



















Preview text:
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SỰ RA ĐỜI ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI........2
1.1. Nguyên nhân trong nước........................................................................................2 1.1.1.
Sự bất cập, hạn chế của cơ chế quản lý kinh tế cũ.............................................2 1.1.2.
Sự khủng hoảng trầm trọng kinh tế - xã hội trong nước.....................................3 1.1.3.
Xuất hiện đổi mới từng phần..............................................................................4
1.2. Nguyên nhân thế giới..............................................................................................6 1.2.1.
Công cuộc cải cách, cải tổ tại các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt ở Trung
Quốc và Liên Xô..............................................................................................................6 1.2.2.
Sự phát triển của khoa học, công nghệ...............................................................9 1.2.3.
Sự thích nghi, tự điều chỉnh của các nước tư bản chủ nghĩa............................10
CHƯƠNG 2. ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI ĐƯỢC THÔNG QUA TẠI ĐẠI HỘI VI.........13
2.1. Khái quát về Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng.........................13
2.1.1. Giới thiệu chung..................................................................................................13
2.1.2. Khái quát chung...................................................................................................15
2.2. Nội dung đường lối đổi mới..................................................................................17
2.3. Ý nghĩa của đường lối đổi mới được thông qua tại Đại hội VI..........................26
2.3.1. Kinh tế.................................................................................................................26
2.3.2. Chính trị - xã hội..................................................................................................26
2.3.3. Cá nhân và thế hệ trẻ...........................................................................................27
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT ( BÀI HỌC KINH NGHIỆM)..............................29
KẾT LUẬN.........................................................................................................................32
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................33
LỜI MỞ ĐẦU
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986 đã đánh dấu một bước ngoặt
quan trọng trong lịch sử phát triển của đất nước với việc thông qua đường lối đổi mới.
Đường lối đổi mới không chỉ phản ánh những thay đổi sâu sắc trong nhận thức và tư duy
của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội, mà còn là kết quả của quá trình nghiên cứu, tổng kết
kinh nghiệm và phản ứng trước những yêu cầu, thách thức của thực tiễn. Trong bối cảnh đất
nước đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ khủng hoảng kinh tế, xã hội và áp lực từ
tình hình quốc tế, đường lối đổi mới ra đời đã mở ra một trang mới cho sự phát triển của
Việt Nam. Bài thảo luận này sẽ đi sâu phân tích các nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của
đường lối đổi mới của Đảng năm 1986, từ đó làm rõ tầm quan trọng và ý nghĩa của sự đổi
mới này đối với công cuộc phát triển của đất nước. 1
CHƯƠNG 1: NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SỰ RA ĐỜI ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI 1.1.
Nguyên nhân trong nước
1.1.1. Sự bất cập, hạn chế của cơ chế quản lý kinh tế cũ
Trước năm 1986, Việt Nam áp dụng cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung,
hay còn gọi là cơ chế bao cấp. Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn chiến tranh
và khôi phục đất nước, nhưng khi bước vào thời kỳ hòa bình, mô hình này bộc lộ nhiều bất
cập nghiêm trọng, kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính, áp đặt từ trên
xuống dưới. Các cơ quan hành chính can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh
nhưng không chịu trách nhiệm vật chất hay pháp lý đối với quyết định của mình, khiến
doanh nghiệp thụ động, thiếu sáng tạo và hoạt động kém hiệu quả.
Cơ chế kế hoạch hóa tập trung cũng coi nhẹ vai trò của thị trường và quan hệ hàng hóa
– tiền tệ, thay vào đó ưu tiên quan hệ hiện vật. Hàng hóa được phân phối theo chế độ "cấp
phát - giao nộp", hạn chế sự phát triển của thị trường và kìm hãm lưu thông hàng hóa
Bộ máy quản lý nhà nước trong cơ chế này cồng kềnh, nhiều cấp trung gian, kém linh
hoạt. Đội ngũ cán bộ quản lý vừa thiếu năng lực, vừa mang tư tưởng quan liêu, cửa quyền,
nhưng lại được hưởng đặc quyền cao hơn người lao động. Điều này dẫn đến sự lãng phí
nguồn lực và hiệu quả quản lý thấp.
Mô hình bao cấp còn triệt tiêu cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học - kỹ thuật, làm
suy giảm động lực lao động. Các doanh nghiệp không có động lực đổi mới hay sáng tạo,
dẫn đến năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm kém và không đáp ứng được nhu cầu thị trường.
Bên cạnh đó, cơ chế này tập trung vào kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, trong khi
các thành phần kinh tế khác bị hạn chế hoặc không được chú trọng. Sự mất cân đối này cản
trở sự phát triển toàn diện của nền kinh tế.
Hệ quả của những hạn chế trên là khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng: sản xuất
đình trệ, lạm phát leo thang, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, các hiện tượng tiêu cực
trong xã hội gia tăng. Công bằng xã hội bị vi phạm, lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo
của Đảng và Nhà nước suy giảm. 2
Những bất cập của cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi
mới. Việt Nam cần chuyển sang một mô hình quản lý kinh tế linh hoạt hơn, phù hợp với
quy luật thị trường để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.
1.1.2. Sự khủng hoảng trầm trọng kinh tế - xã hội trong nước
Cuộc khủng hoảng ở các nước Xã hội Chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô đã dẫn đến
hoài nghi về chủ nghĩa xã hội, giảm lòng tin đối với Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Những phần tử cơ hội, bất mãn nhân dịp đó đẩy mạnh chống phá, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng.
Trước năm 1986, Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm
trọng kéo dài. Nền kinh tế trì trệ, sản xuất kém hiệu quả, năng suất lao động thấp, trong khi
đó lạm phát leo thang, có thời điểm lên đến 700%/năm. Hàng hóa khan hiếm, đời sống nhân
dân vô cùng khó khăn, nhiều nơi xảy ra nạn đói. Những bất cập của cơ chế quản lý tập
trung, quan liêu, bao cấp đã bộc lộ rõ ràng, khiến đất nước không thể phát triển. Mô hình
kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã không còn phù hợp. Nhà nước can thiệp quá sâu vào hoạt
động kinh tế nhưng lại không tạo ra động lực để thúc đẩy sản xuất và kinh doanh. Các
doanh nghiệp quốc doanh hoạt động kém hiệu quả, trong khi khu vực kinh tế tư nhân bị hạn
chế, làm giảm khả năng phát triển nền kinh tế hàng hóa. Người dân cũng thiếu động lực làm
ăn do bị ràng buộc bởi các chính sách cứng nhắc, không khuyến khích sáng tạo và đổi mới
trong sản xuất. Trước tình hình đó, một số địa phương đã chủ động tìm kiếm mô hình cải
cách, như chính sách Khoán 10 trong nông nghiệp tại Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Long An…,
mang lại những kết quả tích cực. Điều này cho thấy sự cần thiết phải thay đổi phương thức
quản lý kinh tế, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển và nâng cao đời sống nhân dân. Bên
cạnh đó, xã hội Việt Nam cũng đối mặt với nhiều bất ổn. Đời sống nhân dân khó khăn, tình
trạng thất nghiệp gia tăng, tiêu cực, tham nhũng và quan liêu ngày càng phổ biến. Những
yếu kém trong hệ thống quản lý không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế mà còn làm suy giảm lòng
tin của nhân dân đối với chính sách của Đảng và Nhà nước. Trước những thách thức to lớn
đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải thực hiện đổi mới để đưa đất nước thoát khỏi khủng
hoảng và phát triển bền vững. Tại Đại hội Đảng VI năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã
đề ra đường lối Đổi mới, bắt đầu từ đổi mới tư duy kinh tế, chuyển từ mô hình kinh tế tập
trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã 3
hội chủ nghĩa. Đường lối Đổi mới năm 1986 ra đời là kết quả của một quá trình nhận thức
và tìm kiếm hướng đi phù hợp với thực tiễn của đất nước, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của nền
kinh tế - xã hội trong giai đoạn đó. Quyết định này đã mở ra một thời kỳ phát triển mới,
giúp Việt Nam từng bước thoát khỏi khủng hoảng và đạt được những thành tựu quan trọng
trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
1.1.3. Xuất hiện đổi mới từng phần
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12 năm 1976), Đảng đặt ra yêu cầu cấp
bách đặt ra là phải đưa đất nước thoát khỏi vòng xoáy khủng hoảng, ổn định toàn diện tình
hình và đồng thời thúc đẩy cách mạng tiến lên. Vào thời điểm mang tính bước ngoặt đó, thế
giới chứng kiến những biến động phức tạp và nhanh chóng, tác động không nhỏ đến tiến
trình cách mạng Việt Nam. Đó là sự trỗi dậy mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự thích
ứng và điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản, cũng như những nỗ lực cải cách, đổi mới tại các
quốc gia xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, những sai lầm và
khuyết điểm vẫn tồn tại, thậm chí chủ nghĩa xã hội trên thế giới còn đối mặt với nguy cơ sụp
đổ và tan rã. Tình hình trong nước và quốc tế đòi hỏi Đảng phải dũng cảm nhìn nhận thực
tế, tìm tòi và đổi mới tư duy, đường lối. Giai đoạn trước 1986 được xem là thời kỳ đổi mới
từng phần, đóng vai trò then chốt trong quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Trong
giai đoạn 1979-1981, nền kinh tế nước ta gặp phải nhiều vấn đề do đói kém, hậu chiến
tranh, hậu quả nặng nề từ thiên tai liên tiếp, dự trữ nguyên vật liệu cạn kiệt, viện trợ từ các
nước xã hội chủ nghĩa giảm sút, chiến tranh nổ ra ở cả hai đầu biên giới, và sự bao vây, cấm
vận kinh tế từ đế quốc Mỹ cùng các thế lực chống đối Việt Nam, tất cả những yếu tố này đã
đẩy đất nước vào một cuộc khủng hoảng kinh tế. Chính vì vậy, Hội nghị lần thứ sáu Ban
Chấp hành Trung ương Đảng đã được triệu tập. Hội nghị đã tiến hành đánh giá thực trạng
đất nước, tập trung thảo luận về phương hướng phát triển hàng tiêu dùng và công nghiệp địa
phương nhằm giải quyết tình trạng khan hiếm nghiêm trọng các mặt hàng tiêu dùng thiết
yếu. Đảng đã đánh giá thành tựu to lớn mà nhân dân ta đã đạt được trong hoàn cảnh cực kỳ
khó khăn của đất nước và chỉ rõ những thiếu sót, khuyết điểm. Một số chủ trương và kế
hoạch chưa phù hợp với hiện thực, chưa có các giải pháp đồng bộ, bố trí kế hoạch còn phân
tán, dàn đều, thiếu tập trung dứt điểm; không cân đối đồng bộ, chưa phát huy mạnh mẽ khả
năng hợp tác quốc tế, lưu thông phân phối bất hợp lý, chế độ phân phối bình quân chưa có 4
tác dụng khuyến khích thúc đẩy sản xuất. Cơ chế quản lý theo lối hành chính bao cấp gây
nên tình trạng sức ỳ lớn, thiếu trách nhiệm trong quản lý sản xuất và tài sản Nhà nước, v.v.
Bên cạnh đó, Những năm lịch sử 1975 – 1981 là những năm sôi động và vô cùng phức
tạp trên con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam, điển hình là cuộc chiến với tập đoàn
Pôn Pốt và cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc 1979. Để giải quyết tiếp những vấn
đề cấp bách trước mắt trong sản xuất và đời sống kể trên, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 23-
NQ/TW (tháng 1 – 1980) về những công tác lớn trong năm 1980, tập trung sức chỉ đạo chặt
chẽ việc thực hiện kế hoạch năm 1980, thực hiện ba nhiệm vụ cấp bách đã nêu trong Hội
nghị lần thứ sáu của Ban Chấp hành Trung ương. Tuy nhiên, việc thực hiện ban đầu vẫn còn
nhiều yếu kém. Nền kinh tế nước ta vẫn nằm trong tình trạng khủng hoảng. Việc thực hiện
kế hoạch kinh tế 5 năm từ 1976 – 1980 chưa thu hẹp được những mất cân đối nghiêm trọng
trong nền kinh tế quốc dân. Sản xuất phát triển chậm trong khi dân số tăng nhanh, thu nhập
chưa bảo đảm tiêu dùng xã hội; nền kinh tế chưa có tích lũy từ bên trong hay mặt trận lưu
thông, phân phối còn nhiều rối ren. Lương thực, vải mặc và các hàng tiêu dùng thiết yếu đều
thiếu. Cung ứng vật tư và giao thông – vận tải rất căng thẳng; chênh lệch thu chi, hàng và
tiền, xuất khẩu và nhập khẩu còn lớn. Thị trường vật giá không ổn định. Đời sống nhân dân
gặp rất nhiều khó khăn. Hơn nữa, vào đầu những năm 80, cuộc khủng hoảng kinh tế – xã
hội đã xuất hiện. Tình hình thế giới diễn biến phức tạp, nhất là hệ thống xã hội chủ nghĩa
đang lâm vào khủng hoảng nặng nề. Các thế lực phản động thù địch đang ra sức phá hoại,
chống lại sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Tình hình đó đã tác động mạnh đến tư tưởng
của cán bộ, đảng viên và quần chúng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (tháng
3 – 1982), thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm (1981 – 1985): bước phát triển mới về con
đường đi lên Chủ nghĩa
Trước thềm bước sang Đại hội V, đất nước vẫn còn tồn tại nhiều khuyết điểm, sai lầm
dẫn tới nguyên nhân tiếp tục triển khai kế hoạch đổi mới từng phần như: chưa thấy hết
những khó khăn phức tạp của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế mà sản
xuất nhỏ là phổ biến, chưa thấy hết tính chất phức tạp của những đảo lộn về kinh tế sau
những năm chiến tranh kéo dài, những khó khăn, phức tạp, những yếu kém trong quản lý
kinh tế – xã hội, chưa lường hết những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới. Do đó, đã
chủ quan nóng vội trong việc đề ra một số chỉ tiêu quá lớn cả về quy mô, tốc độ trong xây 5
dựng cơ bản và phát triển sản xuất. Đại hội còn chỉ ra những tư tưởng bảo thủ, trì trệ duy trì
quá lâu cơ chế quản lý hành chính như quan liêu bao cấp. Sản xuất công nghiệp không đạt
chỉ tiêu do Đại hội IV đề ra. Lưu thông, phân phối trở nên rối ren, cán cân thương mại
chênh lệch. Giá cả tăng vọt. Đời sống của nhân dân và cán bộ, công nhân viên, lực lượng vũ
trang trở nên rất khó khăn. Nhiều nhu cầu thiết yếu, tối thiểu như lương thực, hàng tiêu
dùng thiếu gay gắt. Nạn đói diễn ra ở nhiều nơi. Vấn đề công ăn, việc làm, tệ nạn xã hội...
trở nên nhức nhối. Đặc biệt, hậu quả lớn nhất của cuộc cải cách giá, lương, tiền, khiến đất
nước gặp thêm nhiều vấn đề đó chính là tình trạng lạm phát phi mã. Nguyên nhân chính của
tình hình trên là giải quyết giá, lương, tiền chưa đồng bộ, làm ồ ạt, toàn diện, mức độ lớn,
làm dồn dập trong một thời gian ngắn gây ra cú sốc lớn cho nền kinh tế, đời sống, kinh tế –
xã hội. Không tính đến khả năng tác động, hệ quả xấu đối với ngân sách Nhà nước. Nhìn
chung sau khi thực hiện đổi mới từng phần, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu ổn định
tình hình kinh tế – xã hội, ổn định đời sống nhân dân. Nguyên nhân chủ quan của tình hình
trên là những sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và
tổ chức thực hiện của Đảng và của Nhà nước. Xác định mục tiêu và bước đi không sát thực
tế nước ta, không coi trọng khôi phục kinh tế là nhiệm vụ cấp bách; nông nghiệp vẫn chưa
thực sự là mặt trận hàng đầu, muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa
trong vòng năm năm, chưa biết kết hợp kế hoạch hóa với quan hệ hàng hóa – tiền tệ; mắc
sai lầm rất nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối, lưu thông. Những sai lầm nói trên đặt ra
một yêu cầu cấp thiết phải đổi mới. 1.2.
Nguyên nhân thế giới
1.2.1. Công cuộc cải cách, cải tổ tại các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt ở Trung Quốc và Liên Xô
Vào thời điểm đó, Việt Nam đang áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung
giống trong đó nhà nước kiểm soát toàn bộ hoạt động sản xuất, phân phối và lưu thông hàng
hóa. Khi mà mô hình này ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế như kém linh hoạt, thiếu động lực
phát triển và không đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế hiện đại thì nhiều quốc gia Xã
Hội chủ nghĩa đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc, tiến hành cải tổ và cải cách để tìm hướng
đi mới cho sự phát triển, Việt Nam cũng nhận thức rõ sự cần thiết phải đổi mới để thoát
khỏi khủng hoảng kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân. Những năm 1980, nhiều quốc gia 6
XHCN đã thực hiện các biện pháp cải cách nhằm khắc phục những hạn chế của mô hình
kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Tuy nhiên, kết quả của các cuộc cải cách này lại rất khác
nhau, mang đến những bài học quan trọng cho Việt Nam trong việc hoạch định đường lối đổi mới năm 1986. - Cải cách tại Liên Xô:
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô trở thành một siêu cường nhưng mô hình
kinh tế kế hoạch hóa tập trung dần bộc lộ nhiều yếu kém như: Kinh tế trì trệ, thiếu động lực
phát triển, lạm phát gia tăng, năng suất lao động thấp, sử dụng công nghệ lạc hậu dẫn đến
sản xuất kém hiệu quả. Bộ máy chính trị thì quan liêu, tham nhũng, thiếu minh bạch dẫn đến
bất mãn mâu thuẫn trong lòng người dân. Từ đó yêu cầu Liên Xô cần phải có một cuộc cải
tổ cả về bộ máy chính trị và kinh tế để có thể phát triển thành như một quốc gia hùng mạnh.
Theo đó vào năm 1985, Tổng Bí thư Mikhail Gorbachev khởi xướng công cuộc cải tổ
(Perestroika) nhằm đổi mới cả về kinh tế, chính trị và xã hội. Chính sách này bao gồm việc
giảm sự kiểm soát của nhà nước đối với nền kinh tế, cho phép sở hữu tư nhân, mở rộng giao
thương với phương Tây và thực hiện chính sách công khai (Glasnost) nhằm tăng cường tự
do ngôn luận. Đặc biệt trong việc cải tổ chính trị Liên Xô đã thực hiện chính sách Đa
nguyên hóa chính trị tức là cho phép các đảng phái đối lập hoạt động, giảm quyền lực tuyệt
đối của Đảng Cộng sản. Ngoài ra còn tăng cường quyền tự do báo chí giúp người dân được
quyền tiếp cận thông tin đa chiều, thay đổi chương trình giáo dục, tăng cường nghiên cứu
khoa học để nâng cao dân trí đồng thời cũng nới lỏng kiểm duyệt văn hóa, cho phép ảnh
hưởng từ phương Tây, gia tăng sự đa dạng trong văn hóa.
Cuộc cải cách này đã mang lại những thành công nhất định như chính trị cởi mở hơn,
người dân có nhiều quyền tự do hơn và giúp thế giới có cách nhìn mới về Liên Xô, mở rộng
quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, do cải tổ diễn ra quá nhanh, thiếu lộ trình cụ thể, cùng với việc
Đa nguyên hóa chính trị dẫn đến mất kiểm soát quyền lực, mất sự kiểm soát của Đảng cộng
sản. Nền kinh tế Liên Xô ngày càng rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng hơn, trật tự xã hội
bất ổn, và cuối cùng dẫn đến sự tan rã của Liên Xô vào năm 1991, các nước cộng hòa tuyên bố độc lập.
- Cải cách tại Trung Quốc: 7
Trước 1978, Trung Quốc theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung như Liên Xô,
nền kinh tế cũng trì trệ, chậm phát triển dẫn đến đời sống nhân dân khó khăn, thiếu lương
thực, bộ máy quan liêu, tham nhũng phổ biến. Tình trạng này yêu cầu Trung Quốc cần có
một cuộc cải tổ lớn để thúc đẩy nền kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân.
Sau khi Mao Trạch Đông qua đời (1976), Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền và khởi
xướng công cuộc Cải cách và mở cửa (1978). Công cuộc "Cải cách và mở cửa" tập trung
trước hết vào lĩnh vực kinh tế với các chính sách như khoán hộ trong nông nghiệp, người
dân được quyền tự do sản xuất, hưởng lợi từ sản phẩm của mình. Cùng với đó là thành lập
các đặc khu kinh tế Thâm Quyến, Chu Hải để mở mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, cho
phép các doanh nghiệp tư nhân hoạt động và cải tổ doanh nghiệp nhà nước theo hướng tự
chủ. Ngoài ra Trung Quốc còn Mở cửa thị trường, thu hút vốn FDI từ phương Tây và Nhật
Bản từ đó từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới, tham gia WTO năm 2001.
Khác với Liên Xô, Trung Quốc giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, không thực
hiện đa nguyên chính trị mà chỉ tập trung vào cải cách kinh tế một cách có kiểm soát. Nhờ
đó, nền kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng,GDP tăng trưởng mạnh mẽ, đời sống
nhân dân cải thiện, hàng trăm triệu người thoát nghèo. Giúp Trung Quốc trở thành trở thành
một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới.
- Ảnh hưởng của hai cuộc cải cách đến sự ra đời của đường lối mới của Đảng năm 1986
Cuộc cải cách đổi mới năm 1986 tại Việt Nam không chỉ xuất phát từ những khó khăn
nội tại của đất nước mà còn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các cuộc cải cách ở Trung Quốc và
Liên Xô. Trung Quốc tập trung đổi mới kinh tế trước, áp dụng cơ chế thị trường nhưng vẫn
duy trì sự kiểm soát của nhà nước và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Nhờ đó, nền kinh
tế Trung Quốc tăng trưởng nhanh chóng, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, tạo ra một
mô hình cải cách kinh tế hiệu quả trong khuôn khổ xã hội chủ nghĩa. Thành công này đã trở
thành một kinh nghiệm quý giá, giúp Việt Nam nhận ra rằng có thể đổi mới kinh tế mà
không làm mất đi sự lãnh đạo của Đảng.
Ngược lại, công cuộc cải tổ (Perestroika) của Liên Xô do Mikhail Gorbachev khởi
xướng năm 1985 lại mang đến một bài học khác khi việc Đa nguyên hóa chính trị đã làm 8
suy yếu sự kiểm soát của Đảng Cộng sản, dẫn đến tình trạng hỗn loạn, kinh tế khủng hoảng
trầm trọng và cuối cùng là sự tan rã của Liên bang Xô Viết vào năm 1991. Thất bại của Liên
Xô đã cảnh báo Việt Nam về nguy cơ mất kiểm soát khi cải cách diễn ra quá nhanh và thiếu định hướng rõ ràng.
Từ hai bài học đối lập này, Việt Nam đã rút ra kết luận rằng đổi mới là tất yếu, nhưng
phải thực hiện theo cách phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước. Chính vì vậy, tại Đại
hội Đảng lần thứ VI năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới, lấy
cải cách kinh tế làm trọng tâm, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập, phát triển sản xuất và cải thiện
đời sống nhân dân. Trong khi đó vẫn phải giữ vững sự ổn định chính trị đảm bảo quyền lực
của Đảng cộng sản. Đây là một quyết định mang tính chiến lược, giúp Việt Nam từng bước
thoát khỏi khủng hoảng, thúc đẩy phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế, tạo nền tảng cho sự
phát triển bền vững sau này.
1.2.2. Sự phát triển của khoa học, công nghệ
Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật (KHKT) trong nửa sau thế kỷ XX đã tạo ra
những thay đổi sâu sắc trong nền kinh tế thế giới. Sự bùng nổ của công nghệ thông tin, tự
động hóa, sinh học, năng lượng mới đã thúc đẩy năng suất lao động, làm thay đổi cơ cấu sản
xuất, mở rộng quan hệ kinh tế toàn cầu. Trong khi các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) linh
hoạt thích ứng và tăng trưởng mạnh mẽ, các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) lại bộc lộ nhiều
hạn chế do cơ chế quản lý kinh tế tập trung, trì trệ, thiếu sáng tạo.
Việt Nam, trong bối cảnh bị bao vây cấm vận, kinh tế rơi vào khủng hoảng trầm trọng,
không thể đứng ngoài làn sóng phát triển mạnh mẽ này. Cuộc cách mạng KHKT đặt ra yêu
cầu cấp thiết về đổi mới tư duy kinh tế, tiếp cận công nghệ hiện đại, mở cửa và hội nhập
quốc tế. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự ra đời của đường lối đổi mới năm 1986. 1.2.2.1.
Những thành tựu nổi bật của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật
Sự xuất hiện của máy tính cá nhân (PC), vi mạch, Internet đã làm thay đổi hoàn toàn
cách thức con người quản lý sản xuất, kinh doanh và giao tiếp. Mỹ, Nhật Bản, Đức đi đầu
trong lĩnh vực công nghệ, phát triển các tập đoàn công nghệ lớn như IBM, Microsoft, Apple 9
trong lĩnh vực phần mềm và viễn thông. Công nghệ viễn thông giúp các doanh nghiệp mở
rộng thị trường, tăng cường thương mại toàn cầu và tối ưu hóa quản lý. Bên cạnh đó, robot
hóa, trí tuệ nhân tạo, máy móc tự động được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất công nghiệp,
giúp giảm nhân công và nâng cao năng suất. Các công ty như Toyota, Ford, General Electric
ứng dụng dây chuyền sản xuất linh hoạt, cải tiến kỹ thuật, giúp tiết kiệm chi phí, nâng cao
chất lượng sản phẩm. Kinh tế công nghiệp chuyển đổi mạnh mẽ từ lao động thủ công sang lao động công nghệ cao.
Công nghệ sinh học đóng vai trò quan trọng trong nông nghiệp, y tế, dược phẩm, giúp
cải thiện chất lượng cuộc sống. Việc nghiên cứu cấy ghép gen, sản xuất thuốc kháng sinh
thế hệ mới và phát triển vắc-xin giúp kéo dài tuổi thọ con người. Ngoài ra, Điện mặt trời,
điện gió, năng lượng hạt nhân trở thành giải pháp thay thế nhiên liệu hóa thạch, giúp tăng
trưởng bền vững. Vật liệu tổng hợp, siêu nhẹ, siêu bền được ứng dụng trong công nghiệp,
quốc phòng, hàng không vũ trụ 1.2.2.2.
Tác động đến thế giới và chủ nghĩa tư bản
Cuộc cách mạng KHKT giúp các nước tư bản phát triển mạnh mẽ, vượt qua những
khủng hoảng kinh tế trước đó. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước G7 (Mỹ, Nhật Bản,
Đức, Anh, Pháp, Ý, Canada) duy trì ở mức cao, tạo ra sự chênh lệch ngày càng lớn so với
các nước XHCN. Việc chuyển từ sản xuất thủ công sang tự động hóa, cơ giới hóa, giúp tiết
kiệm lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm. Công nghệ làm thay đổi cơ cấu sản xuất,
giảm lao động chân tay, tăng lao động kỹ thuật cao. Hình thành nền kinh tế tri thức, trong
đó yếu tố sáng tạo và công nghệ trở thành động lực chính cho sự phát triển. Công nghệ đã
giúp mở rộng thương mại điện tử, logistics, thúc đẩy thương mại toàn cầu. Sự phát triển của
công nghệ giúp thương mại toàn cầu tăng trưởng mạnh mẽ, hình thành các khối kinh tế lớn
như Liên minh châu Âu (EU), Khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Các tổ chức
kinh tế quốc tế như WTO, IMF, WB đóng vai trò quan trọng trong điều tiết nền kinh tế toàn cầu.
- Tại thời điểm đó mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung không phù hợp với nền kinh
tế tri thức, công nghệ cao. Việt Nam đang thiếu công nghệ hiện đại, sản xuất kém hiệu quả,
không thể cạnh tranh với thế giới. Nếu tiếp tục trì trệ, Việt Nam sẽ ngày càng bị cô lập về 10
kinh tế. Để tiếp cận công nghệ, mở rộng thương mại, Việt Nam cần chuyển đổi sang nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
1.2.3. Sự thích nghi, tự điều chỉnh của các nước tư bản chủ nghĩa 1.2.3.1.
Xu hướng đối thoại thay thế đối đầu trong quan hệ quốc tế
Trong thập niên 1980, thế giới chứng kiến nhiều biến động lớn trong quan hệ quốc tế.
Từ sự đối đầu căng thẳng giữa hai cực Liên Xô - Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, thế
giới dần chuyển sang xu hướng đối thoại, hợp tác và giảm căng thẳng. Xu hướng hòa dịu
trong quan hệ giữa các nước lớn đã tác động mạnh mẽ đến chiến lược đối ngoại của nhiều
quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đứng trước những thay đổi này, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã đưa ra đường lối đổi mới năm 1986, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong chiến lược
phát triển của đất nước.
Chiến tranh Lạnh kéo dài từ sau Thế chiến II đến cuối thập niên 1980 đã tạo ra một thế
giới phân cực với sự đối đầu căng thẳng giữa hai khối: Khối Xã hội Chủ nghĩa (XHCN) do
Liên Xô dẫn đầu. Khối Tư bản Chủ nghĩa (TBCN) do Mỹ đứng đầu. Tuy nhiên, đến đầu
thập niên 1980, cả hai siêu cường đều gặp phải những vấn đề nội tại nghiêm trọng: Liên Xô
đối mặt với tình trạng kinh tế trì trệ, chi phí quân sự khổng lồ trong cuộc chạy đua vũ trang
và sự sa lầy trong cuộc chiến Afghanistan (1979-1989). Mỹ cũng chịu áp lực từ cuộc suy
thoái kinh tế và những phong trào phản chiến trong nước, đặc biệt là sau cuộc chiến tranh
Việt Nam (1955-1975). Những yếu tố này khiến cả hai bên buộc phải thay đổi chính sách
đối ngoại theo hướng hòa hoãn hơn.
-Chính sách cải tổ của Liên Xô và Mỹ:
+ Liên Xô dưới thời Mikhail Gorbachev (1985-1991). Thực hiện chính sách Cải tổ
(Perestroika) và Công khai (Glasnost) nhằm tái cơ cấu nền kinh tế và mở rộng hợp tác với
phương Tây. Chủ trương giảm chạy đua vũ trang, tìm kiếm đối thoại với Mỹ để giảm căng thẳng toàn cầu.
+ Mỹ dưới thời Ronald Reagan (1981-1989). Mặc dù khởi đầu với chính sách đối đầu
cứng rắn, nhưng đến giữa thập niên 1980, Mỹ cũng bắt đầu giảm căng thẳng với Liên Xô,
ký kết các hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân. 11
Từ giữa thập niên 1980, Mỹ và Liên Xô đã tiến hành nhiều cuộc đàm phán để hạn chế
chạy đua vũ trang. Hiệp ước INF (1987): Mỹ và Liên Xô đồng ý loại bỏ tên lửa đạn đạo tầm
trung tại châu Âu. Hội nghị Geneva (1985), Hội nghị Reykjavik (1986): Hai nước đàm phán
về cắt giảm vũ khí hạt nhân và tăng cường hợp tác quốc tế. Những thỏa thuận này đánh dấu
sự chuyển biến quan trọng trong quan hệ quốc tế, mở ra giai đoạn đối thoại thay vì đối đầu. 1.2.3.2.
Chủ nghĩa tư bản thích nghi và phát triển mạnh mẽ
Trong những năm 1980, khi nhiều quốc gia xã hội chủ nghĩa lâm vào tình trạng khủng
hoảng kinh tế nghiêm trọng, thì các nước tư bản chủ nghĩa lại có những bước chuyển mình
quan trọng. Sự thích nghi linh hoạt, các chính sách tư nhân hóa, tự do hóa kinh tế, và đầu tư
mạnh mẽ vào công nghệ giúp chủ nghĩa tư bản không những vượt qua khủng hoảng mà còn
phát triển mạnh mẽ. Trong bối cảnh đó, Việt Nam buộc phải xem xét lại mô hình kinh tế kế
hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp và tiến hành đổi mới tại Đại hội VI năm 1986.
Anh, Mỹ, Pháp và nhiều quốc gia tư bản chủ nghĩa khác bắt đầu tư nhân hóa doanh
nghiệp nhà nước để tăng hiệu quả hoạt động kinh tế. Anh dưới thời Thủ tướng Margaret
Thatcher (1979-1990) đã tư nhân hóa nhiều ngành công nghiệp quan trọng như điện lực,
viễn thông, hàng không, giúp nền kinh tế Anh phục hồi sau khủng hoảng. Mỹ dưới thời
Tổng thống Ronald Reagan cũng thực hiện chính sách giảm vai trò nhà nước, cắt giảm chi
tiêu công, khuyến khích khu vực tư nhân phát triển. Điều này tạo động lực cạnh tranh, nâng
cao năng suất lao động đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm gánh nặng ngân sách nhà nước.
Các nước tư bản dỡ bỏ các rào cản thương mại, giảm thuế nhập khẩu và mở rộng đầu
tư ra nước ngoài và thành lập các tổ chức tài chính quốc tế như WTO, IMF, WB để thúc đẩy
hội nhập kinh tế toàn cầu. Nhật Bản và Tây Âu tận dụng chính sách này để tăng cường xuất
khẩu, đầu tư vào các nước đang phát triển đã tác động đến hàng hóa , giúp lưu thông dễ
dàng, nâng cao hiệu quả kinh tế và gia tăng ảnh hưởng của chủ nghĩa tư bản trên toàn cầu.
Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu đi đầu trong cách mạng công nghệ thông tin, tự động hóa,
robot hóa sản xuất. Ngoài ra còn xuất hiện nhiều tập đoàn công nghệ lớn như IBM,
Microsoft, Toyota, tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, giúp nền kinh tế tư bản tiếp
tục phát triển. Các nước xã hội chủ nghĩa khác như Liên Xô, Trung Quốc bắt đầu thực hiện 12
cải cách để thích nghi với xu hướng phát triển. Trung Quốc thực hiện cải cách mở cửa từ
năm 1978, tạo điều kiện cho công nghệ và vốn đầu tư nước ngoài phát triển. Việc ứng dụng
công nghệ vào quản lý, tài chính, ngân hàng, giúp tăng năng suất và tối ưu hóa mô hình kinh
doanh tạo ra cuộc cách mạng trong sản xuất, tăng năng suất lao động và giúp các nước tư
bản duy trì vị thế dẫn đầu về kinh tế.
Trong khi các nước tư bản thành công với mô hình kinh tế thị trường linh hoạt, Việt
Nam vẫn duy trì nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, dẫn đến lạm phát phi mã, có thời điểm
lên tới 700%/năm hàng hóa khan hiếm, sản xuất trì trệ, các doanh nghiệp nhà nước hoạt
động kém hiệu quả. Trong khi các nước tư bản mở rộng hợp tác kinh tế, Việt Nam bị cấm
vận bởi Mỹ và phương Tây, gây ra tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng về vốn, công nghệ và
thị trường xuất khẩu. Thành công của các nước tư bản chứng minh kinh tế thị trường có thể
vận hành hiệu quả hơn so với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Việt Nam nhận thấy cần
chuyển sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, từ bỏ mô hình bao cấp cứng nhắc.
CHƯƠNG 2. ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI ĐƯỢC THÔNG QUA TẠI ĐẠI HỘI VI 2.1.
Khái quát về Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng
2.1.1. Giới thiệu chung Thời gian,
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp tại Hà Nội từ ngày địa điểm
15 đến 18-12-1986. Đây là một trong những dấu mốc quan trọng nhất trong
lịch sử phát triển của Đảng và đất nước, đánh dấu bước ngoặt to lớn với việc
đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra giai đoạn phát triển mới cho nền kinh tế Việt Nam. Số lượng
Dự Đại hội có 1129 đại biểu thay mặt gần 2 triệu Đảng viên trong toàn người
Đảng, trong số đó có 925 đại biểu thuộc đảng bộ 40 tỉnh, thành phố, đặc khu; tham gia
172 đại biểu thuộc các đảng bộ trực thuộc Trung ương, 153 đại biểu nữ, 115
đại biểu thuộc các dân tộc thiểu số, 50 đại biểu là anh hùng lực lượng vũ trang
và anh hùng lao động, 72 đại biểu là công nhân trực tiếp sản xuất... Đến dự
Đại hội có 35 đoàn đại biểu quốc tế. Nguyễn Văn Linh, Uỷ viên Bộ Chính trị
đọc Diễn văn khai mạc. Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng đọc Báo cáo 13
chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Võ Văn Kiệt đọc Báo cáo về
phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội trong năm năm
(1986-1990). Đại hội đã thông qua các văn kiện chính trị quan trọng khởi
xướng đổi mới toàn diện, bầu Ban chấp hành Trung ương gồm 124 ủy viên
chính thức, bầu Bộ chính trị gồm 13 ủy viên chính thức; bầu đồng chí Nguyễn
Văn Linh làm Tổng Bí thư Đảng. Bối cảnh
Trước Đại hội VI (1986), Việt Nam đứng trước những thách thức lớn về chung
kinh tế và xã hội trong nước, cũng như chịu ảnh hưởng từ tình hình quốc tế:
+ Tình hình thế giới: Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra trong
thập niên 1970-1980, cùng với sự suy yếu của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc
biệt là Liên Xô và Đông Âu, đã tác động mạnh đến Việt Nam. Sự cắt giảm
viện trợ từ Liên Xô khiến nền kinh tế Việt Nam càng thêm khó khăn.
+ Đại hội VI diễn ra trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật
đang phát triển, xu thế đối thoại trên thế giới đang dần thay thế xu thế đối đầu.
Đổi mới đã trở thành xu thế của thời đại.
+ Hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng, khó khăn nghiêm trọng.
+ Phong trào độc lập dân tộc phát triển mạnh; phong trào không liên kết
trở thành lực lượng chính trị rộng lớn có vai trò ngày càng quan trọng.
+ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đều tiến hành cải tổ sự nghiệp
xây dựng xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đang bị các đế quốc và thế lực thù địch
bao vây cấm vận và ở tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội.
+ Tình hình trong nước: Sau khi thống nhất đất nước (1975), Việt Nam
bước vào giai đoạn khắc phục hậu quả chiến tranh và xây dựng kinh tế. Tuy
nhiên, từ 1975-1986, đất nước rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng:
+ Sản xuất trì trệ, năng suất lao động thấp, cơ chế quản lý kinh tế tập
trung quan liêu bao cấp kìm hãm sự phát triển. 14
+ Lạm phát phi mã, năm 1986 lạm phát lên đến 700%.
+ Đời sống nhân dân khó khăn, thiếu lương thực, thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng.
+ Bất ổn xã hội gia tăng, niềm tin của nhân dân vào chính sách của Đảng và Nhà nước giảm sút.
+ Lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng đều khan hiếm; lạm phát tăng
từ 300% năm 1985 lên hơn 774% năm 1986.
+ Các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật, vượt biên trái phép diễn ra
quá phổ biến. Đổi mới đã trở thành tình hình bức thiết của đất nước.
Trước tình hình đó, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức rõ sự cần thiết
phải có những đổi mới toàn diện để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng.
2.1.2. Khái quát chung
Đại hội nhận định: "Thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu do Đại hội lần thứ V của
Đảng đề ra, nhân dân ta anh dũng phấn đấu, khắc phục khó khăn, vượt qua trở ngại, đã đạt
được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, giành những
thắng lợi to lớn trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế".
Bên cạnh khẳng định thành tích đã đạt được, Đại hội cũng nhận rõ: "Tình hình kinh tế
- xã hội đang có những khó khăn gay gắt: Sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư
thấp; phân phối, lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm
được thu hẹp, có mặt gay gắt hơn; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố;
đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn; hiện tượng tiêu cực xảy ra ở nhiều nơi, và
có nơi nghiêm trọng. Nhìn chung, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại
hội lần thứ V đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân".
Không đánh giá thấp những nguyên nhân khách quan, Đại hội đã nghiêm khắc nêu ra
rằng nguyên nhân chủ quan của tình hình khó khăn, khủng hoảng là do những sai lầm,
khuyết điểm trong sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước. Đại hội nhận định trong
những năm 1976-1980, trên thực tế ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá trong khi 15
chưa có đủ các tiền đề cần thiết; vừa nóng vội, vừa buông lỏng trong công tác cải tạo xã hội
chủ nghĩa; chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế không còn phù hợp. Trong những năm
1981-1985, Đảng chưa cụ thể hoá đường lối kinh tế trong chặng đường đầu tiên, chưa kiên
quyết khắc phục chủ quan, nóng vội và bảo thủ trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã
hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, lại phạm sai lầm mới, nghiêm trọng trong lĩnh vực phân
phối, lưu thông, đã buông lỏng chuyên chính vô sản trong quản lý kinh tế, xã hội, trong đấu
tranh tư tưởng, văn hoá, trong việc chống lại những âm mưu, thủ đoạn phá hoại thâm độc
của kẻ thù. "Những sai lầm nói trên là sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn,
về chỉ đạo chiến lược và về tổ chức thực hiện". - Ðại hội xác định:
+ Ðảng phải trưởng thành về lãnh đạo chính trị, phát triển và cụ thể hóa đường lối, đề
ra những giải pháp đúng đắn đối với những vấn đề mới của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
+ Ðể tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn của mình, Ðảng phải đổi
mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, đổi mới tổ chức; tư duy lý luận.
+ Đổi mới đội ngũ cán bộ; Đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác làm việc, giữ
vững các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, Tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước.
+ Quyết định bổ sung và sửa đổi một số điểm cụ thể trong Ðiều lệ Ðảng cho phù hợp tình hình mới.
+ Ðổi mới toàn diện thật sự là ý Ðảng, lòng dân. Nghị quyết Ðại hội VI vào cuộc sống
là quá trình thể nghiệm, tìm tòi, từng bước cụ thể hóa, phát triển và tổ chức thực hiện những định hướng lớn.
+ Ðảng và Nhà nước vừa tập trung giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội cấp bách,
giữ vững ổn định chính trị, vừa thực hiện đổi mới các lĩnh vực của đời sống xã hội.
+ Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. 16
Đại hội VI của Đảng là Đại hội khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện, đánh dấu
ngoặt phát triển mới trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trên cơ sở thực tiễn cách mạng của 10 năm vừa qua, Đại hội nêu lên bốn bài học kinh
nghiệm có tính thời sự chính trị nóng hổi: "Một, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng
phải quán triệt tư tưởng "Lấy dân làm gốc", xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của
nhân dân lao động. Hai, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động
theo quy luật khách quan. Ba, phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời
đại trong điều kiện mới. Bốn, phải chăm lo xây dựng đảng ngang tầm với một đảng cầm
quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa".
Bên cạnh đó, Đại hội cũng vạch ra phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế
- xã hội giai đoạn 1986- 1990. Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nhiều thành phần
KT. Đổi mới cơ chế quản lý, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp, chuyển
sang hạch toán, kinh doanh, kết hợp kế hoạch với thị trường. Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu
tổng quát trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là:
+ Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy; bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý,
trong đó đặc biệt chú trọng ba chương trình kinh tế lớn là lương thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
+ Xây dựng và tổ chức thực hiện một cách thiết thực, có hiệu quả các chính sách xã hội.
+ Đề cao cảnh giác, tăng cường khả năng quốc phòng, an ninh, bảo đảm chủ động
trong mọi tình huống để bảo vệ Tổ quốc, kiên quyết đánh thắng chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch. - Nhiệm vụ đối ngoại
+ Góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các
nước xã hội chủ nghĩa.
+ Bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa
bình ở Đông Nam Á và trên thế giới. 17
+ Kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, phấn đấu giữ gìn hòa bình
ở Đông Dương, Đông Nam Á và trên thế giới. Tăng cường quan hệ đặc biệt với ba nước Đông Dương. 2.2.
Nội dung đường lối đổi mới
- Đánh giá quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc từ năm 1975- 1986.
Đại hội đã chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm trong thời kỳ trước đổi mới
Đại hội đã nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá thành
tựu, nghiêm túc kiểm điểm, chỉ rõ những sai lầm, khuyết điểm của Đảng trong thời kỳ 1975-
1986. Đó là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm
về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện. Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai
lầm, khuyết điểm đó, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy
nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan. Đó là tư tưởng tiểu
tư sản, vừa “tả” khuynh vừa hữu khuynh. Nguyên nhân của mọi nguyên nhân bắt nguồn từ
những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng.
- Đại hội rút ra 4 bài học kinh nghiệm
Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”.
Đảng ta không có mục đích nào khác là đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân. Quần
chúng là người làm nên lịch sử.
Nhân dân ta rất cách mạng, có những phẩm chất rất quý báu, trải qua trên nửa thế kỷ
chiến đấu liên tục, chịu đựng biết bao hy sinh, gian khổ, luôn luôn nêu cao chủ nghĩa anh
hùng cách mạng, lao động cần cù, chiến đấu dũng cảm vì độc lập, tự do của Tổ quốc và vì
chủ nghĩa xã hội. Trong hoàn cảnh Đảng có sai lầm, khuyết điểm, nhân dân vẫn thiết tha
mong đợi Đảng khắc phục sai lầm, đưa đất nước tiến lên. Đảng ta không thể phụ lòng mong đợi đó của nhân dân.
Bài học lớn rút ra từ những năm qua là trong điều kiện Đảng cầm quyền, phải đặc biệt
chăm lo củng cố sự liên hệ giữa Đảng và nhân dân; tiến hành thường xuyên cuộc đấu tranh
ngăn ngừa và khắc phục chủ nghĩa quan liêu. Mỗi đảng viên cộng sản phải thật sự vừa là 18
người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Mọi chủ trương, chính
sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động,
phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của quần chúng. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời
quần chúng, đi ngược lại lợi ích của nhân dân là làm suy yếu sức mạnh của Đảng.
Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.
Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.
Để khắc phục được khuyết điểm, chuyển biến được tình hình, Đảng ta trước hết phải
thay đổi nhận thức, đổi mới tư duy. Phải nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với hệ
thống quy luật khách quan, trong đó các quy luật đặc thù của chủ nghĩa xã hội ngày càng chi
phối mạnh mẽ phương hướng phát triển chung của xã hội.
Tiêu chuẩn đánh giá sự vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước là sản xuất phát triển, lưu thông thông suốt, đời sống vật chất
và văn hóa của nhân dân từng bước được ổn định và nâng cao, con người mới xã hội chủ
nghĩa ngày càng hình thành rõ nét, xã hội ngày càng lành mạnh, chế độ xã hội chủ nghĩa
được củng cố. Mọi chủ trương, chính sách gây tác động ngược lại là biểu hiện sự vận dụng
không đúng quy luật khách quan, phải được sửa đổi hoặc bãi bỏ."
Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.
Nước ta có thể từ một nền sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai
đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là vì cuộc cách mạng ở nước ta diễn ra trong thời đại quá
độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Nhân dân ta có sự giúp đỡ to lớn và hợp
tác toàn diện của Liên Xô, của các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, có sự liên minh và
hợp tác toàn diện của hai nước láng giềng anh em Lào và Campuchia. Sự giúp đỡ và hợp tác
ấy là điều kiện vô cùng quan trọng để nhân dân ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhân dân ta còn có sự ủng hộ, giúp đỡ của
nhiều nước bầu bạn khác, của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên toàn thế giới. Sự phát
triển của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật ngày nay và xu thế mở rộng phân công, hợp
tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế - xã hội khác nhau, cũng là những điều 19