biến chế độ tiền lương thành hiện vật, thủ tiêu động lực kích thích người
lao động, nảy sinh cơ chế “xin – cho”, tăng gánh nặng đối với ngân sách. Ngoài ra, có
thể nói, mô hình này làm hạn chế sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, kìm
hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, gây rối loạn trong phân phối lưu thông
và gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội như tham ô, lãng phí. Đây chính là
căn nguyên cho vấn đề giá - lương - tiền trong kinh tế nước ta lúc bấy giờ. cầu nhiều cung thiếu
Tiếp đó, cơ chế này cũng góp phần lớn tạo nên nạn quan liêu, lộng quyền trong
đội ngũ cán bộ công chức của các cơ quan hành chính nhà nước. Bộ máy nhà nước
cồng kềnh, nhiều cấp trung gian, lại kém năng động sinh ra đội ngũ quản lý kém năng
lực, cửa quyền, quan liêu nhưng lại được hưởng quyền lợi cao hơn người lao động.
Điều này cũng liên quan tới việc làm triệt tiêu động lực kinh tế của người lao động
được đề cập phía trên.
Về kinh tế đối ngoại, giao lưu thương mại của nước ta khi áp dụng mô hình
kinh tế kế hoạch hóa tập trung rất hạn chế, chủ yếu chỉ trao đổi ngoại thương với các
nước XHCN với thực chất là trao đổi trực tiếp hàng lấy hàng, không có giao dịch có
giá trị ngoại tệ. Nhà nước cũng thực hiện độc quyền ngoại thương, hay thực tế mà
hiểu, là một nền kinh tế khép kín.
Khi nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên việc
áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại thì cơ chế 9
quản lý này càng bộc lộ những khiếm khuyết của nó, làm cho nền kinh tế các nước xã
hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng.
Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung thực sự phù hợp với nước ta
trong giai đoạn đầu áp dụng, bởi cơ chế này đã đáp ứng được những yêu cầu tất yếu
của thời chiến, tạo sức mạnh tổng hợp, tận dụng tối đa sức mạnh của toàn dân, góp
phần quan trọng trong thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Tuy nhiên, sau năm 1975, khi đất nước đã được thống nhất, toàn vẹn, cơ chế đó không
còn phù hợp nữa, và việc duy trì cơ chế khiến cho kinh tế nước ta lâm vào tình trạng
rối ren, khủng hoảng nghiêm trọng. Mọi lĩnh vực kinh tế đều có vấn đề, trong nông
nghiêp, công nghiệp, tài chính (giá - lương - tiền), thương mại,... đều gặp phải ách tắc.
Điều này đặt vấn đề cho Đảng ta cần phải đưa ra những quyết định đúng đắn,
phù hợp để xây dựng và phát triển kinh tế, cần phải thay đổi dứt khoát, nhìn nhận được
những hạn chế, sai lầm của mình để có thể bước những bước vững chắc trên con
đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là nguyên nhân trực tiếp cho quyết định thay
đổi tư duy kinh tế của Đảng, dẫn tới những bước đột phá về kinh tế trong Hội nghị
Trung ương lần 6 năm 1979, Hội nghị Trung ương lần 8 năm 1985 và Hội nghị Bộ
Chính trị khóa V năm 1986.
II. Ba bước đột phá đầu tiên trong đổi mới tư duy kinh tế
1. Bước Đột Phá Thứ Nhất: Hội nghị Trung ương 6 (T8/1979)
1.1. Hoàn cảnh
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và hoàn thành thống
nhất đất nước về mặt nhà nước, cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn đất nước
độc lập, thống nhất. Đây là con đường phát triển hợp quy luật nước ta, là điều kiện tiên
quyết để đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. “Trong thời đại ngày nay, khi độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội không tách rời nhau và ở nước ta, khi giai cấp công nhân giữ
vai trò lãnh đạo cách mạng thì thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng
là sự bắt đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa”.
Đứng trước những khó khăn về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, Ban Chấp
hành Trung ương Đảng đã quyết định triệu tập Hội nghị lần thứ sáu, khóa IV(8-1979)
nhằm tập trung bàn về phương hướng phát triển nông nghiệp, hàng tiêu dùng và công
nghiệp địa phương để khắc phục tình trạng khan hiếm hàng tiêu dùng thiết yếu và thúc
đẩy công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp phát triển. 10
1.2. Chủ trương
Chủ trương đổi mới kinh tế được quyết định trong Hội nghị là khắc phục những
khuyết điểm, sai lầm trong quản lý kinh tế, trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, phá bỏ
những rào cản, tìm kiếm lối thoát” cho nền kinh tế ra khỏi khủng hoảng, trì trệ để cho
“sản xuất bung ra”tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển…; đồng thời được tự
do lưu thông hàng hóa, xóa bỏ “ngăn sông, cấm chợ”
1.2.1. Trong công nghiệp
1.2.1.1. Tình hình- Nguyên nhân
Từ những năm 1979 - 1985, nhiều địa phương ở miền Nam, trong đó có Long
An và TPHCM, đã “xé rào”, định hình nền kinh tế “bù giá”. Nhưng tất cả đều là làm
“chui”, làm thử có kết quả mới đưa ra Trung ương bàn. Cụ thể, đứng trước tình hình
thiếu hụt nghiêm trọng nguồn lực do viện trợ từ nước ngoài những năm 1980 giảm dần,
Nhà nước không thể cung cấp đủ đầu vào cho nông dân phân bón, xăng dầu, thuốc trừ
sâu và vật tư chiến lược cho các đơn vị sản xuất, nhiều nơi đã chủ động “bung ra”, tự
tìm nguồn cung cấp đầu vào ở thị trường tự do. Đầu vào cho sản xuất phải mua bằng
giá đắt, dẫn đến Nhà nước không thể đòi nông dân và nhà sản xuất bán sản phẩm cho
Nhà nước theo giá thấp. Từ chỗ Nhà nước không bảo đảm được cung cấp đầu vào thì
cũng không thể kế hoạch hóa đầu ra, và bắt buộc phải công nhận sự tồn tại của thị
trường tự do với mặt bằng giá cao hơn Nhà nước quy định. Thực tế này đã đẩy Nhà
nước vào chỗ không mua đủ và cũng không nhập khẩu đủ lương thực để bảo đảm cung
cấp cho lực lượng phi nông nghiệp, trong đó có một bộ phận rất lớn cán bộ, công nhân
viên và quân đội. Đến đây vấn đề lớn nhất là giá- lương -tiền.
Rõ nét nhất là cơ chế giá cả. Sự áp đặt chủ quan, tùy tiện trong định giá đã tạo
ra sự chênh lệch lớn giữa giá thị trường tự do với giá chỉ đạo của nhà nước. Khoản
chênh lệch ấy chính là miếng mồi béo bở cho các hoạt động bòn rút hàng từ tay nhà
nước sang túi các cá nhân. Đời sống của cán bộ, công nhân viên chức, lực lượng vũ trang ngày càng khó khăn.
Năm 1979, lương của công nhân viên chức chỉ là 51,95 đ/tháng. Tức là với mức
lương này nếu năm 1976 tương đương 70 kg gạo thì năm 1979 chỉ là 11 kg Trong khi
đó, thu nhập bình quân của một lao động trong nông nghiệp là 105 đ/tháng, của một
tiểu thương kinh doanh nhỏ là 573 đ/tháng, kinh doanh vừa 702 đ/tháng và kinh doanh
lớn là 877 đ/tháng. Lương quá thấp nên công nhân viên chức tìm mọi cách để lo toan 11
cuộc sống gia đình. Vì lương kịp theo giá nên Hàng ngàn công nhân, viên chức, giáo
viên xin nghỉ hoặc tự bỏ việc để đi buôn, làm ruộng hoặc làm thuê kiếm sống.
Lúc đó, một số tỉnh thành ở phía nam mà cụ thể là Long An đã có những quyết
định táo bạo. Sau khi lĩnh toàn bộ định mức hiện vật trong tháng về, mặt hàng xà bông
được chọn để bán ra thị trường. Để tránh đầu cơ và đề phòng tình huống xấu bất ngờ,
xà bông được chia để bán làm 3 lần. Giá bán cao gấp 10 lần giá phân phối và tương
đương giá chợ. Lương của viên chức tháng đó đã được cộng thêm định mức của mặt
hàng xà bông theo giá thị trường. Ai muốn mua xà bông thì ra chợ, thoải mái lựa chọn,
không phải lo mua dự trữ. Vì thế giá xà bông đã giảm rất nhiều. Lần đầu tiên một mặt
hàng không phân phối nhưng cũng không thiếu ngoài chợ hay cửa hàng quốc doanh.
Bước thử nghiệm đã thành công. Tiếp theo đó, trong 3 tháng cuối năm 1979, tất cả các
mặt hàng phân phối (trừ gạo) đều được Long An bán ra thị trường. Toàn bộ số hiện vật
của cán bộ, viên chức được quy ra tiền theo giá thị trường và cộng vào lương hằng
tháng. Giải pháp “bù giá vào lương” đã gây một hiệu ứng tích cực.
1.2.1.2. Phương hướng
Với tình hình trên Chính phủ đã ban hành Quyết định số 25 CP (1/1981) về
quyền sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ tài chính của các xí nghiệp quốc doanh và
Quyết định số 26 CP về việc mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và
vận dụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất kinh doanh của nhà nước.
Quyết định số 25 CP (1/1981)
Xác định lại phương hướng nhiệm vụ của các xí nghiệp sát với điều kiện cụ
thể hiện nay: Những xí nghiệp có vị trí kinh tế quan trọng thì phải được bảo đảm
những phương tiện vật chất một cách tập trung và được giao các điều kiện để hoạt
động một cách ổn định. Những xí nghiệp có vị trí kinh tế quan trọng thì phải được bảo
đảm những phương tiện, vật chất một cách tập trung và được giao các điều kiện để
hoạt động một cách ổn định. Xí nghiệp không có khả năng tiếp tục hoạt động thì cho
tạm ngừng sản xuất, tổ chức bảo quản tốt thiết bị, giải quyết thỏa đáng vấn đề sắp xếp
công việc làm cho công nhân viên và giữ gìn số cán bộ, công nhân kỹ thuật nòng cốt
Cải tiến công tác kế hoạch hoá: trên cơ sở phương hướng và nhiệm vụ sản
xuất, kinh doanh mới và phù hợp với điều kiện hiện nay, xí nghiệp quốc doanh xã hội
chủ nghĩa phải không ngừng mở rộng phạm vi kế hoạch hoá, phát huy tính chủ động 12
của mình nhằm tận dụng các năng lực hiện có và tiềm năng, đạt hiệu quả kinh tế ngày càng cao.
Ngoài nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước giao, Nhà nước khuyến khích xí nghiệp chủ
động sản xuất thêm sản phẩm chính, sản phẩm phụ, làm các công việc có tính chất
công nghiệp (đối với xí nghiệp sản xuất) hoặc mở rộng diện kinh doanh (đối với xí
nghiệp thương nghiệp) nếu xí nghiệp còn năng lực sản xuất và có khả năng tự cung
ứng những điều kiện vật chất.
Như vậy, kế hoạch của xí nghiệp bao gồm ba phần: Phần Nhà nước giao có vật
tư bảo đảm; Phần xí nghiệp tự làm; Phần sản xuất phụ.
Hạch toán giá thành và giá cả:
- Hạch toán giá thành:
Đối với các xí nghiệp sản xuất ổn định, hoạt động theo chỉ tiêu kế hoạch Nhà
nước giao và được Nhà nước cung ứng tương đối đầy đủ điều kiện vật chất, phải thực
hiện hạch toán kinh tế và tính toán giá thành sản phẩm theo đúng chế độ hiện hành dựa
trên những định mức về hao phí vật chất đã được quy định và tính theo giá chỉ đạo của
Nhà nước. Phải ra sức phấn đấu thực hiện tiết kiệm trong sản xuất và quản lý để nâng cao mức lợi nhuận
Đối với các xí nghiệp vừa thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước giao, vừa
thực hiện phần kế hoạch tự làm bằng nguyên liệu mà xí nghiệp tự thu mua được, cần
kế toán riêng khoản chi về nguyên vật liệu tự mua. Trên cơ sở đó mà xác định giá
thành và giá bán sản phẩm.
- Về giá cả:
Đối với những sản phẩm sản xuất theo kế hoạch Nhà nước giao, có vật tư bảo
đảm, sẽ căn cứ vào giá thành kế hoạch hợp lý và lợi nhuận xí nghiệp định mức để quy
định giá bán buôn xí nghiệp. Các giá bán buôn công nghiệp, chiết khấu thương nghiệp
và giá bán lẻ (hoặc giá bán buôn vật tư, nếu là tư liệu sản xuất) đều phải theo giá chỉ đạo.
Đối với những sản phẩm sản xuất theo kế hoạch tự làm thì giá bán buôn xí
nghiệp phải dựa trên cơ sở giá thành tính theo giá mua nguyên, vật liệu thoả thuận và
lợi nhuận xí nghiệp định mức tính trên cơ sở giá thành này. Lợi nhuận định mức (tính
theo số tuyệt đối) được tính gấp từ hai đến bốn lần lợi nhuận định mức đối với sản
phẩm sản xuất theo kế hoạch Nhà nước giao. 13
Hội đồng Chính phủ giao trách nhiệm cho Bộ chủ quản, Bộ Tài chính , Uỷ ban
Vật giá Nhà nước quy định mức tăng cụ thể về định mức lợi nhuận, phù hợp với từng ngành, từng xí nghiệp
Quyết định 26 CP (1/1981)
- Các Bộ quản lý sản xuất, kinh doanh, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố
căn cứ các nguyên tắc nói trên và tình hình đặc điểm của ngành kinh tế kỹ thuật và
từng đơn vị trực thuộc để ban hành các định mức lao động (định mức ngành hoặc định
mức địa phương) và đơn giá tiền lương cho một đơn vị sản phẩm và đơn giá lũy tiến,
để thi hành cho cả năm 1981.
Ngoài lương khoán, thu nhập của công nhân, viên chức trong xí nghiệp còn có
thể được tăng thêm do việc bổ sung tiền thưởng trích từ quỹ lương hoặc từ lợi nhuận xí
nghiệp. Cơ sở để trả lương khoán, lương sản phẩm và tiền thưởng phải căn cứ vào sự
ghi chép, hạch toán và kiểm tra chặt chẽ số lượng và chất lượng sản phẩm khi nhập kho.
- Các Bộ và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố căn cứ vào đặc điểm tình hình
sản xuất của từng ngành, từng cơ sở, hướng dẫn việc áp dụng các hình thức trả lương
khoán, lương theo sản phẩm thích hợp như khoán công việc, khoán tập thể hoàn thành
một bản thành phẩm, khoán sản phẩm cuối cùng, lương trả theo sản phẩm trực tiếp cho
cá nhân, lương theo sản phẩm lũy tiến, lương theo sản phẩm gián tiếp.
Các hình thức trả lương nói trên có thể áp dụng cho toàn bộ dây chuyền sản
xuất, cho các phân xưởng chính, phụ, phụ trợ trong xí nghiệp.
Trong việc trả lương khoán, lương theo sản phẩm, phải chú ý gắn lợi ích của
mỗi người lao động, kể cả người lao động phục vụ cho việc sản xuất ra sản phẩm đó
(quản lý, cung ứng, kỹ thuật, y tế, giữ trẻ, cấp dưỡng, bảo vệ, v.v...) với kết quả sản
phẩm cuối cùng, bảo đảm các mối quan hệ hợp tác sản xuất, kinh doanh và quản lý được tốt.
Đối với trường hợp không thể trả lương theo sản phẩm được mà phải trả lương
theo thời gian thì áp dụng việc trả lương theo thời gian định mức có thưởng.
- Các cơ quan quản lý sản xuất, kinh doanh, có thể áp dụng hình thức trả lương
gắn với kết quả sản xuất cuối cùng theo các loại hình thức sau đây:
Đối với một số xí nghiệp sản xuất có tính chất khai thác, có thể áp dụng cách
làm khoán và trả lương khoán tập thể theo sản phẩm cuối cùng 14
Đối với các ngành sản xuất có tính chất chế biến có thẻ áp dụng các hình thức
trả lương khoán tập thể thích hợp.
Đối với ngành xây dựng, cần áp dụng hình thức khoán gọn công trình, hay hạng
mục công trình, khoán khối lượng công việc riêng lẻ cho tổ, cá nhân, khoán theo từng
dây chuyền sản xuất cho đội, tổ.
Trong ngành vận tải, cần trả lương khoán theo các định mức tổng hợp số
tấn/kilômét hay hành khách/kilômét, kết hợp với định mức tiêu hao xăng dầu, bảo quản
xe, tàu; có thể khoán cho mỗi xe, tàu và mỗi chuyến xe, tàu.
Trong ngành cung ứng vật tư, thương nghiệp, dịch vụ, có thể trả lương theo
doanh số (tính bằng hiện vật hoặc bằng giá trị ) kết hợp với việc khen thưởng về chất
lượng phục vụ như đảm bảo chất lượng phục vụ, thời gian và thái độ phục vụ..
- Tiền thưởng từ quỹ lương được tăng lên bằng 10%:
Các xí nghiệp phải coi trong việc thưởng tiết kiệm nguyên liệu, vật liệu, nhất là
tiết kiệm điện năng, nhiên liệu và các loại vật tư nhập khẩu. Xí nghiệp phải tích một
phần số tiền thu được do tiết kiệm nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu... dưới định mức để
thưởng cho người có thành tích.
1.2.2. Trong nông nghiệp
1.2.2.1. Tình hình – Nguyên nhân
Sau năm 1954, tình hình sản xuất nông nghiệp miền Bắc nói chung và tỉnh Vĩnh
Phúc nói riêng đã đạt được một số kết quả quan trọng. Tuy nhiên, nền nông nghiệp
miền Bắc đang chịu tác động mạnh mẽ bởi cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, mệnh
lệnh, hành chính, công tác quản lý trong hợp tác xã mà nội dung chủ yếu là cơ chế
“khoán việc” dần dần bộc lộ nhiều khuyết điểm, dẫn đến sản xuất nông nghiệp sa sút,
đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Tình hình trên có nhiều nguyên nhân, trong đó
là việc áp dụng cơ chế tập trung bao cấp đối với hợp tác xã. Đến đầu thập niên 60,
phương thức quản lý lao động ở tất cả các hợp tác xã rơi vào bế tắc khi trình độ quản
lý của người quản lý (ban chủ nhiệm hợp tác xã) không đáp ứng yêu cầu, nhiều vấn đề
bất hợp lý bắt đầu lộ diện ngay trong chính những địa phu. Tình trạng thiếu trách
nhiệm, “cha chung không ai khóc” trong quản lý, bảo vệ tài sản, công cụ sản xuất
khiến một phần đất đai bị bỏ hoang, sức kéo (trâu bò) giảm sút, công cụ (cày cuốc)
chóng hư hỏng. Việc “dong công, phóng điểm” khiến thu nhập của người trực tiếp sản 15
xuất bị ăn bớt bởi các nhà quản lý. Tình trạng “lãn công”, đi muộn, về sớm, lười biếng,
ỉ lại… dần thành bệnh của những người nông dân vốn “hai sương, một nắng”.
Trước tình hình trên và từ kinh nghiệm thực tế, qua lắng nghe, tập hợp mọi ý
kiến của người nông dân cùng với tư duy đổi mới, sáng tạo, đồng chí Kim Ngọc,
người đứng đầu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, đã nhận thấy trong cơ chế vận hành kinh tế
nông nghiệp lúc đó chứa đựng nhiều nội dung không phù hợp, xa rời thực tiễn, không
gắn với lợi ích thiết thân của người nông dân. Hậu quả tất yếu là nông nghiệp đình
đốn, hợp tác xã tan rã, đời sống nông dân ngày càng khó khăn, thiếu lương thực trầm
trọng. Sau một thời gian trăn trở, tìm tòi đổi mới trong quản lý nông nghiệp, ngày
10/9/1966, dưới sự chủ trì của đồng chí Kim Ngọc, Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc ra Nghị quyết
số 68- NQ/TU “Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong hợp tác xã hiện
nay”, sau này nhân dân gọi là “khoán hộ”.
“Khoán hộ” đã giải quyết một vấn đề rất cơ bản là giải phóng sức sản xuất đang
bị kìm hãm bởi cơ chế quản lý không phù hợp, xa rời thực tiễn sản xuất nông nghiệp;
phát huy sự chủ động, năng động, những tiềm năng dồi dào trong nhân dân, khắc phục
tình trạng dân chủ hình thức, biến người nông dân thành người chủ đích thực trong sự
ràng buộc bởi yếu tố lợi ích. Tuy vậy, ở thời điểm đó “khoán hộ” bị coi là “đốt cháy
giai đoạn”, không phù hợp với chủ trương đẩy mạnh phong trào hợp tác hóa của Trung
ương và được coi là một sự “vượt rào”, vi phạm “nghiêm trọng” đường lối của Đảng
về phát triển nông nghiệp thời bấy giờ, nên không thể triển khai rộng rãi. Trên thực tế,
“khoán hộ” ở Vĩnh Phúc vẫn lan tỏa, được vận dụng “chui” không chỉ ở Vĩnh Phúc mà
cả một số địa phương ở miền Bắc.
1.2.2.2. Phương hướng
Thực hiện tinh thần làm cho “sản xuất bung ra" của Đảng, Chính phủ đã lần
lượt công bố một loạt những quyết định mới về kinh tế như: Quyết định ngày
16/8/1979 về việc bãi bỏ các trạm kiểm soát có tính chất ngăn sông cấm chợ, ngăn cản
việc lưu thông hàng hoá. Quyết định ngày 10/9/1979 về việc khuyến khích tận dụng
ruộng đất trong nông nghiệp vào sản xuất. Quyết định ngày 3/10/1979 về chính sách
khuyến khích phát triển chăn nuôi trâu bò không hạn chế về số lượng, sản phẩm chăn
nuôi được tự do sử dụng, trao đổi mua bán, xóa bỏ mọi hình thức cấm vận trâu bò.
Quyết định ngày 13/10/1979 về việc mở rộng kinh doanh theo nguyên tắc hợp đồng
kinh tế hai chiều giữa nhà nước và cơ sở sản xuất. Ngoài sản phẩm nộp nghĩa vụ và 16
hợp đồng, khuyến khích trao đổi theo giá thoả thuận. Quyết định ngày 5/11/1979 về
chính sách phân phối thu nhập trong hợp tác xã và tập đoàn sản xuất nông nghiệp, thừa
nhận phân phối bằng tiền và hiện vật, bảo đảm nguyên tắc phân phối theo lao động
nhằm kích thích sản xuất nông nghiệp phát triển.
Trước hiện tượng “khoán chui” trong hợp tác xã nông nghiệp ở một số địa
phương, sau khi tổ chức thí điểm, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 100-CT/TW (1-
1981) về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã nông
nghiệp. Theo Chỉ thị, mỗi xã viên nhận mức khoán theo diện tích và tự mình làm các
khâu, cấy, chăm sóc và thu hoạch, còn những khâu khác do hợp tác xã đảm nhiệm.
Thu hoạch vượt mức khoán sẽ được hưởng và tự do mua bán.
1.3. Kết quả thực tiễn
Chỉ thị 100 ban hành, nông nghiệp như được "cởi trói", bước đầu khơi dậy tinh
thần làm chủ, phấn khởi của người lao động, tạo động lực thúc đẩy nông nghiệp phát
triển và các địa phương, các cấp và nhân dân nhiệt liệt tán thành. Sản lượng lương thực
bình quân từ 13,4 triệu tấn/năm thời kỳ 1976-1980 tăng lên 17 triệu tấn/năm thời kỳ
1981-1985; những hiện tượng tiêu cực, lãng phí trong sản xuất nông nghiệp giảm đi
đáng kể. Việc thực hiện “khoán mới” đã kích thích người nông dân hăng hái sản xuất,
chủ động trong công việc, tích cực chăm sóc, thâm canh nên năng suất và sản lượng
cây trồng đều tăng; tận dụng được thời gian, nguồn lao động và đất đai; việc đóng
thuế, bán sản phẩm cho Nhà nước ở nhiều cơ sở làm nhanh gọn hơn trước.
Quyết định 25/CP cùng với Quyết định 26/CP đã bước đầu tạo ra động lực mới
cho lĩnh vực công nghiệp, góp phần thúc đẩy sản xuất công nghiệp đạt kế hoạch, riêng
công nghiệp địa phương vượt kế hoạch 7,5%.
Thực hiện những chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước, ý thức tự
giác của người lao động được nâng cao, tác động tốt đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh
của địa phương. Nhờ vậy, sản xuất từng bước có phát triển, đời sống các tầng lớp nhân
dân đã phần nào giảm bớt khó khăn. Tuy nhiên, tình hình vẫn còn nhiều yếu tố mất ổn
định. Nền kinh tế của cả nước vẫn chìm sâu vào khủng hoảng. Những hạn chế trên
trước hết là do khả năng lãnh đạo và năng lực quản lý của ta còn nhiều mặt hạn chế.
Nhưng nguyên nhân sâu xa còn do những chủ trương đổi mới lúc bấy giờ vẫn trong
giai đoạn thử nghiệm, tìm tòi, mang tính chất từng mặt, từng phần, chưa triệt để, toàn 17
diện, việc thực hiện của địa phương cũng chỉ là góp phần trải nghiệm nhằm tổng kết
thực tiễn để tiếp tục hoàn chỉnh thêm đường lối đổi mới của Đảng.
1.4. Những đánh giá về bước đột phá thứ nhất 1.4.1. Ưu điểm.
Đầu tiên, những Quyết định được đưa ra mang tính đột phá, thể hiện bước phát
triển trong tư duy của Đảng về vấn đề kinh tế. Bởi, khi Đảng nhận thấy những sai lầm
và khuyết điểm thì Đảng đã tìm tòi và thay đổi, cụ thể là nhận ra những sai lầm của cơ
chế quan liêu bao cấp, biến các tư liệu sản xuất chủ yếu của nền kinh tế quốc dân trở
thành vô chủ, và được sử dụng hết sức bừa bãi, lãng phí, và biến người lao động trở
thành những người làm thuê họ là lực lượng chủ yếu tạo ra của cải cho xã hội, nhưng
lại không phải là chủ nhân của chúng, Đội ngũ cán bộ công chức của các cơ quan hành
chính Nhà nước trở nên quan liêu, lộng quyền, hách dịch. do đó Đảng đã có những
quyết định mang tính chất đột phá, loại bỏ cơ chế quan liêu bao cấp.
Những quyết định này đã giúp tháo gỡ những cơ chế kìm hãm sự phát triển làm
cho sản xuất bung ra. Đề ra những phương hướng và giải pháp để giải phóng sức lao
động và giải hỏa cho lưu thông trong bối cảnh đang bị kìm hãm. Vạch ra đường hướng
để gỡ bỏ những ách tắc về cơ chế, không chỉ đối với sản xuất hàng tiêu dùng mà còn
đối với mọi lĩnh vực, không chỉ với công nghiệp địa phương hay sản xuất hàng tiêu
dùng, mà còn cả nông nghiệp thương nghiệp, tài chính và tiền tệ 1.4.2. Hạn chế.
Tuy vậy, những người trong hàng ngũ lãnh đạo Đảng vẫn chưa kịp nhận thức
đầy đủ những khuyết tật của cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp.
Đó là một cơ chế chủ yếu được quả lý bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống
chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới. Các doanh nghiệp hoạt động trên
cơ sở các quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh
được giao mà không có điều tra, nghiên cứu thị trường. Tất cả phương hướng sản xuất,
nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương… đều
do các cấp có thẩm quyền quyết định. Mọi sự thay đổi trong kế hoạch và tổ chức thực
hiện đều phải báo cáo lên cơ quan chủ quản. Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát
vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho Nhà nước. Lỗ thì
Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu. Bởi vậy cho nên bước đột phá này chỉ tính chất cục 18
bộ, bộ phận chứ chưa toàn diện và triệt để. những quyết định này chỉ đối với một số
ngành trong nông nghiệp, công nghiệp hay phân phối mà chưa toàn diện.
Ngoài ra trong quá trình thực hiện các quyết định lại vấp phải tình trạng những
người lãnh đạo tại các cấp dưới không thực hiện vì vậy không có tính đồng bộ, cho nên
dù những quyết định này đã được đưa ra từ năm 1979 nhưng cho đến những năm 1983,
1984, 1985 tình trạng kinh tế việt năm lại trở nên khủng hoảng nặng nề. Lạm phát bị
đẩy lên mức 700-800%, tem phiếu phân phối thiếu thốn, người dân không đủ lương
thực. Bốn mặt hàng dân dụng phụ thuộc lớn vào viện trợ của Liên Xô là xăng dầu;
lương thực, bột mì; bông xơ phục vụ ngành dệt; phân bón thì lượng viện trợ giảm dần.
Kinh tế đất nước gần như kiệt quệ 1.5. Ý nghĩa
Hội nghị trung ương 6 được coi là dấu mốc đầu tiên đánh dấu sự khởi đầu về cả
tư duy lẫn đường lối kinh tế, đây là điểm khởi đầu có ý nghĩa rất quan trọng, vì nó đã
hé mở ra một số hướng đi mới mà trước đây thường bị coi là cấm kỵ .Và từ đó đất
nước từng nước đi tiếp đến đổi mới toàn diện và triệt để hơn trong những năm sau.
Những Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 6 vừa như một luồng gió mới, vừa
như một lá bùa "hộ mệnh" để các địa phương, các ngành thêm năng động sáng tạo
trong việc "phá rào" nhằm tìm kiếm những giải pháp khắc phục những ách tắc trong
sản xuất, lưu thông, giải tỏa những bức xúc trong cuộc sống. Hội nghị Trung ương lần
thứ 6 năm 1979 chính là cú hích dẫn tới hàng loạt sự đột phá tiếp theo trong đời sống kinh tế
2. Bước Đột Phá Thứ Hai: Hội nghị Trung ương 8 T6/1985
Được diễn ra tại Đại hội V của Đảng, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành
Trung ương là một mốc đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Đảng và nhân dân
ta trên mặt trận kinh tế. Tại đây, toàn thể ban lãnh đạo của Đảng cùng phối hợp với các
bên nghiên cứu điều tra đã đưa ra được những nhận thức, tư duy mới, phát triển hơn
góp phần đóng góp vào việc hoàn thành phương hướng, chiến lược mới sao cho phù
hợp với thực tiễn đất nước lúc bấy giờ. Hội nghị này được coi là bước đột phá thứ hai
trong quá trình tìm tòi, đổi mới kinh tế của Đảng.
2.1. Hoàn cảnh
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám được diễn ra trong một hoàn
cảnh khá thuận lợi khi sau hai hội nghị lần thứ sáu và bảy, nhiều địa phương và cơ sở 19
sản xuất đã mạnh dạn đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện hạch toán, kinh doanh
xã hội chủ nghĩa. Việc áp dụng chính sách mới sau hai hội nghị trước đã cho thấy
nhiều chuyển biến tích cực; việc bù giá vào lương, đưa lương vào giá đã tạo điều kiện
thuận lợi để chuyển sang cơ chế quản lý mới.
2.2. Chủ trương
Tại Hội nghị này, Trung ương chủ trương triệt để xoá bỏ quan liêu bao cấp
trong giá và lương là yêu cầu hết sức cấp bách, là khâu đột phá có tính quyết định để
chuyển hẳn nền kinh tế sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa nhằm thúc đẩy
sản xuất phát triển, làm chủ thị trường xã hội và cải thiện một bước đời sống nhân dân ta.
Cụ thể hơn, nội dung xóa quan liêu, bao cấp trong giá và lương là tính đủ chi
phí hợp lý trong giá thành sản phẩm; giá cả bảo đảm bù đắp chi phí thực tế hợp lý,
người sản xuất có lợi nhuận thoả đáng và Nhà nước từng bước có tích luỹ; xoá bỏ tình
trạng Nhà nước mua thấp, bán thấp và bù lỗ; thực hiện cơ chế một giá trong toàn bộ hệ
thống, khắc phục tình trạng thả nổi trong việc định giá và quản lý giá. Thực hiện cơ
chế một giá, xoá bỏ chế độ bao cấp bằng hiện vật theo giá thấp, chuyển mọi hoạt động
sản xuất, kinh doanh sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Giá, lương, tiền coi
là khâu đột phá để chuyển đổi cơ chế. Thực hiện trả lương bằng tiền có hàng hoá bảo
đảm, xoá bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp, thoát ly giá trị hàng hoá. Xoá bỏ
các khoản chi của ngân sách trung ương, địa phương mang tính chất bao cấp tràn lan.
Nhanh chóng chuyển hẳn công tác ngân hàng sang hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
Thực tế cho thấy, các chủ trương trên của Hội nghị Trung ương 8 lần này đã
thừa nhận sản xuất hàng hóa và những quy luật sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế
quốc dân. Các Hội nghị Trung ương 6 (7/1984) và 7 (12/1984) trước đó đã từng bước
chủ trương xác định kế hoạch bước đầu làm tiền đề cho Hội nghị Trung ương 8.
Tỉnh Long An là địa phương đầu tiên mạnh dạn thí điểm đề án giá - lương -
tiền, nhanh chóng xóa bỏ cơ chế bao cấp, xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, rồi lôi kéo lực
lượng tư thương hợp với thương nghiệp nhà nước hình thành mạng lưới lưu thông hàng hoá. 20