TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
--------
BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CƠ SỞ VÌ SAO VIỆT NAM THỰC
HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC.
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC.. 4
1.1. Chủ nghĩa Mác Lênin ................................................................................ 4
1.1.1. Khái quát về chủ nghĩa Mác Lênin .................................................... 4
1.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về xây dựng, phát triển và đổi
mới đất nước ............................................................................................... 5
1.1.3. Giá trị và ý nghĩa của học thuyết Mác Lênin đối với công cuộc đổi
mới ở Việt Nam .......................................................................................... 7
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh .............................................................................. 9
1.2.1. Khái quát về tư tưởng Hồ Chí Minh .................................................. 9
1.2.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng, phát triển và đổi mới đất
nước ............................................................................................................ 9
1.2.3. Giá trị và ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình đổi mới
hiện nay .................................................................................................... 10
1.3. Quan điểm nhận thức về đổi mới trong Đảng Cộng sản Việt Nam ........... 13
CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI ĐẤT
NƯỚC ............................................................................................................ 15
2.1. Tình hình bối cảnh thế giới ...................................................................... 15
2.1.1. Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật phát triển mạnh- ....................... 15
2.1.2. Xu thế đối thoại thay xu thế đối đầu ................................................ 16
2.1.3. Công cuộc cải tổ diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa ..................... 18
2.2. Tình hình trong nước trước đổi mới ......................................................... 20
2.2.1. Đất nước khủng hoảng kinh tế xã hội- ............................................. 20
2.2.2. Bị đế quốc và thế lực thù địch bao vây, cấm vận ............................. 23
2.2.3 Nhiều hiện tượng tiêu cực diễn ra phổ biến ...................................... 24
2.2.4 Đã có những bước đột phá trong lĩnh vực kinh tế ............................. 25
2.2.4.1. Bước đột phá đầu tiên: Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng
8/1979) ................................................... Error! No bookmark name given.
2.2.4.2. Bước đột phá thứ 2: Hội nghị Trung ương 8 khóa V (tháng
6/1985) ................................................... Error! No bookmark name given.
2.2.4.3. Bước đột phá thứ 3: Hội nghị Bộ Chính trị Khóa V (tháng
8/1986) ................................................... Error! No bookmark name given.
2.3. Tính tất yếu khách quan của việc thực hiện đường lối đổi mi ................ 28
CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ THỰC TIỄN THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI
MỚI ĐẤT NƯỚC Ở VIỆT NAM ................................................................... 30
3.1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI ...................................................... 30
3.2. Thực tiễn công cuộc đổi mới ở Việt Nam ................................................ 35
3.2.1. Tác động của tình hình quốc tế và trong nước đến quá trình đổi mới 35
2
3.2.1.1. Tác động của tình hình quốc tế................................................ 35
3.2.1.2. Tác động trong nước ............................................................... 37
3.2.2. Vận dụng chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá
trình đổi mới ............................................................................................. 38
3.2.3. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ............................... 40
3.3. Những thành tựu đạt được sau gần 40 năm đổi mới ................................. 42
3.4. Những hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện đường lối đổi mới ........ 56
3.4.1 Những hạn chế trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới ............. 56
3.4.2. Nguyên nhân trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới ............... 65
3.5. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện đường lối đổi mới ....................... 68
3.5.1. Nâng cao chất lượng tăng trưởng và chuyển đổi mô hình kinh tế..... 69
3.5.2. Hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước ................. 70
3.5.3. Phát triển doanh nghiệp, khoa học công nghệ và nguồn nhân lực . 70
3.5.4. Phát triển xã hội, bảo vmôi trường nâng cao năng lực hội nhập
quốc tế ...................................................................................................... 71
KẾT LUẬN.................................................................................................... 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 76
3
MỞ ĐẦU
Đất nước Việt Nam bước vào thập niên 80 của thế kXX trong bối cảnh tình
hình thế giới trong nước nhiều biến động sâu sắc. Sau khi thống nhất đất
nước (1975), Việt Nam đối mặt với hàng loạt khó khăn thử thách nghiêm
trọng: nền kinh tế rơi vào khủng hoảng kéo dài, chế quản tập trung quan
liêu bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế; đời sống nhân dân gặp vô vàn khó khăn; quan
hệ đối ngoại bị cô lập và cấm vận. Trên bình diện thế giới, cuộc cách mạng khoa
học kthuật phát triển mạnh mẽ, xu thế hoà bình hợp tác dần thay thế đối
đầu, cùng với sự khủng hoảng của mô hình xã hội chủ nghĩa ở nhiều nước đã đặt
ra đòi hỏi cấp bách về việc phải thay đổi tư duy phát triển.
Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức yêu cầu khách quan
của lịch sử: phải đổi mi duy lý luận, đổi mới mô hình tổ chức quản lý kinh
tế xã hội nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, từng bước phát triển
hội nhập với thế giới. Con đường đổi mới không chỉ xuất phát từ nhu cầu bức
thiết của thực tiễn mà còn dựa trên nền tảng lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác
Lênin tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đất nước, giải phóng lực lượng
sản xuất và xây dựng xã hội mới.
Đề tài “Phân tích sở vì sao Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới đất nước”
nhằm làm sở lý luận, sở thực tiễn, cũng như tính tất yếu của quá trình
đổi mới. Đồng thời, đề tài cũng phân tích thực tiễn triển khai đường lối đổi mi,
những thành tựu đạt được sau gần 40 m, cũng như hạn chế và giải pháp để tiếp
tục đẩy mạnh công cuộc đổi mi. Việc nghiên cứu đề tài này không chỉ ý
nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc trong việc hiểu đúng, hiểu đủ
bản chất và ý nghĩa của đường lối đổi mới một bước ngoặt lịch sử quan trọng
trong tiến trình phát triển của Việt Nam.
4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI ĐẤT
NƯỚC
1.1. Chủ nghĩa Mác Lênin
1.1.1. Khái quát về chủ nghĩa Mác Lênin
Chủ nghĩa Mác Lênin một hệ thống luận khoa học cách mạng
do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập vào những năm 40 của thế kỷ XIX, và được
V.I.Lênin phát triển trong bối cảnh chủ nghĩa bản chuyển sang giai đoạn đế
quốc chủ nghĩa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Học thuyết này ra đời từ những
điều kiện kinh tế – ã hội của thời kỳ chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh, đặc biệt x
sự trưởng thành của giai cấp vô sản cùng c thành tựu khoa học tưởng
thế giới.
Chủ nghĩa Mác – Lênin gồm ba bộ phận lý luận thống nhất hữu cơ:
- Triết học Mác – Lênin: nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã
hội và tư duy, hình thành thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận
khoa học.
- Kinh tế chính trị học Mác – Lênin: phân tích bản chất và quy luật vận động của
chủ nghĩa bản, đặc biệt học thuyết giá trị thặng dư, chỉ ra tính tất yếu diệt
vong của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của phương thức sản xuất mới.
- Chủ nghĩa hội khoa học: chỉ quy luật, điều kiện lực lượng để chuyển
từ chủ nghĩa bản lên chủ nghĩa xã hội cộng sản chủ nghĩa, khẳng định sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Về bản chất, chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết khoa học, nhân văn và
cách mạng, nhằm mục tiêu giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp và giải phóng
con người, xóa bỏ mọi hình thức áp bức bóc lột, xây dựng xã hội công bằng, tự
do, hạnh phúc.
Đây cũng là một học thuyết mở, luôn được vận dụng, phát triển trong thực
tiễn, tiêu biểu như quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô trước đây,
sự vận dụng sáng tạo của Việt Nam, Trung Quốc, Cuba… trong thời kỳ đổi mới,
cải cách và mở cửa.
5
1.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác nin về xây dựng, phát triển đổi
mới đất nước
Chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động
của các lực lượng cách mạng trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Với tính khoa
học cách mạng sâu sắc, học thuyết này không chỉ giải thích những quy luật
vận động của xã hội loài người mà còn định hướng cho sự nghiệp xây dựng, phát
triển và đổi mới của các quốc gia đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Trong bối
cảnh lịch sử hiện đại, việc nhận thức đúng đắn quan điểm của chủ nghĩa Mác
Lênin về y dựng và đổi mới đất nước có ý nghĩa quan trọng để định hình chiến
lược phát triển bền vững, phù hợp với yêu cầu của thời đại.
Trước hết, chủ nghĩa Mác Lênin khẳng định rằng sự phát triển của hội
một quá trình lịch sử – tự nhiên, diễn ra theo những quy luật khách quan. Sự vận
động của lực lượng sản xuất, sự mâu thuẫn với quan hệ sản xuất và quá trình đấu
tranh hội tạo nên động lực thúc đẩy sự chuyển biến của các hình thái kinh tế
xã hội. Từ đó, học thuyết chỉ ra rằng công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước
phải xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng và vận dụng đúng các quy luật khách quan.
Mọi sự áp đặt chủ quan hay giáo điều đều dẫn đến trì trệ, xơ cứng và làm chậm
sự phát triển. Đây sở luận quan trọng để các quốc gia, trong đó Việt
Nam, tiến hành đổi mới toàn diện nhưng lộ trình, không xa rời quy luật
điều kiện lịch sử cụ thể.
Thứ hai, chủ nghĩa Mác – Lênin nhấn mạnh tính đa dạng trong con đường
phát triển của mỗi dân tộc. Mặc dù cùng hướng tới mục tiêu xây dựng chủ nghĩa
hội hội cộng sản, mỗi quốc gia phải lựa chọn hình phát triển phù
hợp với đặc điểm lịch sử, văn hóa, kinh tế – xã hội của mình. Điều này lý giải
sao Việt Nam, Trung Quốc hay Cuba đều có cách tiếp cận riêng trong công cuộc
đổi mi và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa Mác – Lênin luôn xem lý luận
hệ thống mở, đòi hỏi sự bổ sung sáng tạo không ngừng, chứ không phải
khuôn mẫu cứng nhắc.
Một quan điểm rất quan trọng khác của chủ nghĩa Mác Lênin là khẳng
định nhân dân chủ thể sáng tạo lịch sử. Sự nghiệp y dựng đổi mới đất
nước phải dựa trên sức mạnh của nhân dân, vì lợi ích của nhân dân do nhân
6
dân thực hiện. Nhân dân không chỉ đối tượng thụ hưởng thành quả phát triển
còn là lực lượng trực tiếp xây dựng hội mới. Do đó, việc mở rộng dân chủ,
phát huy quyền làm chủ động viên mọi nguồn lực của nhân dân giải pháp
cốt lõi để bảo đảm thành công của sự nghiệp đổi mới.
Bên cạnh đó, chủ nghĩa Mác Lênin khẳng định vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Đảng đội tiên
phong của giai cấp công nhân nhân dân lao động, có sứ mệnh dẫn dắt xã hội
hướng tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng giúp định
hướng phát triển, giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh phát huy sức mạnh
đoàn kết của toàn dân tộc. Đồng thời, để thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, Đảng phải
luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực, đạo đức và uy tín của đội ngũ
cán bộ.
Cuối cùng, chủ nghĩa Mác – Lênin nhấn mạnh việc phát huy các động lực
phát triển xã hội, bao gồm động lực kinh tế, động lực chính trị xã hội và động
lực tinh thần. Lợi ích kinh tế phải được giải quyết hài hòa giữa nhân, tập thể
hội. Dân chủ phải được mở rộng, pháp luật phải được thực thi nghiêm
minh. Đồng thời, các giá trị văn hóa, tinh thần yêu nước, ý ctự lực tự cường
và khát vọng phát triển phải được ki dậy mạnh mẽ để tạo thành nguồn lực nội
sinh quan trọng của đất nước. Mục tiêu cao nhất của quá trình xây dựng và đổi
mới đất nước theo quan điểm Mác Lênin xây dựng một hội dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh i con người được phát triển toàn
diện và sống hạnh phúc.
thể khẳng định rằng quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin vxây
dựng, phát triển và đổi mới đất nước mang ý nghĩa to lớn cả về luận thực
tiễn. Những quan điểm đó không chỉ phù hợp vi quy luật khách quan còn
đáp ứng yêu cầu của sự phát triển bền vững, nhân văn tiến bộ. Đối với Việt
Nam, việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin luôn là nền tảng để dẫn dắt
con đường đổi mới và hội nhập, đưa đất nước ngày càng phát triển phồn vinh
hạnh phúc.
7
1.1.3. Giá trị và ý nghĩa của học thuyết Mác Lênin đối với công cuộc đổi mới
ở Việt Nam
Học thuyết Mác Lênin, với tư cách là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam
cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã giữ vai trò định hướng xuyên
suốt trong sự nghiệp đổi mi đất nước từ năm 1986 đến nay. Những nguyên
khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác Lênin không chỉ cung cấp cơ sở lý
luận để nhận thức đúng quy luật vận động của hội mà còn định hướng cho
việc hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong giai
đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Qua n ba thập kỷ đổi mới, giá trị và ý nghĩa
của học thuyết Mác – Lênin đối vi sự phát triển kinh tế – hội, văn hóa, chính
trị và công tác xây dựng Đảng ở Việt Nam đã thể hiện sâu sắc và toàn diện.
Thứ nhất, trong lĩnh vực kinh tế, học thuyết Mác Lênin giúp Đảng ta
nhận thức sâu sắc vtính khách quan của các quy luật kinh tế, từ đó đổi mới
duy phương thức phát triển. Việc vận dụng sáng tạo lý luận về sở hữu và quan
hệ sản xuất đã dẫn tới sự hình thành chế độ s hữu đất đai “thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”, được thể chế hóa
trong Hiến pháp năm 2013 và Luật Đất đai. Từ cơ sở lý luận của Mác về sở hữu
liệu sản xuất, Việt Nam đã phát triển thành mô hình tách ba quyền: chiếm hữu,
sử dụng và định đoạt, qua đó vừa bảo đảm tính công hữu về đất đai, vừa tạo điều
kiện hình thành thị trường quyền sử dụng đất phù hợp với kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Những cải cách pháp lý như Nghị quyết số 18-NQ/TW
(2022) và Luật Đất đai 2024 thể hiện rõ sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác
Lênin nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững, giải phóng sức sản xuất và phát
huy mọi nguồn lực cho phát triển đất nước.
Thứ hai, trong lĩnh vực văn hóa hội, chủ nghĩa Mác – Lênin với quan
điểm giải phóng con người vì con người đã trở thành nền tảng cho đường lối
phát triển của Việt Nam. Đảng ta nhất quán đặt con người vị trí trung tâm
coi hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu tối thượng. Phương châm “dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân gm sát, dân thụ hưởng” là sự cụ thể hóa tinh
thần dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Mác – Lênin đã đề cập. Đồng thời, lý luận của
chủ nghĩa Mác Lênin về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng kinh tế và kiến trúc
8
thượng tầng giúp Đảng nhận thức rõ: muốn giải quyết tốt các vấn đề xã hội phải
dựa trên nền tảng phát triển kinh tế. Từ đó, Việt Nam đã triển khai hiệu quả nhiều
chính sách xã hội như xóa đói giảm nghèo, bảo hiểm y tế toàn dân, chăm sóc sức
khỏe cộng đồng, giáo dục bắt buộc, bảo tồn văn hóa dân tộc và phát huy tinh hoa
văn hóa nhân loại. Tất cả những chính sách ấy đều phản ánh bản chất nhân văn
của chủ nghĩa xã hội mà học thuyết Mác Lênin đề xướng.
Thứ ba, trong ng tác xây dựng Đảng, học thuyết Mác Lênin giữ vai
trò quyết định trong việc xác định bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng
sản Việt Nam. Từ khi thành lập đến nay, Đảng luôn kiên định nguyên lý của chủ
nghĩa Mác Lênin về đảng kiểu mới của giai cấp đội tiên phong công nhân
của giai cấp dân tộc. Qua các kđại hội, đặc biệt từ Đại hội X đến Đại hội
XIII, Đảng ta không ngừng phát triển lý luận v Đảng cầm quyền, nâng cao năng
lực lãnh đạo sức chiến đấu của Đảng, phù hợp với yêu cầu phát triển trong
tình hình mới. Nhờ kiên định lập trường tư tưởng Mác Lênin, Đảng giữ vững
vai trò lãnh đạo và bảo đảm sự phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ tư, trong xây dựng hệ thống chính trị và nhà nước, việc vận dụng ch
nghĩa Mác Lênin giúp Việt Nam xây dựng mô hình nhà nước kiểu mới Nhà
nước pháp quyền hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân nhân dân.
Từ luận về chuyên chính sản, Việt Nam đã phát triển thành quan điểm tổ
chức quyền lực nhà nước “thống nhất, phân công, phối hợp kiểm soát
quyền lực”, không sao chép hình tam quyền phân lập nhưng vẫn bảo đảm
tính dân chủ hiệu quả quản lý. Bên cạnh đó, việc chuyển từ khái niệm “hệ
thống chuyên chính sản” sang “hệ thống chính trị” thể hiện bước phát triển
quan trọng trong nhận thức lý luận, phù hợp thực tiễn Việt Nam với sự tham gia
của các tổ chức chính trị hội như Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn, Hội Phụ nữ,
Đoàn Thanh niên… Điều này không xa rời bản chất của học thuyết Mác – Lênin
mà còn phát triển nó phù hợp hơn vi bối cảnh mới của cách mạng Việt Nam.
Học thuyết Mác Lênin có giá trị và ý nghĩa to lớn đối với công cuộc đổi
mới Việt Nam. Đó sở luận khoa học để nhận thức đúng các quy luật
phát triển, định hướng xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ
nghĩa, phát triển văn hóa xã hội vì con người, xây dựng Đảng trong sạch vững
9
mạnh xây dựng hệ thống chính trị hiện đại, hiệu quả. Sự vận dụng sáng tạo
học thuyết Mác – Lênin trong thực tiễn đổi mới đã và đang góp phần quan trọng
đưa Việt Nam từng bước trở thành quốc gia phát triển, đạt mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh
1.2.1. Khái quát về tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm lý luận, đường lối cách
mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng, định hình trong quá trình hoạt động
cách mạng lâu dài từ khi Người đấu tranh giành độc lập dân tộc cho tới khi
xây dựng bảo vđất nước hội chủ nghĩa. tưởng này mang tính cách
mạng sâu sắc, khoa học và nhân văn, sự tổng hòa giữa chủ nghĩa Mác-Lênin
với truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam.
Điều đặc biệt trong tưởng Hồ Chí Minh cách Người kết hợp trí tuệ
chính trị cao với tình cảm sâu sắc dành cho nhân dân. Người luôn nhấn mạnh
“nói đi đôi với làm”, không chỉ luận mà còn hành động thực tiễn sát với đời
sống nhân dân điều làm cho tưởng của Người dễ tiếp thu, thẩm thấu sâu
rộng trong quần chúng.
tưởng Hồ Chí Minh không chỉ kim chỉ nam cho cuộc đấu tranh
giành độc lập dân tộc, còn nền tảng tưởng cho sự nghiệp xây dựng xã
hội sau này; Đảng Cộng sản Việt Nam đã lấy nó cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin
làm sở lý luận, phương pháp luận trong mọi hoạt động cách mạng, đặc biệt
trong công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay.
1.2.2. Quan điểm của Hồ CMinh về xây dựng, phát triển đổi mới đất
nước
Hồ Chí Minh quan điểm rất ràng sâu sắc về đổi mới: đổi mới
không phải là sao chép mô hình của nước khác mà là sáng tạo phù hợp với thực
tiễn dân tộc. Trong bài viết “Tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh” được các học
10
giả phân tích, Người đã khẳng định không nên “sao chép lý thuyết hay mô hình
của bất cứ nước nào”, mà phải dựa vào kinh nghiệm lịch sử của dân tộc Việt
Nam, kết hợp với thời đại để tìm ra con đường riêng.
Về mục tiêu phát triển, Hồ Chí Minh luôn hướng tới một Việt Nam độc
lập, giàu mạnh, dân chủ, công bằng văn minh một khao khát vừa mang
tính dân tộc, vừa mang tính nhân văn. Người đặt lợi ích của dân tộc, của nhân
dân lên trên hết, đề cao vai trò nhân dân làm chủ, khẳng định “dân là gốc”: mọi
chính sách đổi mới, phát triển đất nước phải hướng tới người dân, phục vụ nhân
dân.
Về phương pháp thực hiện đổi mi, Hồ Chí Minh cũng tưởng rất
bài bản: Người đề cao tinh thần kiên định, nhưng cũng nhấn mạnh cần đổi mới
sáng tạo “kiên định nhưng không giáo điều”. Ngoài ra, phong cách m việc
của Người là dân chủ, thực tiễn, hiệu quả, luôn gắn “nói” với “làm”, không nói
suông mà luôn hành động vì lợi ích thực tế của nhân dân.
Một khía cạnh rất quan trọng trong quan điểm của Người là hợp tác quốc
tế: Hồ Chí Minh nhân rộng tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại, nhấn mạnh việc tranh thủ nguồn lực bên ngoài nhưng luôn giữ vng độc lập,
tự chủ. Đồng thời, Người coi trọng sức mạnh nội sinh — sức mạnh từ nhân dân,
từ khối đại đoàn kết toàn dân là then chốt cho sự phát triển bền vững.
1.2.3. Giá trị và ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình đổi mới
hiện nay
tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho đường lối
cách mạng Việt Nam, được Đảng ta khẳng định cùng vi chủ nghĩa Mác – Lênin
là cơ sở lý luận của công cuộc đổi mới đất nước. Trong bối cảnh sau năm 1986,
đất nước đứng trước yêu cầu cấp bách phải thoát khỏi khủng hoảng kinh tế -
hội, hội nhập quốc tế phát triển bền vững, việc vận dụng tưởng Hồ Chí
Minh càng trở nên quan trọng. Những quan điểm của Người về phát triển đất
nước, xây dựng nhà nước của dân, do dân, dân, về phát triển kinh tế gắn với
11
tiến bộ và công bằng xã hội, về đoàn kết dân tộc và mở rộng quan hệ quốc tế đã
trở thành kim chỉ nam cho toàn bộ tiến trình đổi mới. vậy, tưởng Hồ Chí
Minh không chỉ mang giá trị lý luận sâu sắc mà còn có ý nghĩa thực tiễn lớn lao
trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
a) Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công cuộc đổi mới
Trước hết, tưởng Hồ Chí Minh giá trị định hướng chiến lược cho
đường lối đổi mới. Người luôn nhấn mạnh rằng mọi chủ trương, chính sách phải
xuất phát từ thực tiễn đất nước và nhu cầu của nhân dân. Quan điểm “dĩ bất biến,
ứng vạn biến” thể hiện tư duy linh hoạt, sáng tạo, đề cao việc vận dụng chủ nghĩa
Mác Lênin phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Chính tư duy này đã
giúp Đảng ta đề ra đường lối đổi mới mang tính bước ngoặt tại Đại hội VI năm
1986, chuyển nền kinh tế từ chế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Một giá trị quan trọng khác là tư tưởng coi phát triển kinh tế phải gắn liền
với nâng cao đời sống nhân dân. Hồ Chí Minh khẳng định: “Mục đích của chủ
nghĩa hội không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân
dân”. Đây chính là cơ sở để Đảng ta xác định mục tiêu đổi mới không chỉ nhằm
phát triển kinh tế còn thực hiện công bằng hội, đảm bảo an sinh phúc
lợi cho nhân dân.
Bên cạnh đó, tư tưởng vxây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân
giá trị định hướng cho đổi mới chính trị. Hồ Chí Minh yêu cầu bộ máy nhà nước
phải trong sạch, hoạt động hiệu quả, cán bộ phải gần dân, tôn trọng dân và phục
vụ nhân dân. Tư tưởng đó là nền tảng để Đảng ta triển khai cải cách hành chính,
xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, phục vụ nhân dân trong giai đoạn hiện
nay.
Ngoài ra, tưởng đại đoàn kết dân tộc và kết hợp sức mạnh dân tộc với
sức mạnh thời đại ý nghĩa đặc biệt đối với đổi mới và hội nhập quốc tế.
Người luôn khẳng định sức mạnh nội lực quyết định, nhưng phải biết
12
tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước. Đây sở luận để
Đảng ta thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa
quan hệ quốc tế trong thời kỳ đổi mới.
b) Ý nghĩa thực tiễn trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, hội và quốc tế
Trong lĩnh vực kinh tế, tưởng Hồ Chí Minh v phát triển sản xuất,
khuyến khích các thành phần kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân đã được vận
dụng sâu sắc. Chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là cụ thể hóa tư tưởng “làm
cho dân giàu, nước mạnh”. Nhờ đổi mới, Việt Nam đã từ một nước thiếu lương
thực trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới
như gạo, cà phê, thủy sản. Các chương trình xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông
thôn mới cũng thể hiện giá trị tư tưởng của Người vchăm lo đời sống nhân
dân.
Trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì
dân được thể hiện qua cải cách hành chính, công khai minh bạch hoạt động của
nhà nước, xây dựng Chính phủ điện tử, chuyển đổi số trong quản lý. Việc Đảng
Nhà nước đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng đội ngũ
cán bộ đủ phẩm chất, năng lực minh chứng sinh động cho việc vận dụng
tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ và chống quan liêu, tham nhũng.
Trong lĩnh vực hội, tưởng Hồ Chí Minh nhấn mạnh con người
trung m của sự phát triển. Điều này được thể hiện trong các chính sách phát
triển giáo dục, y tế, văn hóa, bảo đảm an sinh hội, nâng cao chất lượng cuộc
sống. Các chương trình như bảo hiểm y tế toàn dân, phổ cập giáo dục, chăm lo
chính sách cho người công, giảm nghèo bền vững… đều phản ánh tinh thần
“vì con người” mà Bác đã đề xuất.
Trong lĩnh vực quốc tế, đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác, hữu nghị
của Hồ Chí Minh được vận dụng linh hoạt trong hội nhập quốc tế hiện nay. Việt
Nam chủ động tham gia các tổ chức quốc tế, ký kết các hiệp định thương mại tự
13
do, trở thành thành viên tích cực trong ASEAN Liên Hợp Quốc. tưởng
“thêm bạn, bớt thù” đã giúp Việt Nam mở rộng quan hệ, thu hút đầu tư, nâng cao
vị thế quốc tế.
Như vậy, tưởng Hồ Chí Minh không chỉ giá trị luận sâu sắc
còn mang ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với sự nghiệp đổi mới đất nước. Việc vận
dụng sáng tạo tưởng của Người đã góp phần đưa Việt Nam đạt được nhiều
thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực, tạo nền tảng để phát triển bền vững trong
tương lai.
1.3. Quan điểm nhận thức về đổi mới trong Đảng Cộng sản Việt Nam
Bước vào thời kỳ đổi mới năm 1986, từ kinh nghiệm của những bài học
những năm trước đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu nhận thức mới lại
một loạt vấn đề quan trọng v CNXH. Trở lại li căn dặn của C.Mác
Ph.Ăngghen: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái
cần phải sáng tạo ra, không phải một ý tưởng hiện thực phải khuôn theo.
Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản một phong trào hiện thực, xóa bỏ trạng
thái hiện nay. Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang
tồn tại đẻ ra”. Trên cơ sở đó, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức lại những luận
điểm mang tính phổ biến của CNXH mà Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản
và Công nhân quốc tế họp Mátxcơva năm 1957 đã khái quát. Xét về bản chất
thì 9 nội dung mang tính phổ biến của CNXH Hội nghị đại biểu các Đảng
Cộng sản và Công nhân quốc tế họp ở Mátxcơva năm 1957 đúng. Tuy nhiên,
khi vận dụng vào từng nước thì các đảng phải tính tới đặc thù của dân tộc mình.
Không tính tới đặc điểm dân tộc nhất định sẽ rơi vào giáo điều. Tất nhiên, không
được tuyệt đối hóa đặc thù dân tộc để dẫn tới xét lại, dân tộc, hẹp hòi. Cần quán
triệt sâu sắc lời chỉ dẫn của V.I.Lênin: “Chúng ta không hề coi luận của Mác
như một cái đã xong xuôi hẳn bất khả m phạm; trái lại, chúng ta tin
rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ
nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc
hậu đối với cuộc sống. Chúng tôi nghĩ rằng những người xã hội chủ nghĩa ở Nga
đặc biệt cần phải tự mình phát triển hơn nữa lý luận của Mác, vì lý luận này chỉ
14
đề ra những nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng nguyên lý ấy thì xét riêng
từng nơi, ở Anh không giống Pháp, ở Pháp không giống Đức, ở Đức không
giống ở Nga”. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nhắc nhở cán bộ, đảng
viên phải hiểu: “Học tập chủ nghĩa Mác Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi -
việc,... học tập những chân phổ biến của chủ nghĩa Mác Lênin để áp dụng -
một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế nước ta” chứ không phải để thuộc
lòng từng câu từng chữ luận Mác Lênin. Xuất phát từ những chỉ dẫn của các -
nhà kinh điển chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, rút kinh nghiệm của -
thời kỳ trước đổi mới, tổng kết thực tiễn Việt Nam và thời đại, Đảng Cộng sản
Việt Nam xác định trên nền tảng kiên trì chủ nghĩa Mác Lênin, tưởng Hồ -
Chí Minh nhưng phải vận dụng sáng tạo phù hợp thực tiễn Việt Nam. Chính
vậy, ngay từ Đại hội VI (1986), Đảng thừa nhận: Trong lĩnh vực tưởng đã
bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận dụng các quy luật đang hoạt động
trong thời kỳ quá độ; đã mắc bệnh duy ý chí, giản đơn hóa, muốn thực hiện nhanh
chóng nhiều mục tiêu của chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nước ta mới ở chặng
đường đầu tiên. Chúng ta đã có những thành kiến không đúng, trên thực tế, chưa
thật sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan”.
Điều quan trọng là ngay từ Đại hội VI, Đảng đã đề ra nhiệm vụ: “Để khắc phục
những khuyết điểm, chuyển biến được tình hình, Đảng ta, trước hết phải thay đổi
nhận thức, đổi mới tư duy. Phải nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với
hệ thống quy luật khách quan, trong đó, các quy luật đặc thù của chủ nghĩa
hội ngày càng chi phối mạnh mẽ phương hướng phát triển chung của hội”.
Nhưng ngay từ khi bắt đầu đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thái độ rất
đúng đắn: “Đổi mới tư duy không có nghĩa là phủ nhận những thành tựu lý luận
đã đạt được, phủ nhận những quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội, phủ nhận đường lối đúng đắn đã được xác định, trái lại, chính là bổ
sung phát triển những thành tựu ấy”. Trên tinh thần ấy, Đảng bổ sung nhiều
luận điểm của chủ nghĩa c Lênin cho phù hợp thực tiễn Việt Nam và thời đại. -
Chẳng hạn về bản chất của Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đại
diện, tiêu biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, còn
cho cả dân tộc. Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác Lênin mới đề cập tới xây dựng -
15
đảng về tư tưởng, chính trị và tổ chức, thì Đảng Cộng sản Việt Nam yêu cầu tăng
cường xây dựng Đảng cả về đạo đức. Hay các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-
Lênin, chủ yếu là liên minh công-nông, trong điều kiện Việt Nam, Đảng bổ sung
liên minh công nhân-nông dân-trí thức. Nếu V.I.Lênin mới dừng ở kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần, thì Đảng đã phát triển thành kinh tế thị trường định hướng
XHCN... Tất cả những luận điểm lý luận này là kết quả của sự nhận thức và vận
dụng đúng đắn những nguyên phổ biến của chủ nghĩa Mác Lênin vào điều -
kiện đặc thù Việt Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam.
CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI
ĐẤT NƯỚC
2.1. Tình hình bối cảnh thế giới
2.1.1. Cuộc cách mng khoa học kĩ thuật phát triển mạnh-
Trong những thập niên cuối thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật
phát triển với tốc độ nhanh và phạm vi rộng chưa từng có. Cũng như cách mạng
công nghiệp ở thế kXVIII XIX, cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật này diễn -
ra do những đòi hỏi của cuộc sống, của sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu vật
chất tinh thần ngày càng cao của con người, nhất trong tình hình bùng nổ
dân số thế giới và sự vơi cạn nghiêm trọng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc
biệt từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Đặc điểm lớn nhất của cách mạng khoa
học kĩ thuật này là khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Khoa học
đã tham gia trực tiếp vào sản xuất, đã trở thành nguồn gốc chính của những tiến
bộ kĩ thuật và công nghệ.
Trong những thập niên cuối thế kỷ XX, khoa học bản và công nghệ đều
đạt được những bước tiến vượt bậc, tạo ra những thành tựu mang tính đột phá và
mở ra nhiều knguyên mới cho nhân loại. Các phát minh lớn trong Toán học,
Vật lí, Hoá học Sinh học được ứng dụng mạnh mẽ vào thực tiễn, tiêu biểu như
sự ra đời của cừu Đôli (1997) hay việc công bố Bản đồ gen người (2000), đặt
nền tảng cho sự phát triển hiện đại của y học và công nghệ sinh học. Đồng thời,
lĩnh vực công nghệ cũng chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ với sự xuất hiện
của máy tính điện tử, hệ thống tự động a, rôbốt; các nguồn năng lượng mới;
16
vật liệu mới; những đột phá trong công nghệ di truyền, công nghệ tế bào; cùng
hàng loạt tiến bộ trong thông tin liên lạc, giao thông vận tải và chinh phục vũ trụ.
Đặc biệt, công nghệ thông tin bùng nổ trên phạm vi toàn cầu, với sự phổ biến
của máy tính và Internet, giúp liên kết dữ liệu toàn thế giới đưa nhân loại bước
vào thời đại “văn minh thông tin”. Những thành tựu đó hợp thành một cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật toàn diện, tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực đời
sống và sản xuất.
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã thúc đẩy sự hình thành thị trường
thế giới tạo nên xu thế toàn cầu hoá, đó là quá trình các quốc gia ngày càng
gắn bó, tác động phụ thuộc lẫn nhau. Xu thế này thể hiện qua sự phát triển
nhanh của thương mại quốc tế, sự mở rộng và ảnh hưởng mạnh mẽ của các công
ty xuyên quốc gia, làn sóng sáp nhập tạo ra những tập đoàn lớn nhằm tăng khả
năng cạnh tranh, cùng sự ra đời của hàng loạt tổ chức kinh tế ài chính quốc tế - t
như IMF, WB, WTO, EU, NAFTA, AFTA, APEC hay ASEM. kết quả tất
yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất, toàn cầu hoá vừa mang mặt tích cực khi
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất đòi hỏi cải cách để bắt kịp
cạnh tranh, vừa mặt tiêu cực khi làm gia tăng bất bình đẳng, khiến đời sống
con người kém an toàn hơn tiềm ẩn nguy cơ mai một bản sắc cũng như ảnh
hưởng đến độc lập tự chủ của các quốc gia.
Nhìn chung, cuộc cách mạng khoa học công nghệ là thời cơ lịch sử, là cơ
hội rất to lớn cho các nước phát triển mạnh mẽ, đồng thời cũng tạo ra những
thách thức to lớn. Việt Nam cũng nằm trong xu thế chung đó. Đặc biệt, khi
hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp của Việt Nam đang bộc
lộ nhiều bất cập. Sản xuất trì trệ, năng suất lao động thấp, đời sống nhân dân khó
khăn, nền kinh tế rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng vào đầu thập niên 1980. Do
vậy, “Nắm bắt hội, vượt qua thách thức, phát triển mạnh mẽ trong thời kì mới,
đó vấn đề ý nghĩa sống còn đối với Đảng nhân dân ta" (Văn kiện Đại
hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX).
2.1.2. Xu thế đối thoại thay xu thế đối đầu
17
Từ đầu những năm 1970, quan hệ quốc tế bắt đầu chứng kiến sự dịch chuyển
quan trọng từ đối đầu sang đối thoại, thể hiện nhất trong tiến trình hòa hoãn
Đông Tây. Sau nhiều thập niên căng thẳng của Chiến tranh lạnh, cả Mỹ và Liên
Xô đều từng bước tìm kiếm các thỏa thuận nhằm giảm bớt xung đột và rủi ro đối
đầu quân sự. Những hiệp định kiểm soát khí chiến lược như Hiệp ước ABM
(1972) hay SALT I (1972) đã mở đầu cho giai đoạn giảm căng thẳng, thể hiện ý
chí hạn chế chạy đua vũ trang vốn đã trở thành gánh nặng kinh tế chiến lược
đối với cả hai siêu cường. Tiếp đó, Định ước Henxinki năm 1975 với sự tham
gia của 35 quốc gia đã thiết lập những nguyên tắc quan trọng về bình đẳng chủ
quyền, bất khả xâm phạm biên giới và giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa
bình, từ đó hình thành một chế đa phương giúp duy trì an ninh ổn định
châu Âu. Những sự kiện này cho thấy xu thế đối thoại không chỉ xuất hiện đơn
lẻ từng bước trở thành khuynh hướng chung trong quan hệ quốc tế thời kỳ
này.
Bước sang những năm 1980, xu thế đối thoại càng được củng cố khi lãnh
đạo Liên tiến hành cải tổ, chủ trương giảm đối đầu mở rộng hợp tác với
phương Tây. Các cuộc gặp cấp cao Mỹ diễn ra liên tục, đạt được các thỏa
thuận quan trọng, tiêu biểu Hiệp ước INF năm 1987 về việc loại bỏ tên lửa
tầm trung châu Âu, cắt giảm kho khí chiến lược hạn chế mở rộng chạy
đua trang. Đến tháng 12/1989, Tuyên bố Manta giữa M. Goócbachóp và G.
Busơ đã đánh dấu sự chấm dứt chính thức của Chiến tranh lạnh, khép lại n
bốn thập kỷ đối đầu căng thẳng. Sự kết thúc của trạng thái đối đầu hai cực không
chỉ phản ánh sự suy yếu nội tại của Liên và những chi phí ngày càng lớn
trong chạy đua vũ trang, mà còn cho thấy nhu cầu khách quan của toàn cầu trong
việc thiết lập một môi trường ổn định, thuận lợi hơn cho hợp tác và phát triển.
Sau Chiến tranh lạnh, xu thế đối thoại được củng cố mạnh mẽ với hàng loạt
thay đổi lớn trên phạm vi toàn cầu. Sự tan của Liên (1991) sự giải thể
của các tổ chức như Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) hay Hiệp ước Vácsava đã
chấm dứt trật tự hai cực, mở đường cho trật tự thế giới mới theo xu hướng đa
cực, nơi các cường quốc như Mỹ, EU, Nhật Bản, Nga và Trung Quốc cùng cạnh
18
tranh hợp tác. Các quốc gia chuyển trọng tâm sang phát triển kinh tế, giảm
đối đầu ý thức hệ, ưu tiên hội nhập quốc tế và hợp tác khu vực. Nhiều cuộc chiến
tranh kéo dài được giải quyết bằng đàm phán, tiêu biểu như tiến trình hòa bình
Campuchia (1991) với sự tham gia của Liên Hợp Quốc các nước trong khu
vực.
Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục giữ lập trường đối đầu, khép kín không giúp
Việt Nam phát triển về chính trị ngoại giao, và không tận dụng được những cơ -
hội mới từ hợp tác quốc tế. Do vậy, duy đối ngoại cũng cần đổi mới sang
hướng đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, từ phụ thuộc viện trợ sang chđộng
hội nhập. Đây điều kiện khách quan quan trọng thôi thúc Việt Nam chuyển
mình, từng bước hướng tới đổi mới toàn diện trong đối nội và đối ngoại.
2.1.3. Công cuộc cải tổ diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa
Từ giữa những m 1970, Liên bắt đầu bộc lộ những dấu hiệu khủng
hoảng kinh tế chính trị. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 ảnh hưởng
nghiêm trọng đến nền kinh tế, trong khi đời sống chính trị xuất hiện nhiều diễn
biến phức tạp, với các tư tưởng đối lập và một số nhóm phản đối Đảng Cộng sản.
Đến đầu những m 1980, nền kinh tế Liên Xô suy thoái rệt, đời sống nhân
dân giảm sút và hội xuất hiện nhiều bất ổn. Tháng 3/1985, M. Goócbachốp
lên nắm quyền lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô, tiến hành công cuộc cải tổ
đất nước. Đường lối cải tổ tập trung vào việc “cải cách kinh tế triệt để", tiếp theo
cải cách hệ thống chính trị đổi mới tưởng. Tuy nhiên, các cải cách kinh
tế thiếu điều tiết, chuyển sang kinh tế thị trường quá nhanh, kết hợp với cải cách
chính trị đa nguyên đã gây rối loạn xã hội, đình công, xung đột sắc tộc và bất ổn
chính trị, dẫn đến khủng hoảng toàn diện. Đến cuối năm 1991, Liên chính
thức tan rã, Nhà nước Liên bang sụp đổ, Đảng Cộng sản bị đình chỉ hoạt động,
các nước cộng hòa thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG).
M.Goócbachớp từ chức Tổng thống, cờ búa liếm trên nóc điện Kremli bị hạ
xuống, đánh dấu sự chấm dứt chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sau 74 năm tồn
tại.
19
Các nước Đông Âu, vốn chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Liên Xô, cũng rơi vào
khủng hoảng kinh tế chính trị từ cuối những năm 1970 đến đầu những m
1980. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 đã tác động mạnh đến nền kinh tế,
dẫn đến trì trệ kinh tế và giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng Cộng sản và
Nhà nước. Những sai lầm trong các biện pháp cải cách cùng vi tác động từ
khủng hoảng Liên làm cho tình hình Đông Âu càng trở nên gay gắt. Nhiều
nước như Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary, Bulgaria, Romania, cùng với Cộng hòa
Dân chủ Đức, lần lượt phải từ bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, chấp nhận đa nguyên
chính trị, đa đảng tiến hành tổng tuyển cử. Điển nh Cộng hòa Dân chủ
Đức, nơi bức tường Berlin bị phá bỏ cuối năm 1989, dẫn tới thống nhất nước
Đức vào năm 1990. Quá trình này cho thấy sự phụ thuộc vào Liên các
biện pháp cải cách thất bại đã thúc đẩy các nước Đông Âu phải điều chỉnh đường
lối chính trị và kinh tế.
Trái với tình hình khủng hoảng Liên Đông Âu, Trung Quốc tiến
hành công cuộc cải cách – mở cửa từ m 1978 dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu
Bình. Trung Quốc tập trung phát triển kinh tế, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung sang kinh tế thị trường xã hội chnghĩa linh hoạt, nâng cao năng
lực khoa học – kỹ thuật, giáo dục và văn hóa. Sau 20 năm, GDP tăng trung bình
trên 8%/năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp, xây
dựng và dịch vụ, đời sống nhân dân cải thiện rõ rệt. Các thành tựu khoa học kỹ
thuật nổi bật như chương trình trụ “Thần Châu” thử bom nguyên tử nâng
cao vị thế quốc gia. Trong đối ngoại, Trung Quốc bình thường hóa quan hệ với
Việt Nam m 1991, đồng thời nâng cao vai ttrên trường quốc tế thông qua
các hoạt động hợp tác và thu hồi Hồng Kông Ma Cao.
Trong bối cảnh này, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức rằng cần đổi
mới toàn diện về kinh tế và chính trị, dẫn tới việc phát động Đổi mới bắt đầu từ
Đại hội VI (1986), đánh dấu bước phát triển mới trong thời kquá độ lên chủ
nghĩa xã hội, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất
nước.

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG -------- BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CƠ SỞ VÌ SAO VIỆT NAM THỰC
HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC. MỤC LỤC
MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC. 4
1.1. Chủ nghĩa Mác Lênin . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
1.1.1. Khái quát về chủ nghĩa Mác Lênin . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
1.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về xây dựng, phát triển và đổi
mới đất nước . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.3. Giá trị và ý nghĩa của học thuyết Mác Lênin đối với công cuộc đổi
mới ở Việt Nam . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
1.2.1. Khái quát về tư tưởng Hồ Chí Minh . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
1.2.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng, phát triển và đổi mới đất
nước . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
1.2.3. Giá trị và ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình đổi mới
hiện nay . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
1.3. Quan điểm nhận thức về đổi mới trong Đảng Cộng sản Việt Nam . . . . . . 13
CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI ĐẤT
NƯỚC . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
2.1. Tình hình bối cảnh thế giới . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
2.1.1. Cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật phát triển mạnh . . . . . . . . . . . . 15
2.1.2. Xu thế đối thoại thay xu thế đối đầu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
2.1.3. Công cuộc cải tổ diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa . . . . . . . . . . . 18
2.2. Tình hình trong nước trước đổi mới . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20
2.2.1. Đất nước khủng hoảng kinh tế- xã hội . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20
2.2.2. Bị đế quốc và thế lực thù địch bao vây, cấm vận . . . . . . . . . . . . . . . 23
2.2.3 Nhiều hiện tượng tiêu cực diễn ra phổ biến . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 24
2.2.4 Đã có những bước đột phá trong lĩnh vực kinh tế . . . . . . . . . . . . . . . 25
2.2.4.1. Bước đột phá đầu tiên: Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng
8/1979) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Error! No bookmark name given.
2.2.4.2. Bước đột phá thứ 2: Hội nghị Trung ương 8 khóa V (tháng
6/1985) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Error! No bookmark name given.
2.2.4.3. Bước đột phá thứ 3: Hội nghị Bộ Chính trị Khóa V (tháng
8/1986) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Error! No bookmark name given.
2.3. Tính tất yếu khách quan của việc thực hiện đường lối đổi mới . . . . . . . . 28
CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ THỰC TIỄN THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI
MỚI ĐẤT NƯỚC Ở VIỆT NAM . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 30
3.1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 30
3.2. Thực tiễn công cuộc đổi mới ở Việt Nam . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 35
3.2.1. Tác động của tình hình quốc tế và trong nước đến quá trình đổi mới 35 1
3.2.1.1. Tác động của tình hình quốc tế. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 35
3.2.1.2. Tác động trong nước . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 37
3.2.2. Vận dụng chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá
trình đổi mới . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 38
3.2.3. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam . . . . . . . . . . . . . . . . 40
3.3. Những thành tựu đạt được sau gần 40 năm đổi mới . . . . . . . . . . . . . . . . . 42
3.4. Những hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện đường lối đổi mới . . . . 56
3.4.1 Những hạn chế trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới . . . . . . . 56
3.4.2. Nguyên nhân trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới . . . . . . . . 65
3.5. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện đường lối đổi mới . . . . . . . . . . . . 68
3.5.1. Nâng cao chất lượng tăng trưởng và chuyển đổi mô hình kinh tế. . . 69
3.5.2. Hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước . . . . . . . . . 70
3.5.3. Phát triển doanh nghiệp, khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực . 70
3.5.4. Phát triển xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực hội nhập
quốc tế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 71
KẾT LUẬN. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 76 2 MỞ ĐẦU
Đất nước Việt Nam bước vào thập niên 80 của thế kỷ XX trong bối cảnh tình
hình thế giới và trong nước có nhiều biến động sâu sắc. Sau khi thống nhất đất
nước (1975), Việt Nam đối mặt với hàng loạt khó khăn và thử thách nghiêm
trọng: nền kinh tế rơi vào khủng hoảng kéo dài, cơ chế quản lý tập trung quan
liêu bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế; đời sống nhân dân gặp vô vàn khó khăn; quan
hệ đối ngoại bị cô lập và cấm vận. Trên bình diện thế giới, cuộc cách mạng khoa
học – kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, xu thế hoà bình và hợp tác dần thay thế đối
đầu, cùng với sự khủng hoảng của mô hình xã hội chủ nghĩa ở nhiều nước đã đặt
ra đòi hỏi cấp bách về việc phải thay đổi tư duy phát triển.
Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức rõ yêu cầu khách quan
của lịch sử: phải đổi mới tư duy lý luận, đổi mới mô hình tổ chức và quản lý kinh
tế – xã hội nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, từng bước phát triển và
hội nhập với thế giới. Con đường đổi mới không chỉ xuất phát từ nhu cầu bức
thiết của thực tiễn mà còn dựa trên nền tảng lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác
– Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đất nước, giải phóng lực lượng
sản xuất và xây dựng xã hội mới.
Đề tài “Phân tích cơ sở vì sao Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới đất nước”
nhằm làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, cũng như tính tất yếu của quá trình
đổi mới. Đồng thời, đề tài cũng phân tích thực tiễn triển khai đường lối đổi mới,
những thành tựu đạt được sau gần 40 năm, cũng như hạn chế và giải pháp để tiếp
tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới. Việc nghiên cứu đề tài này không chỉ có ý
nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc trong việc hiểu đúng, hiểu đủ
bản chất và ý nghĩa của đường lối đổi mới – một bước ngoặt lịch sử quan trọng
trong tiến trình phát triển của Việt Nam. 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
1.1. Chủ nghĩa Mác Lênin
1.1.1. Khái quát về chủ nghĩa Mác Lênin
Chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng
do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập vào những năm 40 của thế kỷ XIX, và được
V.I.Lênin phát triển trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế
quốc chủ nghĩa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Học thuyết này ra đời từ những
điều kiện kinh tế – xã hội của thời kỳ chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh, đặc biệt
là sự trưởng thành của giai cấp vô sản cùng các thành tựu khoa học – tư tưởng thế giới.
Chủ nghĩa Mác – Lênin gồm ba bộ phận lý luận thống nhất hữu cơ:
- Triết học Mác – Lênin: nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã
hội và tư duy, hình thành thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận khoa học.
- Kinh tế chính trị học Mác – Lênin: phân tích bản chất và quy luật vận động của
chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư, chỉ ra tính tất yếu diệt
vong của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của phương thức sản xuất mới.
- Chủ nghĩa xã hội khoa học: chỉ rõ quy luật, điều kiện và lực lượng để chuyển
từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và cộng sản chủ nghĩa, khẳng định sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Về bản chất, chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết khoa học, nhân văn và
cách mạng, nhằm mục tiêu giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp và giải phóng
con người, xóa bỏ mọi hình thức áp bức bóc lột, xây dựng xã hội công bằng, tự do, hạnh phúc.
Đây cũng là một học thuyết mở, luôn được vận dụng, phát triển trong thực
tiễn, tiêu biểu như quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô trước đây, và
sự vận dụng sáng tạo của Việt Nam, Trung Quốc, Cuba… trong thời kỳ đổi mới, cải cách và mở cửa. 4
1.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về xây dựng, phát triển và đổi mới đất nước
Chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động
của các lực lượng cách mạng trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Với tính khoa
học và cách mạng sâu sắc, học thuyết này không chỉ giải thích những quy luật
vận động của xã hội loài người mà còn định hướng cho sự nghiệp xây dựng, phát
triển và đổi mới của các quốc gia đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Trong bối
cảnh lịch sử hiện đại, việc nhận thức đúng đắn quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin về xây dựng và đổi mới đất nước có ý nghĩa quan trọng để định hình chiến
lược phát triển bền vững, phù hợp với yêu cầu của thời đại.
Trước hết, chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định rằng sự phát triển của xã hội là
một quá trình lịch sử – tự nhiên, diễn ra theo những quy luật khách quan. Sự vận
động của lực lượng sản xuất, sự mâu thuẫn với quan hệ sản xuất và quá trình đấu
tranh xã hội tạo nên động lực thúc đẩy sự chuyển biến của các hình thái kinh tế
– xã hội. Từ đó, học thuyết chỉ ra rằng công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước
phải xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng và vận dụng đúng các quy luật khách quan.
Mọi sự áp đặt chủ quan hay giáo điều đều dẫn đến trì trệ, xơ cứng và làm chậm
sự phát triển. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để các quốc gia, trong đó có Việt
Nam, tiến hành đổi mới toàn diện nhưng có lộ trình, không xa rời quy luật và
điều kiện lịch sử cụ thể.
Thứ hai, chủ nghĩa Mác – Lênin nhấn mạnh tính đa dạng trong con đường
phát triển của mỗi dân tộc. Mặc dù cùng hướng tới mục tiêu xây dựng chủ nghĩa
xã hội và xã hội cộng sản, mỗi quốc gia phải lựa chọn mô hình phát triển phù
hợp với đặc điểm lịch sử, văn hóa, kinh tế – xã hội của mình. Điều này lý giải vì
sao Việt Nam, Trung Quốc hay Cuba đều có cách tiếp cận riêng trong công cuộc
đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa Mác – Lênin luôn xem lý luận
là hệ thống mở, đòi hỏi sự bổ sung và sáng tạo không ngừng, chứ không phải khuôn mẫu cứng nhắc.
Một quan điểm rất quan trọng khác của chủ nghĩa Mác – Lênin là khẳng
định nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử. Sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất
nước phải dựa trên sức mạnh của nhân dân, vì lợi ích của nhân dân và do nhân 5
dân thực hiện. Nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng thành quả phát triển
mà còn là lực lượng trực tiếp xây dựng xã hội mới. Do đó, việc mở rộng dân chủ,
phát huy quyền làm chủ và động viên mọi nguồn lực của nhân dân là giải pháp
cốt lõi để bảo đảm thành công của sự nghiệp đổi mới.
Bên cạnh đó, chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Đảng là đội tiên
phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, có sứ mệnh dẫn dắt xã hội
hướng tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng giúp định
hướng phát triển, giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh và phát huy sức mạnh
đoàn kết của toàn dân tộc. Đồng thời, để thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, Đảng phải
luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực, đạo đức và uy tín của đội ngũ cán bộ.
Cuối cùng, chủ nghĩa Mác – Lênin nhấn mạnh việc phát huy các động lực
phát triển xã hội, bao gồm động lực kinh tế, động lực chính trị – xã hội và động
lực tinh thần. Lợi ích kinh tế phải được giải quyết hài hòa giữa cá nhân, tập thể
và xã hội. Dân chủ phải được mở rộng, pháp luật phải được thực thi nghiêm
minh. Đồng thời, các giá trị văn hóa, tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường
và khát vọng phát triển phải được khơi dậy mạnh mẽ để tạo thành nguồn lực nội
sinh quan trọng của đất nước. Mục tiêu cao nhất của quá trình xây dựng và đổi
mới đất nước theo quan điểm Mác – Lênin là xây dựng một xã hội dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh – nơi con người được phát triển toàn
diện và sống hạnh phúc.
Có thể khẳng định rằng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây
dựng, phát triển và đổi mới đất nước mang ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực
tiễn. Những quan điểm đó không chỉ phù hợp với quy luật khách quan mà còn
đáp ứng yêu cầu của sự phát triển bền vững, nhân văn và tiến bộ. Đối với Việt
Nam, việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin luôn là nền tảng để dẫn dắt
con đường đổi mới và hội nhập, đưa đất nước ngày càng phát triển phồn vinh và hạnh phúc. 6
1.1.3. Giá trị và ý nghĩa của học thuyết Mác Lênin đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Học thuyết Mác – Lênin, với tư cách là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam
cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã giữ vai trò định hướng xuyên
suốt trong sự nghiệp đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay. Những nguyên lý
khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ cung cấp cơ sở lý
luận để nhận thức đúng quy luật vận động của xã hội mà còn định hướng cho
việc hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong giai
đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Qua hơn ba thập kỷ đổi mới, giá trị và ý nghĩa
của học thuyết Mác – Lênin đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa, chính
trị và công tác xây dựng Đảng ở Việt Nam đã thể hiện sâu sắc và toàn diện.
Thứ nhất, trong lĩnh vực kinh tế, học thuyết Mác – Lênin giúp Đảng ta
nhận thức sâu sắc về tính khách quan của các quy luật kinh tế, từ đó đổi mới tư
duy và phương thức phát triển. Việc vận dụng sáng tạo lý luận về sở hữu và quan
hệ sản xuất đã dẫn tới sự hình thành chế độ sở hữu đất đai “thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”, được thể chế hóa
trong Hiến pháp năm 2013 và Luật Đất đai. Từ cơ sở lý luận của Mác về sở hữu
tư liệu sản xuất, Việt Nam đã phát triển thành mô hình tách ba quyền: chiếm hữu,
sử dụng và định đoạt, qua đó vừa bảo đảm tính công hữu về đất đai, vừa tạo điều
kiện hình thành thị trường quyền sử dụng đất phù hợp với kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Những cải cách pháp lý như Nghị quyết số 18-NQ/TW
(2022) và Luật Đất đai 2024 thể hiện rõ sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác –
Lênin nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững, giải phóng sức sản xuất và phát
huy mọi nguồn lực cho phát triển đất nước.
Thứ hai, trong lĩnh vực văn hóa – xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin với quan
điểm giải phóng con người và vì con người đã trở thành nền tảng cho đường lối
phát triển của Việt Nam. Đảng ta nhất quán đặt con người ở vị trí trung tâm và
coi hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu tối thượng. Phương châm “dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” là sự cụ thể hóa tinh
thần dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Mác – Lênin đã đề cập. Đồng thời, lý luận của
chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng kinh tế và kiến trúc 7
thượng tầng giúp Đảng nhận thức rõ: muốn giải quyết tốt các vấn đề xã hội phải
dựa trên nền tảng phát triển kinh tế. Từ đó, Việt Nam đã triển khai hiệu quả nhiều
chính sách xã hội như xóa đói giảm nghèo, bảo hiểm y tế toàn dân, chăm sóc sức
khỏe cộng đồng, giáo dục bắt buộc, bảo tồn văn hóa dân tộc và phát huy tinh hoa
văn hóa nhân loại. Tất cả những chính sách ấy đều phản ánh bản chất nhân văn
của chủ nghĩa xã hội mà học thuyết Mác – Lênin đề xướng.
Thứ ba, trong công tác xây dựng Đảng, học thuyết Mác – Lênin giữ vai
trò quyết định trong việc xác định bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng
sản Việt Nam. Từ khi thành lập đến nay, Đảng luôn kiên định nguyên lý của chủ
nghĩa Mác – Lênin về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân – đội tiên phong
của giai cấp và dân tộc. Qua các kỳ đại hội, đặc biệt từ Đại hội X đến Đại hội
XIII, Đảng ta không ngừng phát triển lý luận về Đảng cầm quyền, nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phù hợp với yêu cầu phát triển trong
tình hình mới. Nhờ kiên định lập trường tư tưởng Mác – Lênin, Đảng giữ vững
vai trò lãnh đạo và bảo đảm sự phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ tư, trong xây dựng hệ thống chính trị và nhà nước, việc vận dụng chủ
nghĩa Mác – Lênin giúp Việt Nam xây dựng mô hình nhà nước kiểu mới – Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Từ lý luận về chuyên chính vô sản, Việt Nam đã phát triển thành quan điểm tổ
chức quyền lực nhà nước “thống nhất, có phân công, phối hợp và kiểm soát
quyền lực”, không sao chép mô hình tam quyền phân lập nhưng vẫn bảo đảm
tính dân chủ và hiệu quả quản lý. Bên cạnh đó, việc chuyển từ khái niệm “hệ
thống chuyên chính vô sản” sang “hệ thống chính trị” thể hiện bước phát triển
quan trọng trong nhận thức lý luận, phù hợp thực tiễn Việt Nam với sự tham gia
của các tổ chức chính trị – xã hội như Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn, Hội Phụ nữ,
Đoàn Thanh niên… Điều này không xa rời bản chất của học thuyết Mác – Lênin
mà còn phát triển nó phù hợp hơn với bối cảnh mới của cách mạng Việt Nam.
Học thuyết Mác – Lênin có giá trị và ý nghĩa to lớn đối với công cuộc đổi
mới ở Việt Nam. Đó là cơ sở lý luận khoa học để nhận thức đúng các quy luật
phát triển, định hướng xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, phát triển văn hóa – xã hội vì con người, xây dựng Đảng trong sạch vững 8
mạnh và xây dựng hệ thống chính trị hiện đại, hiệu quả. Sự vận dụng sáng tạo
học thuyết Mác – Lênin trong thực tiễn đổi mới đã và đang góp phần quan trọng
đưa Việt Nam từng bước trở thành quốc gia phát triển, đạt mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh
1.2.1. Khái quát về tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm lý luận, đường lối cách
mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng, định hình trong quá trình hoạt động
cách mạng lâu dài — từ khi Người đấu tranh giành độc lập dân tộc cho tới khi
xây dựng và bảo vệ đất nước xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng này mang tính cách
mạng sâu sắc, khoa học và nhân văn, là sự tổng hòa giữa chủ nghĩa Mác-Lênin
với truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam.
Điều đặc biệt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là cách Người kết hợp trí tuệ
chính trị cao với tình cảm sâu sắc dành cho nhân dân. Người luôn nhấn mạnh
“nói đi đôi với làm”, không chỉ lý luận mà còn hành động thực tiễn sát với đời
sống nhân dân — điều làm cho tư tưởng của Người dễ tiếp thu, thẩm thấu sâu rộng trong quần chúng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là kim chỉ nam cho cuộc đấu tranh
giành độc lập dân tộc, mà còn là nền tảng tư tưởng cho sự nghiệp xây dựng xã
hội sau này; Đảng Cộng sản Việt Nam đã lấy nó cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin
làm cơ sở lý luận, phương pháp luận trong mọi hoạt động cách mạng, đặc biệt là
trong công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay.
1.2.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng, phát triển và đổi mới đất nước
Hồ Chí Minh có quan điểm rất rõ ràng và sâu sắc về đổi mới: đổi mới
không phải là sao chép mô hình của nước khác mà là sáng tạo phù hợp với thực
tiễn dân tộc. Trong bài viết “Tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh” được các học 9
giả phân tích, Người đã khẳng định không nên “sao chép lý thuyết hay mô hình
của bất cứ nước nào”, mà phải dựa vào kinh nghiệm lịch sử của dân tộc Việt
Nam, kết hợp với thời đại để tìm ra con đường riêng.
Về mục tiêu phát triển, Hồ Chí Minh luôn hướng tới một Việt Nam độc
lập, giàu mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh — một khao khát vừa mang
tính dân tộc, vừa mang tính nhân văn. Người đặt lợi ích của dân tộc, của nhân
dân lên trên hết, đề cao vai trò nhân dân làm chủ, khẳng định “dân là gốc”: mọi
chính sách đổi mới, phát triển đất nước phải hướng tới người dân, phục vụ nhân dân.
Về phương pháp thực hiện đổi mới, Hồ Chí Minh cũng có tư tưởng rất
bài bản: Người đề cao tinh thần kiên định, nhưng cũng nhấn mạnh cần đổi mới
sáng tạo — “kiên định nhưng không giáo điều”. Ngoài ra, phong cách làm việc
của Người là dân chủ, thực tiễn, hiệu quả, luôn gắn “nói” với “làm”, không nói
suông mà luôn hành động vì lợi ích thực tế của nhân dân.
Một khía cạnh rất quan trọng trong quan điểm của Người là hợp tác quốc
tế: Hồ Chí Minh nhân rộng tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại, nhấn mạnh việc tranh thủ nguồn lực bên ngoài nhưng luôn giữ vững độc lập,
tự chủ. Đồng thời, Người coi trọng sức mạnh nội sinh — sức mạnh từ nhân dân,
từ khối đại đoàn kết toàn dân — là then chốt cho sự phát triển bền vững.
1.2.3. Giá trị và ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình đổi mới hiện nay
Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho đường lối
cách mạng Việt Nam, được Đảng ta khẳng định cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin
là cơ sở lý luận của công cuộc đổi mới đất nước. Trong bối cảnh sau năm 1986,
đất nước đứng trước yêu cầu cấp bách phải thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã
hội, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh càng trở nên quan trọng. Những quan điểm của Người về phát triển đất
nước, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, về phát triển kinh tế gắn với 10
tiến bộ và công bằng xã hội, về đoàn kết dân tộc và mở rộng quan hệ quốc tế đã
trở thành kim chỉ nam cho toàn bộ tiến trình đổi mới. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí
Minh không chỉ mang giá trị lý luận sâu sắc mà còn có ý nghĩa thực tiễn lớn lao
trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
a) Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công cuộc đổi mới
Trước hết, tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị định hướng chiến lược cho
đường lối đổi mới. Người luôn nhấn mạnh rằng mọi chủ trương, chính sách phải
xuất phát từ thực tiễn đất nước và nhu cầu của nhân dân. Quan điểm “dĩ bất biến,
ứng vạn biến” thể hiện tư duy linh hoạt, sáng tạo, đề cao việc vận dụng chủ nghĩa
Mác – Lênin phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Chính tư duy này đã
giúp Đảng ta đề ra đường lối đổi mới mang tính bước ngoặt tại Đại hội VI năm
1986, chuyển nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Một giá trị quan trọng khác là tư tưởng coi phát triển kinh tế phải gắn liền
với nâng cao đời sống nhân dân. Hồ Chí Minh khẳng định: “Mục đích của chủ
nghĩa xã hội là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân”. Đây chính là cơ sở để Đảng ta xác định mục tiêu đổi mới không chỉ nhằm
phát triển kinh tế mà còn thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo an sinh và phúc lợi cho nhân dân.
Bên cạnh đó, tư tưởng về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân có
giá trị định hướng cho đổi mới chính trị. Hồ Chí Minh yêu cầu bộ máy nhà nước
phải trong sạch, hoạt động hiệu quả, cán bộ phải gần dân, tôn trọng dân và phục
vụ nhân dân. Tư tưởng đó là nền tảng để Đảng ta triển khai cải cách hành chính,
xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, phục vụ nhân dân trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài ra, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc và kết hợp sức mạnh dân tộc với
sức mạnh thời đại có ý nghĩa đặc biệt đối với đổi mới và hội nhập quốc tế.
Người luôn khẳng định sức mạnh nội lực là quyết định, nhưng phải biết 11
tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước. Đây là cơ sở lý luận để
Đảng ta thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa
quan hệ quốc tế trong thời kỳ đổi mới.
b) Ý nghĩa thực tiễn trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và quốc tế
Trong lĩnh vực kinh tế, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển sản xuất,
khuyến khích các thành phần kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân đã được vận
dụng sâu sắc. Chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là cụ thể hóa tư tưởng “làm
cho dân giàu, nước mạnh”. Nhờ đổi mới, Việt Nam đã từ một nước thiếu lương
thực trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới
như gạo, cà phê, thủy sản. Các chương trình xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông
thôn mới cũng thể hiện rõ giá trị tư tưởng của Người về chăm lo đời sống nhân dân.
Trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì
dân được thể hiện qua cải cách hành chính, công khai minh bạch hoạt động của
nhà nước, xây dựng Chính phủ điện tử, chuyển đổi số trong quản lý. Việc Đảng
và Nhà nước đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng đội ngũ
cán bộ đủ phẩm chất, năng lực là minh chứng sinh động cho việc vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ và chống quan liêu, tham nhũng.
Trong lĩnh vực xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh nhấn mạnh con người là
trung tâm của sự phát triển. Điều này được thể hiện trong các chính sách phát
triển giáo dục, y tế, văn hóa, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc
sống. Các chương trình như bảo hiểm y tế toàn dân, phổ cập giáo dục, chăm lo
chính sách cho người có công, giảm nghèo bền vững… đều phản ánh tinh thần
“vì con người” mà Bác đã đề xuất.
Trong lĩnh vực quốc tế, đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác, hữu nghị
của Hồ Chí Minh được vận dụng linh hoạt trong hội nhập quốc tế hiện nay. Việt
Nam chủ động tham gia các tổ chức quốc tế, ký kết các hiệp định thương mại tự 12
do, trở thành thành viên tích cực trong ASEAN và Liên Hợp Quốc. Tư tưởng
“thêm bạn, bớt thù” đã giúp Việt Nam mở rộng quan hệ, thu hút đầu tư, nâng cao vị thế quốc tế.
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị lý luận sâu sắc mà
còn mang ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với sự nghiệp đổi mới đất nước. Việc vận
dụng sáng tạo tư tưởng của Người đã góp phần đưa Việt Nam đạt được nhiều
thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực, tạo nền tảng để phát triển bền vững trong tương lai.
1.3. Quan điểm nhận thức về đổi mới trong Đảng Cộng sản Việt Nam
Bước vào thời kỳ đổi mới năm 1986, từ kinh nghiệm của những bài học
những năm trước đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu nhận thức mới lại
một loạt vấn đề quan trọng về CNXH. Trở lại lời căn dặn của C.Mác và
Ph.Ăngghen: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái
cần phải sáng tạo ra, không phải là một ý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo.
Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng
thái hiện nay. Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang
tồn tại đẻ ra”. Trên cơ sở đó, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức lại những luận
điểm mang tính phổ biến của CNXH mà Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản
và Công nhân quốc tế họp ở Mátxcơva năm 1957 đã khái quát. Xét về bản chất
thì 9 nội dung mang tính phổ biến của CNXH mà Hội nghị đại biểu các Đảng
Cộng sản và Công nhân quốc tế họp ở Mátxcơva năm 1957 là đúng. Tuy nhiên,
khi vận dụng vào từng nước thì các đảng phải tính tới đặc thù của dân tộc mình.
Không tính tới đặc điểm dân tộc nhất định sẽ rơi vào giáo điều. Tất nhiên, không
được tuyệt đối hóa đặc thù dân tộc để dẫn tới xét lại, dân tộc, hẹp hòi. Cần quán
triệt sâu sắc lời chỉ dẫn của V.I.Lênin: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác
như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin
rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ
nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc
hậu đối với cuộc sống. Chúng tôi nghĩ rằng những người xã hội chủ nghĩa ở Nga
đặc biệt cần phải tự mình phát triển hơn nữa lý luận của Mác, vì lý luận này chỉ 13
đề ra những nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng nguyên lý ấy thì xét riêng
từng nơi, ở Anh không giống ở Pháp, ở Pháp không giống ở Đức, ở Đức không
giống ở Nga”. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nhắc nhở cán bộ, đảng
viên phải hiểu: “Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi
việc,... là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng
một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế ở nước ta” chứ không phải để thuộc
lòng từng câu từng chữ lý luận Mác-Lênin. Xuất phát từ những chỉ dẫn của các
nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, rút kinh nghiệm của
thời kỳ trước đổi mới, tổng kết thực tiễn Việt Nam và thời đại, Đảng Cộng sản
Việt Nam xác định rõ trên nền tảng kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh nhưng phải vận dụng sáng tạo phù hợp thực tiễn Việt Nam. Chính vì
vậy, ngay từ Đại hội VI (1986), Đảng thừa nhận: “Trong lĩnh vực tư tưởng đã
bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận dụng các quy luật đang hoạt động
trong thời kỳ quá độ; đã mắc bệnh duy ý chí, giản đơn hóa, muốn thực hiện nhanh
chóng nhiều mục tiêu của chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nước ta mới ở chặng
đường đầu tiên. Chúng ta đã có những thành kiến không đúng, trên thực tế, chưa
thật sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan”.
Điều quan trọng là ngay từ Đại hội VI, Đảng đã đề ra nhiệm vụ: “Để khắc phục
những khuyết điểm, chuyển biến được tình hình, Đảng ta, trước hết phải thay đổi
nhận thức, đổi mới tư duy. Phải nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với
hệ thống quy luật khách quan, trong đó, các quy luật đặc thù của chủ nghĩa xã
hội ngày càng chi phối mạnh mẽ phương hướng phát triển chung của xã hội”.
Nhưng ngay từ khi bắt đầu đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có thái độ rất
đúng đắn: “Đổi mới tư duy không có nghĩa là phủ nhận những thành tựu lý luận
đã đạt được, phủ nhận những quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội, phủ nhận đường lối đúng đắn đã được xác định, trái lại, chính là bổ
sung và phát triển những thành tựu ấy”. Trên tinh thần ấy, Đảng bổ sung nhiều
luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin cho phù hợp thực tiễn Việt Nam và thời đại.
Chẳng hạn về bản chất của Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đại
diện, tiêu biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, mà còn
cho cả dân tộc. Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin mới đề cập tới xây dựng 14
đảng về tư tưởng, chính trị và tổ chức, thì Đảng Cộng sản Việt Nam yêu cầu tăng
cường xây dựng Đảng cả về đạo đức. Hay ở các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-
Lênin, chủ yếu là liên minh công-nông, trong điều kiện Việt Nam, Đảng bổ sung
liên minh công nhân-nông dân-trí thức. Nếu V.I.Lênin mới dừng ở kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần, thì Đảng đã phát triển thành kinh tế thị trường định hướng
XHCN... Tất cả những luận điểm lý luận này là kết quả của sự nhận thức và vận
dụng đúng đắn những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều
kiện đặc thù Việt Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam.
CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
2.1. Tình hình bối cảnh thế giới
2.1.1. Cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật phát triển mạnh
Trong những thập niên cuối thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật
phát triển với tốc độ nhanh và phạm vi rộng chưa từng có. Cũng như cách mạng
công nghiệp ở thế kỉ XVIII – XIX, cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật này diễn
ra là do những đòi hỏi của cuộc sống, của sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu vật
chất và tinh thần ngày càng cao của con người, nhất là trong tình hình bùng nổ
dân số thế giới và sự vơi cạn nghiêm trọng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc
biệt từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Đặc điểm lớn nhất của cách mạng khoa
học – kĩ thuật này là khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Khoa học
đã tham gia trực tiếp vào sản xuất, đã trở thành nguồn gốc chính của những tiến
bộ kĩ thuật và công nghệ.
Trong những thập niên cuối thế kỷ XX, khoa học cơ bản và công nghệ đều
đạt được những bước tiến vượt bậc, tạo ra những thành tựu mang tính đột phá và
mở ra nhiều kỉ nguyên mới cho nhân loại. Các phát minh lớn trong Toán học,
Vật lí, Hoá học và Sinh học được ứng dụng mạnh mẽ vào thực tiễn, tiêu biểu như
sự ra đời của cừu Đôli (1997) hay việc công bố Bản đồ gen người (2000), đặt
nền tảng cho sự phát triển hiện đại của y học và công nghệ sinh học. Đồng thời,
lĩnh vực công nghệ cũng chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ với sự xuất hiện
của máy tính điện tử, hệ thống tự động hóa, rôbốt; các nguồn năng lượng mới; 15
vật liệu mới; những đột phá trong công nghệ di truyền, công nghệ tế bào; cùng
hàng loạt tiến bộ trong thông tin liên lạc, giao thông vận tải và chinh phục vũ trụ.
Đặc biệt, công nghệ thông tin bùng nổ trên phạm vi toàn cầu, với sự phổ biến
của máy tính và Internet, giúp liên kết dữ liệu toàn thế giới và đưa nhân loại bước
vào thời đại “văn minh thông tin”. Những thành tựu đó hợp thành một cuộc cách
mạng khoa học – kỹ thuật toàn diện, tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực đời sống và sản xuất.
Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đã thúc đẩy sự hình thành thị trường
thế giới và tạo nên xu thế toàn cầu hoá, đó là quá trình các quốc gia ngày càng
gắn bó, tác động và phụ thuộc lẫn nhau. Xu thế này thể hiện qua sự phát triển
nhanh của thương mại quốc tế, sự mở rộng và ảnh hưởng mạnh mẽ của các công
ty xuyên quốc gia, làn sóng sáp nhập tạo ra những tập đoàn lớn nhằm tăng khả
năng cạnh tranh, cùng sự ra đời của hàng loạt tổ chức kinh tế - tài chính quốc tế
như IMF, WB, WTO, EU, NAFTA, AFTA, APEC hay ASEM. Là kết quả tất
yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất, toàn cầu hoá vừa mang mặt tích cực khi
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất và đòi hỏi cải cách để bắt kịp
cạnh tranh, vừa có mặt tiêu cực khi làm gia tăng bất bình đẳng, khiến đời sống
con người kém an toàn hơn và tiềm ẩn nguy cơ mai một bản sắc cũng như ảnh
hưởng đến độc lập tự chủ của các quốc gia.
Nhìn chung, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ là thời cơ lịch sử, là cơ
hội rất to lớn cho các nước phát triển mạnh mẽ, đồng thời cũng tạo ra những
thách thức to lớn. Việt Nam cũng nằm trong xu thế chung đó. Đặc biệt, khi mô
hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp của Việt Nam đang bộc
lộ nhiều bất cập. Sản xuất trì trệ, năng suất lao động thấp, đời sống nhân dân khó
khăn, nền kinh tế rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng vào đầu thập niên 1980. Do
vậy, “Nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức, phát triển mạnh mẽ trong thời kì mới,
đó là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và nhân dân ta" (Văn kiện Đại
hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX).
2.1.2. Xu thế đối thoại thay xu thế đối đầu 16
Từ đầu những năm 1970, quan hệ quốc tế bắt đầu chứng kiến sự dịch chuyển
quan trọng từ đối đầu sang đối thoại, thể hiện rõ nhất trong tiến trình hòa hoãn
Đông – Tây. Sau nhiều thập niên căng thẳng của Chiến tranh lạnh, cả Mỹ và Liên
Xô đều từng bước tìm kiếm các thỏa thuận nhằm giảm bớt xung đột và rủi ro đối
đầu quân sự. Những hiệp định kiểm soát vũ khí chiến lược như Hiệp ước ABM
(1972) hay SALT I (1972) đã mở đầu cho giai đoạn giảm căng thẳng, thể hiện ý
chí hạn chế chạy đua vũ trang vốn đã trở thành gánh nặng kinh tế và chiến lược
đối với cả hai siêu cường. Tiếp đó, Định ước Henxinki năm 1975 với sự tham
gia của 35 quốc gia đã thiết lập những nguyên tắc quan trọng về bình đẳng chủ
quyền, bất khả xâm phạm biên giới và giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa
bình, từ đó hình thành một cơ chế đa phương giúp duy trì an ninh và ổn định ở
châu Âu. Những sự kiện này cho thấy xu thế đối thoại không chỉ xuất hiện đơn
lẻ mà từng bước trở thành khuynh hướng chung trong quan hệ quốc tế thời kỳ này.
Bước sang những năm 1980, xu thế đối thoại càng được củng cố khi lãnh
đạo Liên Xô tiến hành cải tổ, chủ trương giảm đối đầu và mở rộng hợp tác với
phương Tây. Các cuộc gặp cấp cao Xô – Mỹ diễn ra liên tục, đạt được các thỏa
thuận quan trọng, tiêu biểu là Hiệp ước INF năm 1987 về việc loại bỏ tên lửa
tầm trung ở châu Âu, cắt giảm kho vũ khí chiến lược và hạn chế mở rộng chạy
đua vũ trang. Đến tháng 12/1989, Tuyên bố Manta giữa M. Goócbachóp và G.
Busơ đã đánh dấu sự chấm dứt chính thức của Chiến tranh lạnh, khép lại hơn
bốn thập kỷ đối đầu căng thẳng. Sự kết thúc của trạng thái đối đầu hai cực không
chỉ phản ánh sự suy yếu nội tại của Liên Xô và những chi phí ngày càng lớn
trong chạy đua vũ trang, mà còn cho thấy nhu cầu khách quan của toàn cầu trong
việc thiết lập một môi trường ổn định, thuận lợi hơn cho hợp tác và phát triển.
Sau Chiến tranh lạnh, xu thế đối thoại được củng cố mạnh mẽ với hàng loạt
thay đổi lớn trên phạm vi toàn cầu. Sự tan rã của Liên Xô (1991) và sự giải thể
của các tổ chức như Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) hay Hiệp ước Vácsava đã
chấm dứt trật tự hai cực, mở đường cho trật tự thế giới mới theo xu hướng đa
cực, nơi các cường quốc như Mỹ, EU, Nhật Bản, Nga và Trung Quốc cùng cạnh 17
tranh và hợp tác. Các quốc gia chuyển trọng tâm sang phát triển kinh tế, giảm
đối đầu ý thức hệ, ưu tiên hội nhập quốc tế và hợp tác khu vực. Nhiều cuộc chiến
tranh kéo dài được giải quyết bằng đàm phán, tiêu biểu như tiến trình hòa bình
Campuchia (1991) với sự tham gia của Liên Hợp Quốc và các nước trong khu vực.
Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục giữ lập trường đối đầu, khép kín không giúp
Việt Nam phát triển về chính trị - ngoại giao, và không tận dụng được những cơ
hội mới từ hợp tác quốc tế. Do vậy, tư duy đối ngoại cũng cần đổi mới sang
hướng đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, từ phụ thuộc viện trợ sang chủ động
hội nhập. Đây là điều kiện khách quan quan trọng thôi thúc Việt Nam chuyển
mình, từng bước hướng tới đổi mới toàn diện trong đối nội và đối ngoại.
2.1.3. Công cuộc cải tổ diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa
Từ giữa những năm 1970, Liên Xô bắt đầu bộc lộ những dấu hiệu khủng
hoảng kinh tế và chính trị. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 ảnh hưởng
nghiêm trọng đến nền kinh tế, trong khi đời sống chính trị xuất hiện nhiều diễn
biến phức tạp, với các tư tưởng đối lập và một số nhóm phản đối Đảng Cộng sản.
Đến đầu những năm 1980, nền kinh tế Liên Xô suy thoái rõ rệt, đời sống nhân
dân giảm sút và xã hội xuất hiện nhiều bất ổn. Tháng 3/1985, M. Goócbachốp
lên nắm quyền lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô, tiến hành công cuộc cải tổ
đất nước. Đường lối cải tổ tập trung vào việc “cải cách kinh tế triệt để", tiếp theo
là cải cách hệ thống chính trị và đổi mới tư tưởng. Tuy nhiên, các cải cách kinh
tế thiếu điều tiết, chuyển sang kinh tế thị trường quá nhanh, kết hợp với cải cách
chính trị đa nguyên đã gây rối loạn xã hội, đình công, xung đột sắc tộc và bất ổn
chính trị, dẫn đến khủng hoảng toàn diện. Đến cuối năm 1991, Liên Xô chính
thức tan rã, Nhà nước Liên bang sụp đổ, Đảng Cộng sản bị đình chỉ hoạt động,
và các nước cộng hòa thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG).
M.Goócbachớp từ chức Tổng thống, lá cờ búa liếm trên nóc điện Kremli bị hạ
xuống, đánh dấu sự chấm dứt chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sau 74 năm tồn tại. 18
Các nước Đông Âu, vốn chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Liên Xô, cũng rơi vào
khủng hoảng kinh tế và chính trị từ cuối những năm 1970 đến đầu những năm
1980. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 đã tác động mạnh đến nền kinh tế,
dẫn đến trì trệ kinh tế và giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng Cộng sản và
Nhà nước. Những sai lầm trong các biện pháp cải cách cùng với tác động từ
khủng hoảng ở Liên Xô làm cho tình hình ở Đông Âu càng trở nên gay gắt. Nhiều
nước như Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary, Bulgaria, Romania, cùng với Cộng hòa
Dân chủ Đức, lần lượt phải từ bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, chấp nhận đa nguyên
chính trị, đa đảng và tiến hành tổng tuyển cử. Điển hình là Cộng hòa Dân chủ
Đức, nơi bức tường Berlin bị phá bỏ cuối năm 1989, dẫn tới thống nhất nước
Đức vào năm 1990. Quá trình này cho thấy sự phụ thuộc vào Liên Xô và các
biện pháp cải cách thất bại đã thúc đẩy các nước Đông Âu phải điều chỉnh đường
lối chính trị và kinh tế.
Trái với tình hình khủng hoảng ở Liên Xô và Đông Âu, Trung Quốc tiến
hành công cuộc cải cách – mở cửa từ năm 1978 dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu
Bình. Trung Quốc tập trung phát triển kinh tế, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung sang kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa linh hoạt, nâng cao năng
lực khoa học – kỹ thuật, giáo dục và văn hóa. Sau 20 năm, GDP tăng trung bình
trên 8%/năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp, xây
dựng và dịch vụ, đời sống nhân dân cải thiện rõ rệt. Các thành tựu khoa học kỹ
thuật nổi bật như chương trình vũ trụ “Thần Châu” và thử bom nguyên tử nâng
cao vị thế quốc gia. Trong đối ngoại, Trung Quốc bình thường hóa quan hệ với
Việt Nam năm 1991, đồng thời nâng cao vai trò trên trường quốc tế thông qua
các hoạt động hợp tác và thu hồi Hồng Kông – Ma Cao.
Trong bối cảnh này, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức rõ rằng cần đổi
mới toàn diện về kinh tế và chính trị, dẫn tới việc phát động Đổi mới bắt đầu từ
Đại hội VI (1986), đánh dấu bước phát triển mới trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. 19