



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề tài: Phân tích cơ sở vì sao Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới đất nước
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Ngọc Diệp Lớp học phần : 251_HCMI0131_01 Nhóm : 03
Hà Nội, tháng 11 năm 2025
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
1.1. Khái niệm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
1.1.1. Khái niệm “đổi mới” trong bối cảnh Việt Nam. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
1.1.2. Khái niệm “đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam” . . . . . . . . . 3
1.2. Cơ sở lý luận của đường lối đổi mới. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
1.2.1. Chủ nghĩa Mác Lênin . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
2.1. Bối cảnh thế giới . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
2.1.1 Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật phát triển mạnh . . . . . . . . . . . . . . . . 8
2.1.2. Xu thế đối thoại thay cho xu thế đối đầu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
2.1.3. Công cuộc cải tổ, cải cách diễn ra ở các nước Xã hội chủ nghĩa . . . . . . 10
2.2. Bối cảnh trong nước . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
2.2.1. Đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
2.2.2. Bị đế quốc và thế lực thù địch bao vây, cấm vận . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
2.2.3. Nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội diễn ra phổ biến . . . . . . . . . . . . . 12
2.2.4. Những bước đột phá trong lĩnh vực kinh tế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
2.3. Tác động của việc thực hiện đường lối đổi mới. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
2.3.1. Về kinh tế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
2.3.2. Về chính trị . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
2.3.3. Về xã hội . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 17
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI . . . 19
3.1. Thành tựu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
3.1.1. Về kinh tế - xã hội . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
3.1.2. Về quốc phòng, an ninh, đối ngoại . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 21
3.1.3. Về xây dựng Nhà nước pháp quyền và đại đoàn kết toàn dân . . . . . . . . . 22
3.1.4. Về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 23
3.2. Hạn chế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 24
3.2.1. Về kinh tế - xã hội . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 24
3.2.2. Về phòng chống tham nhũng, tiêu cực . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 25
3.3. Ý nghĩa lịch sử . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 27
3.4. Bài học thực tiễn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 28
KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 32
BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN STT HỌ TÊN MSV NHIỆM VỤ ĐIỂM CHỮ KÝ Phạm Ngọc - Nội dung 2.2.1 và 21 Ánh (Nhóm 23D120007 2.2.2 trường) - Phản biện - Nội dung 2.2.3 và 22 Đinh Thị Ngọc 2.2.4 Bích 22D121013 - Word - Nội dung 2.1.1 23 Đinh Trần Ngọc Bích 23D120106 - Thuyết trình - Nội dung 2.3 24 Lưu Thị Linh Chi 23D120058 - Thuyết trình - Nội dung 2.1.2 và 25 Phạm Thị Linh 2.1.3 Chi 22D160037 - Phản biện - Nội dung 1.2 26 Bùi Thị Kim Chúc 23D120008 - Phản biện 27 Hoàng Phương Dung 23D120060 - Nội dung 1.1 - Slide 28 Nguyễn Phương Dung 23D100161 - Nội dung 3.4 và 3.5 - Phản biện - Nội dung 3.1.1 và 29 Phạm Ngọc 3.1.2 Duyên 23D120061 - Phản biện - Nội dung 3.1.3; 30 Bùi Hoàng 3.1.4 và 3.1.5 Anh Dũng 23D100060 - Phản biện - Nội dung 3.2 114 Nguyễn Hải Yến 23D107174 - Slide LỜI MỞ ĐẦU
Sau năm 1975, Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội
chủ nghĩa với nhiều thuận lợi nhưng cũng vô vàn khó khăn, thách thức. Những hạn chế,
khuyết điểm trong cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, cùng với bối cảnh quốc
tế có nhiều biến động, đã khiến nền kinh tế rơi vào khủng hoảng kéo dài, đời sống nhân
dân vô cùng khó khăn. Trong bối cảnh đó, yêu cầu tìm ra một đường lối phát triển mới,
phù hợp hơn với điều kiện thực tiễn đất nước, trở thành vấn đề có ý nghĩa sống còn đối
với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1986) đã đánh dấu bước ngoặt
lịch sử, khi Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trước hết là đổi mới về
kinh tế, đồng thời từng bước đổi mới về chính trị, xã hội. Đường lối đổi mới không chỉ
giúp Việt Nam vượt qua khủng hoảng, mà còn tạo ra tiền đề quan trọng để phát triển
nhanh và bền vững trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Vì vậy, việc phân tích cơ sở vì sao Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới đất
nước là hết sức cần thiết. Đề tài này nhằm làm rõ những căn cứ khách quan và chủ quan
dẫn đến sự ra đời của đường lối đổi mới, từ đó góp phần giúp người học hiểu sâu hơn
về tư duy lý luận, bản lĩnh chính trị và khả năng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta trong điều kiện lịch sử cụ thể. 1
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thứ nhất, đổi mới là bước ngoặt mang tính chất sống còn đối với cách mạng Việt
Nam. Trước năm 1986, nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng: lạm
phát phi mã, sản xuất trì trệ, thiếu lương thực, hàng hóa khan hiếm, đời sống nhân dân
hết sức khó khăn. Nếu không thay đổi tư duy kinh tế và phương thức quản lý, đất nước
có nguy cơ tụt hậu xa hơn, niềm tin của nhân dân vào chế độ sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy,
nghiên cứu cơ sở dẫn đến đường lối đổi mới giúp hiểu rõ vì sao Đảng phải lựa chọn “đổi
mới hay là tụt hậu, khủng hoảng kéo dài”.
Thứ hai, đổi mới không phải là sự từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là sự vận
dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh hệ thống
xã hội chủ nghĩa thế giới có nhiều biến động, một số nước lâm vào khủng hoảng, việc
Đảng ta quyết định đổi mới theo hướng phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội
chủ nghĩa là một lựa chọn mang tính sáng tạo. Phân tích cơ sở ra đời của đường lối đổi
mới sẽ giúp làm rõ bản chất khoa học và cách mạng của đường lối đó, tránh những cách
hiểu sai lầm như “đổi mới là chệch hướng” hay “từ bỏ CNXH”.
Thứ ba, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, hiểu rõ cơ sở của
đường lối đổi mới giúp củng cố niềm tin và nâng cao năng lực vận dụng đường lối của
Đảng vào thực tiễn. Đất nước đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức mới: toàn
cầu hóa, cách mạng khoa học - công nghệ, cạnh tranh gay gắt, các vấn đề an ninh phi
truyền thống… Điều đó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên và sinh viên phải nắm vững lịch
sử hình thành và cơ sở của đường lối đổi mới để có thể vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào
học tập, lao động và công tác, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Thứ tư, về mặt học thuật và thực tiễn, đề tài giúp bổ sung, củng cố kiến thức môn
Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời rèn luyện tư duy phân
tích, tổng hợp, kỹ năng nghiên cứu, kỹ năng vận dụng lý luận vào giải thích các vấn đề
thực tiễn. Đây là những năng lực rất cần thiết đối với sinh viên trong quá trình học tập
cũng như sau này khi tham gia vào thị trường lao động.
Từ những lý do trên, có thể thấy việc nghiên cứu đề tài “Phân tích cơ sở vì sao
Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới đất nước” mang tính cấp thiết cả về lý luận và
thực tiễn, vừa giúp hiểu đúng, hiểu sâu về một quyết định mang tính bước ngoặt của
Đảng, vừa góp phần định hướng nhận thức và hành động cho thế hệ trẻ hôm nay. 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm
1.1.1. Khái niệm “đổi mới” trong bối cảnh Việt Nam.
“Đổi mới” được hiểu là một quá trình cải cách toàn diện nhưng có nguyên tắc,
trong đó trọng tâm là đổi mới kinh tế thông qua việc thay đổi cơ chế quản lý tập trung
quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đồng thời giữ
vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Đổi mới không phải là sự thay đổi chế độ chính trị,
càng không phải là sự phủ nhận chủ nghĩa xã hội, mà là sự vận dụng và phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện thực tiễn mới của đất nước.
Đổi mới còn bao hàm sự điều chỉnh trong nhận thức, từ chỗ coi sản xuất hàng hóa
là đặc trưng riêng của chủ nghĩa tư bản, đến chỗ thừa nhận sản xuất hàng hóa và kinh tế
thị trường là hình thức tổ chức kinh tế tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Đây là bước phát triển lý luận quan trọng, tạo cơ sở khoa học cho những
quyết định chính trị ở tầm chiến lược
1.1.2. Khái niệm “đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam”
Đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam là hệ thống các quan điểm, chủ
trương, chính sách toàn diện và nhất quán do Đảng đề ra từ Đại hội VI (năm 1986),
nhằm chuyển đổi phương thức phát triển đất nước từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan
liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời đổi mới
về chính trị, văn hoá, xã hội, đối ngoại và xây dựng Đảng để phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới.
Nói cách khác, đây là sự điều chỉnh căn bản, toàn diện và sâu sắc trong tư duy lý
luận và thực tiễn lãnh đạo của Đảng - vừa kế thừa những nguyên tắc cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa sáng tạo, linh hoạt để đáp ứng yêu cầu
phát triển trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới.
1.2. Cơ sở lý luận của đường lối đổi mới
1.2.1. Chủ nghĩa Mác Lênin
Chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của
Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó nhấn mạnh vai trò của các quy luật khách quan chi
phối sự phát triển của xã hội. Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng xã hội luôn vận động, phát triển thông qua mâu thuẫn
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Khi quan hệ sản xuất trở nên lỗi thời, kìm
hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, thì một hình thái kinh tế - xã hội mới sẽ ra đời
thay thế. Chính từ lập trường đó, Đảng ta nhận thức rằng cần phải cải cách mô hình phát 3
triển cũ để phù hợp với yêu cầu lịch sử, đặt nền móng cho đường lối đổi mới đất nước từ năm 1986.
a) Nguyên lý về sự phát triển xã hội
Chủ nghĩa Mác - Lênin xác lập quan điểm duy vật lịch sử, cho rằng sự phát triển
của xã hội loài người là một quá trình tiến hóa khách quan, biện chứng và mang tính
quy luật. Theo đó, xã hội loài người đã và sẽ tuần tự vận động qua năm hình thái kinh
tế - xã hội: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và
cộng sản chủ nghĩa. Sự chuyển tiếp giữa các hình thái này không diễn ra ngẫu nhiên, mà
tuân theo quy luật mâu thuẫn, trong đó quy luật mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất đóng vai trò quan trọng.
Có thể coi quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất là quy luật cơ bản nhất, quy luật gốc của sự phát triển xã hội. Sự biến đổi, phát
triển xã hội xét đến cùng là bắt nguồn từ quy luật này. C. Mác từng viết: “Tới một giai
đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn
với những quan hệ sản xuất hiện có”
Bên cạnh đó, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng khẳng định vai trò của mối quan hệ
biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong quá trình phát triển xã hội.
Cơ sở hạ tầng xã hội bao giờ cũng là nhân tố cơ bản quyết định kiến trúc thượng tầng,
khi cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn sự thay đổi kiến trúc thượng tầng cũng sẽ
diễn ra. C. Mác từng viết: “Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ kiến thức thượng tầng đồ
sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng”.
Lý luận Mác - Lênin cũng khẳng định rằng giữa hình thái kinh tế - xã hội tư bản
chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng, được gọi là thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Theo V.I.Lênin, “Về lý luận, không thể nghi ngờ gì được
rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, có một thời kỳ quá độ nhất định”.
b) Áp dụng vào bối cảnh Việt Nam trước đổi mới
Sau chiến thắng giải phóng miền Nam năm 1975, Việt Nam bước vào thời kỳ xây
dựng chủ nghĩa xã hội với khát vọng phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân,
đồng thời khắc phục hậu quả chiến tranh nặng nề. Tuy nhiên, do lúc này nước ta mới
bước vào xây dựng hệ thống chính trị mới (hệ thống chuyên chính vô sản theo tư tưởng
tập thể làm chủ) dẫn đến nền kinh tế Việt Nam rơi vào thời kỳ đen tối. Thời kỳ này còn
được gọi là thời kỳ “bao cấp”, trong đó Nhà nước can thiệp sâu rộng vào toàn bộ hoạt
động sản xuất - phân phối - tiêu dùng. Mô hình này ban đầu hiệu quả trong việc huy
động sức người, sức của để khôi phục kinh tế sau chiến tranh, song về lâu dài lại bộc lộ 4
nhiều hạn chế: sản xuất trì trệ, thiếu động lực cạnh tranh, năng suất thấp, cơ chế phân
phối cào bằng, tâm lý ỷ lại, thụ động lan rộng trong xã hội.
Trong bối cảnh đó, những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là lý
luận về mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, đã được Đảng Cộng sản
Việt Nam vận dụng để lý giải tình hình. Cụ thể, lực lượng sản xuất của Việt Nam khi ấy
- bao gồm công cụ sản xuất, trình độ lao động, trình độ quản lý - đang có dấu hiệu
chuyển biến tích cực và cần được khai thác hiệu quả hơn. Tuy nhiên, quan hệ sản xuất
kiểu bao cấp, cứng nhắc lại trở thành rào cản kìm hãm sự phát triển đó. Mâu thuẫn này
ngày càng gay gắt, dẫn đến hệ quả là nền kinh tế lâm vào khủng hoảng toàn diện cuối
thập niên 1970 và đầu những năm 1980: sản xuất giảm sút, hàng hóa khan hiếm, lạm
phát phi mã, đời sống nhân dân cực kỳ khó khăn.
Trước tình hình đó, Đảng ta nhận thức rằng, không thể tiếp tục giữ nguyên mô
hình cũ, mà cần phải có sự “cải biến cách mạng toàn diện”, đúng như C.Mác và Lênin
đã chỉ ra về bản chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Sự cải biến này phải bắt
đầu từ đổi mới tư duy lý luận, đổi mới nhận thức về kinh tế - chính trị - xã hội, và quan
trọng nhất là đổi mới cơ chế vận hành nền kinh tế. Do đó, tại Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức khởi xướng đường lối đổi
mới với trọng tâm là đổi mới kinh tế.
Đổi mới được xác định không phải là sự thay đổi mục tiêu phát triển xã hội chủ
nghĩa, mà là sự điều chỉnh phương thức và công cụ để hiện thực hóa mục tiêu đó một
cách hiệu quả hơn, phù hợp hơn với điều kiện lịch sử. Đây là minh chứng điển hình cho
khả năng thích nghi và sáng tạo trong tư duy lý luận, đồng thời khẳng định vai trò của
chủ nghĩa Mác - Lênin như kim chỉ nam cho sự nghiệp đổi mới và phát triển của đất nước.
1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh
Cơ sở lý luận của việc thực hiện đường lối đổi mới đất nước theo tư tưởng Hồ
Chí Minh bắt nguồn từ những quan điểm sâu sắc của Người về phát triển kinh tế. Tư
tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là kim chỉ nam cho hành động của Đảng và Nhà nước,
mà còn là một bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng
ta, từ đó hình thành nền tảng vững chắc cho công cuộc đổi mới đất nước.
a) Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới và phát triển kinh tế
Hồ Chí Minh quan niệm rằng phát triển thể hiện ở tư tưởng "dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", trong đó, kinh tế phát triển là nền tảng để xây
dựng một xã hội công bằng và giàu mạnh. 5
Hồ Chí Minh khẳng định rằng, sau khi giành được độc lập, Việt Nam phải xây
dựng nền kinh tế tự chủ, phát huy nội lực của dân tộc và không ỷ lại vào sự giúp đỡ từ
bên ngoài. Người nhiều lần nhấn mạnh tinh thần tự lực, tự cường: “Muốn người ta giúp
cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình”. Trong tư tưởng của Người, độc lập dân
tộc gắn liền với độc lập về kinh tế; một quốc gia muốn phát triển bền vững phải dựa trên
sức mạnh của chính mình, đồng thời biết tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để
phục vụ lợi ích dân tộc.
Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh tư tưởng sáng tạo trong việc xây dựng và phát triển
đất nước. Người cho rằng, mỗi quốc gia có đặc điểm lịch sử, văn hóa, kinh tế - xã hội
riêng, vì vậy không thể áp dụng một cách cứng nhắc các mô hình từ bên ngoài. Thay
vào đó, cần phải biết vận dụng linh hoạt các kinh nghiệm quốc tế, đồng thời sáng tạo ra
những phương pháp phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Hồ Chí Minh luôn đề
cao sự chủ động, nhạy bén trong việc tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề của đất nước,
khuyến khích tinh thần dám nghĩ, dám làm, đổi mới trong tư duy và hành động. Kinh tế
phải gắn liền với lợi ích của nhân dân, đặc biệt là cải thiện đời sống của họ. Người luôn
đề cao tính độc lập tự chủ, phát huy nội lực của dân tộc, đồng thời cũng chú trọng đến
việc kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội. Quan điểm của Hồ
Chí Minh về phát triển kinh tế còn
Hồ Chí Minh quan niệm đổi mới là tất yếu để phát triển, là cuộc chiến đấu chống
lại cái cũ kỹ, hư hỏng để tạo ra cái mới mẻ, tốt tươi. Người nhấn mạnh đây là công việc
cực kỳ to lớn, nặng nề và phức tạp, đòi hỏi kế hoạch phát triển kinh tế và văn hóa nhằm
không ngừng nâng cao đời sống nhân dân. Trong Di chúc, Người viết: “Đây là một cuộc
chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”
và chỉ rõ: “Ta xây dựng chủ nghĩa xã hội từ hai bàn tay trắng đi lên thì khó khăn còn
nhiều và còn dài”. Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh phát huy khả năng sáng tạo của toàn
dân, động viên, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào sức mạnh của nhân dân để xây
dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện Việt Nam.
b) Ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình đổi mới
Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là lý luận mà còn là hành động quyết liệt trong
suốt sự nghiệp cách mạng của Người, từ việc tìm kiếm con đường cứu nước đến xây
dựng đất nước độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tư tưởng đổi mới của Hồ Chí
Minh có tính khoa học, cách mạng, kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với truyền thống dân
tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, với đạo đức cách mạng lấy phục vụ tổ quốc, phục vụ
nhân dân làm gốc. Đảng ta lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng lý luận, kim chỉ nam
cho hành động trong công cuộc đổi mới đất nước, nhằm đạt mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. 6
c) Hồ Chí Minh - biểu tượng và tấm gương dẫn đường
Người là biểu tượng sáng ngời của đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính,
chí công vô tư, là tấm gương sáng để toàn Đảng, toàn dân học tập và noi theo trong công
cuộc đổi mới.Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
được Đảng phát động nhằm nâng cao đạo đức cách mạng, ngăn chặn suy thoái đạo đức
trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước và nâng
cao hiệu quả công tác trên mọi lĩnh vực.
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới là nền tảng lý luận quan trọng, là kim
chỉ nam cho đường lối đổi mới đất nước của Đảng ta. Những chỉ dẫn của Người trong
Di chúc và các tác phẩm khác đã soi sáng và định hướng cho công cuộc đổi mới, phát
triển kinh tế, văn hóa và nâng cao đời sống nhân dân, đồng thời xây dựng Đảng trong
sạch, vững mạnh. Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ cách mạng mà còn là biểu tượng
đạo đức và tấm gương sáng cho sự đổi mới của Đảng và dân tộc ta 7
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1. Bối cảnh thế giới
2.1.1 Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật phát triển mạnh
Trong nửa sau thế kỷ XX, thế giới chứng kiến một bước ngoặt to lớn trong lĩnh
vực sản xuất, quản lý và phát triển của nhiều quốc gia, đó là sự phát triển mạnh mẽ của
cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật. Hiện tượng này được đặc trưng bởi sự xuất hiện
và lan rộng của các công nghệ điện tử, tin học - viễn thông, tự động hóa - robot, vật liệu
mới, và công nghệ sinh học, cùng với quá trình quốc tế hóa sản xuất và toàn cầu hóa chuỗi giá trị.
Trên bình diện quốc tế, có thể chỉ ra các nội dung nổi bật sau:
Thứ nhất, sự bứt phá của khoa học - kỹ thuật (tin học hóa, tự động hóa, viễn
thông) đã làm tăng năng suất lao động nhanh, đồng thời hạ mạnh chi ohis vận tải và
thông tin; hệ quả là phương thức sản xuất chuyển từ mô hình khép kín sang mô hình
phân mảnh, chuyên môn hóa theo công đoạn. Trên nền tảng chi phí giao dịch giảm và
khả năng điều phối xuyên biên giới tăng, các doanh nghiệp tổ chức lại sản xuất theo
mạng lưới, qua đó hình thành và mở rộng chuỗi giá trị toàn cầu như một cấu trúc chủ
đạo của kinh tế thế giới. Cấu trúc này vừa tạo áp lực nâng chuẩn năng suất - chất lượng,
vừa mở ra cơ hội cho các nước đi sau tham gia vào những khâu phù hợp năng lực, từ đó
rút ngắn khoảng cách phát triển nếu biết cải cách thể chế, nâng cấp hạ tầng và nguồn
nhân lực để hấp thụ, làm chủ công nghệ
Thứ hai, trong bối cảnh đó, cạnh tranh quốc tế không chỉ dựa vào tài nguyên thiên
nhiên và lao động giá rẻ, mà ngày càng phụ thuộc vào năng lực đổi mới công nghệ, quản
trị hiện đại và tiếp thu công nghệ tiên tiến. Các quốc gia nếu không kịp chuyển đổi sẽ
có nguy cơ bị tụt hậu công nghệ và yếu thế trong cạnh tranh.
Thứ ba, từ khía cạnh thể chế và quản lý, cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung
bao cấp bắt đầu bộc lộ những hạn chế lớn: méo mó phân phối nguồn lực, độ mở thấp,
khả năng tiếp thu công nghệ chậm. Cùng với xu thế công nghệ - sản xuất hiện đại, yêu
cầu đổi mới thể chế, mở cửa hội nhập và phát triển kinh tế thị trường ngày càng trở nên rõ ràng.
Dưới ánh sáng quốc tế đó, nền kinh tế Việt Nam vào thập niên 1980 với xuất phát
điểm là một quốc gia chiến tranh hậu quả nặng nề, bị bao vây, nền sản xuất chậm phát
triển, cơ chế quản lý kinh tế - xã hội còn lạc hậu và đứng trước thách thức thật sự: nếu
tiếp tục duy trì mô hình kinh tế cũ thì nguy cơ bị bỏ lại phía sau là rõ ràng. Sự mở rộng
của công nghệ mới và chuỗi giá trị toàn cầu đã đặt ra áp lực khách quan buộc Việt Nam
phải tìm hướng đi mới. Đồng thời, đó cũng là cơ hội để nếu biết lựa chọn và chủ động
đổi mới thì có thể “rút ngắn đường” phát triển. Chính vì vậy, cuộc cách mạng khoa học
- kỹ thuật vươn lên như một trong những cơ sở quốc tế quan trọng để Đảng Cộng sản 8
Việt Nam xác định việc thực hiện đường lối đổi mới đất nước từ năm 1986 nhằm chuyển
sang mô hình kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, mở cửa hội nhập, nâng cao năng lực
sản xuất và ứng dụng khoa học - kỹ thuật, phát triển con người và lực lượng sản xuất.
Như vậy, trong bối cảnh quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật
không chỉ là biến cố kỹ thuật thuần túy mà còn là nhân tố khiến các quốc gia - đặc biệt
là các nước có xuất phát chậm phải lựa chọn đổi mới thể chế, định hướng phát triển. Khi
đó, đường lối đổi mới của Đảng được hình thành không phải chủ quan, mà xuất phát từ
nhu cầu khách quan của thời đại: muốn tham gia vào guồng quay sản xuất - công nghệ
- trao đổi mới, Việt Nam buộc phải đổi mới.
2.1.2. Xu thế đối thoại thay cho xu thế đối đầu
Bước vào thập niên 1980, mặc dù Chiến tranh Lạnh vẫn tiếp diễn, song cục diện
thế giới đã xuất hiện xu hướng hòa dịu, đối thoại và hợp tác ngày càng gia tăng giữa các
quốc gia và các trung tâm quyền lực lớn. Các cuộc gặp thượng đỉnh Xô - Mỹ, việc ký
kết các hiệp định hạn chế vũ khí chiến lược, sự phát triển vai trò của Liên Hợp Quốc,
Phong trào Không liên kết,… cho thấy đối thoại đang trở thành phương thức chủ đạo
trong quan hệ quốc tế, từng bước thay thế mô hình đối đầu căng thẳng trước đó.
Sự chuyển biến này đã tác động trực tiếp đến Việt Nam. Trên cơ sở đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình và hữu nghị, Việt Nam từng bước mở rộng quan hệ quốc
tế, điển hình như việc gia nhập Liên Hợp Quốc năm 1977, thúc đẩy bình thường hóa
quan hệ với các nước trong khu vực, tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế. Tuy
nhiên, do vẫn chịu bao vây cấm vận và hậu quả nặng nề của chiến tranh, Việt Nam gặp
nhiều trở ngại trong quá trình hòa nhập quốc tế.
Ý nghĩa và sức ép của xu thế này đối với Việt Nam:
Một là, xu thế đối thoại - hòa dịu làm suy giảm tính chính đáng của mô hình đối
đầu ý thức hệ vốn chi phối đời sống quốc tế trong nhiều thập niên. Điều này đặt ra yêu
cầu khách quan buộc Việt Nam phải từng bước điều chỉnh phương thức phát triển,
chuyển từ tư duy đối đầu sang tư duy hợp tác và hội nhập.
Hai là, việc các quốc gia trong khu vực tận dụng xu thế hòa dịu để mở cửa kinh
tế, thu hút đầu tư nước ngoài và đạt tốc độ tăng trưởng cao đã tạo ra sức ép cạnh tranh
mạnh mẽ đối với Việt Nam. Nếu không đổi mới, Việt Nam có nguy cơ tụt hậu xa hơn
và bị gạt ra ngoài quá trình phát triển chung của khu vực.
Ba là, muốn thoát khỏi tình trạng bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ kinh tế -
ngoại giao và tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, Việt Nam buộc phải thay đổi tư duy đối ngoại, cải cách cơ chế, mở cửa hợp
tác phù hợp với xu thế đối thoại - hội nhập của thời đại. 9
Như vậy, xu thế đối thoại thay cho đối đầu không chỉ mở ra cơ hội mà còn tạo
nên động lực và yêu cầu cấp bách, góp phần thúc đẩy Đảng Cộng sản Việt Nam khởi
xướng đường lối đổi mới nhằm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng và hòa nhập vào dòng
chảy chung của thế giới.
2.1.3. Công cuộc cải tổ, cải cách diễn ra ở các nước Xã hội chủ nghĩa
Trong những năm 1980, trước tình trạng trì trệ và khủng hoảng của mô hình kinh
tế kế hoạch hóa tập trung, nhiều nước Xã hội chủ nghĩa đã tiến hành cải cách sâu rộng
nhằm điều chỉnh mô hình phát triển. Liên Xô tiến hành cải tổ (Perestroika) và công khai
hóa (Glasnost); Trung Quốc thực hiện đường lối cải cách và mở cửa từ năm 1978; một
số nước Đông Âu cũng triển khai các biện pháp đổi mới cơ chế quản lý kinh tế - xã hội.
Những cải tổ đó phản ánh nhu cầu điều chỉnh tất yếu của các nước XHCN trước bối
cảnh phát triển mới của thế giới. Đến năm 1986, mặc dù sự sụp đổ của Liên Xô và Đông
Âu chưa diễn ra (xảy ra vào đầu thập niên 1990), nhưng những dấu hiệu trì trệ, khủng
hoảng và khó khăn của mô hình cũ đã trở nên rõ rệt, đặt các nước XHCN trước đòi hỏi phải đổi mới.
Tác động đối với Việt Nam:
Thứ nhất, sự điều chỉnh, cải tổ của các nước XHCN cho thấy mô hình tập trung
quan liêu bao cấp đã bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập, tạo ra cơ sở thực tiễn để Việt Nam
nhìn nhận lại mô hình phát triển của mình, không thể tiếp tục duy trì cơ chế cũ một cách kéo dài.
Thứ hai, khi Liên Xô và nhiều nước XHCN gặp khó khăn về kinh tế, viện trợ cho
Việt Nam bị cắt giảm hoặc thu hẹp, Việt Nam rơi vào tình thế phải tự lực vượt qua khủng
hoảng. Điều này thúc đẩy nhu cầu cấp thiết phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, tìm
kiếm con đường phát triển phù hợp hơn.
Thứ ba, việc Trung Quốc tiến hành cải cách - mở cửa và đạt được những kết quả
ban đầu tích cực đã tạo nên bài học tham khảo quan trọng đối với Việt Nam: các nước
XHCN vẫn có thể tiến hành đổi mới mạnh mẽ, phát huy các thành phần kinh tế, mở rộng
quan hệ đối ngoại mà vẫn giữ vững định hướng XHCN và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Do đó, xu hướng cải tổ của các nước XHCN trong những năm 1980 không chỉ là
bối cảnh quốc tế chung, mà còn là chất xúc tác quan trọng, góp phần để Đảng Cộng sản
Việt Nam tại Đại hội VI (1986) đề ra đường lối đổi mới, nhằm khắc phục khủng hoảng
kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực phát triển của đất nước và phù hợp với xu thế vận động của thời đại. 10
2.2. Bối cảnh trong nước
2.2.1. Đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội
Sau năm 1975, đất nước thống nhất, nhân dân Việt Nam bắt tay vào công cuộc
khôi phục kinh tế. Tuy nhiên, do sai lầm chủ quan, duy ý chí , chúng ta đã duy trì quá
lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp. Mô hình này, vốn phát huy tác
dụng trong chiến tranh, nay lại kìm hãm sản xuất và trở thành nguyên nhân trực tiếp dẫn
đến khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài. Biểu hiện của cuộc khủng hoảng rất trầm trọng:
- Sản xuất đình trệ, hàng hóa khan hiếm, năng suất lao động thấp.
- Lạm phát phi mã, lên đến đỉnh điểm là 774,7% vào năm 1986.
- Đời sống nhân dân (cán bộ, công nhân viên, lực lượng vũ trang) hết sức khó khăn.
Hệ thống phân phối theo tem phiếu không còn phù hợp.
- Nghiêm trọng nhất, cuộc khủng hoảng làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối
với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Chính trong bối cảnh bế tắc đó, từ thực tiễn "sáng kiến của nhân dân”, Đảng đã
bắt đầu có những tìm tòi, khảo nghiệm thực tiễn để tìm lối thoát. Đây chính là các bước
đột phá từng phần về kinh tế, là tiền đề cho Đổi Mới toàn diện:
Bước đột phá đầu tiên (1979): Hội nghị Trung ương 6 (khóa IV, tháng 8/1979)
chủ trương phá bỏ rào cản để "sản xuất bung ra". Chủ trương này đã mở đường cho Chỉ
thị số 100-CT/TW (1/1981) về "khoán sản phẩm" trong nông nghiệp và Quyết định 25-
CP, 26-CP (1/1981) trao quyền tự chủ cho xí nghiệp quốc doanh. Các chính sách này đã
tạo động lực mới, giúp sản lượng lương thực tăng lên rõ rệt.
Bước đột phá thứ hai (1985): Hội nghị Trung ương 8 (khóa V, tháng 6/1985) chủ
trương xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp , lấy "giá - lương - tiền" làm khâu đột
phá. Dù chủ trương là đúng, nhưng do cách làm "vội vàng đổi tiền và tổng điều chỉnh
giá, lương" khi chưa chuẩn bị kỹ, đã gây ra hậu quả nghiêm trọng, làm cho lạm phát
bùng nổ và khủng hoảng càng thêm trầm trọng. Thất bại này là một bài học đắt giá, cho
thấy sự bế tắc của cơ chế cũ và đòi hỏi phải đổi mới triệt để hơn.
Bước đột phá thứ ba (1986): Hội nghị Bộ Chính trị (khóa V, tháng 8/1986) ra
"Kết luận đối với một số vấn đề thuộc về quan điểm kinh tế". Đây là bước quyết định,
chuyển tư duy dứt khoát sang:
- Thừa nhận “nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần”
- Điều chỉnh cơ cấu đầu tư, "thật sự lấy nông nghiệp là mặt trận hàng đầu" , tập
trung vào ba chương trình kinh tế lớn (lương thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu).
- Chấp nhận quy luật "quan hệ hàng hoá - tiền tệ" (kinh tế thị trường). 11
Như vậy, cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội chính là hiện thực khắc nghiệt đã
thúc đẩy Đảng và nhân dân phải tìm tòi con đường mới, và các bước đột phá trên chính
là quá trình khảo nghiệm thực tiễn để hình thành nên đường lối Đổi Mới toàn diện tại Đại hội VI
2.2.2. Bị đế quốc và thế lực thù địch bao vây, cấm vận
Sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam phải đối mặt với chính sách bao vây, cấm
vận kinh tế, cô lập ngoại giao do Mỹ và các thế lực thù địch tiến hành (tập đoàn Pôn
Pốt, Trung Quốc). Lệnh cấm vận toàn diện của Hoa Kỳ từ năm 1975 khiến Việt Nam bị
ngăn cản trong việc tiếp cận thị trường, vốn đầu tư, và các tổ chức tài chính quốc tế như IMF hay WB.
Sau khi thống nhất đất nước, cuộc khủng hoảng trong nước càng trở nên nghiêm
trọng hơn khi Việt Nam bị cô lập về chính trị và bóp nghẹt về kinh tế. Cụ thể:
Hoa Kỳ: Tiếp tục chính sách thù địch, thực hiện bao vây, cấm vận kinh tế và cô
lập ngoại giao. Lệnh cấm vận toàn diện của Hoa Kỳ khiến Việt Nam bị ngăn cản trong
việc tiếp cận thị trường, vốn đầu tư, và công nghệ từ phương Tây.
Tập đoàn Pôn Pốt: Ở Campuchia, ngay từ tháng 5/1975, tập đoàn Pôn Pốt đã thi
hành chính sách diệt chủng và "tăng cường chống Việt Nam" . Chúng tiến hành hàng
ngàn vụ tấn công, tàn sát nhân dân, buộc ta phải tiến hành cuộc chiến tranh bảo vệ biên
giới Tây Nam (bắt đầu cuối năm 1978) .
Trung Quốc: Ở phía Bắc, quan hệ hai nước xấu đi rõ rệt. Đỉnh điểm là ngày
17/2/1979, Trung Quốc huy động hơn 60 vạn quân đồng loạt tấn công toàn tuyến biên
giới phía Bắc nước ta. Cuộc chiến này gây ra những thiệt hại nặng nề và buộc ta phải
duy trì một lực lượng quốc phòng lớn, làm cạn kiệt nguồn lực vốn đã ít ỏi.
Việc đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, kinh tế kiệt quệ, lại phải lập tức dồn sức
cho hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới , cùng lúc nguồn viện trợ từ Liên Xô và các
nước xã hội chủ nghĩa khác bị giảm mạnh (do chính các nước này cũng gặp khó khăn),
đã đẩy Việt Nam vào tình thế "ngàn cân treo sợi tóc". Sự cô lập về kinh tế - chính trị
này khiến yêu cầu phải mở cửa, đổi mới tư duy đối ngoại và kinh tế trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
2.2.3. Nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội diễn ra phổ biến
Trong giai đoạn những năm 1975 - 1986, đời sống kinh tế - xã hội bị đặt trong
tình trạng vô cùng khó khăn và chính sự khó khăn kéo dài đó đã làm nảy sinh nhiều hiện
tượng tiêu cực trong xã hội. Nhiều vấn đề tiêu cực nảy sinh, nhất là các vấn đề xã hội và
quản lý xã hội chưa được nhận thức đầy đủ và giải quyết một cách hiệu quả. Trong bối
cảnh vật chất thiếu thốn, hàng hóa khan hiếm, hệ thống phân phối bằng tem phiếu vận
hành kém hiệu quả, những sai phạm trong phân phối, tình trạng buôn lậu, đầu cơ và thị 12
trường chợ đen phát triển mạnh trở thành vấn đề phổ biến. Các quan hệ xã hội vốn lành
mạnh dần bị biến dạng bởi sự khác biệt quá lớn giữa giá Nhà nước và giá thị trường,
khiến nhiều người tìm cách trục lợi từ những kẽ hở của cơ chế bao cấp.
Cũng trong môi trường đó, cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp lại càng
tạo điều kiện để những tiêu cực lan rộng. Việc mọi mặt hàng, từ lương thực đến vật tư
sản xuất, đều phải xin cấp từ các cơ quan nhà nước khiến tình trạng cửa quyền, sách
nhiễu, nhũng nhiễu trở nên phổ biến trong đời sống thường ngày. Nhiều cán bộ lợi dụng
vị trí của mình trong hệ thống “xin - cho” để trục lợi cá nhân, dẫn đến tham nhũng, gian
dối và sự xuống cấp nghiêm trọng trong đạo đức công vụ. Tình trạng này không chỉ cản
trở hoạt động kinh tế mà còn bào mòn niềm tin của nhân dân vào bộ máy quản lý.
Sự lan rộng của các hiện tượng tiêu cực còn phản ánh tình trạng quản lý xã hội
kém hiệu quả. Xã hội “tiềm ẩn những nhân tố và nguy cơ mất ổn định”, có thể thấy rằng
những bất cập trong quản lý khiến các tệ nạn, vi phạm kỷ luật và sự mất công bằng trong
tiếp cận nguồn lực xuất hiện ngày càng nhiều. Trong khi đó, mức sống của người dân
lại xuống thấp do lạm phát phi mã, sản xuất đình đốn, thu nhập không đủ đáp ứng nhu
cầu thiết yếu, khiến tâm lý bất mãn xã hội gia tăng. Một bộ phận lớn nhân dân không
được thụ hưởng thành quả kinh tế một cách công bằng, làm nảy sinh sự hoài nghi vào
hiệu quả của cơ chế cũ.
Tất cả những hiện tượng tiêu cực này không chỉ là những vấn đề rời rạc, mà đã
trở thành biểu hiện của sự khủng hoảng toàn diện trong đời sống xã hội, cho thấy mô
hình quản lý cũ không còn phù hợp. Chúng tạo nên sức ép lớn buộc Đảng phải nhìn
nhận lại hiện trạng, tổng kết thực tiễn và tìm kiếm một con đường mới để khắc phục
triệt để những hạn chế đó. Chính vì vậy, sự phổ biến của các hiện tượng tiêu cực xã hội
đã trở thành một trong những nguyên nhân quan trọng buộc Đảng phải đề ra đường lối
đổi mới, nhằm ổn định xã hội, khơi dậy động lực phát triển và đáp ứng yêu cầu bức thiết của cuộc sống.
2.2.4. Những bước đột phá trong lĩnh vực kinh tế
Ngay từ năm 1979, khi nền kinh tế lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, Hội nghị
Trung ương 6 (khóa IV, tháng 8 - 1979) đã được xem là bước đột phá đầu tiên đổi mới
kinh tế. Nhìn thấy những khiếm khuyết cơ bản của cơ chế quản lý cũ, hội nghị xác định
phải kịp thời khắc phục các sai lầm trong quản lý kinh tế, nhất là trong lĩnh vực nông
nghiệp và phân phối lưu thông. Tư duy mới thể hiện ở việc thừa nhận yêu cầu giải phóng
sức sản xuất của nông dân thông qua nới lỏng các ràng buộc trước đó, cho phép khoán
sản phẩm, mở rộng quyền chủ động cho hợp tác xã và người lao động nông nghiệp. Các
quyết sách như giao đất, giao rừng, khoán sản phẩm, mở rộng quyền sử dụng đất và
trách nhiệm của người sản xuất đã giúp nông dân có thêm động lực, tạo chuyển biến rõ 13
rệt trong sản xuất nông nghiệp ở nhiều địa phương. Đây là lần đầu tiên Đảng thừa nhận
hiệu quả của mô hình “khoán chui” trong thực tiễn, mở đường cho sự ra đời của Chỉ thị 100-CT/TW năm 1981
Bước đột phá thứ hai xuất hiện tại Hội nghị Trung ương 8 khoá V (6 - 1985), khi
Đảng chủ trương “xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu hành chính bao cấp”, lấy giá - lương
- tiền làm khâu đột phá, nhằm chuyển nền kinh tế sang cơ chế hạch toán và kinh doanh
xã hội chủ nghĩa. Nội dung đổi mới thể hiện tư duy rất tiến bộ: giá cả phải tính đúng,
tính đủ chi phí; người sản xuất phải có lợi nhuận thỏa đáng và Nhà nước từng bước có
tích luỹ; xoá bỏ tình trạng Nhà nước mua thấp, bán thấp và bù lỗ; từng bước thực hiện
cơ chế một giá. Đây là sự thừa nhận lần đầu tiên về tính quy luật của sản xuất hàng hóa
trong nền kinh tế quốc dân. Mặc dù việc triển khai gặp sai lầm khi đổi tiền và điều chỉnh
giá - lương - tiền quá vội vàng, dẫn đến khủng hoảng trầm trọng hơn, nhưng chính những
sai lầm này lại cho thấy sự bế tắc của cơ chế cũ và sự cần thiết phải đổi mới mạnh mẽ hơn.
Bước đột phá thứ ba đến từ cuộc họp Bộ Chính trị khóa V tháng 8 - 1986, được
coi là quyết định mang ý nghĩa trực tiếp dẫn đến sự ra đời của đường lối đổi mới tại Đại
hội VI. Bộ Chính trị đã thẳng thắn xem xét các vấn đề thuộc quan điểm kinh tế, từ đó
khẳng định việc cần tiến hành điều chỉnh lớn về cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, trong
đó nhấn mạnh phải “thật sự lấy nông nghiệp là mặt trận hàng đầu”, ưu tiên giải quyết
vấn đề lương thực và hàng tiêu dùng thiết yếu thay vì chủ quan, nóng vội phát triển công
nghiệp nặng như trước. Những kết luận này là kết quả của cả quá trình đấu tranh giữa
quan điểm cũ và quan điểm mới, thể hiện sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức của
Đảng về quy luật kinh tế hàng hóa và vai trò của các thành phần kinh tế.
Các bước tìm tòi và đột phá trên, dù còn hạn chế, tuy nhiên đã đặt nền móng tư
duy cho sự thay đổi toàn diện trong quản lý và phát triển kinh tế. Chúng khẳng định rằng
các biện pháp hành chính mang tính áp đặt không thể giải quyết được những bất ổn của
nền kinh tế và chỉ có thể vượt qua khủng hoảng bằng việc chấp nhận những quy luật
khách quan của sản xuất hàng hóa, mở rộng quyền tự chủ cho cơ sở, đổi mới cơ chế
quản lý và vận dụng linh hoạt các yếu tố của thị trường. Chính sự xuất hiện của những
đột phá này cho thấy Đảng đã “khảo nghiệm, tổng kết thực tiễn” để từng bước hình
thành đường lối đổi mới toàn diện, đáp ứng yêu cầu cấp bách của tình hình đất nước
2.3. Tác động của việc thực hiện đường lối đổi mới.
2.3.1. Về kinh tế
Đảng chủ trương sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo hướng hợp lý, phát huy
mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế trên cơ sở khai thác thế mạnh của từng khu
vực sản xuất và lưu thông hàng hóa. Chính sách mới cho phép tồn tại nhiều hình thức 14
sở hữu và nhiều thành phần kinh tế với quy mô, trình độ kỹ thuật phù hợp, tạo điều kiện
để các khu vực này liên kết và hỗ trợ lẫn nhau trong phát triển. Đại hội VI xác định rõ
rằng nền kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi mới tồn tại dưới nhiều thành phần khác nhau.
Trước hết là khu vực kinh tế xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế quốc doanh và kinh tế
tập thể giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt và định hướng sự phát triển chung. Bên cạnh đó,
kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa như thợ thủ công, nông dân cá thể hay tiểu thương tiếp
tục tồn tại và đóng góp vào lưu thông hàng hóa trên thị trường. Đại hội cũng thừa nhận
kinh tế tư bản tư nhân dưới các hình thức kinh doanh hợp pháp, tạo thêm động lực cho
sản xuất và dịch vụ. Đồng thời, kinh tế tư bản nhà nước được khuyến khích phát triển
thông qua các mô hình hợp tác giữa Nhà nước và tư nhân, trong đó công ty hợp doanh
là biểu hiện cao nhất. Ngoài ra, kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc vẫn tồn tại ở một bộ phận
đồng bào dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên và miền núi phía Bắc, phản ánh đặc điểm đa
dạng của cơ cấu kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi. Việc thừa nhận sự tồn tại của nền
kinh tế nhiều thành phần trở thành bước đột phá quan trọng trong tư duy kinh tế của
Đảng, góp phần khơi thông nguồn lực xã hội, thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng
hóa, nâng cao năng suất lao động và tạo tiền đề cho sự phát triển của nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong bối cảnh đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng với sản xuất
trì trệ, cơ chế bao cấp kém hiệu quả, hàng hóa khan hiếm, lương thực thiếu hụt và lạm
phát phi mã kéo dài, chủ trương đổi mới của Đại hội VI đã tác động sâu rộng tới toàn
bộ đời sống kinh tế. Việc xác định cần thay đổi mô hình phát triển đã mở đường cho
việc xóa bỏ cơ chế phân phối bằng tem phiếu, chấm dứt bao cấp qua giá và cấp phát
vốn, qua đó khơi thông động lực sản xuất của doanh nghiệp và người dân. Chính sách
trao quyền tự chủ cho các cơ sở sản xuất, khẳng định vai trò của kinh tế hộ gia đình và
kinh tế nhiều thành phần cho phép huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội, đặc biệt trong
nông nghiệp, giúp Việt Nam thoát khỏi tình trạng thiếu lương thực và từng bước vươn
lên xuất khẩu gạo. Đồng thời, việc chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước góp phần cải thiện lưu thông hàng hóa, giảm ách tắc trong phân
phối và từng bước kiểm soát lạm phát. Song song đó, chủ trương mở cửa, mở rộng quan
hệ kinh tế đối ngoại đã tạo nền tảng ban đầu cho hội nhập quốc tế, thu hút vốn, công
nghệ và kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài. Nhờ những định hướng đúng đắn này, nền
kinh tế dần ổn định, sản xuất tăng trưởng trở lại, đời sống nhân dân được cải thiện rõ
rệt, khẳng định vai trò quyết định của đường lối đổi mới trong việc giúp đất nước thoát
khỏi khủng hoảng và bước vào giai đoạn phát triển mới.
Cùng với đổi mới cơ cấu kinh tế, Đảng xác định cần đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế cho phù hợp với yêu cầu phát triển. Đại hội VI thẳng thắn chỉ ra rằng cơ chế quản lý
tập trung quan liêu, bao cấp kéo dài đã làm suy yếu động lực phát triển, kìm hãm sản 15
xuất, làm giảm năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, gây rối loạn trong
phân phối, lưu thông hàng hóa và phát sinh nhiều tiêu cực xã hội (Đảng Cộng sản Việt
Nam, 1986). Trước thực trạng đó, Đảng khẳng định phải xóa bỏ cơ chế bao cấp và xây
dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần. Bản chất của cơ chế mới là kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh
xã hội chủ nghĩa, kết hợp hài hòa giữa tính kế hoạch và quy luật thị trường. Cơ chế quản
lý mới dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm
của các đơn vị sản xuất - kinh doanh, khuyến khích các cơ sở chủ động trong sản xuất,
kinh doanh, tài chính và phân phối lợi nhuận. Nhà nước chuyển sang quản lý vĩ mô
thông qua pháp luật, chính sách tài chính - tiền tệ, giá cả và các “đòn bẩy kinh tế” thay
vì can thiệp hành chính trực tiếp. Nhờ đổi mới cơ chế quản lý, nền kinh tế Việt Nam
từng bước chuyển từ mô hình bao cấp sang cơ chế thị trường có điều tiết, phát huy tính
năng động của các chủ thể kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và tạo nền tảng
cho quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa sau này.
2.3.2. Về chính trị
Trong lĩnh vực chính trị, đường lối đổi mới đã góp phần quan trọng trong việc
giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo nền tảng cốt lõi cho quá trình phát triển kinh tế
của Việt Nam. Ngay từ Đại hội VI (1986), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định “Ổn
định chính trị là điều kiện tiên quyết để đổi mới thành công” (Đảng Cộng sản Việt Nam,
1986). Nhờ kiên định đường lối lãnh đạo, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định chế độ
và trật tự xã hội trong bối cảnh thế giới đầy biến động, đặc biệt là khi Liên Xô và các
nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu rơi vào khủng hoảng và tan rã vào đầu thập niên 1990.
Sự ổn định này không chỉ giúp bảo đảm an ninh, đời sống nhân dân và củng cố niềm tin
vào hệ thống chính trị, mà còn góp phần ngăn chặn nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong nội bộ. Đồng thời, đây là nền tảng vững chắc để Việt Nam thu hút đầu tư,
mở rộng hợp tác đối ngoại và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa một cách bền vững.
Đường lối đổi mới không chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế mà còn mở ra bước
chuyển quan trọng trong tư duy chính trị và phương thức lãnh đạo của Đảng. Đảng Cộng
sản Việt Nam đã thay đổi từ mô hình lãnh đạo trực tiếp, bao cấp sang phương thức lãnh
đạo thông qua cương lĩnh, chiến lược, chủ trương, chính sách và pháp luật, đồng thời
vận hành hệ thống bằng cơ chế quản lý của Nhà nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021).
Nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” được thể chế hóa rõ
ràng, góp phần xác định rành mạch vai trò và trách nhiệm của từng chủ thể trong hệ
thống chính trị. Cùng với đó, Nhà nước được xây dựng theo hướng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, quản lý xã hội bằng pháp luật, chú trọng minh bạch, hiệu quả
và kiên quyết phòng chống quan liêu, tham nhũng, cửa quyền. Những cải cách này giúp 16