0
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
VIỆN QUẢN TRỊ KINH DOANH
--- ---🙠🙢🕮🙠🙢
BÀI THẢO LUẬN
BỘ MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Giảng viên: Đỗ Thị Hoa
Lớp học phần: 241_TLAW0111_36
Nhóm: 4
Nhóm trưởng: Lê Hoàng Việt
1
M C C L
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................................ 2
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 3
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN ............................................................................................................ 4
PHÂN TÍCH CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH ................................... 5
1.Khái niệm: ..................................................................................................................... 5
2. Đặc điểm, phân lo i ch th c a quan h pháp lu t hành chính. ............................ 5
2.1 Phân loi: ................................................................................................................ 5
2.2 Đặc điểm: ................................................................................................................ 6
TÌNH HUỐNG ..................................................................................................................... 10
CÂU HỎI: ........................................................................................................................ 10
TRẢ LỜI: ........................................................................................................................ 10
KẾT LUẬN .......................................................................................................................... 12
2
LỜI CẢM ƠN
Trước khi bước vào bài thảo luận, nhóm 4 chúng em xin gửi lời cảm ơn
chân thành đến Trường Đại học Thương Mại. Đặc biệt, chúng em xin gửi lời
cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn Đỗ Thị Hoa đã truyền đạt những kiến
thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập. Trong thời gian tham gia lớp
học của cô chúng em đã thêm cho mình rất nhiều kiến thức bổ ích, tinh thần
học tập hiệu quả, nghiêm túc. Đây chắc chắn sẽ những kiến thức quý báu,
hành trang để em có thể vững bước sau này.
Bộ môn Pháp luật đại cương môn học cùng bổ ích tính thực tế
cao, cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn của sinh viên. Tuy
nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế khả năng tiếp thu thực tế còn
nhiều bỡ ngỡ. Mặc dù em đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài tiểu luận khó
thể tránh khỏi những thiếu sót nhiều chỗ còn chưa chính xác, kính mong
Cô xem xét và góp ý để bài thảo luận của em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
3
LỜI MỞ ĐẦU
Trong đời sống ngày nay, pháp luật tham gia vào điều chỉnh hầu hết các quan
hệ trong xã hội. Tất cả mọi người đều sống và làm việc theo Hiến Pháp và pháp
luật, đều phải tuân thủ theo quy định pháp luật. Để thực hiện các quyền và
nghĩa vụ cũng như hành động và ứng xử cho đúng pháp luật thì việc nắm và
hiểu biết pháp luật là bắt buộc đối với bất kì ai trong xã hội. Vì vậy môn học
pháp luật đại cương cung cấp cho người học kiến thức về hành vi pháp luật và
về trách nhiệm pháp lý với hậu quả của hành vi của con người. Trong tình hình
hiện nay, cùng với sự phát triển của kinh tế đất nước cũng như việc hội nhập
với kinh tế quốc tế, vai trò của pháp luật ngày một quan trọng. Bởi vậy, Pháp
luật đại cương là một môn học rất có ích cho các sinh viên ngành Quản trị kinh
doanh để hiểu rõ mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế.
Bên cạnh đó, thông qua việc quy định hình thức sở hữu về tài sản của cá nhân
và theo đó pháp luật quy định cho họ các quyền năng trong lĩnh vực thừa kế.
Hay nói cách khác, pháp luật về sở hữu là cơ sở cho việc ban hành các văn bản
pháp luật về thừa kế. Chính vì vậy mà thừa kế trở thành một nhu cầu quan trọng
trong đời sống xã hội ngày nay, mỗi nhà nước có thể có tư tưởng chính trị khác
nhau nhưng đều coi thừa kế là 1 quyền cơ bản của nhân dân và được ghi nhận
trong Hiến pháp. Tuy nhiên do sự phát triển không ngừng nghỉ trong đời sống
kinh tế, xã hội nên pháp luật về chia tài sản thừa kế vẫn còn đang hạn chế trong
một vài trường hợp, mang tính chung chung, chưa chi tiết, chưa rõ ràng, lại
chưa có văn bản hướng dẫn thi hành cho từng vấn đề cụ thể. Vậy nên vấn đề
thừa kế vẫn đang là chủ đề đáng quan tâm và nghiên cứu trong xã hội ngày
nay.
4
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
I. LÝ THUYẾT:
Phân tích chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính, cho ví dụ minh hoạ.
II. BÀI TẬP:
Hậu và Ly có 3 con chung là Tùng, Nam, Phương (đều đã đi làm và có
thu nhập cao). Do cuộc sống chung không hạnh phúc, Hậu và Ly ly thân. Tùng
sống với Hậu, còn Nam và Phương sống với Ly. Tùng là đứa con hư hỏng, đã
có lần đánh Ông Hậu gây thương tích và đã bị Tòa án kết án về hành vi này.
Năm 2019, Hậu bị tai nạn xe máy. Trước khi chết, Hậu có viết di chúc để lại
cho Ông bác ruột là Hải 200, phần còn lại chia đều cho Nam và Phương.
YÊU CẦU:
Hãy cho biết các chủ thể trong tình huống trên sẽ được hưởng bao nhiêu di sản?
Biết rằng tài sản chung của Hậu và Ly là 1,3 tỷ đồng.
5
PHÂN TÍCH CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH
1.Khái niệm:
Quan hệ pháp luật hành chính: Là một quan hệ mà có tính đặc thù, theo đó
quan hệ này được phát sinh trong quá trình của quản lý hành chính nhà nước,
gắn với những hoạt động điều hành, chấp hành của nhà nước ở các lĩnh vực
khác nhau trong đời sống xã hội.
Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính: Là các cơ quan, tổ chức, cá nhân
có năng lực chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, mang quyền và
nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật hành chính.
Trong đó năng lực chủ thể là khả năng pháp lý của cơ quan, tổ chức hoặc cá
nhân tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính với tư cách là chủ thể của quan
hệ đó.
=> Quan trọng nhất những chủ thể này phải bảo đảm có đầy đủ năng lực, có
quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau theo quy định của pháp luật.
2. Đặc điểm, phân lo ci ch th a quan h pháp lu t hành chính.
2.1 Phân lo i:
Chủ thể quan hệ pháp luật hành chính bao gồm chủ thể bắt buộc chủ thể
tham gia:
- Chủ thbắt buộc cách gọi loại chủ thể nhất thiết, bắt buộc phải
trong quan hệ pháp luật hành chính. Việc tham gia vào quan hệ pháp luật
hành chính của các chủ thể này đồng thời quyền nghĩa vụ. Trong
quan hệ thủ tục hành chính thì chủ thể bắt buộc được gọi một cách ước lệ
là chủ thể thực hiện thủ tục hành chính.
- Chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật hành chính loại chủ thể chỉ
đại diện cho chính mình.
6
dụ: Công dân khi họ hành động với cách nhân; ban lãnh đạo doanh
nghiệp và các đơn vị cơ sở khác với tư cách đại diện cho pháp nhân.
2.2 Đặc điểm:
Yế u t th hi n thm quyền trong hành chính nhà nước ca ch th n lý qu
hành chính được th hiện qua 2 đặc trưng cơ bản sau:
Một là: chủ thể tham gia phải những chủ thể được pháp luật quy định
thẩm quyền trong quản lý về hành chính nhà nước.
Hai là: những chủ thể được xác định có thẩm quyền khi tham gia vào quan hệ
này phải với chính tư cách đó chkhông phải cách cá nhân hoặc không vượt
ra khỏi thẩm quyền quản lý nhà nước đã được quy định.
Ví d: Ông Nguy t ch UBND xã A, trong quá trình tham gia ễn Văn C là chủ
giao thông có hành vi vi ph m tr t t an toàn giao thông. Trong trường hp này,
quan h pháp lu t hành chính đã được xác lập nhưng bên đại din cho qun lý
hành chính nhà nước là bên có thm quy n x pht hành vi của ông A. Ngược
li, mặc dù ông A là người được quy định có thm quy n trong qu n lý hành
chính nhưng trong mố này, tư cách tham gia của ông A là tư cách cá i quan h
nhân.
Như vậy, có th thy, cùng là mt ch th nhưng tùy vào từng trường hp
c th mà vai trò c a ch th đó trong quan hệ ại được xác đị pháp lut l nh
khác nhau.
Tiếp theo, ch tham gia quan h pháp lu t hành chính có th th được xác đnh
là hai bên ch có quy th ền và nghĩa vụ tương ứ ng vi nhau, c th như sau:
Mt là, i v i bên ch đố th đóng vai trò là đối tượng được qun lý trong
quan h hành chính là t c, cá nhân, c m b o ph ch ần đả ải có đầy đủ năng
lc pháp lu c hành vi hành chính, c ật và năng lự th
- Năng lực pháp lu t hành chính:
7
+ Là kh năng cá nhân được hưởng các quy n và ph i th c hi ện nghĩa vụ
pháp lí hành chính nhất định do nhà nước quy định.
+ Là thu c tính pháp lí hành chính ph a v pháp lí hành chính c ản ánh đị a
các cá nhân.
- Năng lực hành vi hành chính:
+ Là kh năng của cá nhân được Nhà nước tha nhn mà v i kh năng đó
h có th t mình th c hi n các quy ền và nghĩa vụ pháp lí hành chính
đồ ng th i ph i gánh ch u h u qu pháp lí nh nh do nh ất đị ng hành vi ca
mình.
+ Ph c vào nhi u y u t thu ế : độ tui, tình tr ng s c kh ỏe, trình độ đào
to, kh năng tài chính…Quan trọng nht là s tha nh n c ủa Nhà nước.
- Ví d v độ tui: Cá nhân ph i t 14 tu i tr lên m i có th b x đủ pht
vi phm hành chính; công dân t 12 tu đủ ổi đến dưới 18 tui m i có th b
áp dng biện pháp đưa vào trường giáo dưng.
- Ví d v tình tr ng s c kh e: Ngườ i m c b nh tâm th n ho c m c các
bnh khác làm m t kh n th c ho c kh năng nhậ năng điều khi n hành vi
của mình thì không có năng lực hành vi hành chính đối vi mi loi quan
h pháp lu t hành chính.
- Ví d v trình độ đào tạ năng tài chính:o và kh Công dân Vi t Nam
phải có trình độ ới đượ c nhân lut m c tuyn chn và b nhi m làm th m
phán; cá nhân ph i có m t s ng v n nhất định m c thành lới đượ p
doanh nghi p mà pháp lu i ph i có v ật đòi hỏ ốn pháp định.
Ví d: Người đ lên đượ 18 tui tr c lái xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có
dung tích xilanh t 50 cm n và các lo i xe có k t c 3 tr ế u tương tự. Tuy nhiên,
năng lực hành vi hành chính của các cá nhân này trong điề ển phương tiệu khi n
va nêu không m c nhiên phát sinh khi h 18 tu đủ ổi mà năng lực này ch được
8
nhà nước tha nh n khi h được cơ quan nhà nước có thm quyn c p gi y
phép lái xe phù h i vợp đố ới phương tiện đó.
Hai là, đối với bên chủ thể đóng vai trò bên quản nhà nước, các
tổ chức hoặc nhân được giao quyền hoặc nhân danh nhà nước thực
hiện chức năng quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.
Năng lực chủ thể của quan nhà nước phát sinh khi cơ quan đó được thành
lập chấm dứt khi quan đó bị giải thể. Năng lực này được pháp luật hành
chính quy định phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của quan đó
trong quản lý hành chính nhà nước.
dụ: thanh tra chính phủ quan của Chính phủ thực hiện quản lí nhà
nước về công tác thanh tra nên thanh tra chính phủ khả năng tham gia vào
quan hệ pháp luật hành chính với Chính phủ trong việc soạn thảo văn bản quy
phạm pháp luật của chính phủ về công tác thanh tra khi được Thủ tướng Chính
phủ phân công chủ trì soạn thảo các văn bản đó.
Năng lực chủ thể của cán bộ, công chức phát sinh khi các nhân được nhà nước
giao đảm nhiệm một công vụ, chức vụ nhất định trong bộ mày nhà nước
chấm dứt khi không còn đảm nhiệm công vụ, chức vụ đó.
Năng lực chủ thể của tổ chức hội, đơn vkinh tế, đơn vị trang, đơn vị
hành chính- sự nghiệp… phát sinh khi nhà nước quy định quyền nghĩa vụ
của tổ chức đó trong quản hành chính nhà nước chấm dứt khi không còn
những quy định đó hoặc tổ chức bị giải thể.
dụ: Tổ chức Công đoàn được nhà nước cho phép thực hiện hoạt động kiểm
tra việc chấp hành pháp luật về bảo hộ lao động,hợp đồng lao động, chế độ
tuyển dụng. Hội liên hiệp phụ nữ kiểm tra chế độ chính sách đối với phụ n
trong các xí nghiệp, cơ sở, trường học đưa ra kiến nghị với thủ trưởng đơn vị.
9
Tuy nhiên, cần phân biệt quan hệ pháp luật hành chính với quan hệ chỉ đạo công
tác trong nội bộ một cơ quan.
dụ: Quan hệ pháp luật giữa Uỷ ban nhân dân Tỉnh A với Uban nhân dân
Huyện B tương ứng trực thuộc quan hệ pháp luật hành chính. Tuy nhiên,
quan hgiữa thủ trưởng quan hành chính nhà nước với văn thư của quan
đó qua hành vi phân công văn thư soạn thảo công văn thì không phái là quan hệ
pháp luật hành chính. Nó dựa trên quan hệ pháp luật hành chính, nhưng quan
hệ công tác nội bộ của cơ quan.
10
TÌNH HUỐNG
Hậu và Ly có 3 con chung là Tùng, Nam, Phương (đều đã đi làm và có thu nhập
cao). Do cuộc sống chung không hạnh phúc, Hậu và Ly ly thân. Tùng sống với
Hậu, còn Nam và Phương sống với Ly. Tùng là đứa con hư hỏng, đã có lần
đánh Ông Hậu gây thương tích và đã bị Tòa án kết án về hành vi này. Năm
2019, Hậu bị tai nạn xe máy. Trước khi chết, Hậu có viết di chúc để lại cho Ông
bác ruột là Hải 200, phần còn lại chia đều cho Nam và Phương.
CÂU HỎI:
Hãy cho biết các chủ thể trong tình huống trên sẽ được hưởng bao nhiêu di sản?
Biết rằng tài sản chung của Hậu và Ly là 1,3 tỷ đồng.
TRẢ LỜI:
Ông bác H i Ông H u Bà Ly
Tùng Nam Phương
(b kết án) (đã trưởng thành
và có thu nhập cao)
Chia tài sản chung của Hậu và Ly:
Hiện nay, pháp luật về hôn nhân và gia đình chưa có quy định nào giải thích về
ly thân. Vì thế, pháp luật Việt Nam cũng không thừa nhận ly thân là một quá
trình riêng biệt mà nó vẫn nằm trong thời gian hôn nhân. Ly thân chỉ là sự chấm
dứt về mặt tình cảm chứ không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân.
Căn cứ Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về giải quyết tài sản
của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết,
khi một người mất thì người còn sống sẽ quản lý tài sản chung của vợ, chồng
trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những
người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản hoặc khi có yêu cầu về
chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi. Như vậy, ở trường hợp
này, ông Hậu có yêu cầu về chia di sản cho ông bác ruột là Hải và hai con là
11
Nam và Phương nên tài sản chung của Hậu và Ly sẽ được chia đôi. Bà Ly giữ
một nửa tài sản chung và một nửa còn lại được chia theo di chúc và quy định
của pháp luật về quyền thừa kế.
Như vậy, di sản của Hậu là: 1,3 tỷ đồng : 2= 650 triệu đồng
Chia di sản của Hậu:
Hậu viết di chúc để lại cho ông Hải 200 triệu, phần còn lại chia đều cho Nam và
Phương nên theo di chúc của ông Hậu, Nam và Phương mỗi người nhận được:
(650 200) : 2 = 225 triệu
Tùng là đứa con hư hỏng, đã bị kết án về hành vi đánh ông Hậu và không được
đề cập trong di chúc của Hậu. Mặt khác, Tùng đã trưởng thành, đã đi làm và có
thu nhập nên không phải là đối tượng được áp dụng điều 644 Bộ luật Dân sự
2015. Do đó, Tùng không được hưởng bất kỳ phần nào trong di sản của Hậu.
Theo điều 644 Bộ Luật dân sự 2015:
"Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:
1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất
của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật trong
trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho
hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên.
b) Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di
sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng
di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này."
Công thức tính suất của một người thừa kế theo pháp luật như sau:
Suất của một người thừa kế theo pháp luật = Tổng giá trị di sản thừa kế :
số người hưởng di sản thừa kế hợp pháp
Theo Điều 644 Bộ luật dân sự 2015:
12
Di sản được hưởng của người thuộc Điều 644 = 2/3 x (Tổng giá trị di sản
thừa kế : số người hưởng di sản thừa kế hợp pháp)
=> Di sản bà Ly được hưởng thừa kế từ ông Hậu: ⅔ x (650 triệu : 3) = 144,44
triệu
Vậy phải rút di sản của người được thừa kế theo di chúc để bù cho người thuộc
điều 644 Bộ luật Dân sự 2015.
Công thức rút:
Phần di sản bị rút = Phần di sản của người phải rút : (Tổng di sản thừa kế
của tất cả những người phải rút) x tổng số di sản cần rút bù cho người
thuộc điều 644
- Số phần di sản Hải bị rút: 200 / 650 x 144,44 = 44,44 triệu
- Số phần di sản Nam và Phương mỗi người bị rút: 225 : 650 x 144,44 = 50 triệu
Vậy số di sản được hưởng của các chủ thể trong tình huống trên là:
- Hải: 200 – 44,44 = 155,56 triệu
- Nam: 225 50 = 175 triệu
- Phương: 225 – 50 = 175 triệu
KẾT LUẬN
"Qua bài thuyết trình này, chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu về chủ thể của quan
hệ pháp luật hành chính, một vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự
phát triển của xã hội. Việc xác định rõ chủ thể, quyền hạn và nghĩa vụ của họ là
cơ sở để xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện, đảm bảo sự công bằng,
dân chủ và hiệu quả trong quản lý nhà nước. Tuy nhiên, đây vẫn còn là một lĩnh
vực cần được nghiên cứu sâu hơn, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và
sự phát triển của công nghệ thông tin. Tôi tin rằng, với sự nỗ lực của các nhà
khoa học, nhà quản lý và toàn xã hội, chúng ta sẽ xây dựng được một hệ thống
pháp luật ngày càng hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển bền vững.
13

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
VIỆN QUẢN TRỊ KINH DOANH ---🙠🙢🕮🙠🙢--- BÀI THẢO LUẬN
BỘ MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Giảng viên: Đỗ Thị Hoa
Lớp học phần: 241_TLAW0111_36 Nhóm: 4
Nhóm trưởng: Lê Hoàng Việt 0 MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................................ 2
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 3
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN ............................................................................................................ 4
PHÂN TÍCH CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH ................................... 5
1.Khái niệm: ..................................................................................................................... 5
2. Đặc điểm, phân loi ch th ca quan h pháp lut hành chính. ............................ 5
2.1 Phân loi: ................................................................................................................ 5
2.2 Đặc điểm: ................................................................................................................ 6
TÌNH HUỐNG ..................................................................................................................... 10
CÂU HỎI: ........................................................................................................................ 10
TRẢ LỜI: ........................................................................................................................ 10
KẾT LUẬN .......................................................................................................................... 12 1 LỜI CẢM ƠN
Trước khi bước vào bài thảo luận, nhóm 4 chúng em xin gửi lời cảm ơn
chân thành đến Trường Đại học Thương Mại. Đặc biệt, chúng em xin gửi lời
cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn Đỗ Thị Hoa đã truyền đạt những kiến
thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập. Trong thời gian tham gia lớp
học của cô chúng em đã có thêm cho mình rất nhiều kiến thức bổ ích, tinh thần
học tập hiệu quả, nghiêm túc. Đây chắc chắn sẽ là những kiến thức quý báu, là
hành trang để em có thể vững bước sau này.
Bộ môn Pháp luật đại cương là môn học vô cùng bổ ích và có tính thực tế
cao, cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn của sinh viên. Tuy
nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế và khả năng tiếp thu thực tế còn
nhiều bỡ ngỡ. Mặc dù em đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài tiểu luận khó
có thể tránh khỏi những thiếu sót và nhiều chỗ còn chưa chính xác, kính mong
Cô xem xét và góp ý để bài thảo luận của em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn! 2 LỜI MỞ ĐẦU
Trong đời sống ngày nay, pháp luật tham gia vào điều chỉnh hầu hết các quan
hệ trong xã hội. Tất cả mọi người đều sống và làm việc theo Hiến Pháp và pháp
luật, đều phải tuân thủ theo quy định pháp luật. Để thực hiện các quyền và
nghĩa vụ cũng như hành động và ứng xử cho đúng pháp luật thì việc nắm và
hiểu biết pháp luật là bắt buộc đối với bất kì ai trong xã hội. Vì vậy môn học
pháp luật đại cương cung cấp cho người học kiến thức về hành vi pháp luật và
về trách nhiệm pháp lý với hậu quả của hành vi của con người. Trong tình hình
hiện nay, cùng với sự phát triển của kinh tế đất nước cũng như việc hội nhập
với kinh tế quốc tế, vai trò của pháp luật ngày một quan trọng. Bởi vậy, Pháp
luật đại cương là một môn học rất có ích cho các sinh viên ngành Quản trị kinh
doanh để hiểu rõ mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế.
Bên cạnh đó, thông qua việc quy định hình thức sở hữu về tài sản của cá nhân
và theo đó pháp luật quy định cho họ các quyền năng trong lĩnh vực thừa kế.
Hay nói cách khác, pháp luật về sở hữu là cơ sở cho việc ban hành các văn bản
pháp luật về thừa kế. Chính vì vậy mà thừa kế trở thành một nhu cầu quan trọng
trong đời sống xã hội ngày nay, mỗi nhà nước có thể có tư tưởng chính trị khác
nhau nhưng đều coi thừa kế là 1 quyền cơ bản của nhân dân và được ghi nhận
trong Hiến pháp. Tuy nhiên do sự phát triển không ngừng nghỉ trong đời sống
kinh tế, xã hội nên pháp luật về chia tài sản thừa kế vẫn còn đang hạn chế trong
một vài trường hợp, mang tính chung chung, chưa chi tiết, chưa rõ ràng, lại
chưa có văn bản hướng dẫn thi hành cho từng vấn đề cụ thể. Vậy nên vấn đề
thừa kế vẫn đang là chủ đề đáng quan tâm và nghiên cứu trong xã hội ngày nay. 3
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN I. LÝ THUYẾT:
Phân tích chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính, cho ví dụ minh hoạ. II. BÀI TẬP:
Hậu và Ly có 3 con chung là Tùng, Nam, Phương (đều đã đi làm và có
thu nhập cao). Do cuộc sống chung không hạnh phúc, Hậu và Ly ly thân. Tùng
sống với Hậu, còn Nam và Phương sống với Ly. Tùng là đứa con hư hỏng, đã
có lần đánh Ông Hậu gây thương tích và đã bị Tòa án kết án về hành vi này.
Năm 2019, Hậu bị tai nạn xe máy. Trước khi chết, Hậu có viết di chúc để lại
cho Ông bác ruột là Hải 200, phần còn lại chia đều cho Nam và Phương. YÊU CẦU:
Hãy cho biết các chủ thể trong tình huống trên sẽ được hưởng bao nhiêu di sản?
Biết rằng tài sản chung của Hậu và Ly là 1,3 tỷ đồng. 4
PHÂN TÍCH CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH 1.Khái niệm:
Quan hệ pháp luật hành chính: Là một quan hệ mà có tính đặc thù, theo đó
quan hệ này được phát sinh trong quá trình của quản lý hành chính nhà nước,
gắn với những hoạt động điều hành, chấp hành của nhà nước ở các lĩnh vực
khác nhau trong đời sống xã hội.
Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính: Là các cơ quan, tổ chức, cá nhân
có năng lực chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, mang quyền và
nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật hành chính.
Trong đó năng lực chủ thể là khả năng pháp lý của cơ quan, tổ chức hoặc cá
nhân tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính với tư cách là chủ thể của quan hệ đó.
=> Quan trọng nhất những chủ thể này phải bảo đảm có đầy đủ năng lực, có
quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau theo quy định của pháp luật.
2. Đặc điểm, phân loi ch th ca quan h pháp lut hành chính. 2.1 Phân loi:
Chủ thể quan hệ pháp luật hành chính bao gồm chủ thể bắt buộc và chủ thể tham gia:
- Chủ thể bắt buộc là cách gọi loại chủ thể nhất thiết, bắt buộc phải có
trong quan hệ pháp luật hành chính. Việc tham gia vào quan hệ pháp luật
hành chính của các chủ thể này đồng thời là quyền và nghĩa vụ. Trong
quan hệ thủ tục hành chính thì chủ thể bắt buộc được gọi một cách ước lệ
là chủ thể thực hiện thủ tục hành chính.
- Chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật hành chính là loại chủ thể chỉ
đại diện cho chính mình. 5
Ví dụ: Công dân khi họ hành động với tư cách cá nhân; ban lãnh đạo doanh
nghiệp và các đơn vị cơ sở khác với tư cách đại diện cho pháp nhân. 2.2 Đặc điểm:
• Yếu tố thể hiện thẩm quyền trong hành chính nhà nước của chủ thể quản lý
hành chính được thể hiện qua 2 đặc trưng cơ bản sau:
Một là: chủ thể tham gia phải là những chủ thể được pháp luật quy định có
thẩm quyền trong quản lý về hành chính nhà nước.
– Hai là: những chủ thể được xác định có thẩm quyền khi tham gia vào quan hệ
này phải với chính tư cách đó chứ không phải tư cách cá nhân hoặc không vượt
ra khỏi thẩm quyền quản lý nhà nước đã được quy định.
Ví d: Ông Nguyễn Văn C là chủ tịch UBND xã A, trong quá trình tham gia
giao thông có hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông. Trong trường hợp này,
quan hệ pháp luật hành chính đã được xác lập nhưng bên đại diện cho quản lý
hành chính nhà nước là bên có thẩm quyền xử phạt hành vi của ông A. Ngược
lại, mặc dù ông A là người được quy định có thẩm quyền trong quản lý hành
chính nhưng trong mối quan hệ này, tư cách tham gia của ông A là tư cách cá nhân.
 Như vậy, có thể thấy, cùng là một chủ thể nhưng tùy vào từng trường hợp
cụ thể mà vai trò của chủ thể đó trong quan hệ pháp luật lại được xác định khác nhau.
Tiếp theo, chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hành chính có thể được xác định
là hai bên chủ thể có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau, cụ thể như sau:
• Mt là, đối với bên chủ thể đóng vai trò là đối tượng được quản lý trong
quan hệ hành chính là tổ chức, cá nhân, cần đảm bảo phải có đầy đủ năng
lực pháp luật và năng lực hành vi hành chính, cụ thể
- Năng lực pháp luật hành chính: 6
+ Là khả năng cá nhân được hưởng các quyền và phải thực hiện nghĩa vụ
pháp lí hành chính nhất định do nhà nước quy định.
+ Là thuộc tính pháp lí hành chính phản ánh địa vị pháp lí hành chính của các cá nhân.
- Năng lực hành vi hành chính:
+ Là khả năng của cá nhân được Nhà nước thừa nhận mà với khả năng đó
họ có thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lí hành chính
đồng thời phải gánh chịu hậu quả pháp lí nhất định do những hành vi của mình.
+ Phụ thuộc vào nhiều yếu tố : độ tuổi, tình trạng sức khỏe, trình độ đào
tạo, khả năng tài chính…Quan trọng nhất là sự thừa nhận của Nhà nước.
- Ví d v độ tui: Cá nhân phải từ đủ 14 tuổi trở lên mới có thể bị xử phạt
vi phạm hành chính; công dân từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi mới có thể bị
áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
- Ví d v tình trng sc khe: Người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các
bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
của mình thì không có năng lực hành vi hành chính đối với mọi loại quan
hệ pháp luật hành chính.
- Ví d v trình độ đào tạo và kh năng tài chính: Công dân Việt Nam
phải có trình độ cử nhân luật mới được tuyển chọn và bổ nhiệm làm thẩm
phán; cá nhân phải có một số lượng vốn nhất định mới được thành lập
doanh nghiệp mà pháp luật đòi hỏi phải có vốn pháp định.
Ví d: Người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có
dung tích xilanh từ 50 cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự. Tuy nhiên,
năng lực hành vi hành chính của các cá nhân này trong điều khiển phương tiện
vừa nêu không mặc nhiên phát sinh khi họ đủ 18 tuổi mà năng lực này chỉ được 7
nhà nước thừa nhận khi họ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy
phép lái xe phù hợp đối với phương tiện đó.
• Hai là, đối với bên chủ thể đóng vai trò là bên quản lý nhà nước, là các
tổ chức hoặc cá nhân được giao quyền hoặc nhân danh nhà nước thực
hiện chức năng quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.
– Năng lực chủ thể của cơ quan nhà nước phát sinh khi cơ quan đó được thành
lập và chấm dứt khi cơ quan đó bị giải thể. Năng lực này được pháp luật hành
chính quy định phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đó
trong quản lý hành chính nhà nước.
Ví dụ: Vì thanh tra chính phủ là cơ quan của Chính phủ thực hiện quản lí nhà
nước về công tác thanh tra nên thanh tra chính phủ có khả năng tham gia vào
quan hệ pháp luật hành chính với Chính phủ trong việc soạn thảo văn bản quy
phạm pháp luật của chính phủ về công tác thanh tra khi được Thủ tướng Chính
phủ phân công chủ trì soạn thảo các văn bản đó.
– Năng lực chủ thể của cán bộ, công chức phát sinh khi các nhân được nhà nước
giao đảm nhiệm một công vụ, chức vụ nhất định trong bộ mày nhà nước và
chấm dứt khi không còn đảm nhiệm công vụ, chức vụ đó.
– Năng lực chủ thể của tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế, đơn vị vũ trang, đơn vị
hành chính- sự nghiệp… phát sinh khi nhà nước quy định quyền và nghĩa vụ
của tổ chức đó trong quản lí hành chính nhà nước và chấm dứt khi không còn
những quy định đó hoặc tổ chức bị giải thể.
Ví dụ: Tổ chức Công đoàn được nhà nước cho phép thực hiện hoạt động kiểm
tra việc chấp hành pháp luật về bảo hộ lao động,hợp đồng lao động, chế độ
tuyển dụng. Hội liên hiệp phụ nữ kiểm tra chế độ chính sách đối với phụ nữ
trong các xí nghiệp, cơ sở, trường học đưa ra kiến nghị với thủ trưởng đơn vị. 8
Tuy nhiên, cần phân biệt quan hệ pháp luật hành chính với quan hệ chỉ đạo công
tác trong nội bộ một cơ quan.
Ví dụ: Quan hệ pháp luật giữa Uỷ ban nhân dân Tỉnh A với Uỷ ban nhân dân
Huyện B tương ứng trực thuộc là quan hệ pháp luật hành chính. Tuy nhiên,
quan hệ giữa thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước với văn thư của cơ quan
đó qua hành vi phân công văn thư soạn thảo công văn thì không phái là quan hệ
pháp luật hành chính. Nó dựa trên quan hệ pháp luật hành chính, nhưng là quan
hệ công tác nội bộ của cơ quan. 9 TÌNH HUỐNG
Hậu và Ly có 3 con chung là Tùng, Nam, Phương (đều đã đi làm và có thu nhập
cao). Do cuộc sống chung không hạnh phúc, Hậu và Ly ly thân. Tùng sống với
Hậu, còn Nam và Phương sống với Ly. Tùng là đứa con hư hỏng, đã có lần
đánh Ông Hậu gây thương tích và đã bị Tòa án kết án về hành vi này. Năm
2019, Hậu bị tai nạn xe máy. Trước khi chết, Hậu có viết di chúc để lại cho Ông
bác ruột là Hải 200, phần còn lại chia đều cho Nam và Phương. CÂU HỎI:
Hãy cho biết các chủ thể trong tình huống trên sẽ được hưởng bao nhiêu di sản?
Biết rằng tài sản chung của Hậu và Ly là 1,3 tỷ đồng. TRẢ LỜI:
Ông bác Hải Ông Hậu Bà Ly Tùng Nam Phương
(bị kết án) (đã trưởng thành và có thu nhập cao)
Chia tài sản chung của Hậu và Ly:
Hiện nay, pháp luật về hôn nhân và gia đình chưa có quy định nào giải thích về
ly thân. Vì thế, pháp luật Việt Nam cũng không thừa nhận ly thân là một quá
trình riêng biệt mà nó vẫn nằm trong thời gian hôn nhân. Ly thân chỉ là sự chấm
dứt về mặt tình cảm chứ không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân.
Căn cứ Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về giải quyết tài sản
của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết,
khi một người mất thì người còn sống sẽ quản lý tài sản chung của vợ, chồng
trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những
người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản hoặc khi có yêu cầu về
chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi. Như vậy, ở trường hợp
này, ông Hậu có yêu cầu về chia di sản cho ông bác ruột là Hải và hai con là 10
Nam và Phương nên tài sản chung của Hậu và Ly sẽ được chia đôi. Bà Ly giữ
một nửa tài sản chung và một nửa còn lại được chia theo di chúc và quy định
của pháp luật về quyền thừa kế.
Như vậy, di sản của Hậu là: 1,3 tỷ đồng : 2= 650 triệu đồng
Chia di sản của Hậu:
Hậu viết di chúc để lại cho ông Hải 200 triệu, phần còn lại chia đều cho Nam và
Phương nên theo di chúc của ông Hậu, Nam và Phương mỗi người nhận được:
(650 – 200) : 2 = 225 triệu
Tùng là đứa con hư hỏng, đã bị kết án về hành vi đánh ông Hậu và không được
đề cập trong di chúc của Hậu. Mặt khác, Tùng đã trưởng thành, đã đi làm và có
thu nhập nên không phải là đối tượng được áp dụng điều 644 Bộ luật Dân sự
2015. Do đó, Tùng không được hưởng bất kỳ phần nào trong di sản của Hậu.
Theo điều 644 Bộ Luật dân sự 2015:
"Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:
1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất
của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật trong
trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho
hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên.
b) Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di
sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng
di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này."
• Công thức tính suất của một người thừa kế theo pháp luật như sau:
Suất của một người thừa kế theo pháp luật = Tổng giá trị di sản thừa kế :
số người hưởng di sản thừa kế hợp pháp
• Theo Điều 644 Bộ luật dân sự 2015: 11
Di sản được hưởng của người thuộc Điều 644 = 2/3 x (Tổng giá trị di sản
thừa kế : số người hưởng di sản thừa kế hợp pháp)
=> Di sản bà Ly được hưởng thừa kế từ ông Hậu: ⅔ x (650 triệu : 3) = 144,44 triệu
Vậy phải rút di sản của người được thừa kế theo di chúc để bù cho người thuộc
điều 644 Bộ luật Dân sự 2015. • Công thức rút:
Phần di sản bị rút = Phần di sản của người phải rút : (Tổng di sản thừa kế
của tất cả những người phải rút) x tổng số di sản cần rút bù cho người thuộc điều 644
- Số phần di sản Hải bị rút: 200 / 650 x 144,44 = 44,44 triệu
- Số phần di sản Nam và Phương mỗi người bị rút: 225 : 650 x 144,44 = 50 triệu
Vậy số di sản được hưởng của các chủ thể trong tình huống trên là:
- Hải: 200 – 44,44 = 155,56 triệu
- Nam: 225 – 50 = 175 triệu
- Phương: 225 – 50 = 175 triệu KẾT LUẬN
"Qua bài thuyết trình này, chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu về chủ thể của quan
hệ pháp luật hành chính, một vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự
phát triển của xã hội. Việc xác định rõ chủ thể, quyền hạn và nghĩa vụ của họ là
cơ sở để xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện, đảm bảo sự công bằng,
dân chủ và hiệu quả trong quản lý nhà nước. Tuy nhiên, đây vẫn còn là một lĩnh
vực cần được nghiên cứu sâu hơn, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và
sự phát triển của công nghệ thông tin. Tôi tin rằng, với sự nỗ lực của các nhà
khoa học, nhà quản lý và toàn xã hội, chúng ta sẽ xây dựng được một hệ thống
pháp luật ngày càng hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển bền vững. 12 13