TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
THƯƠNG
ẠI
KHOA
QUẢN
TRỊ
KINH
DOANH
---
🙠🙢🕮🙠🙢
---
BÀI
THẢO
LUẬN
Phân
tích
chủ
thể
của
quan
hệ
pháp
luật
hành
chính,
dụ
minh
họa
bài
tập
tình
huống
Nhóm
thực
hiện
:
Nhóm
3
Giảng
viên
hướng
dẫn
:
Đ
Thị
Hoa
Chuyên
ngành
:
QTKD
Lớp
học
phần
:
241
_TLA
W01
1
1
_
36
Khóa
:
2024
-
2028
1
2
3
LỜI MỞ ĐẦU
Nhà nước pháp luật hai thứ song hành gắn với nhau, đây đều những hiện tượng
hội mang tính chất phức tạp. Từ đó việc nhận thức về xã hội, nhận thức về luật pháp trở thành
chìa khóa để con người những ứng xử thông minh, chuẩn mực đạo đức tạo một thói quen tốt
cho toàn bộ cộng đồng. những lớp thấp hơn ta môn giáo dục công dân đã truyền đạt cho chúng
ta bộ về luật pháp cũng như cách mà một nhà nước vận hành trong xã hội ngày nay, lên đại học
ta học phần Pháp luật đại cương giúp ta ràng hơn về cách luật pháp hoạt động cũng như
đi sâu vào từng điều luật bản thân mỗi người dân cần phải được biết phải biết. Từ đó xây
dựng nên một xã hội mang tính tích cực, đẩy lùi tệ nạn xã hội. Pháp luật đóng một vai trò vô cùng
quan trọng trong bất một thời hay niên đại nào. Ta không thphủ nhận rằng như chìa
khóa đảm bảo cho quy trình vận hành của một đất nước, là yếu tố quyết định tới đời sống, đạo đức
và kỉ cương của toàn bộ nhân dân.
Montesquieu đã từng khẳng định rằng “khi quyền lập pháp hành pháp tập trung vào tay một
người hoặc một nhóm người nào đó thì tự do sẽ chấm dứt”, ràng quyền lực cần được phân chia
một cách đúng đắn và buộc phải ban hành ra những luật pháp mang tính ảnh hưởng lớn để bảo vệ
tự do cũng như quyền lợi của tất cả mọi ngươì. Và cũng bởi thế luật hành chính luôn luật vô
cùng quan trọng trong đời sống con người cũng như với sự phát triển của toàn bộ xã hội.
Trong đó, chế định thừa kế một chế định quan trọng trong hệ thống các quy phạm pháp luật dân
sự Việt Nam. Quyền để lại thừa kế quyền thừa kế những quyền bản của công dân luôn
luôn được pháp luật nhiều nước trên thế giới quan tâm, theo dõi bảo hộ. Việt Nam một trong
những nước đang phát triển nền văn hóa với các truyền thống đạo đức lâu đời được truyền
từ đời này qua đời khác. Do đó đối với người Việt Nam hiện nay, việc coi trọng các phong tục tập
quán, tình cảm đã khiến không ít người bỏ qua việc đảm bảo quyền để lại quyền thừa kế của mình
bằng cách thảo một bản di chúc.
Bài tiểu luận này sẽ phân tích chi tiết về vai trò của chủ thể của quan hệ luật hành chính trong đời
sống hội, để từ đó ta nhận thấy được chi tiết hơn về những mặt hạn chế cũng như đưa ra
những phương án cụ thể để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật này từ đó áp dụng những
quyền thừa kế để chia di sản sao cho hợp lý.
4
NỘI DUNG
PHẦN 1: Phân tích chủ thể luật hành chính
1. Kh i qu t v đ nh ngh a ch th c a quan h ph p lu t h nh ch nh
Để tham gia vào quan hệ pháp luật thì phải người tham gia. khi thỏa mãn những điều kiện
nhất định thì họ trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật. Các chủ thể khi tham gia vào một quan
hệ pháp luật đều quyền và nghĩa vụ pháp nhất định và đều hướng tới những lợi ích nhất định.
Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính: những người tham gia vào quan hệ pháp luật hành
chính những quyền và nghĩa vụ luật định đều hướng tới trật tự quản lí hành chính. Chủ thể của
quan hệ pháp luật hành chính rất đa dạng bao gồm quan nhà nước, các tổ chức ( xã hội, đơn
vị kinh tế, chính trị - hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp …), nhân, cán bộ công chức năng
lực chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, mang quyền nghĩa vụ đối với nhau theo
quy định của pháp luật hành chính. Như vậy, điều kiện để các quan, tổ chức, nhân trở thành
chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính các quan, tổ chức, nhân đó phải năng lực chủ
thể với quan hệ pháp luật hành chính họ tham gia.
Chủ thể quản hành chính nhà nước: các nhân hay tổ chức của con người mang quyền lực
hành chính nhà nước, nhân danh nhà nước thực hiện chức năng quản hành chính nhà nước.
"Mang quyền lực nhà nước" đây cần hội đủ 2 yếu tố sau: thẩm quyền hành chính nhà nước
do pháp luật qui định tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính với cách của chủ thể
thẩm quyền hành chính nhà nước, không vượt ra khỏi thẩm quyền đã được luật định.
Nói lên điều này để phân biệt rạch ròi "vai trò" của một chủ thể nhất định trong những trường hợp
cụ thể nhất định. Trường hợp chủ thể A chủ thể thẩm quyền hành chính nhà nước nhưng tham
gia vào quan hệ không với cách thẩm quyền ấy, thì không thể hình thành quan hệ pháp luật hành
chính với A chủ thể quản
dụ: Nguyễn Văn A chủ tịch UBND huyện B, hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông
trong khi điều khiển phương tiện xe 2 bánh. Trường hợp này, A phải chịu xử theo pháp luật hành
chính như tất cả các nhân khác vi phạm trật an toàn giao thông.
5
Chủ thể bắt buộc trong quan hệ pháp luật hành chính quyền nhân danh Nhà nước để đơn
phương ra những mệnh lệnh (thể hiện dưới dạng các quy phạm pháp luật hoặc các mệnh lệnh cụ
thể để giải quyết công việc cụ thể) buộc phía bên kia phải thực hiện. Ðây là một đặc trưng bản
của quan hệ pháp luật hành chính so với các quan hệ pháp luật khác. Ðiều kiện để trở thành chủ
thể của quan hệ pháp luật hành chính phải năng lực pháp luật hành chính và năng lực hành vi
hành chính. Chủ thể này thể là:
- quan hành chính nhà nước, cán bộ hành chính nhà nước. Tuy nhiên, cần phân biệt quan hệ
pháp luật hành chính với quan hệ chỉ đạo công tác trong nội bộ một quan.
dụ: Quan hệ pháp luật giữa UBND Tỉnh A với UBND Huyện B tương ứng trực thuộc quan
hệ pháp luật hành chính. Tuy nhiên, quan hệ giữa thủ trưởng quan hành chính nhà nước với thư
của quan đó trong việc "nhờ" thư đánh máy một công văn thì không phải quan hệ
pháp luật hành chính. dựa trên quan hệ pháp luật hành chính, nhưng quan hệ công tác nội bộ
của quan. quan nhà nước khác, nhân, tổ chức hội tham gia vào một quan hệ pháp luật
cụ thể với tư cách bên thẩm quyền hành chính nhà nước được qui định trong pháp luật hành
chính.
- quan nhà nước khác, nhân, tổ chức hội tham gia vào một quan hệ pháp luật cụ thể với
cách bên thẩm quyền hành chính nhà nước được quy định trong pháp luật hành chính
dụ: Theo Ðiều 35[1] Pháp lệnh xử vi phạm hành chính ngày 06/07/1995, chủ toạ phiên toà
thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi gây rối tại phiên toà. Trong quan hệ này,
toà án (cơ quan pháp) được trao thẩm quyền hành chính nhà nước, vì thế đây quan hệ pháp
luật hành chính với chủ thể quản toà án.
Chủ thể của quản hành chính nhà nước: một bên trong quan hệ pháp luật hành chính, chịu sự
quản lý, chấp hành mệnh lệnh của chủ thể quản lý. Trong quan hệ pháp
6
7
trong quản hành chính nhà nước. Năng lực chủ thể của đối tượng này hình thành khi cán bộ,
công chức được Nhà nước giao đảm nhận một công vụ, nhiệm vụ, chức vụ chức danh cụ thể trong
bộ m áy nhà nước và chấm dứt khi không còn đảm nhận công vụ, nhiệm vụ, chức vụ đó nữa.
dụ: khi mô t cán, công chức đến tuổi nghỉ hưu, các quan chức năng liên quan phải trách
mnhiê thực hiên các thủ tục theo quy định để đảm bảo quyền lợi và trách nhiêm của cán bô công
chức.
Tiếp sau đó Chủ thể quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam tổ chức xã hội, tổ chức xã hô i bao
gồm các tổ chức được thành lập hợp pháp, hoạt động trong các lĩnh vực hội nhằm bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp của các thành viên hoặc cộng đồng. Năng lực chủ thể pháp luật hành chính của tổ
chức phát sinh khi tổ chức được thành lập một cách hợp pháp pháp luật hành chính Việt Nam quy
định quyền và nghĩa vụ pháp cho tổ chức trong các lĩnh vực khác nhau của quản hành chính nhà
nước và chấm dứt khi không còn những quy định đó hoặc tổ chức đó giải thể. dụ: khi muốn lâp ra
mô t hô i nhóm hay câu lạc bô , họ phải xin phép và đăng kí với quan chức năng thẩm quyền và
thực hiên đúng quyền hạn của mình.
Cuối cùng, nhân chủ thể quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam, người tham gia vào quan
pháp luât hành chính với cách công dân, người nước ngoài,c hoă người không quốc tịch.
Họ quyền nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luât hành chính. Thời điểm phát sinh
năng lực phápt luâhành chinh và năng lực hành vi không giống nhau. Năng lực hành vi hành chính
của nhân không chỉ phụ thuô c vào khả năng thực tế của nhân, nhiều khi còn phụ thuô c
vào cách thức nhà nước thừa nhân khả năng thực tế đó. dụ: khi nhân cảm thấy bị quyền lợi
của mình bị xâm phạm, họ thể thực hiên khiếu nại lên các quan nhà nước thẩm quyền.
3.Năng l c ch th c a quan h ph p lu t h nh ch nh
Năng lực chủ thể khả năng pháp của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật với cách
chủ thể của quan hệ đó. Hay nói cách khác ng lực chủ thể khả năng thực hiện quyền
nghĩa vụ của các chủ thể quan hệ pháp luật họ tham gia.
Năng lực chủ thể gồm năng lực pháp luật năng lực hành vi. Năng lực pháp luật khả năng
hưởng các quyền nghĩa vụ pháp nhà nước quy định cho nhân hoặc tổ chức. Thông
8
thường, năng lực pháp luật khi người đó sinh ramất đi khi người đó chết. Đó thuộc tính
không tách rời của mỗi công dân và nó xuất hiện trên cơ sở pháp luật của mỗi nước.
Yếu tố thứ hai cấu thành nên năng lực chủ thể năng lực hành vi. Đây yếu tố biến động nhất
trong cấu thành của năng lực chủ thể. Năng lực hành vi khả năng của nhân được Nhà nước
thừa nhận bởi khả năng này họ thể tự nh tạo ra thực hiện quyền nghĩa vụ pháp
đồng thời cũng tự mình gánh chịu những hậu quả pháp lí nhất định.
Năng lực pháp luật năng lực hành vi tạo thành năng lực chủ thể pháp luật nên thế chúng
mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Một chủ thể pháp luật đơn thuần chỉ năng lực pháp luật thì không
thể tham gia tích cực vào các quan hệ pháp luật, tức không thể tự mình thực hiện các quyền
nghĩa vụ chủ thể. Ngược lại năng lực pháp luật tiền đề của năng lực hành vi. Không thể chủ
thể nào của pháp luật không năng lực pháp luật lại năng lực hành vi. Giữa năng lực pháp
luật năng lực hành vi giới hạn nét khi chủ thể quan hệ pháp luật các nhân trong
trường hợp này sự xuất hiện năng lực hành vi của chủ thể xảy ra muộn hơn so với năng lực pháp
luật. Còn đối với chủ thể pháp luật các pháp nhân, tổ chức thì ranh giới này khó nhận thấy vì nó
xuất hiện đồng thời khi pháp nhân đó được thành lập.
Năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính cũng khả năng của các chủ thể tham gia
vào quan hệ pháp luật hành chính với cách chủ thế của quan hệ đó. Hay nói cách khác năng
lực chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính khả năng hưởng và thực hiện quyền nghĩa vụ
của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính và nó cũng bao gồm năng lực pháp luật
năng lực hành vi. Nhưng ranh giới giữa chúng ràng trong trường hợp chủ thể nhân. Còn
trong trường hợp chủ thể là quan nhà nước, cán bộ công chức, tổ chức thì năng lực pháp luật
năng lực hành vi khó phân biệt được. Thường thì năng lực pháp luật năng lực hành vi của các
chủ thể này xuất hiện chấm dứt đồng thời.
Năng lực chủ thể khả năng pháp của quan, tổ chức hoặc nhân tham gia vào quan hệ pháp
luật hành chính với cách chủ thể quan hệ đó. Tùy thuộc vào cách của các quan nhà nước,
tổ chức và nhân, năng lực chủ thể của họ những điểm khác nhau về nội dung, thời điểm
phát sinh và các yếu tố chi phối.
9
Năng lực chủ thể của quan nhà nước:
quan nhà nước bộ phận hợp thành bộ máy nnước, được thành lập để thực hiện chức năng,
nhiệm vụ theo luật định. Năng lực chủ thể của quan nhà nước phát sinh khi quan đó được
thành lập chấm dứt khi quan đó bị giải thể. Đã cơ quan nhà nước khi nó ra đời tất yếu
đã năng lực pháp luật bằng chứng việc nhà nước cho phép thành lập và đặc biệt hơn nữa đó
quan đó được nhân danh Nhà nước được sử dụng quyền lực Nhà nước để hoạt động trong
phạm vi thẩm quyền của mình. Mỗi quan nhà nước ra đời thực hiện một chức năng nhiệm
vụ cụ thể do pháp luật quy định. Điều đó cũng nghĩa nó phải những điều kiện khả năng để
thực hiện chức năng của mình tức phải đủ năng lực hành vi năng lực hành vi trong trường
hợp này xuất hiện cùng lúc với năng lực pháp luật được thể hiện trong quyết định thành lập
quan nhà nước đó. Mặc các quan Nhà nước thể được thành lập không chức năng quản
hành chính Nhà nước nhưng khi quyết định được thành lập thì năng lực chủ thể trong quan
hệ pháp luật hành chính của mặc nhiên phát sinh. Bởi lẽ tuy hoạt động quản hành chính không
phải chức năng của nó nhưng hoạt động quản hành chính không thể thiếu trong quá trình hoạt
động của quan nhà nước. Đặc biệt hoạt động quản hành chính Nhà nước trong quá trình
củng cố, xây dựng chế độ công tác nội bộ của quan (nhóm đối tượng điều chỉnh thứ hai của luật
hành chính). Do vậy, pháp luật không cần quy định hoạt động quản của quan này nhưng
quan đó sẽ tự thỏa mãn yêu cầu về năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính ngay khi
thành lập.
Năng lực chủ thể của cán bộ, công chức:
10
Để trở thành cán bộ, công chức thì nhân phải trải qua những vòng khảo lưỡng. Điều đó
chứng tỏ họ cũng phải năng lực pháp luật, đặc biệt năng lực hành vi đầy đủ. Khi trở thành
cán bộ, công chức làm việc trong các quan nhà nước, họ sử dụng quyền lực của nhà nước trong
phạm vi thẩm quyền của mình tác động tới đối tượng quản để thực hiện những chức năng, nhiệm
vụ được giao. Đối với cán bộ, công chức thì họ mặc nhiên năng lực hành vi tham gia quan hệ
pháp luật. Nhưng với cách là "cán bộ, công chức "- chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật hành
chính thì năng lực chủ thể của họ được phát sinh khi nhân được nhà nước giao đảm nhiệm một
công vụ, chức vụ nhất định trong bộ máy nhà nước chấm dứt khi không còn đảm nhiệm công
vụ, chức vụ đó. Khi quyết định bổ nhiệm cán bộ, công chức thì năng lực pháp luật và năng lực
hành vi xuất hiện đồng thời và họ tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính đa phần với cách
chủ thể đặc biệt- chủ thể mang quyền lực Nhà nước. Năng lực chủ thể của cán bộ, công chức
được pháp luật quy định phù hợp với năng lực chủ thể của quan vị tcông tác của cán bộ
công chức đó. Họ cán bộ, công chức khi họ thực hiện công việc của mình. Còn ngoài chức vụ
quyền hạn của mình thì cán bộ công chức không còn cán bộ công chức nhà nước sử dụng quyền
lực nữa trở thành nhân bình thường. dụ: Chủ tịch UBND khi thực hiện nhiệm vụ trong
phạm vi thẩm quyền của mình, họ quyền xử phạt hành chính nhân vi phạm khác. Lúc này họ
chủ thể mang quyền lực. Nhưng trong cuộc sống đời thường, họ cũng có thể bị chủ thể khác xử
phạt nếu như họ vi phạm. Lúc này họ tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính không phải với
cách chủ thể mang quyền lực với cách
chủ thể phục tùng quyền lực.
Năng lực của chủ thể tổ chức trong quan hệ pháp luật hành chính:
Tổ chức thể hiểu đơn giản tập hợp một nhóm đông người liên kết lại với nhau một mục đích
nào đó. Ở nước ta nhiều tổ chức, thể tổ chứchội thể là đơn vị kinh tế, đơn vị trang,
cũng thể đơn vị hành chính sự nghiệp... Năng lực pháp luật năng lực hành vi của tổ chức
cũng xuất hiện đồng thời nhưng nó không mặc nhiên phát sinh khi tổ chức đó được thành lập. Năng
lực chủ thể của tổ chức chỉ phát sinh khi Nhà nước quy định quyền nghĩa vụ của tổ chức đó trong
quản hành chính Nhà nước chấm dứt khi không còn những quy định đó hoặc khi tổ chức đó
bị giải thể. Bởi lẽ các tổ chức thường thành lập với mục đích đa dạng không phải lúc nào c tổ
11
chức đó cũng hoạt động quản hành chính Nhà nước. Nên chỉ tham gia vào quan hệ pháp
luật với cách chủ thể chỉ khi nhà nước quy định quyền và nghĩa vụ cho trong lĩnh vực đó. Do
không chức năng quản nhà nước nên các tổ chức thường tham gia vào các quan hệ pháp luật
hành chính với cách chủ thể thường. Cá biệt trong một số trường hợp khi được Nhà nước trao
quyền quản hành chính nhà nước đối với một số công việc cụ thể, các tổ chức này thể tham
gia vào quan hệ pháp luật hành chính với cách chủ thể đặc biệt- chủ thể mang quyền lực.
Năng lực chủ thể của nhân:
Năng lực chủ thể của nhân được biểu hiện trong tổng thể năng lực pháp luật hành chính và năng
lực hành vi hành chính. Khác với năng lực pháp luật và năng lực hành vi của quan nhà nước, tổ
chức, cán bộ công chức, năng lực pháp luật năng lực hành vi hành chính của nhân không
xuất hiện cùng thời điểm. Năng lực pháp luật có trước làm tiền đề xuất hiện năng lực hành vi. Sở
sự khác biệt này khi xem xét năng lực chủ thcủa quan Nhà nước, tổ chức cán
bộ- công chức, chúng ta không cần xem xét tới phương diện khả năng thực tế của các quan, tổ
chức và cán bộ- công chức đó nữa vì khả năng này đã được nhà nước thừa nhận khi bầu, bổ nhiệm
cán bộ- công chức hoặc khi thành lập quan tổ chức đó. Còn việc tham gia quan hệ pháp luật
hành chính của các nhân không chỉ phụ thuộc vào quy định pháp luật hành chính còn phụ
thuộc nhiều vào khnăng thực tế của mỗi nhân. Năng lực pháp luật của nhân do Nhà nước
quy định. Còn năng lực hành vi hành chính của cá nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố: độ tuổi, trình
độ học vấn, tình trạng sức khỏe. dụ: Theo pháp lệnh xử vi phạm hành chính năm 2002 thì
người đủ 14 đến 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý, người từ đủ 16 tuổi
trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra ( điểm a, khoản 1, Điều
6) hay người từ đủ 14 đến 16 tuổi vi phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo. Hoặc người bị
hai mắt không thể điều khiển phương tiện giao thông được và trong trường hợp này họ được coi
không năng lực hành vi hành chính.
Năng lực chủ thể của nhân không chỉ phụ thuộc vào độ tuổi, sức khỏe hay trình độ học vấn của
nhân quan trọng hơn trong nhiều trường hợp nó phụ thuộc vào sự thừa nhận của Nhà nước.
Nhà nước thể mặc nhiên thừa nhận năng lực hành vi hành chính của nhân khi họ đủ những
điều kiện nhất định hoặc thông qua những hành vi pháp cụ thể để thừa nhận năng lực đó. dụ:
12
Một người đủ điều kiện lái xe máy (đủ 18 tuổi) nhưng năng lực hành vi của người này trong
việc điều khiển xe không mặc nhiên phát sinh chỉ phát sinh khi Nhà nước cấp bằng lái xe.
13
14
Nộp thuế, phí lệ phí: nhân tổ chức phải nộp các loại thuế, phí và lệ phí theo quy định của
pháp luật.
Chịu trách nhiệm trước pháp luật: Chủ thể phải chịu trách nhiệm về hành vi của nh trong các
hoạt động hành chính. Nếu vi phạm, họ thể bị xử kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc chịu các
hình thức xử khác theo quy định.
Việc thực hiện quyền nghĩa vụ của chủ thtrong quan hệ hành chính luật được cụ thể hóa
thông tin qua các vấn đề pháp thực tế. Dưới đây cách thức thực hiện quyền nghĩa vụ của
mình trong một số ví dụ cụ thể:
Quan hệ giữa công dân quan hành chính nhà nước: Ông A phó đơn xin cấp giấy phép kinh
doanh tại Sở Kế hoạch Đầu tư. Quyền của ông A được yêu cầu cơ quan hành chính cấp giấy
phép theo đúng quy định, được cung cấp thông tin về quy trình, thời gian xử lý. Khiếu bỏ nếu xử
hồ chậm hoặc sai sót. Nghĩa vụ của ông A đầy đủ hồ theo yêu cầu, chấp nhận các quy
định về quản kinh doanh sau khi được phép. Quyền của quan nhà nước yêu cầu của ông
một hồ bổ sung nếu chưa đầy đủ, từ chối cấp phép nếu hồ không hợp lệ hoặc vi phạm pháp
luật. Nghĩa vụ của quan nhà nước xử hồ đúng thời hạn, công bằng giải thích do
nếu bị từ chối cấp phép.
Quan hệ trong lĩnh vực xử phạt vi phạm hành chính: Anh B bị cảnh báo xử chạy quá tốc độ.
Quyền của anh B được biết do bị xử phạt. Khi thiếu hoặc khởi động quyết định xử phạt
nếu cho rằng sai và được yêu cầu sở lập trình biên dịch theo quy trình chính xác. Nghĩa vụ của
anh B chấp nhận hành động quyết định xử phạt (nộp phạt, tạm giữ giấy tờ nếu có) và thực hiện
quy định về toàn bộ giao thức. Quyền của quan cảnh báo giao thông vi phạm yêu cầu dừng
xe cung cấp giấy tờ, ra quyết định xử theo quyền xác thực. Nhiệm vụ của sở cảnh báo giao
thông là lập bản vi phạm minh bạch, chính xác. Giải thích suy nghĩ nếu yêu cầu.
Quan hệ giữa doanh nghiệp và quan quản nhà nước: Doanh nghiệp C thiết bị thanh tra nghi
phạm vi phạm quy định về môi trường. Quyền của doanh nghiệp C là được biết nội dung thanh tra
quyền lợi liên quan và khiếu nại về quyết định thanh tra nếu thấy không hợp lý. Nghĩa vụ của
doanh nghiệp C cung cấp thông tin, liên kết tài liệu theo yêu cầu khắc phục các vi phạm nếu
15
bị phát hiện. Quyền của quan thanh tra yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin, tài liệu, ra
quyết định xử nếu phát hiện vi phạm. Nghĩa vụ của quan thanh tra thực hiện thanh toán
theo đúng quy trình, hết hạn va không gây phiền toái hoặc vượt quá quyền kiểm tra.
5.Tr ch nhi m ph p c a ch th trong quan h ph p lu t h nh ch nh
Trách nhiệm pháp của các chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính nghĩa vụ các
nhân, tổ chức hoặc quan nhà nước phải chịu khi vi phạm các quy định của pháp luật hành chính.
Trách nhiệm này được áp dụng nhằm duy trì trật tự và bảo đảm sự tuân thủ pháp luật.
Trong quan hệ pháp luật hành chính, trách nhiệm pháp bản các chủ thể phải đối mặt
trách nhiệm hành chính. Trách nhiệm hành chính hình thức xử chính đối với các hành vi vi
phạm pháp luật hành chính, bao gồm các hành vi vi phạm quy định về trật tự, an ninh hội,
các quy định quản nhà nước. dụ: Ông A xây dựng nhà trên đất nông nghiệp không
giấy phép xây dựng. Hành vi này vi phạm quy định về xây dựng và sử dụng đất đai, nên quan
quản đất đai ra quyết định xử phạt hành chính với mức phạt tiền yêu cầu ông A khôi phục lại
hiện trạng ban đầu của đất nông nghiệp. Nếu ông A không chấp hành quyết định này, quan chức
năng thể áp dụng biện pháp cưỡng chế, tháo dỡ công trình xây dựng trái phép.
Tuy nhiên, tùy vào từng trường hợp cụ thể hành vi vi phạm, chủ thể trong quan hệ pháp luật
hành chính thể đồng thời phải đối mặt với các loại trách nhiệm pháp lý khác nếu hành vi vi
phạm thuộc lĩnh vực khác. Nếu vi phạm hành chính để lại hậu quả liên quan đến chức quyền
hạn của mình thì đồng nghĩa bị xử kỷ luật, có thể áp dụng đồng thời hai trách nhiệm pháp
đây nhưng đã cùng hành vi thì đã áp dụng hành chính thì không áp dụng trách nhiệm pháp khác
Ý nghĩa trách nhiệm pháp trong quan hệ pháp luật hành chính: Giúp đảm bảo tính nghiêm minh
của pháp luật, bảo vệ trật tự công cộng lợi ích của nhà nước cũng như công dân. Bằng việc quy
định ràng trách nhiệm pháp lý, pháp luật hành chính không chỉ răn đe, ngăn ngừa vi phạm
còn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên trong quan hệ hành chính
6.Trong x c đ nh v phân loại ch th c a quan h ph p lu t h nh ch nh sẽ
một số vấn đề ph t sinh.
16
Đầu tiên sẽ khó khăn trong việc xác định ai chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính. Về đặc
thù của chủ thể, chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính thể cảnhân tổ chức, bao gồm
cả quan nhà nước các tổ chức phi chính phủ. Điều này dẫn đến sự phức tạp trong việc xác
định quyền và nghĩa vụ của từng bên. Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính còn mang những
tính chất đa dạng, bởi các quan hệ hành chính thường diễn ra trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ
quản nhà nước đến dịch vụ công. Mỗi lĩnh vực lại những quy định cách hiểu khác nhau về
chủ thể. Ngoài ra, việc pháp luật hành chính thể những thay đổi thường xuyên điều đó dẫn
đến ảnh hưởng trong việc xác định chủ thể. Các quy định mới cũng thể làm thay đổi cách thức
xác định nghĩa vụ và quyền lợi của các bên. Những yếu tố này tạo ra thách thức trong việc xác định
đúng đắn chủ thể của các quan hệ pháp luật hành chính. dụ: Trong trường hợp tranh chấp quyền
sở hữu tài sản. Giả sử một mảnh đất được mua bán giữa hai bên, nhưng hợp đồng không ràng
về người sở hữu thực sự. Nếu nhiều người quyền lợi liên quan (chẳng hạn như người thừa
kế, đối tác kinh doanh), việc xác định ai chủ thể hợp pháp sẽ trở nên phức tạp.
Tiếp đến, tính pháp của chủ thể cũng thể gây khó khăn trong việc phân loại và xác định chủ
thể của quan hệ pháp luật hành chính. Các quy định về chủ thể trong pháp luật hành chính thể
thiếu sự ràng, dẫn đến việc khó xác định ai đủ tiêu chuẩn để trở thành chủ thể. Khả năng tham
gia vào quan hệ pháp luật phụ thuộc vào năng lực pháp hành vi. Những yếu tố này thể
thay đổi theo thời gian hoặc theo từng tình huống cụ thể, gây khó khăn trong việc xác định chủ thể.
Quyền hạn và nghĩa vụ của các chủ thể khác nhau trong các lĩnh vực hành chính thể không đồng
nhất, làm khó khăn trong việc xác định một cách ràng ai chủ thể. Và nhiều chủ thể thể
quyền hạn chồng chéo hoặc tương tự nhau, dụ như giữa các quan nhà nước, tổ chức
nhân. Việc quyền hạn của chủ thể thay đổi theo nh huống dẫn đến sự không ổn định trong việc
xác định chủ thể. Các nhân tổ chức thể năng lực pháp khác nhau, ảnh hưởng đến
quyền hạn và nghĩa vụ của họ. Những khó khăn này thể dẫn đến tranh chấp hiểu lầm trong
việc thực hiện quyền và nghĩa vụ, làm ảnh hưởng đến tính hiệu quả và công bằng của các quan hệ
pháp luật hành chính.
Ngoài ra, thực tiễn cũng ảnh hưởng lớn đến việc xác định và phân loại chủ thể của quan hệ pháp
luật hành chính. Thực tiễn xã hội và kinh tế biến đổi thể dẫn đến sự xuất hiện của các loại hình
17
chủ thể mới (ví dụ: các tổ chức phi lợi nhuận, doanh nghiệp khởi nghiệp) pháp luật chưa kịp
điều chỉnh, gây khó khăn trong việc phân loại.
Hành vi vai trò của các chủ thể trong thực tiễn thể khác với quy định pháp luật. Chẳng hạn,
một quan nhà nước thể thực hiện các quyền nghĩa vụ không được quy định ràng
trong luật, tạo ra sự không nhất quán trong việc xác định chủ thể. Các vụ việc thực tế, đặc biệt
các phán quyết của tòa án, thể tạo ra tiền lệ trong việc xác định chủ thể, làm thay đổi cách hiểu
áp dụng pháp luật. Hơn hết sự phản ứng của hội đối với các quyết định hành chính thể
ảnh hưởng đến cách xác định phân loại chủ thể. Nếu một nhóm cụ thể được công nhận nhiều
hơn trong thực tiễn, điều này thể dẫn đến sự thay đổi trong pháp luật để phản ánh thực tế đó.
Nếu quy định pháp luật không phù hợp với thực tiễn, việc thực thi sẽ gặp khó khăn, dẫn đến việc
cần điều chỉnh lại cách phân loại xác định chủ thể cho phù hợp với thực tế. Ví dụ về phản ứng
của xã hội: Khi một nhóm người tiêu dùng tập hợp lại để phản đối một sản phẩm kém chất lượng
hoặc yêu cầu bồi thường, họ thể không được công nhận một tổ chức chính thức. Điều này
khiến việc xác định họ chủ thể quyền lợi và nghĩa vụ trong quan hệ pháp luật hành chính gặp
khó khăn.
Những ảnh hưởng này làm cho việc phân loại xác định chủ thể trong quan hệ pháp luật hành
chính trở nên phức tạp cần sự điều chỉnh linh hoạt từ phía các nhà làm luật.
7.Xu hướng ph t tri n v đổi mới về ch th trong quan h ph p lu t h nh ch
nh hi n nay.
Trước hết, việc mở rộng chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính phản ánh xu hướng phát
triển và đổi mới hiện nay. Với việc gia tăng và phát triển của các tổ chức phi chính phủ hiện nay,
các tổ chức phi chính phủ, tổ chức hội doanh nghiệp hội ngày càng trở thành chủ thể
trong các quan hệ hành chính, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ công tham
gia vào các quyết định chính sách. Ngoài ra các nhân không chỉ đối tượng chịu sự quản
còn được xem chủ thể quyền tham gia vào các quy trình hành chính, như kiến nghị, khiếu
nại hoặc tham gia vào các quyết định liên quan đến quyền lợi của họ. Đổi mới công nghệ cũng
làm cho chủ thể trở nên đa dạng hơn, sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông đã tạo
ra những chủ thể mới, chẳng hạn như các nền tảng trực tuyến và các tổ chức cung cấp dịch vụ kỹ
18
thuật số. Sự hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần mở rộng phát triển chủ thể. Để phù hợp
với xu hướng phát triển, pháp luật hành chính đang được điều chỉnh để mở rộng khái niệm chủ
thể, từ đó tạo ra khung pháp cho các chủ thmới hoạt động một cách hợp pháp hiệu quả.
Những thay đổi này không chỉ làm phong phú thêm các quan hệ pháp luật hành chính còn thúc
đẩy tính minh bạch, trách nhiệm và sự tham gia của cộng đồng trong quá trình quản nhà nước.
Tiếp theo, việc tăng cường quyền của nhân trong quan hệ pháp luật hành chính hiện nay phản
ánh xu hướng phát triển và đổi mới thông qua nhiều khía cạnh. Về khía cạnh luật, pháp luật ngày
càng nhấn mạnh việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân, bao gồm quyền được thông tin, quyền
tham gia ý kiến trong các quyết định hành chính liên quan đến mình. Các quy định về khiếu nại và
tố cáo đã được cải thiện, tạo điều kiện cho nhân thể dễ dàng yêu cầu giải quyết khi quyền lợi
của họ bị xâm phạm. Điều này giúp tăng cường tính minh bạch trách nhiệm của quan nhà
nước. nhân giờ đây hội tham gia vào các quy trình ra quyết định hành chính thông qua
các cuộc họp, hội thảo hoặc thông qua c nền tảng trực tuyến, điều này nâng cao tính dân chủ
trong quản hành chính. Hơn thế hiện nay nhiều quy định pháp luật đã mở rộng khả năng khởi
kiện của nhân đối với các quyết định hành chính họ cho sai trái hoặc vi phạm quyền lợi
của họ. Xu hướng phát triển và đổi mới cũng phản ánh sự thay đổi trong nhận thức của hội về
vai trò của nhân trong việc tham gia vào các vấn đề công, từ đó thúc đẩy sự tôn trọng bảo vệ
quyền lợi nhân. Việc tăng cường quyền của nhân không chỉ nâng cao trách nhiệm của
quan hành chính còn thúc đẩy sự phát triển bền vững và công bằng trong xã hội.
19
Việc phát triển hình quản hành chính trong xu hướng đổi mới phát triển về chủ thể trong
quan hệ pháp luật hành chính hiện nay diễn ra qua một số xu hướng chính. Các hình quản
hành chính hiện đại nhấn mạnh đến tính minh bạch, trách nhiệm giải trình sự tham gia của người
dân. Điều này yêu cầu các quan nhà nước phải điều chỉnh cách thức hoạt động để phục vụ tốt
hơn cho người dân. Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản hành chính càng
ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn, giúp ng cao hiệu quả, giảm thiểu thủ tục hành chính,
đồng thời tạo điều kiện cho nhân và tổ chức dễ dàng tiếp cận dịch vụ công. Xu hướng đẩy mạnh
phân cấp uỷ quyền cho phép các quan địa phương nhiều quyền tự chủ hơn trong việc quản
và điều hành, phù hợp với nhu cầu cụ thể của cộng đồng, qua đó tạo ra sự linh hoạt trong quản
hành chính. Những phát triển này không chỉ tạo ra một môi trường quản nh chính hiệu quả
hơn còn thúc đẩy sự gắn kết giữa các chủ thtrong quan hệ pháp luật hành chính, đảm bảo
quyền lợi nghĩa vụ của mỗi bên được thực hiện một cách công bằng hiệu quả. dụ: Các
cổng thông tin này cung cấp thông tin về các quy định pháp luật, thủ tục hành chính, dịch vụ
công. Người dân thể dễ dàng tra cứu thực hiện các thủ tục không cần phải đến trực tiếp
cơ quan hành chính.
Việc thúc đẩy vai trò của hội trong xu hướng phát triển đổi mới về chủ thể trong quan hệ
pháp luật hành ủa các quyết định hành chính. Trong thời đại của mạng hội, các nền tảng trực
tuyến và các diễn đàn cộng đồng ngày càng trở thành công cụ hiệu quả để người dân chia sẻ ý kiến,
phản ánh nhu cầu tham gia vào các quyết định hành chính, qua đó nâng cao vai trò của hội
trong quản nhà nước. Cũng không thể không nói đến sự quan trọng của giáo dục, việc giáo dục
nâng cao nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân trong hệ thống pháp luật hành chính góp
phần thúc đẩy sự tham gia của xã hội, giúp người dân nhận thức hơn về vai trò của mình. Những
nỗ lực này không chỉ giúp tăng cường vai trò của xã hội trong quan hệ pháp luật hành chính còn
góp phần xây dựng một hệ thống quản nhà nước minh bạch, hiệu quả gần gũi với người dân.
PHẦN 2: Bài tập tình huống
T nh huống :Hậu Ly 3 con chung Tùng, Nam, Phương (đều đã đi làm thu nhập
cao). Do cuộc sống chung không hạnh phúc, Hậu và Ly ly thân. Tùng sống với Hậu, còn Nam và
Phương sống với Ly. Tùng là đứa con hư hỏng, đã lần đánh

Preview text:

ĐẠI HỌC THƯƠNG M ẠI TRƯỜNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH --- 🙠🙢🕮🙠🙢 --- BÀI THẢO LUẬN Phân
tích chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính, ví
dụ minh họa và bài tập tình huống Nhóm thực hiện : Nhóm 3 Giảng viên hướng dẫn : Đ Thị Hoa Chuyên ngành : QTKD Lớp học phần : 241 _TLA W01 1 1 _ 36 Khóa : 2024 - 2028 1 2
LỜI MỞ ĐẦU
Nhà nước và pháp luật là hai thứ song hành và gắn bó với nhau, đây đều là những hiện tượng xã
hội mang tính chất phức tạp. Từ đó mà việc nhận thức về xã hội, nhận thức về luật pháp trở thành
chìa khóa để con người có những ứng xử thông minh, chuẩn mực đạo đức tạo một thói quen tốt
cho toàn bộ cộng đồng. Ở những lớp thấp hơn ta có môn giáo dục công dân đã truyền đạt cho chúng
ta sơ bộ về luật pháp cũng như cách mà một nhà nước vận hành trong xã hội ngày nay, lên đại học
ta có học phần Pháp luật đại cương giúp ta rõ ràng hơn về cách mà luật pháp hoạt động cũng như
đi sâu vào từng điều luật mà bản thân mỗi người dân cần phải được biết và phải biết. Từ đó xây
dựng nên một xã hội mang tính tích cực, đẩy lùi tệ nạn xã hội. Pháp luật đóng một vai trò vô cùng
quan trọng trong bất kì một thời kì hay niên đại nào. Ta không thể phủ nhận rằng nó như là chìa
khóa đảm bảo cho quy trình vận hành của một đất nước, là yếu tố quyết định tới đời sống, đạo đức
và kỉ cương của toàn bộ nhân dân.
Montesquieu đã từng khẳng định rằng “khi quyền lập pháp và hành pháp tập trung vào tay một
người hoặc một nhóm người nào đó thì tự do sẽ chấm dứt”, rõ ràng quyền lực cần được phân chia
một cách đúng đắn và buộc phải ban hành ra những luật pháp mang tính ảnh hưởng lớn để bảo vệ
tự do cũng như quyền lợi của tất cả mọi ngươì. Và cũng bởi thế mà luật hành chính luôn là luật vô
cùng quan trọng trong đời sống con người cũng như với sự phát triển của toàn bộ xã hội.
Trong đó, chế định thừa kế là một chế định quan trọng trong hệ thống các quy phạm pháp luật dân
sự Việt Nam. Quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế là những quyền cơ bản của công dân luôn
luôn được pháp luật ở nhiều nước trên thế giới quan tâm, theo dõi và bảo hộ. Việt Nam là một trong
những nước đang phát triển và có nền văn hóa với các truyền thống đạo đức lâu đời được truyền
từ đời này qua đời khác. Do đó đối với người Việt Nam hiện nay, việc coi trọng các phong tục tập
quán, tình cảm đã khiến không ít người bỏ qua việc đảm bảo quyền để lại quyền thừa kế của mình
bằng cách thảo một bản di chúc.
Bài tiểu luận này sẽ phân tích chi tiết về vai trò của chủ thể của quan hệ luật hành chính trong đời
sống xã hội, để từ đó ta nhận thấy rõ được chi tiết hơn về những mặt hạn chế cũng như đưa ra
những phương án cụ thể để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật này và từ đó áp dụng những
quyền thừa kế để chia di sản sao cho hợp lý. 3 NỘI DUNG
PHẦN 1: Phân tích chủ thể luật hành chính
1. Kh i qu t v đ nh ngh a ch th c a quan h ph p lu t h nh ch nh
Để tham gia vào quan hệ pháp luật thì phải có người tham gia. Và khi thỏa mãn những điều kiện
nhất định thì họ trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật. Các chủ thể khi tham gia vào một quan
hệ pháp luật đều có quyền và nghĩa vụ pháp lí nhất định và đều hướng tới những lợi ích nhất định.
Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính: là những người tham gia vào quan hệ pháp luật hành
chính có những quyền và nghĩa vụ luật định và đều hướng tới trật tự quản lí hành chính. Chủ thể của
quan hệ pháp luật hành chính rất đa dạng bao gồm có cơ quan nhà nước, các tổ chức ( xã hội, đơn
vị kinh tế, chính trị - xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp …), cá nhân, cán bộ công chức … có năng
lực chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, mang quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo
quy định của pháp luật hành chính. Như vậy, điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân trở thành
chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính là các cơ quan, tổ chức, cá nhân đó phải có năng lực chủ
thể với quan hệ pháp luật hành chính mà họ tham gia.
Chủ thể quản lý hành chính nhà nước: là các cá nhân hay tổ chức của con người mang quyền lực
hành chính nhà nước, nhân danh nhà nước và thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước.
"Mang quyền lực nhà nước" ở đây cần hội đủ 2 yếu tố sau: Có thẩm quyền hành chính nhà nước
do pháp luật qui định và tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính với tư cách của chủ thể có
thẩm quyền hành chính nhà nước, không vượt ra khỏi thẩm quyền đã được luật định.
Nói lên điều này để phân biệt rạch ròi "vai trò" của một chủ thể nhất định trong những trường hợp
cụ thể nhất định. Trường hợp chủ thể A là chủ thể có thẩm quyền hành chính nhà nước nhưng tham
gia vào quan hệ không với tư cách thẩm quyền ấy, thì không thể hình thành quan hệ pháp luật hành
chính với A là chủ thể quản lý
dụ: Nguyễn Văn A là chủ tịch UBND huyện B, có hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông
trong khi điều khiển phương tiện xe 2 bánh. Trường hợp này, A phải chịu xử lý theo pháp luật hành
chính như tất cả các cá nhân khác vi phạm trật tư an toàn giao thông. 4
Chủ thể bắt buộc trong quan hệ pháp luật hành chính có quyền nhân danh Nhà nước để đơn
phương ra những mệnh lệnh (thể hiện dưới dạng các quy phạm pháp luật hoặc các mệnh lệnh cụ
thể để giải quyết công việc cụ thể) buộc phía bên kia phải thực hiện. Ðây là một đặc trưng cơ bản
của quan hệ pháp luật hành chính so với các quan hệ pháp luật khác. Ðiều kiện để trở thành chủ
thể của quan hệ pháp luật hành chính là phải có năng lực pháp luật hành chính và năng lực hành vi
hành chính. Chủ thể này có thể là:
- Cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ hành chính nhà nước. Tuy nhiên, cần phân biệt quan hệ
pháp luật hành chính với quan hệ chỉ đạo công tác trong nội bộ một cơ quan.
dụ: Quan hệ pháp luật giữa UBND Tỉnh A với UBND Huyện B tương ứng trực thuộc là quan
hệ pháp luật hành chính. Tuy nhiên, quan hệ giữa thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước với thư
ký của cơ quan đó trong việc "nhờ" cô thư ký đánh máy một công văn thì không phải là quan hệ
pháp luật hành chính. Nó dựa trên quan hệ pháp luật hành chính, nhưng là quan hệ công tác nội bộ
của cơ quan. Cơ quan nhà nước khác, cá nhân, tổ chức xã hội tham gia vào một quan hệ pháp luật
cụ thể với tư cách là bên có thẩm quyền hành chính nhà nước được qui định trong pháp luật hành chính.
-Cơ quan nhà nước khác, cá nhân, tổ chức xã hội tham gia vào một quan hệ pháp luật cụ thể với tư
cách là bên có thẩm quyền hành chính nhà nước được quy định trong pháp luật hành chính
dụ: Theo Ðiều 35[1] Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 06/07/1995, chủ toạ phiên toà có
thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi gây rối tại phiên toà. Trong quan hệ này,
toà án (cơ quan tư pháp) được trao thẩm quyền hành chính nhà nước, vì thế đây là quan hệ pháp
luật hành chính với chủ thể quản lý là toà án.
Chủ thể của quản lý hành chính nhà nước: Là một bên trong quan hệ pháp luật hành chính, chịu sự
quản lý, chấp hành mệnh lệnh của chủ thể quản lý. Trong quan hệ pháp 5 6
trong quản lý hành chính nhà nước. Năng lực chủ thể của đối tượng này hình thành khi cán bộ,
công chức được Nhà nước giao đảm nhận một công vụ, nhiệm vụ, chức vụ chức danh cụ thể trong
bộ m áy nhà nước và chấm dứt khi không còn đảm nhận công vụ, nhiệm vụ, chức vụ đó nữa. Ví
dụ: khi mô t cán, công bô chức đến tuổi nghỉ hưu, các cơ quan chức năng liên quan phải có trách
mnhiê thực hiên các thủ tục theo quy định để đảm bảo quyền lợi và trách nhiêm của cán bô công chức.
Tiếp sau đó là Chủ thể quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam là tổ chức xã hội, tổ chức xã hô i bao
gồm các tổ chức được thành lập hợp pháp, hoạt động trong các lĩnh vực xã hội nhằm bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của các thành viên hoặc cộng đồng. Năng lực chủ thể pháp luật hành chính của tổ
chức phát sinh khi tổ chức được thành lập một cách hợp pháp và pháp luật hành chính Việt Nam quy
định quyền và nghĩa vụ pháp lí cho tổ chức trong các lĩnh vực khác nhau của quản lí hành chính nhà
nước và chấm dứt khi không còn những quy định đó hoặc tổ chức đó giải thể. Ví dụ: khi muốn lâp ra
mô t hô i nhóm hay câu lạc bô , họ phải xin phép và đăng kí với cơ quan chức năng có thẩm quyền và
thực hiên đúng quyền hạn của mình.
Cuối cùng, Cá nhân là chủ thể quan hệ pháp luật hành chính Việt Nam, là người tham gia vào quan
hê pháp luât hành chính với tư cách là công dân, người nước ngoài,c hoă người không quốc tịch.
Họ có quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luât hành chính. Thời điểm phát sinh
năng lực phápt luâhành chinh và năng lực hành vi không giống nhau. Năng lực hành vi hành chính
của cá nhân không chỉ phụ thuô c vào khả năng thực tế của cá nhân, mà nhiều khi còn phụ thuô c
vào cách thức nhà nước thừa nhân khả năng thực tế đó. Ví dụ: khi cá nhân cảm thấy bị quyền lợi
của mình bị xâm phạm, họ có thể thực hiên khiếu nại lên các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3.Năng l c ch th c a quan h ph p lu t h nh ch nh
Năng lực chủ thể là khả năng pháp lí của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật với tư cách
là chủ thể của quan hệ đó. Hay nói cách khác năng lực chủ thể là khả năng thực hiện quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể quan hệ pháp luật mà họ tham gia.
Năng lực chủ thể gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Năng lực pháp luật là khả năng
hưởng các quyền và nghĩa vụ pháp lí mà nhà nước quy định cho cá nhân hoặc tổ chức. Thông 7
thường, năng lực pháp luật có khi người đó sinh ra và mất đi khi người đó chết. Đó là thuộc tính
không tách rời của mỗi công dân và nó xuất hiện trên cơ sở pháp luật của mỗi nước.
Yếu tố thứ hai cấu thành nên năng lực chủ thể là năng lực hành vi. Đây là yếu tố biến động nhất
trong cấu thành của năng lực chủ thể. Năng lực hành vi là khả năng của cá nhân được Nhà nước
thừa nhận mà bởi khả năng này họ có thể tự mình tạo ra và thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lí
đồng thời cũng tự mình gánh chịu những hậu quả pháp lí nhất định.
Năng lực pháp luật và năng lực hành vi tạo thành năng lực chủ thể pháp luật nên vì thế chúng có
mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Một chủ thể pháp luật đơn thuần chỉ có năng lực pháp luật thì không
thể tham gia tích cực vào các quan hệ pháp luật, tức không thể tự mình thực hiện các quyền và
nghĩa vụ chủ thể. Ngược lại năng lực pháp luật là tiền đề của năng lực hành vi. Không thể có chủ
thể nào của pháp luật không có năng lực pháp luật mà lại có năng lực hành vi. Giữa năng lực pháp
luật và năng lực hành vi có giới hạn rõ nét khi chủ thể quan hệ pháp luật là các cá nhân vì trong
trường hợp này sự xuất hiện năng lực hành vi của chủ thể xảy ra muộn hơn so với năng lực pháp
luật. Còn đối với chủ thể pháp luật là các pháp nhân, tổ chức thì ranh giới này khó nhận thấy vì nó
xuất hiện đồng thời khi pháp nhân đó được thành lập.
Năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính cũng là khả năng của các chủ thể tham gia
vào quan hệ pháp luật hành chính với tư cách là chủ thế của quan hệ đó. Hay nói cách khác năng
lực chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính là khả năng hưởng và thực hiện quyền và nghĩa vụ
của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính và nó cũng bao gồm năng lực pháp luật
và năng lực hành vi. Nhưng ranh giới giữa chúng rõ ràng trong trường hợp chủ thể là cá nhân. Còn
trong trường hợp chủ thể là cơ quan nhà nước, cán bộ công chức, tổ chức thì năng lực pháp luật và
năng lực hành vi khó phân biệt được. Thường thì năng lực pháp luật và năng lực hành vi của các
chủ thể này xuất hiện và chấm dứt đồng thời.
Năng lực chủ thể là khả năng pháp lí của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân tham gia vào quan hệ pháp
luật hành chính với tư cách là chủ thể quan hệ đó. Tùy thuộc vào tư cách của các cơ quan nhà nước,
tổ chức và cá nhân, mà năng lực chủ thể của họ có những điểm khác nhau về nội dung, thời điểm
phát sinh và các yếu tố chi phối. 8
Năng lực chủ thể của quan nhà nước:
Cơ quan nhà nước là bộ phận hợp thành bộ máy nhà nước, được thành lập để thực hiện chức năng,
nhiệm vụ theo luật định. Năng lực chủ thể của cơ quan nhà nước phát sinh khi cơ quan đó được
thành lập và chấm dứt khi cơ quan đó bị giải thể. Đã là cơ quan nhà nước khi nó ra đời tất yếu là
đã có năng lực pháp luật bằng chứng là ở việc nhà nước cho phép thành lập và đặc biệt hơn nữa đó
là cơ quan đó được nhân danh Nhà nước được sử dụng quyền lực Nhà nước để hoạt động trong
phạm vi thẩm quyền của mình. Mỗi cơ quan nhà nước ra đời nó thực hiện một chức năng nhiệm
vụ cụ thể do pháp luật quy định. Điều đó cũng có nghĩa là nó phải có những điều kiện khả năng để
thực hiện chức năng của mình tức là phải đủ năng lực hành vi và năng lực hành vi trong trường
hợp này xuất hiện cùng lúc với năng lực pháp luật được thể hiện trong quyết định thành lập cơ
quan nhà nước đó. Mặc dù các cơ quan Nhà nước có thể được thành lập không có chức năng quản
lý hành chính Nhà nước nhưng khi nó có quyết định được thành lập thì năng lực chủ thể trong quan
hệ pháp luật hành chính của nó mặc nhiên phát sinh. Bởi lẽ tuy hoạt động quản lý hành chính không
phải là chức năng của nó nhưng hoạt động quản lý hành chính không thể thiếu trong quá trình hoạt
động của cơ quan nhà nước. Đặc biệt là hoạt động quản lý hành chính Nhà nước trong quá trình
củng cố, xây dựng chế độ công tác nội bộ của cơ quan (nhóm đối tượng điều chỉnh thứ hai của luật
hành chính). Do vậy, pháp luật không cần quy định hoạt động quản lý của cơ quan này nhưng cơ
quan đó sẽ tự thỏa mãn yêu cầu về năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính ngay khi thành lập.
Năng lực chủ thể của cán bộ, công chức: 9
Để trở thành cán bộ, công chức thì cá nhân phải trải qua những vòng sơ khảo kĩ lưỡng. Điều đó
chứng tỏ họ cũng phải có năng lực pháp luật, đặc biệt là năng lực hành vi đầy đủ. Khi trở thành
cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước, họ sử dụng quyền lực của nhà nước trong
phạm vi thẩm quyền của mình tác động tới đối tượng quản lý để thực hiện những chức năng, nhiệm
vụ được giao. Đối với cán bộ, công chức thì họ mặc nhiên có năng lực hành vi tham gia quan hệ
pháp luật. Nhưng với tư cách là "cán bộ, công chức "- chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật hành
chính thì năng lực chủ thể của họ được phát sinh khi cá nhân được nhà nước giao đảm nhiệm một
công vụ, chức vụ nhất định trong bộ máy nhà nước và chấm dứt khi không còn đảm nhiệm công
vụ, chức vụ đó. Khi có quyết định bổ nhiệm cán bộ, công chức thì năng lực pháp luật và năng lực
hành vi xuất hiện đồng thời và họ tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính đa phần với tư cách
là chủ thể đặc biệt- chủ thể mang quyền lực Nhà nước. Năng lực chủ thể của cán bộ, công chức
được pháp luật quy định phù hợp với năng lực chủ thể của cơ quan và vị trí công tác của cán bộ
công chức đó. Họ là cán bộ, công chức khi họ thực hiện công việc của mình. Còn ngoài chức vụ
quyền hạn của mình thì cán bộ công chức không còn là cán bộ công chức nhà nước sử dụng quyền
lực nữa mà trở thành cá nhân bình thường. Ví dụ: Chủ tịch UBND khi thực hiện nhiệm vụ trong
phạm vi thẩm quyền của mình, họ có quyền xử phạt hành chính cá nhân vi phạm khác. Lúc này họ
là chủ thể mang quyền lực. Nhưng trong cuộc sống đời thường, họ cũng có thể bị chủ thể khác xử
phạt nếu như họ vi phạm. Lúc này họ tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính không phải với
tư cách là chủ thể mang quyền lực mà với tư cách
là chủ thể phục tùng quyền lực.
Năng lực của chủ thể tổ chức trong quan hệ pháp luật hành chính:
Tổ chức có thể hiểu đơn giản là tập hợp một nhóm đông người liên kết lại với nhau vì một mục đích
nào đó. Ở nước ta có nhiều tổ chức, có thể là tổ chức xã hội có thể là đơn vị kinh tế, đơn vị vũ trang,
cũng có thể là đơn vị hành chính sự nghiệp... Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của tổ chức
cũng xuất hiện đồng thời nhưng nó không mặc nhiên phát sinh khi tổ chức đó được thành lập. Năng
lực chủ thể của tổ chức chỉ phát sinh khi Nhà nước quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó trong
quản lý hành chính Nhà nước và chấm dứt khi không còn những quy định đó hoặc khi tổ chức đó
bị giải thể. Bởi lẽ các tổ chức thường thành lập với mục đích đa dạng không phải lúc nào các tổ 10
chức đó cũng có hoạt động quản lý hành chính Nhà nước. Nên nó chỉ tham gia vào quan hệ pháp
luật với tư cách chủ thể chỉ khi nhà nước quy định quyền và nghĩa vụ cho nó trong lĩnh vực đó. Do
không có chức năng quản lý nhà nước nên các tổ chức thường tham gia vào các quan hệ pháp luật
hành chính với tư cách là chủ thể thường. Cá biệt trong một số trường hợp khi được Nhà nước trao
quyền quản lý hành chính nhà nước đối với một số công việc cụ thể, các tổ chức này có thể tham
gia vào quan hệ pháp luật hành chính với tư cách là chủ thể đặc biệt- chủ thể mang quyền lực.
Năng lực chủ thể của nhân:
Năng lực chủ thể của cá nhân được biểu hiện trong tổng thể năng lực pháp luật hành chính và năng
lực hành vi hành chính. Khác với năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cơ quan nhà nước, tổ
chức, cán bộ công chức, năng lực pháp luật và năng lực hành vi hành chính của cá nhân không
xuất hiện cùng thời điểm. Năng lực pháp luật có trước làm tiền đề xuất hiện năng lực hành vi. Sở
dĩ có sự khác biệt này là vì khi xem xét năng lực chủ thể của cơ quan Nhà nước, tổ chức và cán
bộ- công chức, chúng ta không cần xem xét tới phương diện khả năng thực tế của các cơ quan, tổ
chức và cán bộ- công chức đó nữa vì khả năng này đã được nhà nước thừa nhận khi bầu, bổ nhiệm
cán bộ- công chức hoặc khi thành lập cơ quan tổ chức đó. Còn việc tham gia quan hệ pháp luật
hành chính của các cá nhân không chỉ phụ thuộc vào quy định pháp luật hành chính mà còn phụ
thuộc nhiều vào khả năng thực tế của mỗi cá nhân. Năng lực pháp luật của cá nhân là do Nhà nước
quy định. Còn năng lực hành vi hành chính của cá nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố: độ tuổi, trình
độ học vấn, tình trạng sức khỏe. Ví dụ: Theo pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì
người đủ 14 đến 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý, người từ đủ 16 tuổi
trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra ( điểm a, khoản 1, Điều
6) hay người từ đủ 14 đến 16 tuổi vi phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo. Hoặc là người bị mù
hai mắt không thể điều khiển phương tiện giao thông được và trong trường hợp này họ được coi là
không có năng lực hành vi hành chính.
Năng lực chủ thể của cá nhân không chỉ phụ thuộc vào độ tuổi, sức khỏe hay trình độ học vấn của
cá nhân mà quan trọng hơn trong nhiều trường hợp nó phụ thuộc vào sự thừa nhận của Nhà nước.
Nhà nước có thể mặc nhiên thừa nhận năng lực hành vi hành chính của cá nhân khi họ đủ những
điều kiện nhất định hoặc thông qua những hành vi pháp lý cụ thể để thừa nhận năng lực đó. Ví dụ: 11
Một người có đủ điều kiện lái xe máy (đủ 18 tuổi) nhưng năng lực hành vi của người này trong
việc điều khiển xe không mặc nhiên phát sinh mà chỉ phát sinh khi Nhà nước cấp bằng lái xe. 12 13
Nộp thuế, phí và lệ phí: Cá nhân và tổ chức phải nộp các loại thuế, phí và lệ phí theo quy định của pháp luật.
Chịu trách nhiệm trước pháp luật: Chủ thể phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trong các
hoạt động hành chính. Nếu vi phạm, họ có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc chịu các
hình thức xử lý khác theo quy định.
Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ hành chính luật được cụ thể hóa
thông tin qua các vấn đề pháp lý thực tế. Dưới đây là cách thức thực hiện quyền và nghĩa vụ của
mình trong một số ví dụ cụ thể:
Quan hệ giữa công dân và cơ quan hành chính nhà nước: Ông A phó đơn xin cấp giấy phép kinh
doanh tại Sở Kế hoạch và Đầu tư. Quyền của ông A là được yêu cầu cơ quan hành chính cấp giấy
phép theo đúng quy định, được cung cấp thông tin về quy trình, thời gian xử lý. Khiếu bỏ nếu xử
lý hồ sơ chậm hoặc có sai sót. Nghĩa vụ của ông A là đầy đủ hồ sơ theo yêu cầu, chấp nhận các quy
định về quản lý kinh doanh sau khi được phép. Quyền của cơ quan nhà nước là yêu cầu của ông
một hồ sơ bổ sung nếu chưa đầy đủ, từ chối cấp phép nếu hồ sơ không hợp lệ hoặc vi phạm pháp
luật. Nghĩa vụ của cơ quan nhà nước là xử lý hồ sơ đúng thời hạn, công bằng và giải thích lý do
nếu bị từ chối cấp phép.
Quan hệ trong lĩnh vực xử phạt vi phạm hành chính: Anh B bị cảnh báo xử lý vì chạy quá tốc độ.
Quyền của anh B là được biết do bị xử lý và phạt. Khi thiếu hoặc khởi động quyết định xử phạt
nếu cho rằng sai và được yêu cầu cơ sở lập trình biên dịch theo quy trình chính xác. Nghĩa vụ của
anh B là chấp nhận hành động quyết định xử phạt (nộp phạt, tạm giữ giấy tờ nếu có) và thực hiện
quy định về toàn bộ giao thức. Quyền của cơ quan cảnh báo giao thông là vi phạm yêu cầu dừng
xe và cung cấp giấy tờ, ra quyết định xử lý theo quyền xác thực. Nhiệm vụ của cơ sở cảnh báo giao
thông là lập bản vi phạm minh bạch, chính xác. Giải thích suy nghĩ nếu có yêu cầu.
Quan hệ giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước: Doanh nghiệp C thiết bị thanh tra vì nghi
phạm vi phạm quy định về môi trường. Quyền của doanh nghiệp C là được biết nội dung thanh tra
và quyền lợi liên quan và khiếu nại về quyết định thanh tra nếu thấy không hợp lý. Nghĩa vụ của
doanh nghiệp C là cung cấp thông tin, liên kết tài liệu theo yêu cầu và khắc phục các vi phạm nếu 14
bị phát hiện. Quyền của cơ quan thanh tra là yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin, tài liệu, ra
quyết định xử lý nếu phát hiện vi phạm. Nghĩa vụ của cơ quan thanh tra là thực hiện thanh toán
theo đúng quy trình, hết hạn va không gây phiền toái hoặc vượt quá quyền kiểm tra.
5.Tr ch nhi m ph p c a ch th trong quan h ph p lu t h nh ch nh
Trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính là nghĩa vụ mà các cá
nhân, tổ chức hoặc cơ quan nhà nước phải chịu khi vi phạm các quy định của pháp luật hành chính.
Trách nhiệm này được áp dụng nhằm duy trì trật tự và bảo đảm sự tuân thủ pháp luật.
Trong quan hệ pháp luật hành chính, trách nhiệm pháp lý cơ bản mà các chủ thể phải đối mặt là
trách nhiệm hành chính. Trách nhiệm hành chính là hình thức xử lý chính đối với các hành vi vi
phạm pháp luật hành chính, bao gồm các hành vi vi phạm quy định về trật tự, an ninh xã hội, và
các quy định quản lý nhà nước. Ví dụ: Ông A xây dựng nhà ở trên đất nông nghiệp mà không có
giấy phép xây dựng. Hành vi này vi phạm quy định về xây dựng và sử dụng đất đai, nên cơ quan
quản lý đất đai ra quyết định xử phạt hành chính với mức phạt tiền và yêu cầu ông A khôi phục lại
hiện trạng ban đầu của đất nông nghiệp. Nếu ông A không chấp hành quyết định này, cơ quan chức
năng có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế, tháo dỡ công trình xây dựng trái phép.
Tuy nhiên, tùy vào từng trường hợp cụ thể và hành vi vi phạm, chủ thể trong quan hệ pháp luật
hành chính có thể đồng thời phải đối mặt với các loại trách nhiệm pháp lý khác nếu có hành vi vi
phạm thuộc lĩnh vực khác. Nếu vi phạm hành chính mà để lại hậu quả có liên quan đến chức quyền
hạn của mình thì đồng nghĩa bị xử lý kỷ luật, có thể áp dụng đồng thời hai trách nhiệm pháp lý ở
đây nhưng đã cùng hành vi thì đã áp dụng hành chính thì không áp dụng trách nhiệm pháp lý khác
Ý nghĩa trách nhiệm pháp lý trong quan hệ pháp luật hành chính: Giúp đảm bảo tính nghiêm minh
của pháp luật, bảo vệ trật tự công cộng và lợi ích của nhà nước cũng như công dân. Bằng việc quy
định rõ ràng trách nhiệm pháp lý, pháp luật hành chính không chỉ răn đe, ngăn ngừa vi phạm mà
còn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên trong quan hệ hành chính
6.Trong x c đ nh v phân loại ch th c a quan h ph p lu t h nh ch nh sẽ
một số vấn đề ph t sinh. 15
Đầu tiên sẽ là khó khăn trong việc xác định ai là chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính. Về đặc
thù của chủ thể, chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính có thể là cả cá nhân và tổ chức, bao gồm
cả cơ quan nhà nước và các tổ chức phi chính phủ. Điều này dẫn đến sự phức tạp trong việc xác
định quyền và nghĩa vụ của từng bên. Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính còn mang những
tính chất đa dạng, bởi các quan hệ hành chính thường diễn ra trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ
quản lý nhà nước đến dịch vụ công. Mỗi lĩnh vực lại có những quy định và cách hiểu khác nhau về
chủ thể. Ngoài ra, việc pháp luật hành chính có thể có những thay đổi thường xuyên điều đó dẫn
đến ảnh hưởng trong việc xác định chủ thể. Các quy định mới cũng có thể làm thay đổi cách thức
xác định nghĩa vụ và quyền lợi của các bên. Những yếu tố này tạo ra thách thức trong việc xác định
đúng đắn chủ thể của các quan hệ pháp luật hành chính. Ví dụ: Trong trường hợp tranh chấp quyền
sở hữu tài sản. Giả sử một mảnh đất được mua bán giữa hai bên, nhưng hợp đồng không rõ ràng
về người sở hữu thực sự. Nếu có nhiều người có quyền lợi liên quan (chẳng hạn như người thừa
kế, đối tác kinh doanh), việc xác định ai là chủ thể hợp pháp sẽ trở nên phức tạp.
Tiếp đến, tính pháp lý của chủ thể cũng có thể gây khó khăn trong việc phân loại và xác định chủ
thể của quan hệ pháp luật hành chính. Các quy định về chủ thể trong pháp luật hành chính có thể
thiếu sự rõ ràng, dẫn đến việc khó xác định ai đủ tiêu chuẩn để trở thành chủ thể. Khả năng tham
gia vào quan hệ pháp luật phụ thuộc vào năng lực pháp lý và hành vi. Những yếu tố này có thể
thay đổi theo thời gian hoặc theo từng tình huống cụ thể, gây khó khăn trong việc xác định chủ thể.
Quyền hạn và nghĩa vụ của các chủ thể khác nhau trong các lĩnh vực hành chính có thể không đồng
nhất, làm khó khăn trong việc xác định một cách rõ ràng ai là chủ thể. Và nhiều chủ thể có thể có
quyền hạn chồng chéo hoặc tương tự nhau, ví dụ như giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá
nhân. Việc quyền hạn của chủ thể thay đổi theo tình huống dẫn đến sự không ổn định trong việc
xác định chủ thể. Các cá nhân và tổ chức có thể có năng lực pháp lý khác nhau, ảnh hưởng đến
quyền hạn và nghĩa vụ của họ. Những khó khăn này có thể dẫn đến tranh chấp và hiểu lầm trong
việc thực hiện quyền và nghĩa vụ, làm ảnh hưởng đến tính hiệu quả và công bằng của các quan hệ pháp luật hành chính.
Ngoài ra, thực tiễn cũng có ảnh hưởng lớn đến việc xác định và phân loại chủ thể của quan hệ pháp
luật hành chính. Thực tiễn xã hội và kinh tế biến đổi có thể dẫn đến sự xuất hiện của các loại hình 16
chủ thể mới (ví dụ: các tổ chức phi lợi nhuận, doanh nghiệp khởi nghiệp) mà pháp luật chưa kịp
điều chỉnh, gây khó khăn trong việc phân loại.
Hành vi và vai trò của các chủ thể trong thực tiễn có thể khác với quy định pháp luật. Chẳng hạn,
một cơ quan nhà nước có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà không được quy định rõ ràng
trong luật, tạo ra sự không nhất quán trong việc xác định chủ thể. Các vụ việc thực tế, đặc biệt là
các phán quyết của tòa án, có thể tạo ra tiền lệ trong việc xác định chủ thể, làm thay đổi cách hiểu
và áp dụng pháp luật. Hơn hết sự phản ứng của xã hội đối với các quyết định hành chính có thể
ảnh hưởng đến cách xác định và phân loại chủ thể. Nếu một nhóm cụ thể được công nhận nhiều
hơn trong thực tiễn, điều này có thể dẫn đến sự thay đổi trong pháp luật để phản ánh thực tế đó.
Nếu quy định pháp luật không phù hợp với thực tiễn, việc thực thi sẽ gặp khó khăn, dẫn đến việc
cần điều chỉnh lại cách phân loại và xác định chủ thể cho phù hợp với thực tế. Ví dụ về phản ứng
của xã hội: Khi một nhóm người tiêu dùng tập hợp lại để phản đối một sản phẩm kém chất lượng
hoặc yêu cầu bồi thường, họ có thể không được công nhận là một tổ chức chính thức. Điều này
khiến việc xác định họ là chủ thể có quyền lợi và nghĩa vụ trong quan hệ pháp luật hành chính gặp khó khăn.
Những ảnh hưởng này làm cho việc phân loại và xác định chủ thể trong quan hệ pháp luật hành
chính trở nên phức tạp và cần sự điều chỉnh linh hoạt từ phía các nhà làm luật.
7.Xu hướng ph t tri n v đổi mới về ch th trong quan h ph p lu t h nh ch
nh hi n nay.
Trước hết, là việc mở rộng chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính phản ánh xu hướng phát
triển và đổi mới hiện nay. Với việc gia tăng và phát triển của các tổ chức phi chính phủ hiện nay,
các tổ chức phi chính phủ, tổ chức xã hội và doanh nghiệp xã hội ngày càng trở thành chủ thể
trong các quan hệ hành chính, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ công và tham
gia vào các quyết định chính sách. Ngoài ra các cá nhân không chỉ là đối tượng chịu sự quản lý
mà còn được xem là chủ thể có quyền tham gia vào các quy trình hành chính, như kiến nghị, khiếu
nại hoặc tham gia vào các quyết định liên quan đến quyền lợi của họ. Đổi mới công nghệ cũng
làm cho chủ thể trở nên đa dạng hơn, sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông đã tạo
ra những chủ thể mới, chẳng hạn như các nền tảng trực tuyến và các tổ chức cung cấp dịch vụ kỹ 17
thuật số. Sự hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần mở rộng và phát triển chủ thể. Để phù hợp
với xu hướng phát triển, pháp luật hành chính đang được điều chỉnh để mở rộng khái niệm chủ
thể, từ đó tạo ra khung pháp lý cho các chủ thể mới hoạt động một cách hợp pháp và hiệu quả.
Những thay đổi này không chỉ làm phong phú thêm các quan hệ pháp luật hành chính mà còn thúc
đẩy tính minh bạch, trách nhiệm và sự tham gia của cộng đồng trong quá trình quản lý nhà nước.
Tiếp theo, việc tăng cường quyền của cá nhân trong quan hệ pháp luật hành chính hiện nay phản
ánh xu hướng phát triển và đổi mới thông qua nhiều khía cạnh. Về khía cạnh luật, pháp luật ngày
càng nhấn mạnh việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân, bao gồm quyền được thông tin, quyền
tham gia ý kiến trong các quyết định hành chính liên quan đến mình. Các quy định về khiếu nại và
tố cáo đã được cải thiện, tạo điều kiện cho cá nhân có thể dễ dàng yêu cầu giải quyết khi quyền lợi
của họ bị xâm phạm. Điều này giúp tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm của cơ quan nhà
nước. Cá nhân giờ đây có cơ hội tham gia vào các quy trình ra quyết định hành chính thông qua
các cuộc họp, hội thảo hoặc thông qua các nền tảng trực tuyến, điều này nâng cao tính dân chủ
trong quản lý hành chính. Hơn thế hiện nay nhiều quy định pháp luật đã mở rộng khả năng khởi
kiện của cá nhân đối với các quyết định hành chính mà họ cho là sai trái hoặc vi phạm quyền lợi
của họ. Xu hướng phát triển và đổi mới cũng phản ánh sự thay đổi trong nhận thức của xã hội về
vai trò của cá nhân trong việc tham gia vào các vấn đề công, từ đó thúc đẩy sự tôn trọng và bảo vệ
quyền lợi cá nhân. Việc tăng cường quyền của cá nhân không chỉ nâng cao trách nhiệm của cơ
quan hành chính mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững và công bằng trong xã hội. 18
Việc phát triển mô hình quản lý hành chính trong xu hướng đổi mới và phát triển về chủ thể trong
quan hệ pháp luật hành chính hiện nay diễn ra qua một số xu hướng chính. Các mô hình quản lý
hành chính hiện đại nhấn mạnh đến tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người
dân. Điều này yêu cầu các cơ quan nhà nước phải điều chỉnh cách thức hoạt động để phục vụ tốt
hơn cho người dân. Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính càng
ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn, nó giúp nâng cao hiệu quả, giảm thiểu thủ tục hành chính,
đồng thời tạo điều kiện cho cá nhân và tổ chức dễ dàng tiếp cận dịch vụ công. Xu hướng đẩy mạnh
phân cấp và uỷ quyền cho phép các cơ quan địa phương có nhiều quyền tự chủ hơn trong việc quản
lý và điều hành, phù hợp với nhu cầu cụ thể của cộng đồng, qua đó tạo ra sự linh hoạt trong quản
lý hành chính. Những phát triển này không chỉ tạo ra một môi trường quản lý hành chính hiệu quả
hơn mà còn thúc đẩy sự gắn kết giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính, đảm bảo
quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên được thực hiện một cách công bằng và hiệu quả. Ví dụ: Các
cổng thông tin này cung cấp thông tin về các quy định pháp luật, thủ tục hành chính, và dịch vụ
công. Người dân có thể dễ dàng tra cứu và thực hiện các thủ tục mà không cần phải đến trực tiếp cơ quan hành chính.
Việc thúc đẩy vai trò của xã hội trong xu hướng phát triển và đổi mới về chủ thể trong quan hệ
pháp luật hành ủa các quyết định hành chính. Trong thời đại của mạng xã hội, các nền tảng trực
tuyến và các diễn đàn cộng đồng ngày càng trở thành công cụ hiệu quả để người dân chia sẻ ý kiến,
phản ánh nhu cầu và tham gia vào các quyết định hành chính, qua đó nâng cao vai trò của xã hội
trong quản lý nhà nước. Cũng không thể không nói đến sự quan trọng của giáo dục, việc giáo dục và
nâng cao nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân trong hệ thống pháp luật hành chính góp
phần thúc đẩy sự tham gia của xã hội, giúp người dân nhận thức rõ hơn về vai trò của mình. Những
nỗ lực này không chỉ giúp tăng cường vai trò của xã hội trong quan hệ pháp luật hành chính mà còn
góp phần xây dựng một hệ thống quản lý nhà nước minh bạch, hiệu quả và gần gũi với người dân.
PHẦN 2: Bài tập tình huống
T nh huống :Hậu và Ly có 3 con chung là Tùng, Nam, Phương (đều đã đi làm và có thu nhập
cao). Do cuộc sống chung không hạnh phúc, Hậu và Ly ly thân. Tùng sống với Hậu, còn Nam và
Phương sống với Ly. Tùng là đứa con hư hỏng, đã có lần đánh 19