TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
VIỆN KINH DOANH QUỐC TẾ VÀ LOGISTICS
----------
HỌC ẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆPH T NAM
ĐỀ TÀI ẢO LUẬNTH
PHÂN TÍCH ĐẶC TRƯNG XHCN ĐƯỢC ĐỀ RA TẠI CƯƠNG LĨNH XÂY
DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH (BỔ SUNG,
PHÁT TRIỂN NĂM 2011)
Giảng viên : Nguyễn Ngọc Diệp
Lớp học phần : 251_HCMI0131_05
Nhóm : 6
HÀ N 2025 ỘI –
1
MC LC
LỜI CẢM ƠN ..................................................................................................................... 2
LỜI MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 3
CHƯƠNG ỐI CẢ ỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA CỦA CƯƠNG LĨNH XÂY I. B NH L
DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH (BỔ SUNG, PHÁT
TRIỂN NĂM 2011) ............................................................................................................ 4
1.1 Bố ịch sửi cảnh l ......................................................................................................... 4
1.1.1. Bối cảnh quốc tế ............................................................................................................ 4
1.1.2. Bối cảnh trong nước ...................................................................................................... 4
1.2. Ý nghĩa của Cương lĩnh .......................................................................................... 5
1.2.1. Ý nghĩa về mặt tổng kết thực tiễn và phát triển đường lối đổi mới ............................... 6
1.2.2. Ý nghĩa về mặt lý luận ................................................................................................... 6
1.2.3. Ý nghĩa về mặt thực tiễn ................................................................................................ 7
CHƯƠNG II. PHÂN ẶC TRƯNG XHCN ĐƯỢ Ề RA TẠI CƯƠNG TÍCH Đ C Đ
LĨNH XÂY DỰ ẤT NƯỚC TRONG THỜ Ộ LÊN CNXH (BỔ NG Đ I K QUÁ Đ
SUNG, PHÁT TRIỂN NĂM 2011) ................................................................................... 8
2.1. Phân tích từng đặc trưng XHCN của Cương lĩnh ............................................... 8
2.1.1. Đặc trưng 1: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. ........................... 8
2.1.2. Đặc trưng về Chính trị .................................................................................................. 9
2.1.3. Đặc trưng về Kinh tế ................................................................................................... 10
2.1.4. Đặc trưng về Văn hóa - Xã hội và Con người ............................................................. 12
2.1.5. Đặc trưng về Quan hệ dân tộc và Quan hệ quốc tế .................................................... 14
2.2. Phân tích những bổ sung và phát triển so với Cương lĩnh 1991 ....................... 16
CHƯƠNG III. ĐÁNH GIÁ VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN ............................................. 19
3.1. Đánh giá ................................................................................................................. 19
3.2. Liên hệ ực tiễnth .................................................................................................... 20
3.2.1. Dẫn chứng từ ực tiễn phát triển đất nước sau hơn 10 năm thực hiện Cương lĩnh th
2011 ....................................................................................................................................... 20
3.2.2. Liên hệ trách nhiệm của sinh viên, thanh niên ngày nay ............................................ 21
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................... 23
BIÊN BẢN HỌP NHÓM ................................................................................................. 25
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 6 ........................................................................ 26
2
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài luận này, trước hết, chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành
đến Nguyễn Ngọc Diệp. Sự hướng dẫn tận tình, những ý kiến đóng góp sâu sắc của Cô
nguồn động lực to lớn, giúp nhóm chúng em vượt qua những khó khăn và hoàn thiện bài
nghiên cứu một cách tốt nhất.
Không thể không nhắc đến sự hỗ trợ từ Phòng Đào tạo, Viện Kinh doanh Quốc tế và
Logistics Thư viện Trường Đại học Thương mại đã tạo điều kiện về sở vật chất
tài liệu học tập, nghiên cứu trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Lời cuối, chúng em xin được ghi nhận sự nỗ lực, tinh thần trách nhiệm sự đoàn
kết của tất cả các thành viên nhóm 6. Mỗi người một việc, cùng nhau hợp sức, chúng em
đã những trải nghiệm quý giá không chỉ vkiến thức chuyên môn còn về kỹ năng
làm việc nhóm. Mặc đã dành nhiều tâm huyết, nhưng do hạn chế về thời gian kinh
nghiệm, bài luận khó tránh khỏi những thiếu sót. Chúng em rất mong nhận được sự chỉ
bảo, góp ý từ ô và tất cả các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.c
Một lần nữa, Nhóm 6 xin chân thành cảm ơn!
3
LỜI MỞ ĐẦU
Trong tiến trình phát triển của Đảng Nhà ớc, Cương nh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) là văn kiện có vai
trò đ t quan tr i c t qu t thặc biệ ọng. Sự ra đờ ủa Cương lĩnh không chỉ ể hiện kếth ả tổng kế ực
tiễn 25 năm đổi mới, mà còn phản ánh bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng
trước những biến động to lớn của bối cảnh quốc tế yêu cầu phát triển của đất nước. So
với Cương lĩnh m 1991, văn kiện năm 2011 đã bổ sungphát triển nhiều nội dung then
chốt nhằm xác định hình chnghĩa hội Việt Nam ớng tới, đồng thời làm
sâu sắc hơn phương ớng mục tiêu chiến lược cho sự nghiệp y dựng bảo vệ Tổ
quốc.
ệc nghiên cứu các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội được xác định trong Cương lĩnh Vi
2011 giúp nhận diện đầy đủ hơn bản chất, mục tiêu con đường phát triển mà Đảng đã
lựa chọn. Đồng thời, việc đối chiếu với Cương lĩnh 1991 cho phép nhận thấy sự kế thừa và
phát triển tư duy trong xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới. Trên cơ sở
đó, bài thảo luận tiến hành phân tích từng đặc trưng, làm rõ những điểm bổ sung, phát triển
liên hệ ực tiễn nhằm khẳng định giá trlý luận ý nghĩa thực tiễn của Cương lĩnh th
trong giai đoạn hiện nay.
4
CHƯƠNG BỐI CẢ ỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA CỦA CƯƠNG LĨNH XÂY I. NH L
DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH (BỔ SUNG, PHÁT
TRIỂN NĂM 2011)
1.1 Bố ịch sửi cảnh l
1.1.1. Bối cảnh quốc tế
Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, tình hình thế giới khu vực những
biến động nhanh chóng, phức tạp khó ờng. Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này
cuộc cách mạng khoa họ - công nghệ ếp tục phát triển mạnh mẽ với trình độ cao, thúc c ti
đẩy sự hình thành và phát triển của nền kinh tế tri thức. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế diễn ra sâu rộng, làm tăng sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế, vừa tạo ra
hội hợp tác phát triển, vừa đặt ra những thách thức gay gắt về cạnh tranh thị ờng và bảo trư
vệ bản sắc văn hóa, chủ quyền quốc gia.
Một sự kiện tác động sâu sắc đến cục diện thế giới trong giai đoạn này cuộc
khủng hoảng tài chính suy thoái kinh tế toàn cầu (bắt đầu từ năm 2008). Cuộc khủng
hoảng này đã làm bộc lộ những khuyết tật vốn những mâu thuẫn nội tại không th
giải quy t đết triệ ể của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Trong khi các nước tư bản chủ nghĩa lâm
vào khó khăn, bấ ổn xã h ủ nghĩa và các nướt i gia tăng, thì các nước xã hội ch c đang phát
triển, thông qua cải cách đổi mới, vẫn duy trì được sự ổn định chính trtốc độ tăng
trưởng kinh tế khá. Thực tế này đã khẳng định giá trị sức sống của chủ nghĩa hội,
đồng thời thúc đẩy cục diện thế giới chuyển dịch mạnh mẽ hơn theo xu hướng đa cực, đa
trung tâm
Bên cạnh xu thế hòa bình, hợp tác phát triển vẫn là chủ đạo, thế giới vẫn tiề ẩn m
nhiều bấ ổn. Các cuộ ấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, xung đột sắ ộc, tôn giáo và t c đ c t
hoạt động khủng bdiễn ra quyết liệt. Tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, tuy đưc
đánh giá khu vực phát triển năng động nhất thế giới, nhưng môi trường an ninh - chính
trị lại những diễn biến phức tạp. Tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển đảo đặc biệt là
tình hình Biển Đôngbắt đầu nóng lên, cùng với sự cạnh tranh chiế ợc giữa các nưn lư c
lớn tại khu vực này, đã tác động trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc của
Việt Nam.
Nhìn chung, bối cảnh quốc tế vừa đem đến những thời thuận lợi cho Việt Nam
trong vi i ngo i, thu hút đ tri thệc mở rộng quan hệ đố ầu tư, phát triển kinh tế c, v a đặt ra
những khó khăn và thách thức mới đối với sự kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
trong điều kiện hội nhập quố ế sâu rộng.c t
1.1.2. Bối cảnh trong nước
Đến năm 2011, cách mạng Việt Nam đứng trước một mốc thời gian tính ớc
ngoặt: trải qua 25 năm thực hiện công cuộc Đổi mới (1986 2011) 20 năm thực hiện
Cương lĩnh năm 1991. Đây là khoảng thời gian đủ dài để Đảng và Nhà nước tổng kết thực
5
tiễn, kiể ứng các luận điể ận và đánh giá toàn diện con đường phát triển củm ch m lý lu a đất
nước. Việt Nam từ một quốc gia lâm vào khủng hoảng kinh tế – xã hội, lạm phát kéo dài,
sản xuất trì trệ đã vươn lên trở thành một quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình.
Thành tựu nổi bật là chuyển đổi mô hình quản lý kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung
bao cấp sang nền kinh tế ờng định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần thúc đẩy tăng th trư
trưởng, mở rộng sản xuất, phát triển các thành phần kinh tế nâng cao đời sống nhân dân.
Đất nước đã thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, kém phát triển, đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân từng bước được cải thiện. Cùng với đó, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quố ế đư ẩy mạnh; khoa họ - công nghệ, giáo dụ - đào tạo, văn hóa và c t c đ c c
các chính sách xã hội có bước phát triển đáng kể. Vị ế uy tín của Việt Nam trên trường th
quốc tế được nâng cao; đất nước được đánh giá là một trong những nền kinh tế phát triển
năng động tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Độc lập, chủ quyền, thống nhất ổn
định chính trị đượ vững, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển bền vững.c gi
Tuy nhiên, thực tiễn phong phú sinh động của 25 năm Đổi mới đã làm nảy sinh
nhiều vấn đề mới, phức tạp Cương lĩnh năm 1991 chưa thể dự báo hết hoặc cần được
nhận thức lại cho sâu sắc hơn.Mô hình tăng trưởng kinh tế ậm đổi mới, chất lượng tăng ch
trưởng còn thấp, năng suất lao động chưa cao, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn
chế. Khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, miền và các nhóm xã hội có xu hướng gia
tăng; một số vấn đề hội như việc làm, an sinh hội, môi trường, đô thhóa… đặt ra
nhiều yêu cầu cấp ch. Công tác xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách hành chính,
phòng chống tham nhũng, lãng phí còn nhiều bất cập.
Trong lãnh đạo, quản tổ ức thực hiện, Đảng lúc n chủ quan, duy ý chí, ch
chậm đổi mới tư duy, thậm chí sai lầm thiếu sót. Các thế lực thù địch phản động
tăng cường chống phá, xuyên tạc đường lối của Đảng và Nhà nước, thúc đẩy các hoạt động
"diễn biến hòa bình" nhằ ế độ xã hộ ủ nghĩa và vai trò lãnh đạo củm xóa b ch i ch a Đảng.
1.2. Ý nghĩa củ Cương a lĩnh
Cương lĩnh xây dựng đất ớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,
phát triển năm 2011) là một trong những văn kiện quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam
trong tiến trình đổi mới. Văn kiện này không chỉ kế ừa những tư tưởng cốt lõi của Cương th
lĩnh năm 1991 n phản ánh sâu sắc quá trình tổng kết 25 năm đổi mới, làm rõ mô hình
chủ nghĩa hộ t Nam, đồng thời định hướng chiến ợc cho sự phát triển của đấi Vi t
nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng. Ý nghĩa của Cương lĩnh được thể hiện trên
ba phương diện: tổng kết thực tiễn phát triển đường lối đổi mới; giá trị luận; ý
nghĩa thự ễn đố ới sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ti i v c.
6
1.2.1. Ý nghĩa về mặ ực tiễn và phát triển đườ ổi mớit t t thổng kế ng lối đ
Trước hết, Cương lĩnh 2011 là kết quả của quá trình tổng kết toàn diện và sâu sắc 25
năm thực hiện đường lối đổi mới kể từ Đại hội VI (1986). Những thành tựu, hạn chế và bài
học kinh nghiệm được đúc kết trở thành sở lý luận ực tiễn cho việc hoàn thiện th
hình chủ nghĩa xã hộ i Việt Nam.
Thứ nhất, Cương lĩnh khẳng định sự cần thiết phải giữ vững định hướng hội chủ
nghĩa trong suốt quá trình đổi mới. Đảng nhấn mạnh sự kết hợp giữa kiên định mục tiêu
chiến lược linh hoạt về sách lược, phù hợp với những biến động của tình hình trong
nước và thế giới. Đây là điều kiện bảo đảm tính nhất quán và bền vững của đường lối phát
triển.
Thứ hai, Đảng xác định đổ ới phải toàn diện, đồng bộ và có lộ trình phù hợp. Đổi m i
mới cần diễn ra trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, hội đối ngoại,
nhằm t i hoạo ra sự vận động hài hòa, tránh nóng vộ ặc chủ quan duy ý chí.
Thứ ba, Cương lĩnh 2011 nhấn mạnh mô hình kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế th trường có sự quản lý của Nhà nước. Đây là bước đột phá trong tư duy
phát triển, khẳng định hình kinh tế ờng định ớng hội chủ nghĩa một đặth trư c
trưng cơ bản và sáng tạo của Đảng.
Thứ tư, Cương lĩnh đề cao việc phát huy dân chhội chủ nghĩa, coi dân chủ vừa
mục tiêu vừa động lực của đổi mới. Việc mở rộng dân chủ phải đi đôi với giữ vững
kỷ cương và ổn định chính trị – xã hội.
Cuối cùng, văn kiện nhấn mạnh yêu cầu phải chủ động dự báo xử lý kịp thời các
vấn đề mới nảy sinh trong quá trình đổi mới. Điều này thhiện nhận thức ràng về tính
dài lâu, liên tục và ph ạp của quá trình quá độ nghĩa xã hộc t lên ch i.
Những bài học lớn này là nền tảng quan trọng để Đảng bổ sung và phát triển Cương
lĩnh năm 2011, làm rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa hội phù hợp với điều kiện Việt
Nam.
1.2.2. Ý nghĩa về mặt lý luận
Cương lĩnh 2011 là bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận củ ảng về a Đ ch
nghĩa hội con đường đi lên chủ nghĩa hộ ệt Nam. Văn kiện kế ừa kết quả i Vi th
nghiên cứu lý luận từ Đại hội VII (1991), đặc biệt việc khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt
Nam lấy chủ nghĩa Mác Lênin ởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tưởng và kim
chỉ nam cho hành động.”
Ý nghĩa lý luận được thể hiện ở mộ phương diện:t s
Thứ nhất, Cương lĩnh xác lập mô hình 8 đặc trưng củ ủ nghĩa xã hộ ệt Nam, a ch i Vi
giúp định hình rõ bản chấ ục tiêu của xã hội mà Việt Nam hướng tớt và m i.
7
Thứ hai, văn kiện làm sâu sắc hơn nội dung kinh tế ờng định hướng xã hội chủ th trư
nghĩa, coi đây là mô hình phát triển kết hợp i hòa giữa quy luật thị trường vai trò quản
lý của Nhà nước.
Thứ ba, ơng lĩnh hệ ống hóa 6 phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hộth i,
góp phần cụ ể hóa đường lối cách mạng trong thờ ỳ mớth i k i.
Thứ tư, Cương lĩnh khẳng định sự kế ợp giữ ủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ t h a ch
Chí Minh tinh hoa trí tunhân loại, bảo đảm tính khoa học, tính thực tiễn phợp
với quy luật khách quan.
Như vậy, Cương lĩnh 2011 không chỉ văn kiện chính trị còn một đóng góp
quan trọng về mặt lý luận, phản ánh sự phát triển của tư duy Đảng trong bối cảnh toàn cầu
hóa và cách mạng khoa họ – công nghệ.c
1.2.3. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Cương lĩnh 2011 còn mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thực tiễn lãnh đạo
quản lý phát triển đất nước.
Thứ nhất, Cương lĩnh là kim chỉ nam cho chiến lược phát triển giai đoạn 2011–2020
và định hướng đến 2030, 2045, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạch định các chính sách kinh tế,
xã hộ ốc phòng, an ninh và đối ngoại, qu i.
Thứ hai, văn kiện sở để hoàn thiện hệ ống pháp luật, đặc biệt Hiến pháp th
năm 1992 (sửa đổi). Hiến pháp đã thể ế hóa các quan điểm quan trọng của Cương lĩnh, ch
tạo cơ sở pháp lý cho đ ới toàn diện.i m
Thứ ba, Cương nh 2011 giúp tiếp tục triển khai đường lối đổi mới từ Đại hội VII
đến Đại hội XI, đồng thời tổng kết Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 1991–2000 và đặt
ra định hướng mới cho các giai đoạn tiếp theo.
Cuối cùng, Cương lĩnh vai trò quan trọng trong việc củng cố ổn định chính trị
xã hộ ẩy phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân và đưa đất nước từng bưới, thúc đ c
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Cương lĩnh xây dựng đất ớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,
phát triển năm 2011) là văn kiện ý nghĩa chiến ợc sâu sắc về cả luận thực tiễn.
Văn kiện tổng kết chặng đường đổi mới, khẳng định hình phát triển đặc thù của Việt
Nam, định hướng chiến lược cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hội nhập quốc
tế. Với vai trò kim chỉ nam trong thời kỳ mới, Cương lĩnh 2011 tiếp tục nền tảng quan
trọng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
8
CHƯƠNG PHÂN ẶC TRƯNG XHCN ĐƯỢ Ề RA TẠII. TÍCH Đ C Đ I
CƯƠNG LĨNH XÂY DỰ ẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN NG Đ
CNXH (BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN NĂM 2011)
2.1. Phân tích từng đặc trưng XHCN của Cương lĩnh
2.1.1. Đặc trưng 1: Dân giàu, nư ạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.c m
Cương lĩnh xây dựng đất ớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,
phát triển năm 2011) văn kiện ý nghĩa nền tảng, định hướng chiến lược cho sphát
triển của Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong h ống tám đặc trưng của hội hộth i
chủ nghĩa Cương lĩnh xác định, đặc trưng đầu tiên - “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh” - giữ vị trí trung tâm và bao quát nhất. Đây vừa là mục tiêu lâu dài,
vừa tiêu chí đánh giá thành qucủa tiến trình xây dựng chủ nghĩa h nước ta. i
thế đặc trưng này, mang ý nghĩa quan trọng, việc phân tích giúp làm lối phát triển
Việt Nam đang i theo tư tư i cớng tớ ởng, đường l ủa Đảng.
Trước hết, “dân giàu” thhiện trọng tâm của hình hội chnghĩa Việt Nam:
con người chủ thể của phát triển và mọi chính sách đều nhằm nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của nhân dân. Sự giàu có của người dân được hiểu không chỉ ở thu nhập và điều
kiện kinh tế, mà còn ở khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, thông tin các dịch vụ xã hội thiết
yếu. Việc nâng cao mức sống được xem là điều kiện sđể tạo nên một dân tộc mạnh,
đóng góp vào sự ổn định và phát triển lâu dài của qu c gia.
Từ nền tảng “dân giàu”, đặc trưng “nước mạnh” nhấn mạnh đến sức mạnh tổng hợp
của quốc gia trên các phương diện kinh tế, chính trị, quốc phòng, n hóa và hội nhập quốc
tế. Một đất nước mạnh đất nước nền kinh tế phát triển hiện đại, nhà ớc pháp
quyền hoạt động hiệu lực, hiệu quả khả năng bảo vệ độc lập, chủ quyền trong mọi
tình huống. Sức mạnh quốc gia gắn liền với sự phát triển trí tuệ, trình độ khoa họ – công c
nghệ và uy tín trên trường quốc tế. Như vậy, dân giàu tạo ra nguồn lực để nướ mạnh, c
nước mạnh lại tạo nền tảng để ếp tục đảm bảo cuộc sống an toàn, thịnh vượng cho nhân ti
dân.
Trên nền tảng đó, yếu tố “dân chủ” thể hiện bản chất của chế độ hội chủ nghĩa ở
Việt Nam. Cương lĩnh 2011 xác định rõ việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, trong
đó quyền lực thuộc về nhân dân được thực hiện thông qua cả dân chủ đại diện lẫn dân
ch ch c tiếp. Dân chủ không chlà mục tiêu mà còn phương thức để tổ tr c xã hội và
phát triển đất ớc; dân chcàng mở rộng thì sức mạnh đại đoàn kết dân tộc càng được
phát huy. Tuy nhiên, dân chủ luôn gắn với kỷ cương pháp luật nhằm đảm bả ổn định o
hội hiệu quả quản lý. Điều này cho thấy dân chvừa giá trị, vừa động lực của
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Cùng với dân chủ, “công bằng” u cầu mang tính nhân văn sâu sắc. Công bằng
xã hội được hiểu là việc mọi người đều có cơ hội phát triển ngang nhau và được thụ hưởng
9
công bằng các thành quả của quá trình phát triển. Để đạt được điều này, Nhà ớc phải
thực hiện hệ ống chính sách phân phối hợp lý, chú trọng giảm khoảng cách giàu – nghèo, th
đồng thời đảm bảo an sinh hội cho mọi đối ợng. Công bằng không phải sự đối xử
với mọi người như nhau, stạo điều kiện môi trường để mỗi nhân phát huy
năng lự ủa mình trong khuôn khổ pháp luật. Khi công bằng được bảo đả ềm tin củc c m, ni a
nhân dân đối với chế độ được củng cố, tạo nền tảng cho sự ổn định và phát triển bền vững.
Cuối cùng, “văn minh” biểu hiện của sự phát triển hài hòa giữa đời sống vật chất
tinh thần của hội. Một hội văn minh hội nền văn hóa tiên tiến, giàu bản
sắc dân tộc; con người tri thức, đạo đức, lối sống lành mạnh; môi trường được bảo vệ;
khoa học - công nghệ được ứng dụng sâu rộng vào mọi lĩnh vực của đời sống. Văn minh
kết quả của quá trình ớng tới dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, đồng thời
cũng là n c phát triền tảng để ếp tụti ển các giá trị đó trong tương lai.
Như vậy, Đặc trưng “dân giàu, ớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” không chỉ
mô tả ạng thái xã hội mà Việ ớng tới, mà còn là định hướng xuyên suốt cho mọtr t Nam hư i
chiến lược, chính sách phát triển. Nó tiêu chuẩn để đánh giá mức độ thành công của công
cuộc đổi mới, đồng thời là kim chỉ nam để điều chỉnh các chương trình, kế hoạch phát triển
kinh tế hội trong từng giai đoạn. Với tính chất bao trùm, đặc trưng này hội tụ đầy đủ
các giá trị cốt lõi của chủ nghĩa hội Việt Nam và phản ánh khát vọng xây dựng một xã
hội phồn vinh, hạnh phúc cho mọi người.
2.1.2. Đặc trưng về Chính trị
a. Đặc trưng 2: Do nhân dân làm chủ ề bản chất chính trị của chế độ)(V
Đặc trưng này biểu hiện một trong những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội tại
Việt Nam: quyền lực tối cao thuộc về nhân dân. Theo quan điểm của Cương lĩnh 2011,
nhân dân không chỉ là đối tượng của chính quyền mà là chủ thể chủ động, quyết định trong
mọi lĩnh vực của đời sống chính trị – hội. Khái niệm “nhân dân làm chủ” được hiểu theo
nghĩa rộng: toàn dân, mọi công dân đều có quyền tham gia vào các quyết định quan trọng
thông qua cơ chế dân chủ xã hội chủ nghĩa như bầu cử, giám sát, phản biện, quản lý xã hội.
Đây sự mở rộng so với Cương lĩnh 1991, vốn đề cập nhiều hơn đến “nhân dân lao động”:
việc chuyển sang dùng cụm từ “nhân dân” khẳng định mọi công dân, không phân biệt tầng
lớp, đều có quyền làm chủ, và điều này rất phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội
hiện đại. Thực tiễn hiện nay cũng cho thấy tầm quan trọng của nguyên tắc này: nhân dân
được tham gia giám sát qua M c hặt tr i biận Tổ quốc, qua đạ ểu Quố ội, Hộ ồng nhân dân; i đ
các chế dân chủ hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố để đảm bảo tiếng nói của
nhân dân không chỉ là hình thức mà thực chất, là cơ sở để ra quyết định và kiểm soát quyền
lực. Việc “do nhân dân làm chủ” vừa bảo đảm tính dân chủ của nhà ớc XHCN, vừa
nền tảng chính trị để ớng tới một hội ng bằng, nơi mọi người hội tham gia,
chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi trong xây dựng nhà nước và xã hội.
10
b. Đặc trưng 7: Nhà nước pháp quyền xã hộ ủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì i ch
nhân dân, do Đả ản lãnh đạo.ng C ng s
Đặc trưng này là điểm nổi bật trong Cương lĩnh 2011, thhiện sự phát triển về mặt
tổ ức quyền lực nhà ớc. “Nhà nước pháp quyền” đây được hiểu nhà nước vch n
hành trên cơ s ến pháp và pháp luật, không thể tùy tiện sử dụng quyền lự mà phảHi c i
phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Quyền lực nhà nước thực sự là “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”: đó là cách thức
tổ c để quyền làm chủ của nhân dân đưc thực thi qua các thiết chế pháp lý, để nhch à
nước phục vụ lợi ích chung của nhân dân, chịu trách nhiệm giải trình với nhân dân.
Nhưng không chỉ vậy, ơng lĩnh 2011 còn khẳng định nhà ớc này phải được xây
dựng “dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Sự lãnh đạo của Đảng trong nhà
nước pháp quyền không mang nghĩa áp đặt quyền lực nhân, là định hướng chiến
lược — Đảng đưa ra đường lối, chính sách, chiến lược phát triển, từ đó nhà nước xây dựng
các cơ chế pháp luật thiết chế ực thi đhiện thực hoá các mục tiêu hội chủ nghĩth a.
Đồng thời, nhà nước pháp quyền đó phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ: Đảng không thể hành
động tùy tiện mà phải thông qua thiết chế pháp luật, và nhân dân cũng có cơ chế giám sát
quyền lực nhà nước qua các kênh dân chủ và pháp quyền.
c. Ý nghĩa mối liên hệ giữa hai đặc trưng
Mối quan hệ giữa “do nhân dân làm chủ” “Nhà ớc pháp quyền XHCN do
nhân dân, nhân dân, do Đảng lãnh đạo” mối quan hệ biện chứng, bổ sung thống
nhất, phản ánh bản chất chính trị độc đáo của chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Quyền làm chủ
của nhân dân (đặc trưng 2) là nguồn gốc quyền lực — nếu nhân dân không làm chủ, quyền
lực nhà nước mất đi nh đại diện thực sự, và nhà ớc dễ thành công cụ quyền lựtr c
trống rỗng hoặc bị lạm dụng. Ngược lại, Nhà nước pháp quyền (đặc trưng 7) là cơ chế để
biến quyền làm chủ của nhân dân thành quyền lực thực thi: quyền lực đó được vận hành
theo luật, được kiểm soát, hướng tới phục vụ nhân dân. Sự lãnh đạo của Đảng đây
đóng vai trò cầu nối chiến lược: Đảng định hướng phát triển hội chủ nghĩa, nhưng
phương tiện thực hiện — đó là nhà nước pháp quyền — vẫn phải gắn chặt với dân chủ
giám sát của nhân dân. Khi nhân dân thực sự làm chủ, và nhà nướ ực thi quyền lực th c một
cách minh bạch, pháp quyền, dưới sự lãnh đạo đúng ớng của Đảng, thì hệ ống chính th
trị của Vit Nam vừa bảo đảm kỷ cương, trách nhiệm, vừa phát huy sức mạnh nhân dân để
phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2.1.3. Đặc trưng về Kinh tế
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội (bổ
sung, phát triển năm 2011), Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định một hệ ống đặc trưng th
phản ánh mục tiêu, bản chất con đường phát triển của hội hội chủ nghĩa nước
ta. Trong đó, đặc trưng 3 nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện
11
đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp” giữ vị trí nền tảng, bởi phát triển kinh tế là điều
kiện vật chất quyết định để thực hiện những mục tiêu xã hội cao đẹp của chủ nghĩa xã hội.
Đặc trưng này không chkế ừa luận Mác Lênin tưởng Hồ Chí Minh, còn th
th thể hiện sự vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ ể của Việt Nam.
Trước hết, Cương lĩnh khẳng định chủ nghĩa xã hộ ệt Nam là mi Vi t xã h i có n ền
kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù
hợp. Đây là đặc trưng cốt lõi, làm cơ sở cho mọi đặc trưng kinh tế khác. Nội dung này nhấn
mạnh sự kết hợp biện chứng giữa hai yếu tố trung tâm của phương thức sản xuất: lực lượng
sản xuất (LLSX) quan hsản xuất (QHSX). LLSX hiện đại được hiểu trình độ phát
tri thuển cao của khoa họ – công nghệ, năng suất lao động sở hạ tầng kỹ c ật. Trong
điều kiện mới, Việt Nam chủ trương thúc đẩy công nghiệp hóa – hiện đại hóa gắn với kinh
tế tri thức, chuyển đổi số và các thành tựu của Cách mạng công nghiệp 4.0. Một lự ợng c lư
sản xuất hiện đại không chỉ dựa trên công nghệ tiên tiến, mà còn đòi hỏi đội ngũ lao động
chất lư i mợng cao, quản trị khoa học, đổ ới sáng tạo và phát triển bền vững.
Gắn liền với đó, quan hệ sản xuất phải tiến bphù hợp với sự phát triển của lực
lượng sản xuất. Đây là yêu cầu có tính quy luật: QHSX không thể đi trước hoặc lạc hậu so
với LLSX, mà phải được điều chỉnh linh hoạ ẩy phát triển kinh tế. Do vậy, trong t đ thúc đ
thời kỳ quá độ, Việt Nam xây dựng một hình quan hsản xuất đặc thù kinh tế th
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó tồn tại nhiều hình thứ hữu: sở hữu toàn c s
dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu hỗn hợp. Kinh tế tư nhân, kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài và các thành phần kinh tế khác được thừa nhận là bộ phận cấu
thành quan trọng của nền kinh tế, cùng phát triển bình đẳng trong khuôn khpháp luật.
Trong khi đó, sở hữu công cộng đóng vai trò chủ đạo trong những ngành, lĩnh vực then
chốt, bảo đảm công cụ điều tiết nền kinh tế, giữ vững ổn định và bảo đảm định hướng
xã hộ ủ nghĩa.i ch
Vi ếc k t h i v i QHSX tiợp LLSX hiện đạ ến bộ, phù hợp cho thấy mô hình phát triển
kinh tế của Việt Nam không phải bản sao của bất kỳ hình nào trước đây. Đó
hình mở, linh hoạt, hiện đại và phù hợp với quy luật khách quan. Sự kế ợp này tạo động t h
lực mạnh mẽ cho tăng trưởng, đồng thời hạn chế những mặt trái của thị ờng, hướng ttrư i
mục tiêu phát triển bền vững và bao trùm.
Bên cạnh đặc trưng trên, Cương lĩnh còn nhấn mạnh vai trò của chế độ công hữu về
những tư liệu sản xuất chủ yếu, coi đây là trụ cộ ế của CNXH. Tuy nhiên, công hữu t kinh t
không được hiể ột cách cứng nhắc như trong mô hình bao cấp trước đây. Thay vào đó, u m
sở hữu công cộng với hai hình thức chính sở hữu toàn dân sở hữu tập thể giữ vị
trí quyết định trong các ngành, lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược như năng lượng, hạ tầng, tài
chính, viễn thông, tài nguyên thiên nhiên… Nhiệm vụ của kinh tế nhà nước không phải là
12
bao cấp hay bao trùm m ộng kinh tế, mà là giữ vai trò dẫn d ều tiế ạo nền i ho t đ t, đi t và t
tảng cho sự ổn định và phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế.
Ngoài ra, việc lựa chọn kinh tế ờng định hướng xã hội chủ nghĩa làm mô hình th trư
kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ. Đây sự sáng tạo lớn của Đảng ta, thể hiện nhận
th th trưức đầy đủ về tính quy luật của phát triển kinh tế hội. Kinh tế ờng được vận
hành theo đúng quy luật cung cầu, giá trị, cạnh tranh…, nhưng squản của N
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và sự giám sát của nhân dân. Chính “định hướng xã hội
chủ nghĩa” giúp nền kinh tế th trư ờng ở Việt Nam khác với các mô hình tư bản ủ nghĩa: ch
phát triển gắn liền với mục tiêu công bằng, tiến bộ, bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh xã
hội và nâng cao chất lượng cuộ ống của nhân dân.c s
Cuối cùng, toàn bộ các đặc trưng kinh tế của chủ nghĩa hội đều ớng đến mục
tiêu nâng cao đ i s t ch m nh ống vậ ất và tinh thần của nhân dân. Đây là đi ất quán trong tư
tưởng Hồ Chí Minh và trong toàn bộ đường lố ảng. Phát triển kinh tế không phải vì i của Đ
lợi ích riêng của một nhóm người mà vì hạnh phúc của toàn dân. Tăng trưởng phải gắn liền
với công bằng, giảm nghèo, mrộng phúc lợi hội tạo điều kiện để mọi người n
đều được phát triển toàn diện.
Tóm lại, đặc trưng kinh tế của chủ nghĩa hội theo ơng lĩnh 2011 thhiện một
nhận thức khoa học, hiện đại và tính thực tiễn cao. Sự kết hợp giữa lực lượng sản xuất
hiện đại quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; vai trò chủ đạo của sở hữu công; cùng với
hình kinh tế ờng định ớng hội chủ nghĩa con đường Việt Nam lựth trư a
chọn để xây dựng một nền kinh tế phát triển bền vững, hiệu quả mang tính nhân văn.
Đây sở quan trọng để từng bước hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, ớc mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh.
2.1.4. Đặc trưng về Văn hóa - Xã hội và Con người
a. Đặc trưng 4: Có nền văn hoá tiên tiế ản sắc dân tộcn, đậm đà b
Trong hệ thống tám đặc trưng của xã hội xã hội chnghĩa được nêu trong ơng lĩnh
xây dựng đất ớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội (bổ sung, phát triển năm
2011), nhóm đặc trưng về văn hóa - xã hội và con người giữ vị trí trung tâm vì phản ánh
nhất mục tiêu nhân văn của con đường phát triển Đảng nhân dân Việt Nam đã lựa
chọn. Hai đặc trưng gồm “có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” “con người
cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; điều kiện phát triển toàn diện” tạo thành một
chỉnh thể ống nhất, b và soi chiếu lẫn nhau. Văn hóa định hình nền tảng tinh thần và th tr
bản sắc cộng đồng, còn con người chủ thể sáng tạo văn hóa và hưởng thụ văn hóa; ngược
lại, chất lượng đời sống con người cũng thước đo cho sự phát triển văn hóa hội.
Việc phân tích từng đặc trưng đòi hỏi phải nhìn nhận chúng trong mối quan hệ tương tác
biện chứng, đồng thời gắn với định hướng tổng thể của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam.
13
Đặc trưng về văn hóa, đượ ữ nguyên từ Cương lĩnh năm 1991, cho thấy tầm quan c gi
trọng đặc biệt của lĩnh vực này trong chiến lược phát triển đất nước. Việc mô tả văn hóa
hội chủ nghĩa “tiên tiến, đậm đà bản sắcn tộc” hàm chứa hai nội dung lớn. Tiên tiến
không chỉ hàm nghĩa hiện đại hóa, tiếp thu tinh hoa nhân loại hay hướng tới giá trị - chân
thiện - mỹ, còn bao gồm yêu cầu xây dựng một hệ giá trphù hợp với mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, n chủ, công bằng, văn minh. Tiên tiến vì thế không đơn thuần hiện
đại, mà phải hướng đến tiến bộ xã hội và sự phát triển bền vững. Trong khi đó, bản sắc dân
tộc khẳng định sự ếp nối lịch sử, gìn giữ những giá trị ền thống, bồi đắp ý thức cộng ti truy
đồng củng c quyền văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa. Hai yếu tố tiên tiến ch
bản sắc không đối lập, mà bổ sung cho nhau: sự hiện đại hóa dựa trên gố ễ truyền thống c r
giúp văn hóa Việt Nam phát triển năng động không bhòa tan; bản sắc dân tộc được
nuôi dưỡng trong điều kiện hộ ập sẽ ở nên có sứ ống và ảnh hưởng rộng lớn hơn.i nh tr c s
Từ góc độ mục tiêu, đặc trưng văn hóa thể hiện khát vọng xây dựng nền tảng tinh
thần vững chắc cho hội, qua đó tạo ra môi trường thuận lợi để phát triển các lĩnh vực
khác. Trong mọi hình phát triển, văn hóa luôn đóng vai trò “sức mạnh mềm”, hệ
thống giá trị định hướng hành động của con người. Bởi vậy, xây dựng nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc không chỉ là bảo tồn di sản hay mở rộng không gian sáng tạo,
mà còn là quá trình hình thành hệ giá trị mới của con người Việt Nam thời kỳ đổi mới: yêu
nước, nhân ái, cần cù, sáng tạo, trung thực, trách nhiệmkhát vọng phát triển đất nước.
Nền văn hóa ấy trở thành lực lượng nội sinh quan trọng góp phần nâng cao năng lực cạnh
tranh quốc gia, gắn kết cộng đồng và thúc đẩy phát triển bền vững.
b. Đặc trưng 5: Con người cuộc s ấm no, tự do, hạnh phúc, điều kiện phát ng
triển toàn diện.
Liên quan mật thiế ới đặc trưng văn hóa là đặc trưng về ời, đượt v con ngư c làm rõ và
nhấn mạnh hơn trong Cương lĩnh 2011 bằng việc bổ sung cụm từ “có điều kiện phát triển
toàn diện”. Sự bổ sung này cho thấy nhận thức về vai trò con người trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội ngày càng đầy đủ u sắc. Con người không chỉ quyền được
hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc mà còn phải có điều kiện phát triển toàn diện về
trí tuệ, đạo đức, thể ất, tinh thần năng lực sáng tạo. Mục tiêu phát triển toàn diện” ch
đánh dấu sự ển dịch từ tư duy coi con người là đối tượng của chính sách sang coi con chuy
người là chủ của sự phát triển. Đây là bư ến quan trọng trong chiến lược phát triển th c ti
đất nước, bởi không nguồn lực nào lớn hơn nguồn lực con người, và không có sphát
triển nào bền vững nếu con người không được đặ ở vị trí trung tâm.t
Nội hàm của đặc trưng này bao gồm hai phương diện. Thứ nhất bảo đảm những
điều kiện vật chất tối thiểu để con người cuộc sống ấm no an sinh hội được bảo
đảm. Đi t c i ch i ều này phản ánh tính ưu việ ủa mô hình phát triển xã hộ ủ nghĩa, lấy phúc lợ
con người làm trọng tâm. Thứ hai là tạo lập môi trườnghộ - văn hóa lành mạnh, công i
14
bằng, dân chủ, nơi mỗi nhân hội phát huy năng lực, phấn đấu theo đuổi ước
và đóng góp cho cộng đồng. Việ ấn mạnh “tự do, hạnh phúc” cho thấy mục nh c tiêu không
chỉ ải thiện đ ống vậ ất, mà còn nâng cao chất lượng cuộ ống tinh thần và mứlà c i s t ch c s c
độ hài lòng xã hội.
c. mố liên hệ giữa Ý nghĩa i hai đặc trưng
Khi nhìn hai đặc trưng này trong mối quan hệ gắn bó, có thể thấy văn hóa vừa là nền
tảng vừa động lực giúp con người phát triển toàn diện; đồng thời, chính sự phát triển
toàn diện của con người lại trở thành tiền đề để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc. Một nền văn hóa lành mạnh giúp hình thành nhân cách, đạo đức thị hiếu
th luẩm mỹ; thúc đẩy tinh thần sáng tạo, ý thức kỷ ật và tinh thần trách nhiệm của mỗi
nhân. Ngược lại, những con người tri thức, sức khỏe, kỹ năng tưởng sẽ
là lực lượng trực tiếp sáng tạo và lan tỏa các giá trị văn hóa. Sự tương hỗ này chứng minh
rằng phát triển văn hóa và phát triển con ngườ ống nhất, không thể tách i là hai quá trình th
rời trong chi i ến lược xây dựng chủ nghĩa xã hộ Việt Nam.
Đặc trưng văn hóa định hướng việc gìn giữ bản sắc, tiếp thu tinh hoa nhân loại, xây
dựng hệ giá trị hiện đại; đặc trưng con người khẳng định mục tiêu đem lại hạnh phúc, tạo
cơ hộ ển và phát huy vai trò chủ ể củ ếu đặc trưng văn hóa nhấn i phát tri th a mỗi cá nhân. N
mạnh các giá trị tinh thần, bản sắc và sứ ạnh mềm của dân tộc, thì đặc trưng con ngưc m i
tập trung vào chất lượng cuộc sống, quyền được phát triển vai trò sáng tạo của con
người. Kết hợp lại, cả hai đặc trưng đều hướng đến xây dựng một hội hiện đại nhưng
thấm đượm truyền thống, giàu bản sắc nhưng cởi mở hội nhập, lấy con người làm trung
tâm và coi s i là thư t c ến bộ, hạnh phúc củti a con ngườ ớc đo cao nhấ ủa sự phát triển.
Việc liên kết hai đặc trưng này cũng cho thấy tầm nhìn chiến lược của Đảng về
hình xã hội chủ nghĩa Việt Nam: một xã hội trong đó văn hóa không bị đặt bên lề của tăng
trưởng kinh tế, trở thành trụ cột quan trọng ngang hàng với kinh tế - chính trị; một
hội nơi con người không chỉ là nguồn lực của phát triển, mà còn là mục tiêu cuối cùng của
sự phát triển ấy. Đây nền tảng để xây dựng chủ nghĩa hội mang đặc sắc Việt Nam,
phù hợp vớ ều kiện l ử và văn hóa của dân tội đi ch s c.
2.1.5. Đặc trưng về Quan hệ dân tộc và Quan hệ quốc tế
a, Đặc trưng 6: Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng
và giúp nhau cùng phát triển.
Đặc trưng này là sự khẳng định một trong những nguyên tắc cốt lõi, thể hiện tính ưu
việt trong chính sách dân tộc, giải quyết đúng đắn, hài hòa các quan hệ dân tộc (theo nghĩa
hẹp là quan hệ giữa các tộc người) trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam. Đây là yếu tố quyết
định tạo nên sự ổn định chính trị và đồng thuận xã hội.
Tính ưu việt không chỉ dừng lạ nguyên tắc tuyên bố sự bình đẳng, được hiệi n
thực hóa qua các cơ chế cụ thể và nhân văn. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước tập
15
trung vào các chương trình đầu trọng điểm, ưu tiên nguồn lực cho các vùng sâu, vùng
xa nhằm thực hiện mục tiêu “giúp nhau cùng phát triển” rút ngắn khoảng cách giàu
nghèo. Bảo tồn phát huy văn hóa dân tộc, coi văn a của các n tộc tài sản quốc
gia. Việc tôn trọng hỗ bảo tồn ngôn ngữ, phong tục, tập quán không chỉ nhân tr
quyền mà còn là cách thức để củng cố bản sắc, chống lại nguy cơ bị đồng hóa, từ đó củng
cố sự gắn trong khối đại đoàn kết. Bên cạnh đó, Đảng Nhà ớc tích cực đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số để họ thể c tiếp quản lãnh đạo tạtr i
địa phương, đả ảo quyền làm chủ và tính đạ ện của nhân dân các dân tộm b i di c.
Thực hiện 25 năm đổi mới đất nước đã và đang chứng minh tính ưu việt trong chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, chứng minh tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trong
giải quyết các quan hệ dân tộc Việt Nam. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhất quán thực
hiện chính sách dân tộc nhằm đảm bảo sự bình đẳng, tương trợ giữa 54 dân tộc anh em.
Các chính sách đầu phát triển vùng sâu, vùng xa, bảo tồn n hóa và xóa đói giảm nghèo
đã củng cố vững chắc truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính sự đoàn kế đồng t,
thuận này đã tạo ra một bức tường thành kiên cố, giúp đất nước chống lại âm mưu chia rẽ
dân tộc của các thế lực thù địch, bảo đảm an ninh phát huy tối đa mọi nguồn lực sáng
tạo trong xã hộ ạnh tổng hợp từ khối đạ ết này chính là nguồn nội lựi. Sức m i đoàn k c quan
tr i.ọng nhất để ệt Nam tự tin vươn ra thế giớVi
b, Đặc trưng 8: Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng không chỉ thể hiện tính ưu việt trong
các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, hội n thể hiện trong quan hệ đối ngoại,
chính sách đ a Đối ngo i c ảng và Nhà nước ta.
Việt Nam luôn luôn khẳng định quan hhữu nghị và hợp tác bình đẳng giữa nhân dân
ta nhân dân các nước trên thế giới. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong
cộng đồng quốc tế…Đảng Nhà nước ta chtrương hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với
tất cả các ớc, không phân biệt chế độ chính trị - hội khác nhau trên sở những
nguyên tắc cơ bả ủa Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quố ế. Sự linh hoạt này n c c t
giúp Việt Nam tránh bị phụ ộc vào bất k ờng quốc nào tối ưu hóa lợi ích quốthu c
gia.
Việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tham gia tích cực vào các tổ chức, diễn đàn
quốc tế khu vực đã chứng minh một cách sinh động tính ưu việt của chủ nghĩa hội
mà nhân dân ta đang xây dựng, thể hiện trong đặc trưng về quan hệ đối ngoại của Đảng và
Nhà nước ta. Việt Nam không chỉ ếp nhận còn đóng góp tiếng nói của mình vào các ti
diễn đàn khu vực toàn cầu, thể hiện trách nhiệm vị ế của một thành viên tích cựth c,
từ đó củng ctính ưu việt của hệ ống chính trị qua hiệu quả ngoại giao. Việc chủ động, th
tích cực tham gia vào các tổ ứcdiễn đàn quốc tế ứng minh khnăng thích ứng ch ch
vị ế ngày càng cao của CNXH Việt Nam, đồng thời tạo ra một môi trường hòa bình, ổn th
16
định, thu t các nguồn lực về vốn, công nghtri thức từ bên ngoài, phục v ực tiếtr p
cho s a đự phát triển củ ất nước.
c, Ý nghĩa về mối liên hệ giữa đặc trưnghai
Sự đoàn kết và ổn định nội bộ từ Đặc trưng 6 chính là bệ phóng không thể ếu, tạo thi
nên quyền lực và tính tự ủ cho Việt Nam khi thực hiện chính sách đối ngoại. Chỉ khi nộch i
bộ vững vàng, không bchia rẽ, Việt Nam mới đủ uy tín tiềm lực đtham gia định
hình luật chơi, bảo vệ lợi ích quốc gia một cách hiệu quả và tự tin trên trường quốc tế . S
thống nhất giữa 54 dân tộc anh em là bằng chứng hùng hồn nhất về năng lực quản trị quốc
gia và sự đồng thuận xã hộ ếu tố then chố ạo nên thế và lực cho ngoại giao.i, là y t t
Ngược lại, môi trường hòa bình và các nguồn lực kinh tế thu hút từ quan hệ hữu nghị
của Đặc trưng 8 lại là chất xúc tác mạnh mẽ cho sự phát triển nội tại, đặc biệt là ở các vùng
dân tộ ểu số. Nguồn vốn FDI và ODA thu đượ ợp tác quố ế được Chính c thi c thông qua h c t
phủ ưu tiên phân bổ đgiải quyết các vấn đề kinh tế - hộ vùng khó khăn, giúp ci i
thiện sinh kế, rút ngắn khoảng cách phát triển, từ đó củng cố lòng tin và tiếp tục phát huy
truyền thống đại đoàn kết. Hơn thế nữa, thành công ngoại giao còn giúp Việt Nam vô hiệu
hóa các luận điệu sai trái, chống lại âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù
địch. Sự đồng lòng của các dân tộc là nền tảng kiên cố, còn sự hội nhập quốc tế là đòn bẩy
chiến lược, cùng nhau kiến tạo một mô hình phát triển ưu việt, bền vững, thể hiện bản chất
nhân văn và khả năng thích ứng tuyệt vờ ủa Việ ảnh toàn cầu hóa.i c t Nam trong b i c
Sự tương hỗ giữa hai đặc trưng này tạo thành một vòng tuần hoàn nơi sự ổn định
dân tộc là yếu tố quyết định tạo nên nền tảng kinh tế và đòn bẩy chính trị cho hợp tác quốc
tế. Các tổ ức tài chính và nhà đầu ớc ngoài chỉ sẵn lòng cam kết dài hạn khi nhìn ch
thấy sự ổn định xã hội và đồng lòng dân tộ ệt Nam. Đồng thời, thành công và nguc Vi n
lực từ hợp tác quốc tế lại được tái đầu đgiải quyết triệt để các thách thức phát triển,
củng cố sự đoàn kết và phúc lợi cho các dân tộc thiểu số. Quá trình này không chỉ củng cố
thêm tính nhân văn của Chủ nghĩa hội còn cung cấp bằng chứng thực tiễn về khả
năng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn thể dân tộc ợt qua mọi khó khăn, khẳng
định tính ưu việt khả năng thích ứng tuyệt vời của hình hội Việt Nam đang
theo đu i cổi trong bố ảnh toàn cầu hóa.
2.2. Phân tích những bổ sung và phát triển so với Cương lĩnh 1991
Thứ nhất, so với Cương lĩnh 1991, Cương lĩnh 2011 đã bổ sung hai đặc trưng mới:
“1. Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” “2. Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng Sản lãnh đạo”.
Song, trong đặc trưng thnhất của Cương lĩnh 2011, tiêu chí dân chđược đặt trước tiêu
chí công bằng. Thực tiễn cho thấy, nước ta hiện nay, dân chủ và việc thực hiện dân chủ giữ
vị trí vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống hội. Dân chủ không những mục
tiêu, mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội theo ớng phát triển nhanh
17
bền vững. Khi n chủ được bảo đảm mới có thể nói đến công bằng lớn mạnh, những
điều đó mới thể hiện sự văn minh. Việc bổ sung đặc trưng ''có Nhà nước pháp quyền
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản'' thể ện vị trí đặc biệt quan trọng của Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa trong hi
hệ ống chính trị của Việt Nam. Nhà nướ ấy thuộc về nhân dân, do nhân dân xây dựng th c
nên và hướng tới phục vụ lợi ích của nhân dân, cơ quan quyền lực của nhân dân, do nhân
dân, nhân dân. Mục tiêu căn bản của công cuộc đổi mới i chung, của đổi mới chính
tr thị và đổi mới hệ ống chính trị nói riêng ở ớc ta chính là xây dựng nền dân chủ xã hộ i
chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Việc xây dựng nhà nước pháp quyền
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là một trong những điều kiện tiên
quyết để thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Thứ hai, nếu Cương lĩnh năm 1991 xác định hội hội chủ nghĩa hội ''do
nhân dân lao động làm chủ'' thì trong Cương lĩnh 2011, đặc trưng thứ hai được điều chỉnh
thành ''do nhân dân làm chủ''. ràng, khái niệm ''nhân dân” trong Cương lĩnh 2011 có nội
hàm rộng hơn so với khái niệm ''nhân dân lao động'' được đề cập trong Cương lĩnh năm
1991. Điều này cho phép thực hiện khối đại đoàn kết toàn dân tộc huy động sức mạnh
của toàn dân vào snghiệp xây dựng phát triển đất nước theo định hướng hội chủ
nghĩa.
Thứ ba, đặc trưng th2 trong Cương lĩnh m 1991 ''Có một nền kinh tế phát triển
cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại chế độ công hữu về các liệu sản xuất chủ
yếu'' được Cương lĩnh 2011 bổ sung bằng ''Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực ợng
sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp''. ều này là cần thiết và đúng đắn. Đi
Bởi lẽ, theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quy luật về mối quan hệ biện chứng
giữa lực ợng sản xuất quan hệ sản xuất xương sống của mọi hình thái kinh tế -
hội. Quan hệ sở hữu chế độ công hữu không đồng nhất với quan hệ sản xuất. Dù đóng vai
trò hết sức quan trọng, song quan hệ sở hữu cũng chỉ một trong 3 yếu tố (quan hsở
hữu, quan hệ ản quan hệ phân phối) cấu thành quan hệ sản xuất. Cũng cần lưu ý qu
rằng, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra một trong những bài học quan
trọng về sự phù hợp c ệ sản xuấ ới trình độ phát triển củ ợng sản xuấa quan h t v a l c lư t.
Thứ tư, cụm từ ải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công” trong đặc trưng thứ ''được gi
tư của ơng lĩnh 1991, được Cương lĩnh 2011 ợc bỏ xác định ''Con người có cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Đây là điều hợp lý. Bởi
lẽ, sự ấm no, tự do, hạnh phúc'' của con người cũng đã bao hàm ý nghĩa được giải phóng ''
khỏi áp b t công.ức, bóc lột và bấ
Thứ năm, trong Cương lĩnh năm 2011 xác định ''con người... có điều kiện phát triển
toàn diện'' (trong Cương lĩnh 1991 viết: “Con người... có điều kiện phát triển toàn diện cá
nhân”). Việc bổ sung cụm từ ''có điều kiện” chính xác thể hiện trong chủ nghĩa hội
18
sự phát triển của con người luôn được tạo điều kiện, đồng thời phải căn cvào trình độ
phát triển kinh tế - xã h ện tại c t nưủa đấ ớc ta hi i.
Thứ sáu, trong đặc trưng thứ 5 của Cương lĩnh năm 1991 viết ''Các dân tộc trong
nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ”. Trong Cương lĩnh m 2011,
đặc trưng này được điều chỉnh thành ''Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng,
đoàn kết, n trọng giúp nhau cùng phát triển''. Việc thay thuật ng''tương trợ'' bằng
thuật ngữ ''tôn trọng'' hoàn toàn đúng đắn và làm cho đặc trưng này có nội dung toàn diện
hơn (với 4 tiêu chí: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau).
Thứ bảy, nếu Cương lĩnh 1991 xác định đặc trưng thứ 6 của chủ nghĩa hộ i Việt
Nam “Có quan hệ hữu nghị hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới'' thì
trong trong Cương lĩnh 2011, nó được diễn đạt một cách chính xác hơn - ''Có quan hệ hữu
nghị hợp tác với c nước trên thế giới''. Cụm từ ''với các ớc trên thế giới'' ràng
rộng hơn cụm từ ''với nhân dân tất cả các nước trên thế giới''. Nó thể hiện mối quan hệ hữu
nghị hợp tác của Việt Nam không chỉ với nhân dân các nước, cùng với nhà nước,
chính ph c phi chính ph c trên thủ và các tổ ch ủ của các nư ế giới.
Như vậy, Tviệc phân tích các điểm bổ sung, phát triển thể khẳng định Cương
lĩnh 2011 một bước tiến vượt bậc về tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những
thay đổi này không đơn thuần sự điều chỉnh câu chữ, kết quả của một qtrình
tổng kết sâu sắc 20 năm thự ện Cương lĩnh 1991 và 25 năm Đổi mớc hi i.
Những bổ sung này thể hiện sự kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa nhưng đồng thời
cũng rất sáng tạo và bám sát thực tiễn. Sự kiên định được thể hiện rõ nhất qua việc bổ sung
hai đặc trưng mới , khẳng định mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh" và vai trò cốt lõi của "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa... do Đảng lãnh đạo".
Song song đó, sự sáng tạo và bám sát thực tiễn được thể hiện qua tư duy kinh tế ực tiễn th
hơn khi thay "chế độ công hữu" bằng "quan hsản xuất tiến bộ phù hợp" (điểm thứ ba);
việc mở rộng nền tảng đại đoàn kết khi thay "nhân dân lao động" bằng "nhân dân" (đim
thứ hai); và việc đặt ra mục tiêu phát triển con người thực tế hơn, gắ ới "điều kiện" củn v a
đấ t nư c (điểm thứ năm).
Những phát triển này cũng làm cho mô hình chủ nghĩa xã hộ ệt Nam trở nên i Vi
ràng, đầy đủ phù hợp hơn với thực tiễn đất ớc thời đại. hình đã ràng hơn
khi chỉ ra mục tiêu (dân chủ, công bằng) công cụ (Nhà nước pháp quyền), đồng thời
làm rõ phương châm "dân chủ"động lực phát triển (điểm thứ nhất). Mô hình đầy đủ hơn
khi bao quát toàn diện các mặt đời sống, từ việc thêm chữ "tôn trọng" trong quan hdân
tộc (điểm thứ sáu) đến việc mở rộng chủ đối ngoại sang "các nước" (điểm thứ bảy). th
Cuối cùng, hình cũng phù hợp hơn với bối cảnh mới khi ng mục tiêu tích cực "ấm
no, tự do, hạnh phúc" thay cho ngôn ng ời kỳ ứ tư).th trước (điểm th
19
CHƯƠNG III. ĐÁNH GIÁ VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN
3.1. Đánh giá
a. Khẳng định tính đúng đắn, khoa học và cách mạng
Sản phẩm của tư duy biện chứng và tầm nhìn chiến lược
Cương lĩnh 2011 đánh dấu bước chuyển từ duy chủ quan, duy ý chí sang duy
biện chứng khoa học, tôn trọng tuyệt đối chủ nghĩa Mác – Lênin, thể hiện rõ qua việc xác
định lại quan hệ sản xuất không còn đồng nhất học “chế độ công hữu” với bản chất
hội chủ nghĩa coi đó là “quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”; đồng thời thể hiện tầm nhìn
chiến lược khi kiến tạo công cụ kiểm soát quyền lực bằng mô hình “Nhà nước pháp quyền
XHCN”, chuyển từ việ ỉ nêu bản chất giai cấp như Cương lĩnh 1991 sang xây dựng cơ c ch
chế vận hành quyền lực dựa trên Hiến pháp và pháp luật, qua đó thiết lập thế cân bằng giữa
Đảng lãnh đạo – Nhà nướ ản lý – Nhân dân làm chủ.c qu
Cương lĩnh thể hiện sự nhất quán và tính kế thừa
Sự điều chỉnh từ "nhân dân lao động" sang "nhân dân" hay việ ếu tố "dân chủc đặt y "
lên trước "công bằng" không phải sự phủ ận quá khứ, sự kế a nâng tầnh th m
duy luận. khẳng định quan điểm nhất quán vđại đoàn kết toàn dân tộc nhận
thức sâu sắc rằng dân chủ chính là tiền đề, động lực bắt buộc để ến tạo sự công bằng ki
th t.ực chấ
b. Kh p vẳng định sự phù hợ ới thực tiễn Việt Nam
Cương lĩnh phù hợp vớ ật khách quan của thờ ỳ quá đội quy lu i k
Việc xác định quan hệ sản xuất phải “phù hợp” với trình độ lực lượng sản xuất, thay
vì đi trước mở đường, thể hiện sự vận dụng đúng quy luật khách quan trong xây dựng kinh
tế, góp phần gỡ bỏ những rào cản kìm hãm và giải phóng nguồn lực xã hội sau 25 năm đổi
mới; đồng thời, sự chuyển đổi tư duy đối ngoại từ quan hệ với “nhân dân các ớc” sang
hợp tác với “các nước” cho thấy bước điều chỉnh linh hoạt của Đảng trước yêu cầu hội
nhập, qua đó tạo điều kiện để ệt Nam tiếp cận tận dụng hiệu quả các nguồn lực bên Vi
ngoài phục vụ phát triển đất nước.
Cương lĩnh đáp ứng trúng khát vọng của nhân dân
Thay vì đặt ra những mục tiêu trừu tượng, Cương lĩnh 2011 tập trung vào các giá trị
nhân văn thiết thực người dân mong muốn nhất như “ấm no, tự do, hạnh phúc”,
đồng thời khẳng định quan điểm con người “điều kiện phát triển toàn diện”, thể hiện
cách tiếp cận sòng phẳng và thực tế khi quyền lợ ời dân không dừng ở lờ ứa mà i của ngư i h
đượ ể.c bảo đảm bằng các điều kiện kinh tế – xã hộ i c th
Thực ti ch sễn lị ử đã kiể ứng tính đúng đắn của Cương lĩnhm ch
Sự ổn định chính trphát triển kinh tế hội những năm qua minh chứng cho
việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực và việc thực thi dân chủ

Preview text:


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
VIỆN KINH DOANH QUỐC TẾ VÀ LOGISTICS
----------
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
PHÂN TÍCH ĐẶC TRƯNG XHCN ĐƯỢC ĐỀ RA TẠI CƯƠNG LĨNH XÂY
DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH (BỔ SUNG,
PHÁT TRIỂN NĂM 2011)
Giảng viên : Nguyễn Ngọc Diệp
Lớp học phần : 251_HCMI0131_05 Nhóm : 6
HÀ NỘI – 2025
MC LC
LỜI CẢM ƠN ..................................................................................................................... 2
LỜI MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 3
CHƯƠNG I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA CỦA CƯƠNG LĨNH XÂY
DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH (BỔ SUNG, PHÁT
TRIỂN NĂM 2011) ............................................................................................................ 4
1.1 Bối cảnh lịch sử ......................................................................................................... 4
1.1.1. Bối cảnh quốc tế ............................................................................................................ 4
1.1.2. Bối cảnh trong nước ...................................................................................................... 4
1.2. Ý nghĩa của Cương lĩnh .......................................................................................... 5
1.2.1. Ý nghĩa về mặt tổng kết thực tiễn và phát triển đường lối đổi mới ............................... 6
1.2.2. Ý nghĩa về mặt lý luận ................................................................................................... 6
1.2.3. Ý nghĩa về mặt thực tiễn ................................................................................................ 7
CHƯƠNG II. PHÂN TÍCH ĐẶC TRƯNG XHCN ĐƯỢC ĐỀ RA TẠI CƯƠNG
LĨNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH (BỔ
SUNG, PHÁT TRIỂN NĂM 2011) ................................................................................... 8
2.1. Phân tích từng đặc trưng XHCN của Cương lĩnh ............................................... 8
2.1.1. Đặc trưng 1: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. ........................... 8
2.1.2. Đặc trưng về Chính trị .................................................................................................. 9
2.1.3. Đặc trưng về Kinh tế ................................................................................................... 10
2.1.4. Đặc trưng về Văn hóa - Xã hội và Con người ............................................................. 12
2.1.5. Đặc trưng về Quan hệ dân tộc và Quan hệ quốc tế .................................................... 14
2.2. Phân tích những bổ sung và phát triển so với Cương lĩnh 1991 ....................... 16
CHƯƠNG III. ĐÁNH GIÁ VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN ............................................. 19
3.1. Đánh giá ................................................................................................................. 19
3.2. Liên hệ thực tiễn .................................................................................................... 20
3.2.1. Dẫn chứng từ thực tiễn phát triển đất nước sau hơn 10 năm thực hiện Cương lĩnh
2011 ....................................................................................................................................... 20
3.2.2. Liên hệ trách nhiệm của sinh viên, thanh niên ngày nay ............................................ 21
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................... 23
BIÊN BẢN HỌP NHÓM ................................................................................................. 25
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 6 ........................................................................ 26 1 LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài luận này, trước hết, chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành
đến cô Nguyễn Ngọc Diệp. Sự hướng dẫn tận tình, những ý kiến đóng góp sâu sắc của Cô
là nguồn động lực to lớn, giúp nhóm chúng em vượt qua những khó khăn và hoàn thiện bài
nghiên cứu một cách tốt nhất.
Không thể không nhắc đến sự hỗ trợ từ Phòng Đào tạo, Viện Kinh doanh Quốc tế và
Logistics và Thư viện Trường Đại học Thương mại đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất và
tài liệu học tập, nghiên cứu trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Lời cuối, chúng em xin được ghi nhận sự nỗ lực, tinh thần trách nhiệm và sự đoàn
kết của tất cả các thành viên nhóm 6. Mỗi người một việc, cùng nhau hợp sức, chúng em
đã có những trải nghiệm quý giá không chỉ về kiến thức chuyên môn mà còn về kỹ năng
làm việc nhóm. Mặc dù đã dành nhiều tâm huyết, nhưng do hạn chế về thời gian và kinh
nghiệm, bài luận khó tránh khỏi những thiếu sót. Chúng em rất mong nhận được sự chỉ
bảo, góp ý từ cô và tất cả các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa, Nhóm 6 xin chân thành cảm ơn! 2 LỜI MỞ ĐẦU
Trong tiến trình phát triển của Đảng và Nhà nước, Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) là văn kiện có vai
trò đặc biệt quan trọng. Sự ra đời của Cương lĩnh không chỉ thể hiện kết quả tổng kết thực
tiễn 25 năm đổi mới, mà còn phản ánh bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng
trước những biến động to lớn của bối cảnh quốc tế và yêu cầu phát triển của đất nước. So
với Cương lĩnh năm 1991, văn kiện năm 2011 đã bổ sung và phát triển nhiều nội dung then
chốt nhằm xác định rõ mô hình chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam hướng tới, đồng thời làm
sâu sắc hơn phương hướng và mục tiêu chiến lược cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Việc nghiên cứu các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội được xác định trong Cương lĩnh
2011 giúp nhận diện đầy đủ hơn bản chất, mục tiêu và con đường phát triển mà Đảng đã
lựa chọn. Đồng thời, việc đối chiếu với Cương lĩnh 1991 cho phép nhận thấy sự kế thừa và
phát triển tư duy trong xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới. Trên cơ sở
đó, bài thảo luận tiến hành phân tích từng đặc trưng, làm rõ những điểm bổ sung, phát triển
và liên hệ thực tiễn nhằm khẳng định giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn của Cương lĩnh
trong giai đoạn hiện nay. 3
CHƯƠNG I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA CỦA CƯƠNG LĨNH XÂY
DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH (BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN NĂM 2011)
1.1 Bối cảnh lịch sử
1.1.1. Bối cảnh quốc tế
Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, tình hình thế giới và khu vực có những
biến động nhanh chóng, phức tạp và khó lường. Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này là
cuộc cách mạng khoa học - công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ với trình độ cao, thúc
đẩy sự hình thành và phát triển của nền kinh tế tri thức. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế diễn ra sâu rộng, làm tăng sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế, vừa tạo ra cơ
hội hợp tác phát triển, vừa đặt ra những thách thức gay gắt về cạnh tranh thị trường và bảo
vệ bản sắc văn hóa, chủ quyền quốc gia.
Một sự kiện có tác động sâu sắc đến cục diện thế giới trong giai đoạn này là cuộc
khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu (bắt đầu từ năm 2008). Cuộc khủng
hoảng này đã làm bộc lộ những khuyết tật vốn có và những mâu thuẫn nội tại không thể
giải quyết triệt để của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Trong khi các nước tư bản chủ nghĩa lâm
vào khó khăn, bất ổn xã hội gia tăng, thì các nước xã hội chủ nghĩa và các nước đang phát
triển, thông qua cải cách và đổi mới, vẫn duy trì được sự ổn định chính trị và tốc độ tăng
trưởng kinh tế khá. Thực tế này đã khẳng định giá trị và sức sống của chủ nghĩa xã hội,
đồng thời thúc đẩy cục diện thế giới chuyển dịch mạnh mẽ hơn theo xu hướng đa cực, đa trung tâm
Bên cạnh xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là chủ đạo, thế giới vẫn tiềm ẩn
nhiều bất ổn. Các cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, xung đột sắc tộc, tôn giáo và
hoạt động khủng bố diễn ra quyết liệt. Tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, tuy được
đánh giá là khu vực phát triển năng động nhất thế giới, nhưng môi trường an ninh - chính
trị lại có những diễn biến phức tạp. Tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển đảo – đặc biệt là
tình hình Biển Đông – bắt đầu nóng lên, cùng với sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước
lớn tại khu vực này, đã tác động trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam.
Nhìn chung, bối cảnh quốc tế vừa đem đến những thời cơ thuận lợi cho Việt Nam
trong việc mở rộng quan hệ đối ngoại, thu hút đầu tư, phát triển kinh tế tri thức, vừa đặt ra
những khó khăn và thách thức mới đối với sự kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng.
1.1.2. Bối cảnh trong nước
Đến năm 2011, cách mạng Việt Nam đứng trước một mốc thời gian có tính bước
ngoặt: trải qua 25 năm thực hiện công cuộc Đổi mới (1986 – 2011) và 20 năm thực hiện
Cương lĩnh năm 1991. Đây là khoảng thời gian đủ dài để Đảng và Nhà nước tổng kết thực 4
tiễn, kiểm chứng các luận điểm lý luận và đánh giá toàn diện con đường phát triển của đất
nước. Việt Nam từ một quốc gia lâm vào khủng hoảng kinh tế – xã hội, lạm phát kéo dài,
sản xuất trì trệ đã vươn lên trở thành một quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình.
Thành tựu nổi bật là chuyển đổi mô hình quản lý kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung
bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần thúc đẩy tăng
trưởng, mở rộng sản xuất, phát triển các thành phần kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân.
Đất nước đã thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, kém phát triển, đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân từng bước được cải thiện. Cùng với đó, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh; khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, văn hóa và
các chính sách xã hội có bước phát triển đáng kể. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường
quốc tế được nâng cao; đất nước được đánh giá là một trong những nền kinh tế phát triển
năng động tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và ổn
định chính trị được giữ vững, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển bền vững.
Tuy nhiên, thực tiễn phong phú và sinh động của 25 năm Đổi mới đã làm nảy sinh
nhiều vấn đề mới, phức tạp mà Cương lĩnh năm 1991 chưa thể dự báo hết hoặc cần được
nhận thức lại cho sâu sắc hơn.Mô hình tăng trưởng kinh tế chậm đổi mới, chất lượng tăng
trưởng còn thấp, năng suất lao động chưa cao, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn
chế. Khoảng cách giàu – nghèo giữa các vùng, miền và các nhóm xã hội có xu hướng gia
tăng; một số vấn đề xã hội như việc làm, an sinh xã hội, môi trường, đô thị hóa… đặt ra
nhiều yêu cầu cấp bách. Công tác xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách hành chính,
phòng chống tham nhũng, lãng phí còn nhiều bất cập.
Trong lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện, Đảng có lúc còn chủ quan, duy ý chí,
chậm đổi mới tư duy, thậm chí có sai lầm và thiếu sót. Các thế lực thù địch và phản động
tăng cường chống phá, xuyên tạc đường lối của Đảng và Nhà nước, thúc đẩy các hoạt động
"diễn biến hòa bình" nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa và vai trò lãnh đạo của Đảng.
1.2. Ý nghĩa của Cương lĩnh
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,
phát triển năm 2011) là một trong những văn kiện quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam
trong tiến trình đổi mới. Văn kiện này không chỉ kế thừa những tư tưởng cốt lõi của Cương
lĩnh năm 1991 mà còn phản ánh sâu sắc quá trình tổng kết 25 năm đổi mới, làm rõ mô hình
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời định hướng chiến lược cho sự phát triển của đất
nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng. Ý nghĩa của Cương lĩnh được thể hiện trên
ba phương diện: tổng kết thực tiễn và phát triển đường lối đổi mới; giá trị lý luận; và ý
nghĩa thực tiễn đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. 5
1.2.1. Ý nghĩa về mặt tổng kết thực tiễn và phát triển đường lối đổi mới
Trước hết, Cương lĩnh 2011 là kết quả của quá trình tổng kết toàn diện và sâu sắc 25
năm thực hiện đường lối đổi mới kể từ Đại hội VI (1986). Những thành tựu, hạn chế và bài
học kinh nghiệm được đúc kết trở thành cơ sở lý luận – thực tiễn cho việc hoàn thiện mô
hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Thứ nhất, Cương lĩnh khẳng định sự cần thiết phải giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa trong suốt quá trình đổi mới. Đảng nhấn mạnh sự kết hợp giữa kiên định mục tiêu
chiến lược và linh hoạt về sách lược, phù hợp với những biến động của tình hình trong
nước và thế giới. Đây là điều kiện bảo đảm tính nhất quán và bền vững của đường lối phát triển.
Thứ hai, Đảng xác định đổi mới phải toàn diện, đồng bộ và có lộ trình phù hợp. Đổi
mới cần diễn ra trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và đối ngoại,
nhằm tạo ra sự vận động hài hòa, tránh nóng vội hoặc chủ quan duy ý chí.
Thứ ba, Cương lĩnh 2011 nhấn mạnh mô hình kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Đây là bước đột phá trong tư duy
phát triển, khẳng định mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa – một đặc
trưng cơ bản và sáng tạo của Đảng.
Thứ tư, Cương lĩnh đề cao việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, coi dân chủ vừa
là mục tiêu vừa là động lực của đổi mới. Việc mở rộng dân chủ phải đi đôi với giữ vững
kỷ cương và ổn định chính trị – xã hội.
Cuối cùng, văn kiện nhấn mạnh yêu cầu phải chủ động dự báo và xử lý kịp thời các
vấn đề mới nảy sinh trong quá trình đổi mới. Điều này thể hiện nhận thức rõ ràng về tính
dài lâu, liên tục và phức tạp của quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Những bài học lớn này là nền tảng quan trọng để Đảng bổ sung và phát triển Cương
lĩnh năm 2011, làm rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện Việt Nam.
1.2.2. Ý nghĩa về mặt lý luận
Cương lĩnh 2011 là bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Văn kiện kế thừa kết quả
nghiên cứu lý luận từ Đại hội VII (1991), đặc biệt là việc khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt
Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim
chỉ nam cho hành động.”
Ý nghĩa lý luận được thể hiện ở một số phương diện:
Thứ nhất, Cương lĩnh xác lập mô hình 8 đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,
giúp định hình rõ bản chất và mục tiêu của xã hội mà Việt Nam hướng tới. 6
Thứ hai, văn kiện làm sâu sắc hơn nội dung kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, coi đây là mô hình phát triển kết hợp hài hòa giữa quy luật thị trường và vai trò quản lý của Nhà nước.
Thứ ba, Cương lĩnh hệ thống hóa 6 phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội,
góp phần cụ thể hóa đường lối cách mạng trong thời kỳ mới.
Thứ tư, Cương lĩnh khẳng định sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và tinh hoa trí tuệ nhân loại, bảo đảm tính khoa học, tính thực tiễn và phù hợp với quy luật khách quan.
Như vậy, Cương lĩnh 2011 không chỉ là văn kiện chính trị mà còn là một đóng góp
quan trọng về mặt lý luận, phản ánh sự phát triển của tư duy Đảng trong bối cảnh toàn cầu
hóa và cách mạng khoa học – công nghệ.
1.2.3. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Cương lĩnh 2011 còn mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thực tiễn lãnh đạo và
quản lý phát triển đất nước.
Thứ nhất, Cương lĩnh là kim chỉ nam cho chiến lược phát triển giai đoạn 2011–2020
và định hướng đến 2030, 2045, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạch định các chính sách kinh tế,
xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Thứ hai, văn kiện là cơ sở để hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là Hiến pháp
năm 1992 (sửa đổi). Hiến pháp đã thể chế hóa các quan điểm quan trọng của Cương lĩnh,
tạo cơ sở pháp lý cho đổi mới toàn diện.
Thứ ba, Cương lĩnh 2011 giúp tiếp tục triển khai đường lối đổi mới từ Đại hội VII
đến Đại hội XI, đồng thời tổng kết Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 1991–2000 và đặt
ra định hướng mới cho các giai đoạn tiếp theo.
Cuối cùng, Cương lĩnh có vai trò quan trọng trong việc củng cố ổn định chính trị –
xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân và đưa đất nước từng bước
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,
phát triển năm 2011) là văn kiện có ý nghĩa chiến lược sâu sắc về cả lý luận và thực tiễn.
Văn kiện tổng kết chặng đường đổi mới, khẳng định mô hình phát triển đặc thù của Việt
Nam, định hướng chiến lược cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc
tế. Với vai trò kim chỉ nam trong thời kỳ mới, Cương lĩnh 2011 tiếp tục là nền tảng quan
trọng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 7
CHƯƠNG II. PHÂN TÍCH ĐẶC TRƯNG XHCN ĐƯỢC ĐỀ RA TẠI
CƯƠNG LĨNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN
CNXH (BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN NĂM 2011)
2.1. Phân tích từng đặc trưng XHCN của Cương lĩnh
2.1.1. Đặc trưng 1: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,
phát triển năm 2011) là văn kiện có ý nghĩa nền tảng, định hướng chiến lược cho sự phát
triển của Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong hệ thống tám đặc trưng của xã hội xã hội
chủ nghĩa mà Cương lĩnh xác định, đặc trưng đầu tiên - “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh” - giữ vị trí trung tâm và bao quát nhất. Đây vừa là mục tiêu lâu dài,
vừa là tiêu chí đánh giá thành quả của tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì
thế đặc trưng này, mang ý nghĩa quan trọng, việc phân tích giúp làm rõ lối phát triển mà
Việt Nam đang hướng tới theo tư tưởng, đường lối của Đảng.
Trước hết, “dân giàu” thể hiện trọng tâm của mô hình xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
con người là chủ thể của phát triển và mọi chính sách đều nhằm nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của nhân dân. Sự giàu có của người dân được hiểu không chỉ ở thu nhập và điều
kiện kinh tế, mà còn ở khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, thông tin và các dịch vụ xã hội thiết
yếu. Việc nâng cao mức sống được xem là điều kiện cơ sở để tạo nên một dân tộc mạnh,
đóng góp vào sự ổn định và phát triển lâu dài của quốc gia.
Từ nền tảng “dân giàu”, đặc trưng “nước mạnh” nhấn mạnh đến sức mạnh tổng hợp
của quốc gia trên các phương diện kinh tế, chính trị, quốc phòng, văn hóa và hội nhập quốc
tế. Một đất nước mạnh là đất nước có nền kinh tế phát triển hiện đại, có nhà nước pháp
quyền hoạt động hiệu lực, hiệu quả và có khả năng bảo vệ độc lập, chủ quyền trong mọi
tình huống. Sức mạnh quốc gia gắn liền với sự phát triển trí tuệ, trình độ khoa học – công
nghệ và uy tín trên trường quốc tế. Như vậy, dân giàu tạo ra nguồn lực để nước mạnh, và
nước mạnh lại tạo nền tảng để tiếp tục đảm bảo cuộc sống an toàn, thịnh vượng cho nhân dân.
Trên nền tảng đó, yếu tố “dân chủ” thể hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam. Cương lĩnh 2011 xác định rõ việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, trong
đó quyền lực thuộc về nhân dân và được thực hiện thông qua cả dân chủ đại diện lẫn dân
chủ trực tiếp. Dân chủ không chỉ là mục tiêu mà còn là phương thức để tổ chức xã hội và
phát triển đất nước; dân chủ càng mở rộng thì sức mạnh đại đoàn kết dân tộc càng được
phát huy. Tuy nhiên, dân chủ luôn gắn với kỷ cương và pháp luật nhằm đảm bảo ổn định
xã hội và hiệu quả quản lý. Điều này cho thấy dân chủ vừa là giá trị, vừa là động lực của
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Cùng với dân chủ, “công bằng” là yêu cầu mang tính nhân văn sâu sắc. Công bằng
xã hội được hiểu là việc mọi người đều có cơ hội phát triển ngang nhau và được thụ hưởng 8
công bằng các thành quả của quá trình phát triển. Để đạt được điều này, Nhà nước phải
thực hiện hệ thống chính sách phân phối hợp lý, chú trọng giảm khoảng cách giàu – nghèo,
đồng thời đảm bảo an sinh xã hội cho mọi đối tượng. Công bằng không phải là sự đối xử
với mọi người như nhau, mà là sự tạo điều kiện và môi trường để mỗi cá nhân phát huy
năng lực của mình trong khuôn khổ pháp luật. Khi công bằng được bảo đảm, niềm tin của
nhân dân đối với chế độ được củng cố, tạo nền tảng cho sự ổn định và phát triển bền vững.
Cuối cùng, “văn minh” là biểu hiện của sự phát triển hài hòa giữa đời sống vật chất
và tinh thần của xã hội. Một xã hội văn minh là xã hội có nền văn hóa tiên tiến, giàu bản
sắc dân tộc; con người có tri thức, đạo đức, lối sống lành mạnh; môi trường được bảo vệ;
và khoa học - công nghệ được ứng dụng sâu rộng vào mọi lĩnh vực của đời sống. Văn minh
là kết quả của quá trình hướng tới dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, đồng thời
cũng là nền tảng để tiếp tục phát triển các giá trị đó trong tương lai.
Như vậy, Đặc trưng “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” không chỉ
mô tả trạng thái xã hội mà Việt Nam hướng tới, mà còn là định hướng xuyên suốt cho mọi
chiến lược, chính sách phát triển. Nó là tiêu chuẩn để đánh giá mức độ thành công của công
cuộc đổi mới, đồng thời là kim chỉ nam để điều chỉnh các chương trình, kế hoạch phát triển
kinh tế – xã hội trong từng giai đoạn. Với tính chất bao trùm, đặc trưng này hội tụ đầy đủ
các giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội Việt Nam và phản ánh khát vọng xây dựng một xã
hội phồn vinh, hạnh phúc cho mọi người.
2.1.2. Đặc trưng về Chính trị
a. Đặc trưng 2: Do nhân dân làm chủ (Về bản chất chính trị của chế độ)
Đặc trưng này biểu hiện một trong những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội tại
Việt Nam: quyền lực tối cao thuộc về nhân dân. Theo quan điểm của Cương lĩnh 2011,
nhân dân không chỉ là đối tượng của chính quyền mà là chủ thể chủ động, quyết định trong
mọi lĩnh vực của đời sống chính trị – xã hội. Khái niệm “nhân dân làm chủ” được hiểu theo
nghĩa rộng: toàn dân, mọi công dân đều có quyền tham gia vào các quyết định quan trọng
thông qua cơ chế dân chủ xã hội chủ nghĩa như bầu cử, giám sát, phản biện, quản lý xã hội.
Đây là sự mở rộng so với Cương lĩnh 1991, vốn đề cập nhiều hơn đến “nhân dân lao động”:
việc chuyển sang dùng cụm từ “nhân dân” khẳng định mọi công dân, không phân biệt tầng
lớp, đều có quyền làm chủ, và điều này rất phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội
hiện đại. Thực tiễn hiện nay cũng cho thấy tầm quan trọng của nguyên tắc này: nhân dân
được tham gia giám sát qua Mặt trận Tổ quốc, qua đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân;
các cơ chế dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố để đảm bảo tiếng nói của
nhân dân không chỉ là hình thức mà thực chất, là cơ sở để ra quyết định và kiểm soát quyền
lực. Việc “do nhân dân làm chủ” vừa bảo đảm tính dân chủ của nhà nước XHCN, vừa là
nền tảng chính trị để hướng tới một xã hội công bằng, nơi mọi người có cơ hội tham gia,
chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi trong xây dựng nhà nước và xã hội. 9
b. Đặc trưng 7: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Đặc trưng này là điểm nổi bật trong Cương lĩnh 2011, thể hiện sự phát triển về mặt
tổ chức quyền lực nhà nước. “Nhà nước pháp quyền” ở đây được hiểu là nhà nước vận
hành trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, không thể tùy tiện sử dụng quyền lực — mà phải
phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Quyền lực nhà nước thực sự là “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”: đó là cách thức
tổ chức để quyền làm chủ của nhân dân được thực thi qua các thiết chế pháp lý, để nhà
nước phục vụ lợi ích chung của nhân dân, và chịu trách nhiệm giải trình với nhân dân.
Nhưng không chỉ có vậy, Cương lĩnh 2011 còn khẳng định nhà nước này phải được xây
dựng “dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Sự lãnh đạo của Đảng trong nhà
nước pháp quyền không mang nghĩa áp đặt quyền lực cá nhân, mà là định hướng chiến
lược — Đảng đưa ra đường lối, chính sách, chiến lược phát triển, từ đó nhà nước xây dựng
các cơ chế pháp luật và thiết chế thực thi để hiện thực hoá các mục tiêu xã hội chủ nghĩa.
Đồng thời, nhà nước pháp quyền đó phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ: Đảng không thể hành
động tùy tiện mà phải thông qua thiết chế pháp luật, và nhân dân cũng có cơ chế giám sát
quyền lực nhà nước qua các kênh dân chủ và pháp quyền.
c. Ý nghĩa mối liên hệ giữa hai đặc trưng
Mối quan hệ giữa “do nhân dân làm chủ” và “Nhà nước pháp quyền XHCN … do
nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo” là mối quan hệ biện chứng, bổ sung và thống
nhất, phản ánh bản chất chính trị độc đáo của chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Quyền làm chủ
của nhân dân (đặc trưng 2) là nguồn gốc quyền lực — nếu nhân dân không làm chủ, quyền
lực nhà nước mất đi tính đại diện thực sự, và nhà nước dễ trở thành công cụ quyền lực
trống rỗng hoặc bị lạm dụng. Ngược lại, Nhà nước pháp quyền (đặc trưng 7) là cơ chế để
biến quyền làm chủ của nhân dân thành quyền lực thực thi: quyền lực đó được vận hành
theo luật, được kiểm soát, và hướng tới phục vụ nhân dân. Sự lãnh đạo của Đảng ở đây
đóng vai trò cầu nối chiến lược: Đảng định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa, nhưng
phương tiện thực hiện — đó là nhà nước pháp quyền — vẫn phải gắn chặt với dân chủ và
giám sát của nhân dân. Khi nhân dân thực sự làm chủ, và nhà nước thực thi quyền lực một
cách minh bạch, pháp quyền, dưới sự lãnh đạo đúng hướng của Đảng, thì hệ thống chính
trị của Việt Nam vừa bảo đảm kỷ cương, trách nhiệm, vừa phát huy sức mạnh nhân dân để
phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2.1.3. Đặc trưng về Kinh tế
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011), Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định một hệ thống đặc trưng
phản ánh mục tiêu, bản chất và con đường phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước
ta. Trong đó, đặc trưng 3 “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện 10
đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp” giữ vị trí nền tảng, bởi phát triển kinh tế là điều
kiện vật chất quyết định để thực hiện những mục tiêu xã hội cao đẹp của chủ nghĩa xã hội.
Đặc trưng này không chỉ kế thừa lý luận Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn
thể hiện sự vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Trước hết, Cương lĩnh khẳng định chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một xã hội có nền
kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù
hợp. Đây là đặc trưng cốt lõi, làm cơ sở cho mọi đặc trưng kinh tế khác. Nội dung này nhấn
mạnh sự kết hợp biện chứng giữa hai yếu tố trung tâm của phương thức sản xuất: lực lượng
sản xuất (LLSX) và quan hệ sản xuất (QHSX). LLSX hiện đại được hiểu là trình độ phát
triển cao của khoa học – công nghệ, năng suất lao động và cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Trong
điều kiện mới, Việt Nam chủ trương thúc đẩy công nghiệp hóa – hiện đại hóa gắn với kinh
tế tri thức, chuyển đổi số và các thành tựu của Cách mạng công nghiệp 4.0. Một lực lượng
sản xuất hiện đại không chỉ dựa trên công nghệ tiên tiến, mà còn đòi hỏi đội ngũ lao động
chất lượng cao, quản trị khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.
Gắn liền với đó, quan hệ sản xuất phải tiến bộ và phù hợp với sự phát triển của lực
lượng sản xuất. Đây là yêu cầu có tính quy luật: QHSX không thể đi trước hoặc lạc hậu so
với LLSX, mà phải được điều chỉnh linh hoạt để thúc đẩy phát triển kinh tế. Do vậy, trong
thời kỳ quá độ, Việt Nam xây dựng một mô hình quan hệ sản xuất đặc thù – kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó tồn tại nhiều hình thức sở hữu: sở hữu toàn
dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu hỗn hợp. Kinh tế tư nhân, kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài và các thành phần kinh tế khác được thừa nhận là bộ phận cấu
thành quan trọng của nền kinh tế, cùng phát triển bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật.
Trong khi đó, sở hữu công cộng đóng vai trò chủ đạo trong những ngành, lĩnh vực then
chốt, bảo đảm công cụ điều tiết nền kinh tế, giữ vững ổn định vĩ mô và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa.
Việc kết hợp LLSX hiện đại với QHSX tiến bộ, phù hợp cho thấy mô hình phát triển
kinh tế của Việt Nam không phải là bản sao của bất kỳ mô hình nào trước đây. Đó là mô
hình mở, linh hoạt, hiện đại và phù hợp với quy luật khách quan. Sự kết hợp này tạo động
lực mạnh mẽ cho tăng trưởng, đồng thời hạn chế những mặt trái của thị trường, hướng tới
mục tiêu phát triển bền vững và bao trùm.
Bên cạnh đặc trưng trên, Cương lĩnh còn nhấn mạnh vai trò của chế độ công hữu về
những tư liệu sản xuất chủ yếu, coi đây là trụ cột kinh tế của CNXH. Tuy nhiên, công hữu
không được hiểu một cách cứng nhắc như trong mô hình bao cấp trước đây. Thay vào đó,
sở hữu công cộng – với hai hình thức chính là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể – giữ vị
trí quyết định trong các ngành, lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược như năng lượng, hạ tầng, tài
chính, viễn thông, tài nguyên thiên nhiên… Nhiệm vụ của kinh tế nhà nước không phải là 11
bao cấp hay bao trùm mọi hoạt động kinh tế, mà là giữ vai trò dẫn dắt, điều tiết và tạo nền
tảng cho sự ổn định và phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế.
Ngoài ra, việc lựa chọn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa làm mô hình
kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ. Đây là sự sáng tạo lớn của Đảng ta, thể hiện nhận
thức đầy đủ về tính quy luật của phát triển kinh tế – xã hội. Kinh tế thị trường được vận
hành theo đúng quy luật cung – cầu, giá trị, cạnh tranh…, nhưng có sự quản lý của Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và sự giám sát của nhân dân. Chính “định hướng xã hội
chủ nghĩa” giúp nền kinh tế thị trường ở Việt Nam khác với các mô hình tư bản chủ nghĩa:
phát triển gắn liền với mục tiêu công bằng, tiến bộ, bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh xã
hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Cuối cùng, toàn bộ các đặc trưng kinh tế của chủ nghĩa xã hội đều hướng đến mục
tiêu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đây là điểm nhất quán trong tư
tưởng Hồ Chí Minh và trong toàn bộ đường lối của Đảng. Phát triển kinh tế không phải vì
lợi ích riêng của một nhóm người mà vì hạnh phúc của toàn dân. Tăng trưởng phải gắn liền
với công bằng, giảm nghèo, mở rộng phúc lợi xã hội và tạo điều kiện để mọi người dân
đều được phát triển toàn diện.
Tóm lại, đặc trưng kinh tế của chủ nghĩa xã hội theo Cương lĩnh 2011 thể hiện một
nhận thức khoa học, hiện đại và có tính thực tiễn cao. Sự kết hợp giữa lực lượng sản xuất
hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; vai trò chủ đạo của sở hữu công; cùng với
mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là con đường mà Việt Nam lựa
chọn để xây dựng một nền kinh tế phát triển bền vững, hiệu quả và mang tính nhân văn.
Đây là cơ sở quan trọng để từng bước hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh.
2.1.4. Đặc trưng về Văn hóa - Xã hội và Con người
a. Đặc trưng 4: Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trong hệ thống tám đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa được nêu trong Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm
2011), nhóm đặc trưng về văn hóa - xã hội và con người giữ vị trí trung tâm vì phản ánh rõ
nhất mục tiêu nhân văn của con đường phát triển mà Đảng và nhân dân Việt Nam đã lựa
chọn. Hai đặc trưng gồm “có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và “con người
có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; có điều kiện phát triển toàn diện” tạo thành một
chỉnh thể thống nhất, bổ trợ và soi chiếu lẫn nhau. Văn hóa định hình nền tảng tinh thần và
bản sắc cộng đồng, còn con người là chủ thể sáng tạo văn hóa và hưởng thụ văn hóa; ngược
lại, chất lượng đời sống con người cũng là thước đo cho sự phát triển văn hóa – xã hội.
Việc phân tích từng đặc trưng đòi hỏi phải nhìn nhận chúng trong mối quan hệ tương tác
biện chứng, đồng thời gắn với định hướng tổng thể của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 12
Đặc trưng về văn hóa, được giữ nguyên từ Cương lĩnh năm 1991, cho thấy tầm quan
trọng đặc biệt của lĩnh vực này trong chiến lược phát triển đất nước. Việc mô tả văn hóa xã
hội chủ nghĩa là “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” hàm chứa hai nội dung lớn. Tiên tiến
không chỉ hàm nghĩa hiện đại hóa, tiếp thu tinh hoa nhân loại hay hướng tới giá trị chân -
thiện - mỹ, mà còn bao gồm yêu cầu xây dựng một hệ giá trị phù hợp với mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tiên tiến vì thế không đơn thuần là hiện
đại, mà phải hướng đến tiến bộ xã hội và sự phát triển bền vững. Trong khi đó, bản sắc dân
tộc khẳng định sự tiếp nối lịch sử, gìn giữ những giá trị truyền thống, bồi đắp ý thức cộng
đồng và củng cố chủ quyền văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa. Hai yếu tố tiên tiến và
bản sắc không đối lập, mà bổ sung cho nhau: sự hiện đại hóa dựa trên gốc rễ truyền thống
giúp văn hóa Việt Nam phát triển năng động mà không bị hòa tan; bản sắc dân tộc được
nuôi dưỡng trong điều kiện hội nhập sẽ trở nên có sức sống và ảnh hưởng rộng lớn hơn.
Từ góc độ mục tiêu, đặc trưng văn hóa thể hiện khát vọng xây dựng nền tảng tinh
thần vững chắc cho xã hội, qua đó tạo ra môi trường thuận lợi để phát triển các lĩnh vực
khác. Trong mọi mô hình phát triển, văn hóa luôn đóng vai trò “sức mạnh mềm”, là hệ
thống giá trị định hướng hành động của con người. Bởi vậy, xây dựng nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc không chỉ là bảo tồn di sản hay mở rộng không gian sáng tạo,
mà còn là quá trình hình thành hệ giá trị mới của con người Việt Nam thời kỳ đổi mới: yêu
nước, nhân ái, cần cù, sáng tạo, trung thực, trách nhiệm và khát vọng phát triển đất nước.
Nền văn hóa ấy trở thành lực lượng nội sinh quan trọng góp phần nâng cao năng lực cạnh
tranh quốc gia, gắn kết cộng đồng và thúc đẩy phát triển bền vững.
b. Đặc trưng 5: Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát
triển toàn diện.
Liên quan mật thiết với đặc trưng văn hóa là đặc trưng về con người, được làm rõ và
nhấn mạnh hơn trong Cương lĩnh 2011 bằng việc bổ sung cụm từ “có điều kiện phát triển
toàn diện”. Sự bổ sung này cho thấy nhận thức về vai trò con người trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội ngày càng đầy đủ và sâu sắc. Con người không chỉ có quyền được
hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc mà còn phải có điều kiện phát triển toàn diện về
trí tuệ, đạo đức, thể chất, tinh thần và năng lực sáng tạo. Mục tiêu “phát triển toàn diện”
đánh dấu sự chuyển dịch từ tư duy coi con người là đối tượng của chính sách sang coi con
người là chủ thể của sự phát triển. Đây là bước tiến quan trọng trong chiến lược phát triển
đất nước, bởi không có nguồn lực nào lớn hơn nguồn lực con người, và không có sự phát
triển nào bền vững nếu con người không được đặt ở vị trí trung tâm.
Nội hàm của đặc trưng này bao gồm hai phương diện. Thứ nhất là bảo đảm những
điều kiện vật chất tối thiểu để con người có cuộc sống ấm no và an sinh xã hội được bảo
đảm. Điều này phản ánh tính ưu việt của mô hình phát triển xã hội chủ nghĩa, lấy phúc lợi
con người làm trọng tâm. Thứ hai là tạo lập môi trường xã hội - văn hóa lành mạnh, công 13
bằng, dân chủ, nơi mỗi cá nhân có cơ hội phát huy năng lực, phấn đấu theo đuổi ước mơ
và đóng góp cho cộng đồng. Việc nhấn mạnh “tự do, hạnh phúc” cho thấy mục tiêu không
chỉ là cải thiện đời sống vật chất, mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần và mức độ hài lòng xã hội.
c. Ý nghĩa mối liên hệ giữa hai đặc trưng
Khi nhìn hai đặc trưng này trong mối quan hệ gắn bó, có thể thấy văn hóa vừa là nền
tảng vừa là động lực giúp con người phát triển toàn diện; đồng thời, chính sự phát triển
toàn diện của con người lại trở thành tiền đề để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc. Một nền văn hóa lành mạnh giúp hình thành nhân cách, đạo đức và thị hiếu
thẩm mỹ; thúc đẩy tinh thần sáng tạo, ý thức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm của mỗi cá
nhân. Ngược lại, những con người có tri thức, có sức khỏe, có kỹ năng và có lý tưởng sẽ
là lực lượng trực tiếp sáng tạo và lan tỏa các giá trị văn hóa. Sự tương hỗ này chứng minh
rằng phát triển văn hóa và phát triển con người là hai quá trình thống nhất, không thể tách
rời trong chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đặc trưng văn hóa định hướng việc gìn giữ bản sắc, tiếp thu tinh hoa nhân loại, xây
dựng hệ giá trị hiện đại; đặc trưng con người khẳng định mục tiêu đem lại hạnh phúc, tạo
cơ hội phát triển và phát huy vai trò chủ thể của mỗi cá nhân. Nếu đặc trưng văn hóa nhấn
mạnh các giá trị tinh thần, bản sắc và sức mạnh mềm của dân tộc, thì đặc trưng con người
tập trung vào chất lượng cuộc sống, quyền được phát triển và vai trò sáng tạo của con
người. Kết hợp lại, cả hai đặc trưng đều hướng đến xây dựng một xã hội hiện đại nhưng
thấm đượm truyền thống, giàu bản sắc nhưng cởi mở hội nhập, lấy con người làm trung
tâm và coi sự tiến bộ, hạnh phúc của con người là thước đo cao nhất của sự phát triển.
Việc liên kết hai đặc trưng này cũng cho thấy tầm nhìn chiến lược của Đảng về mô
hình xã hội chủ nghĩa Việt Nam: một xã hội trong đó văn hóa không bị đặt bên lề của tăng
trưởng kinh tế, mà trở thành trụ cột quan trọng ngang hàng với kinh tế - chính trị; một xã
hội nơi con người không chỉ là nguồn lực của phát triển, mà còn là mục tiêu cuối cùng của
sự phát triển ấy. Đây là nền tảng để xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Việt Nam,
phù hợp với điều kiện lịch sử và văn hóa của dân tộc.
2.1.5. Đặc trưng về Quan hệ dân tộc và Quan hệ quốc tế
a, Đặc trưng 6: Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng
và giúp nhau cùng phát triển.
Đặc trưng này là sự khẳng định một trong những nguyên tắc cốt lõi, thể hiện tính ưu
việt trong chính sách dân tộc, giải quyết đúng đắn, hài hòa các quan hệ dân tộc (theo nghĩa
hẹp là quan hệ giữa các tộc người) trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam. Đây là yếu tố quyết
định tạo nên sự ổn định chính trị và đồng thuận xã hội.
Tính ưu việt không chỉ dừng lại ở nguyên tắc tuyên bố sự bình đẳng, mà được hiện
thực hóa qua các cơ chế cụ thể và nhân văn. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước tập 14
trung vào các chương trình đầu tư trọng điểm, ưu tiên nguồn lực cho các vùng sâu, vùng
xa nhằm thực hiện mục tiêu “giúp nhau cùng phát triển” và rút ngắn khoảng cách giàu
nghèo. Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc, coi văn hóa của các dân tộc là tài sản quốc
gia. Việc tôn trọng và hỗ trợ bảo tồn ngôn ngữ, phong tục, tập quán không chỉ là nhân
quyền mà còn là cách thức để củng cố bản sắc, chống lại nguy cơ bị đồng hóa, từ đó củng
cố sự gắn bó trong khối đại đoàn kết. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước tích cực đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc thiểu số để họ có thể trực tiếp quản lý và lãnh đạo tại
địa phương, đảm bảo quyền làm chủ và tính đại diện của nhân dân các dân tộc.
Thực hiện 25 năm đổi mới đất nước đã và đang chứng minh tính ưu việt trong chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, chứng minh tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trong
giải quyết các quan hệ dân tộc ở Việt Nam. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhất quán thực
hiện chính sách dân tộc nhằm đảm bảo sự bình đẳng, tương trợ giữa 54 dân tộc anh em.
Các chính sách đầu tư phát triển vùng sâu, vùng xa, bảo tồn văn hóa và xóa đói giảm nghèo
đã củng cố vững chắc truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính sự đoàn kết, đồng
thuận này đã tạo ra một bức tường thành kiên cố, giúp đất nước chống lại âm mưu chia rẽ
dân tộc của các thế lực thù địch, bảo đảm an ninh và phát huy tối đa mọi nguồn lực sáng
tạo trong xã hội. Sức mạnh tổng hợp từ khối đại đoàn kết này chính là nguồn nội lực quan
trọng nhất để Việt Nam tự tin vươn ra thế giới.
b, Đặc trưng 8: Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng không chỉ thể hiện tính ưu việt trong
các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội mà còn thể hiện trong quan hệ đối ngoại,
chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
Việt Nam luôn luôn khẳng định quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng giữa nhân dân
ta và nhân dân các nước trên thế giới. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong
cộng đồng quốc tế…Đảng và Nhà nước ta chủ trương hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với
tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở những
nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Sự linh hoạt này
giúp Việt Nam tránh bị phụ thuộc vào bất kỳ cường quốc nào và tối ưu hóa lợi ích quốc gia.
Việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tham gia tích cực vào các tổ chức, diễn đàn
quốc tế và khu vực đã chứng minh một cách sinh động tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội
mà nhân dân ta đang xây dựng, thể hiện trong đặc trưng về quan hệ đối ngoại của Đảng và
Nhà nước ta. Việt Nam không chỉ tiếp nhận mà còn đóng góp tiếng nói của mình vào các
diễn đàn khu vực và toàn cầu, thể hiện trách nhiệm và vị thế của một thành viên tích cực,
từ đó củng cố tính ưu việt của hệ thống chính trị qua hiệu quả ngoại giao. Việc chủ động,
tích cực tham gia vào các tổ chức và diễn đàn quốc tế chứng minh khả năng thích ứng và
vị thế ngày càng cao của CNXH Việt Nam, đồng thời tạo ra một môi trường hòa bình, ổn 15
định, thu hút các nguồn lực về vốn, công nghệ và tri thức từ bên ngoài, phục vụ trực tiếp
cho sự phát triển của đất nước.
c, Ý nghĩa về mối liên hệ giữa hai đặc trưng
Sự đoàn kết và ổn định nội bộ từ Đặc trưng 6 chính là bệ phóng không thể thiếu, tạo
nên quyền lực và tính tự chủ cho Việt Nam khi thực hiện chính sách đối ngoại. Chỉ khi nội
bộ vững vàng, không bị chia rẽ, Việt Nam mới có đủ uy tín và tiềm lực để tham gia định
hình luật chơi, bảo vệ lợi ích quốc gia một cách hiệu quả và tự tin trên trường quốc tế. Sự
thống nhất giữa 54 dân tộc anh em là bằng chứng hùng hồn nhất về năng lực quản trị quốc
gia và sự đồng thuận xã hội, là yếu tố then chốt tạo nên thế và lực cho ngoại giao.
Ngược lại, môi trường hòa bình và các nguồn lực kinh tế thu hút từ quan hệ hữu nghị
của Đặc trưng 8 lại là chất xúc tác mạnh mẽ cho sự phát triển nội tại, đặc biệt là ở các vùng
dân tộc thiểu số. Nguồn vốn FDI và ODA thu được thông qua hợp tác quốc tế được Chính
phủ ưu tiên phân bổ để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội ở vùng khó khăn, giúp cải
thiện sinh kế, rút ngắn khoảng cách phát triển, từ đó củng cố lòng tin và tiếp tục phát huy
truyền thống đại đoàn kết. Hơn thế nữa, thành công ngoại giao còn giúp Việt Nam vô hiệu
hóa các luận điệu sai trái, chống lại âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù
địch. Sự đồng lòng của các dân tộc là nền tảng kiên cố, còn sự hội nhập quốc tế là đòn bẩy
chiến lược, cùng nhau kiến tạo một mô hình phát triển ưu việt, bền vững, thể hiện bản chất
nhân văn và khả năng thích ứng tuyệt vời của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Sự tương hỗ giữa hai đặc trưng này tạo thành một vòng tuần hoàn nơi sự ổn định
dân tộc là yếu tố quyết định tạo nên nền tảng kinh tế và đòn bẩy chính trị cho hợp tác quốc
tế. Các tổ chức tài chính và nhà đầu tư nước ngoài chỉ sẵn lòng cam kết dài hạn khi nhìn
thấy sự ổn định xã hội và đồng lòng dân tộc ở Việt Nam. Đồng thời, thành công và nguồn
lực từ hợp tác quốc tế lại được tái đầu tư để giải quyết triệt để các thách thức phát triển,
củng cố sự đoàn kết và phúc lợi cho các dân tộc thiểu số. Quá trình này không chỉ củng cố
thêm tính nhân văn của Chủ nghĩa xã hội mà còn cung cấp bằng chứng thực tiễn về khả
năng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn thể dân tộc vượt qua mọi khó khăn, khẳng
định tính ưu việt và khả năng thích ứng tuyệt vời của mô hình xã hội mà Việt Nam đang
theo đuổi trong bối cảnh toàn cầu hóa.
2.2. Phân tích những bổ sung và phát triển so với Cương lĩnh 1991
Thứ nhất, so với Cương lĩnh 1991, Cương lĩnh 2011 đã bổ sung hai đặc trưng mới:
“1. Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và “2. Có Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng Sản lãnh đạo”.
Song, trong đặc trưng thứ nhất của Cương lĩnh 2011, tiêu chí dân chủ được đặt trước tiêu
chí công bằng. Thực tiễn cho thấy, nước ta hiện nay, dân chủ và việc thực hiện dân chủ giữ
vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội. Dân chủ không những là mục
tiêu, mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội theo hướng phát triển nhanh 16
và bền vững. Khi dân chủ được bảo đảm mới có thể nói đến công bằng và lớn mạnh, những
điều đó mới thể hiện sự văn minh. Việc bổ sung đặc trưng ' có Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản' thể hiện vị trí đặc biệt quan trọng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong
hệ thống chính trị của Việt Nam. Nhà nước ấy thuộc về nhân dân, do nhân dân xây dựng
nên và hướng tới phục vụ lợi ích của nhân dân, là cơ quan quyền lực của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân. Mục tiêu căn bản của công cuộc đổi mới nói chung, của đổi mới chính
trị và đổi mới hệ thống chính trị nói riêng ở nước ta chính là xây dựng nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là một trong những điều kiện tiên
quyết để thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Thứ hai, nếu Cương lĩnh năm 1991 xác định xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội ' do
nhân dân lao động làm chủ' thì trong Cương lĩnh 2011, đặc trưng thứ hai được điều chỉnh
thành ' do nhân dân làm chủ' . Rõ ràng, khái niệm ' nhân dân” trong Cương lĩnh 2011 có nội
hàm rộng hơn so với khái niệm ' nhân dân lao động' được đề cập trong Cương lĩnh năm
1991. Điều này cho phép thực hiện khối đại đoàn kết toàn dân tộc và huy động sức mạnh
của toàn dân vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, đặc trưng thứ 2 trong Cương lĩnh năm 1991 ' Có một nền kinh tế phát triển
cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ
yếu' được Cương lĩnh 2011 bổ sung bằng ' Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng
sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp' . Điều này là cần thiết và đúng đắn.
Bởi lẽ, theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quy luật về mối quan hệ biện chứng
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là xương sống của mọi hình thái kinh tế - xã
hội. Quan hệ sở hữu chế độ công hữu không đồng nhất với quan hệ sản xuất. Dù đóng vai
trò hết sức quan trọng, song quan hệ sở hữu cũng chỉ là một trong 3 yếu tố (quan hệ sở
hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối) cấu thành quan hệ sản xuất. Cũng cần lưu ý
rằng, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra một trong những bài học quan
trọng về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Thứ tư, cụm từ ' được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công” trong đặc trưng thứ
tư của Cương lĩnh 1991, được Cương lĩnh 2011 lược bỏ và xác định là ' Con người có cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Đây là điều hợp lý. Bởi
lẽ, sự ' ấm no, tự do, hạnh phúc' của con người cũng đã bao hàm ý nghĩa được giải phóng
khỏi áp bức, bóc lột và bất công.
Thứ năm, trong Cương lĩnh năm 2011 xác định ' con người... có điều kiện phát triển
toàn diện' (trong Cương lĩnh 1991 viết: “Con người... có điều kiện phát triển toàn diện cá
nhân”). Việc bổ sung cụm từ ' có điều kiện” là chính xác thể hiện trong chủ nghĩa xã hội 17
sự phát triển của con người luôn được tạo điều kiện, đồng thời phải căn cứ vào trình độ
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta hiện tại.
Thứ sáu, trong đặc trưng thứ 5 của Cương lĩnh năm 1991 viết ' Các dân tộc trong
nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ”. Trong Cương lĩnh năm 2011,
đặc trưng này được điều chỉnh thành ' Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng,
đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển' . Việc thay thuật ngữ ' tương trợ' bằng
thuật ngữ ' tôn trọng' hoàn toàn đúng đắn và làm cho đặc trưng này có nội dung toàn diện
hơn (với 4 tiêu chí: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau).
Thứ bảy, nếu Cương lĩnh 1991 xác định đặc trưng thứ 6 của chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam là “Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới' thì
trong trong Cương lĩnh 2011, nó được diễn đạt một cách chính xác hơn - ' Có quan hệ hữu
nghị và hợp tác với các nước trên thế giới' . Cụm từ ' với các nước trên thế giới' rõ ràng
rộng hơn cụm từ ' với nhân dân tất cả các nước trên thế giới' . Nó thể hiện mối quan hệ hữu
nghị và hợp tác của Việt Nam không chỉ với nhân dân các nước, mà cùng với nhà nước,
chính phủ và các tổ chức phi chính phủ của các nước trên thế giới.
Như vậy, Từ việc phân tích các điểm bổ sung, phát triển có thể khẳng định Cương
lĩnh 2011 là một bước tiến vượt bậc về tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những
thay đổi này không đơn thuần là sự điều chỉnh câu chữ, mà là kết quả của một quá trình
tổng kết sâu sắc 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 và 25 năm Đổi mới.
Những bổ sung này thể hiện sự kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa nhưng đồng thời
cũng rất sáng tạo và bám sát thực tiễn. Sự kiên định được thể hiện rõ nhất qua việc bổ sung
hai đặc trưng mới , khẳng định mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh" và vai trò cốt lõi của "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa... do Đảng lãnh đạo".
Song song đó, sự sáng tạo và bám sát thực tiễn được thể hiện qua tư duy kinh tế thực tiễn
hơn khi thay "chế độ công hữu" bằng "quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp" (điểm thứ ba);
việc mở rộng nền tảng đại đoàn kết khi thay "nhân dân lao động" bằng "nhân dân" (điểm
thứ hai); và việc đặt ra mục tiêu phát triển con người thực tế hơn, gắn với "điều kiện" của
đất nước (điểm thứ năm).
Những phát triển này cũng làm cho mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trở nên rõ
ràng, đầy đủ và phù hợp hơn với thực tiễn đất nước và thời đại. Mô hình đã rõ ràng hơn
khi chỉ ra mục tiêu (dân chủ, công bằng) và công cụ (Nhà nước pháp quyền), đồng thời
làm rõ phương châm "dân chủ" là động lực phát triển (điểm thứ nhất). Mô hình đầy đủ hơn
khi bao quát toàn diện các mặt đời sống, từ việc thêm chữ "tôn trọng" trong quan hệ dân
tộc (điểm thứ sáu) đến việc mở rộng chủ thể đối ngoại sang "các nước" (điểm thứ bảy).
Cuối cùng, mô hình cũng phù hợp hơn với bối cảnh mới khi dùng mục tiêu tích cực "ấm
no, tự do, hạnh phúc" thay cho ngôn ngữ thời kỳ trước (điểm thứ tư). 18
CHƯƠNG III. ĐÁNH GIÁ VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN 3.1. Đánh giá
a. Khẳng định tính đúng đắn, khoa học và cách mạng
Sản phẩm của tư duy biện chứng và tầm nhìn chiến lược
Cương lĩnh 2011 đánh dấu bước chuyển từ tư duy chủ quan, duy ý chí sang tư duy
biện chứng khoa học, tôn trọng tuyệt đối chủ nghĩa Mác – Lênin, thể hiện rõ qua việc xác
định lại quan hệ sản xuất không còn đồng nhất cơ học “chế độ công hữu” với bản chất xã
hội chủ nghĩa mà coi đó là “quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”; đồng thời thể hiện tầm nhìn
chiến lược khi kiến tạo công cụ kiểm soát quyền lực bằng mô hình “Nhà nước pháp quyền
XHCN”, chuyển từ việc chỉ nêu bản chất giai cấp như Cương lĩnh 1991 sang xây dựng cơ
chế vận hành quyền lực dựa trên Hiến pháp và pháp luật, qua đó thiết lập thế cân bằng giữa
Đảng lãnh đạo – Nhà nước quản lý – Nhân dân làm chủ.
Cương lĩnh thể hiện sự nhất quán và tính kế thừa
Sự điều chỉnh từ "nhân dân lao động" sang "nhân dân" hay việc đặt yếu tố "dân chủ"
lên trước "công bằng" không phải là sự phủ nhận quá khứ, mà là sự kế thừa và nâng tầm
tư duy lý luận. Nó khẳng định quan điểm nhất quán về đại đoàn kết toàn dân tộc và nhận
thức sâu sắc rằng dân chủ chính là tiền đề, là động lực bắt buộc để kiến tạo sự công bằng thực chất.
b. Khẳng định sự phù hợp với thực tiễn Việt Nam
Cương lĩnh phù hợp với quy luật khách quan của thời kỳ quá độ
Việc xác định quan hệ sản xuất phải “phù hợp” với trình độ lực lượng sản xuất, thay
vì đi trước mở đường, thể hiện sự vận dụng đúng quy luật khách quan trong xây dựng kinh
tế, góp phần gỡ bỏ những rào cản kìm hãm và giải phóng nguồn lực xã hội sau 25 năm đổi
mới; đồng thời, sự chuyển đổi tư duy đối ngoại từ quan hệ với “nhân dân các nước” sang
hợp tác với “các nước” cho thấy bước điều chỉnh linh hoạt của Đảng trước yêu cầu hội
nhập, qua đó tạo điều kiện để Việt Nam tiếp cận và tận dụng hiệu quả các nguồn lực bên
ngoài phục vụ phát triển đất nước.
Cương lĩnh đáp ứng trúng khát vọng của nhân dân
Thay vì đặt ra những mục tiêu trừu tượng, Cương lĩnh 2011 tập trung vào các giá trị
nhân văn và thiết thực mà người dân mong muốn nhất như “ấm no, tự do, hạnh phúc”,
đồng thời khẳng định quan điểm con người có “điều kiện phát triển toàn diện”, thể hiện
cách tiếp cận sòng phẳng và thực tế khi quyền lợi của người dân không dừng ở lời hứa mà
được bảo đảm bằng các điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể.
Thực tiễn lịch sử đã kiểm chứng tính đúng đắn của Cương lĩnh
Sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế xã hội những năm qua là minh chứng cho
việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực và việc thực thi dân chủ 19