



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH Q UỐC TẾ
------------------- -- ------------------
BỘ MÔN: KINH TẾ VĨ MÔ BÀI THẢO LUẬN
ÁP DỤNG LÝ THUYẾT VỀ CHỈ TIÊU G DP ĐỂ TRÌNH BÀY,
PHÂN TÍCH GDP CỦA VIỆT NAM TRONG 5 NĂM G ẦN ĐÂY. NHÓM: 2 LỚP: K58E1 VÀ K58E2
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ĐỖ THỊ THA NH HUYỀN
MÃ LỚP HỌC PHẦN: 2318MAEC0111 Hà Nam, 3/2023 MỤC LỤC
1. Cơ Sở Lý Thuyết.....................................................................................................5
1.1. Khái niệm tổng sản phẩm quốc nội (GDP)......................................................5
1.2. Phân loại............................................................................................................5
1.3. Phương pháp xác định GDP.............................................................................5
1.3.1. Phương pháp xác định GDP theo luồng sản phẩm.................................5
1.3.2. Phương pháp xác định GDP theo luồng thu nhập..................................6
1.3.3. Phương pháp xác định GDP theo giá trị gia tăng...................................7
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến GDP.......................................................................7
1.4.1. Các yếu tố khách quan:.............................................................................7
1.4.2. Các yếu tố chủ quan..................................................................................9
1.5. Ý nghĩa phân tích GDP trong phân tích kinh tế vĩ mô.................................11
1.6. Lưu ý và hạn chế khi sử dụng GDP...............................................................11
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN...............................................................................................12
2.1. GDP của Việt Nam được tính như thế nào?..................................................12
2.1.1. Cơ quan chịu trách nhiệm tính GDP.....................................................12
2.1.2. Phương pháp tính GDP của Việt Nam..................................................12
2.2. Dữ liệu GDP thực và danh nghĩa..................................................................13
2.2.1.Bảng số liệu GDP danh nghĩa qua các năm từ 2018- 2022:................13
2.2.2 GDP theo thành phần kinh tế.................................................................16
2.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến GDP................................................................17
2.3.1. Các yếu tố khách quan..............................................................................17
2.3.2. Các yếu tố chủ quan.................................................................................19
2.4. Nhận xét về nền kinh tế Việt Nam..................................................................20
3. Dự báo và Giải pháp phát triển kinh tế Việt Nam................................................22
3.1. Dự báo GDP 2023.............................................................................................22
3.2. Giải pháp.....................................................................................................24
Tài liệu tham khảo …………………………………………………………………28 Lời nói đầu: 2
Kinh tế học vĩ mô là một bộ phận của kinh tế học với quan điểm “bàn tay hữu hình”
của J.M.Keynes đi thẳng vào nghiên cứu các tổng thể kinh tế, bỏ qua cách tiếp cận vi mô
như nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng, hãng sản xuất,.. . Hoạt động kinh tế là hoạt
động thường xuyên của con người. Nó bao gồm hoạt động kinh doanh hàng hóa hoặc dịch
vụ, hoạt động mua bán tài sản tài chính, hoạt động tín dụng (đi vay, cho vay),… Các hoạt
động kinh tế thường nhằm mục đích tạo ra sản phẩm hay dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu của
con người nên chúng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống, xã hội của con
người. Trong đó, kinh tế học vĩ mô – một phân ngành của kinh tế học – nghiên cứu sự vận
động và những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên bình diện toàn bộ nền
kinh tế quốc dân. Nói cách khác, kinh tế học vĩ mô nghiên cứu sự lựa chọn của mỗi quốc gia
trước những vấn đề kinh tế và xã hội cơ bản như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thất nghiệp,
xuất nhập khẩu hàng hóa và tư bản, sự phân phối nguồn lực và phân phối thu nhập giữa các
thành viên trong xã hội. Ngoài ra, kinh tế học vĩ mô cũng nghiên cứu cách thức giải quyết
của mỗi quốc gia trước những mối quan hệ kinh tế chủ yếu như mối quan hệ cơ bản giữa
chu kỳ kinh tế và sự thiếu hụt sản lượng, tăng trưởng và thất nghiệp, tăng trưởng và lạm
phát,...Nghiên cứu bộ môn này giúp chúng ta có được những kiến thức và công cụ phân tích
kinh tế một cách khách quan tạo cơ sở để Chính phủ mỗi nước có sự lựa chọn đúng đắn
trong hoạch định các chính sách kinh tế.
Để hiểu rõ lý thuyết cũng như áp dụng thực tế, nhóm đã nghiên cứu và áp dụng lý
thuyết về chỉ tiêu GDP để phân tích GDP của Việt Nam trong 5 năm gần đây. Từ đó đưa ra
các giải pháp nhằm góp phần tăng trưởng kinh tế đồng thời khắc phục những khó khăn chung.
Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu:
1. 1.Nội dung nghiên cứu:
-Các đặc trưng của chỉ số GDP.
-Các yếu tố ảnh hưởng đến GDP.
-Ý nghĩa của GDP trong kinh tế vĩ mô.
-Các hạn chế khi sử dụng GDP.
-Nền kinh tế Việt Nam trong 5 năm qua và dự báo GDP năm 2023.
-Giải pháp giúp phát triển kinh tế Việt Nam và khắc phục những khó khăn.
2. 2.Nhiệm vụ nghiên cứu:
-Phân tích được khái niệm, phân loại cùng các phương pháp dùng để xác định GDP.
-Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến GDP.
-Phân tích ý nghĩa cũng như lưu ý, hạn chế khi sử dụng GDP. Từ đó rút ra được giải pháp,
chính sách giúp nền kinh tế tăng trưởng bền vững.
-Đưa ra đánh giá GDP năm 2023.
PHẦN I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT: 1.1 Khái niệm: 3
Trong kinh tế học, tổng sản phẩm nội địa, tức tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết
tắt của gross domestic product) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng
được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ nhất định (thường là quốc gia) trong một thời
kỳ nhất định (thường là một năm). 1.2Phân loại:
Chỉ số GDP được chia làm hai loại là GDP danh nghĩa và GDP thực. Trong đó:
GDP danh nghĩa là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra trong một nền kinh tế
trong một thời kỳ tính theo giá hiện hành của thời kỳ đó.
GDP thực là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra trong kỳ tính theo giá cố định
ở một thời kỳ được lấy làm gốc so sánh.
1.3Phương pháp xác định GDP: Chỉ
xét nền kinh tế bao gồm:
2 tác nhân: các hộ gia đình và doanh nghiệp.
2 thị trường tổng hợp: thị trường yếu tố sản xuất và thị trường hàng hóa dịch vụ.
1.3.1 Phương pháp xác định GDP theo luồng sản phẩm:
Sơ đồ vòng luân chuyển kinh tế vĩ mô cho thấy, có thể xác định GDP theo giá trị hàng
hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong nền kinh tế. Chúng ta gọi tắt là phương pháp
xác định GDP theo luồng sản phẩm hay còn gọi là phương pháp chi tiêu. Công thức: GDP
= C + I + G + NX Trong đó:
C: Chi tiêu cho tiêu dùng của các hộ gia đình I: Chi tiêu cho đầu tư
G: Chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ của Chính phủ NX:
Xuất khẩu ròng (NX = X – IM) Trong đó:
C – Chi tiêu cho tiêu dùng của các hộ gia đình:
Tiêu dùng của các hộ gia đình bao gồm tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà
các hộ gia đình mua được trên thị trường để chỉ dùng trong đời sống hàng ngày của họ. Ví
dụ: hoa quả, bánh kẹo, phương tiện giao thông... Tiêu dùng của hộ gia đình về hàng hóa và
dịch vụ cuối cùng được chia thành 3 bộ phận: hàng mau hỏng, hàng lâu bền và dịch vụ. Chú ý:
Chi cho xây dựng hoặc mua nhà ở mới không được tính vào tiêu dùng (C), mà được
hạch toán vào đầu tư tư nhân (I).
Chỉ tính các khoản chi tiêu khi mua hàng hóa và dịch vụ mới, không tính chi tiêu cho
mua hàng hóa đã qua sử dụng.
Các khoản tự cung, tự cấp, cho tặng... thường bị bỏ qua, không được tính vào (C). I
– Chi tiêu cho đầu tư:
Tổng sản phẩm quốc nội không chỉ bao gồm các hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng của các
hộ gia đình mà còn bao gồm cả hàng hóa đầu tư mà các hàng kinh doanh mua sắm để tái sản 4
xuất mở rộng. Hàng hóa đầu tư bao gồm trang thiết bị là các tài sản cố định của doanh
nghiệp, nhà ở của dân cư, văn phòng mới xây dựng và chênh lệch hàng tồn kho của các hãng kinh doanh.
Chi tiêu cho đầu tư phản ánh tổng đầu tư trong nước của khu vực tư nhân, bao gồm hai
bộ phận: khấu hao tài sản cố định (là chi tiêu để bù đắp giá trị của tài sản cố định bị hao mòn
trong quá trình sản xuất hay còn gọi là khấu hao) và đầu tư ròng (là khoản chi tiêu của doanh
nghiệp để tăng quy mô sản xuất).
Trong đó: Tổng đầu tư = Đầu tư ròng + Khấu hao tài sản cố định
G – Chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ của Chính phủ:
Chi tiêu của Chính phủ bao gồm: xây dựng đường sá, trường học, bệnh viện, quốc
phòng, an ninh và trả lương cho bộ máy quản lý hành chính Nhà nước...Toàn bộ chi tiêu về
hàng hóa và dịch vụ đều được tính vào luồng sản phẩm, ký hiệu là G.
Tuy nhiên không phải mọi khoản chi tiêu trong ngân sách Nhà nước đều được tính vào
GDP, mà chỉ bao gồm những khoản chi tiêu để mua sắm hàng hóa và dịch vụ. Những khoản
chi tiêu thanh toán chuyển nhượng (Tr) không được tính vào GDP, bao gồm: bảo hiểm xã
hội cho người già, tàn tật, trợ cấp thất nghiệp...
Chi tiêu của Chính phủ được tài trợ chủ yếu bằng thuế (Ta). Thuế bao gồm hai loại:
thuế trực thu và thuế gián thu.
Xuất khẩu (X) và nhập khẩu (IM):
X thể hiện tổng giá trị xuất khẩu. GDP giữ lại số tiền một đất nước tạo ra, bao gồm cả
hàng hóa và dịch vụ được sản xuất cho tiêu dùng của một quốc gia khác, do đó phải tính cả
xuất khẩu. IM thể hiện tổng giá trị nhập khẩu. Nhập khẩu bị loại trừ ra khỏi GDP bởi GDP
chỉ tính những hàng hóa được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, nhưng hàng hóa
nhập khẩu đã ẩn trong G, I hoặc C nên phải bị loại trừ để tránh việc tính những hàng hóa
được cung cấp từ nước ngoài vào tiêu dùng nội địa.
Phần chênh lệch giữa X (xuất khẩu) và IM (nhập khẩu) được gọi là NX ( xuất khẩu ròng).
1.3.2 Phương pháp xác định GDP theo luồng thu nhập:
Khác với phương pháp tính GDP theo giá trị sản phẩm đầu ra, phương pháp này tính
theo các chi phí đầu vào của sản xuất mà các doanh nghiệp phải thanh toán như tiền công,
tiền trả lãi do vay vốn, tiền thuê nhà, thuê đất và lợi nhuận - phần tghưởng cho sự mạo hiểm
trong kinh tế. Tổng chỉ phí mà doanh nghiệp phải thanh toán trở thành thủ nhập của dân chúng.
Theo phương pháp này GDP bao gồm tổng các bộ phận cấu thành sau đây:
Chi phí tiền công, tiền lương (W): là lượng thu nhập nhận được do cung cấp sức lao động.
Chi phí thuê vốn ( Lãi suất - i): là thu nhập nhận được do vay vốn, tính theo mức lãi suất nhất định. 5
Chi phí thuê nhà, thuê đất (r ): là khoản thu được do thuê đất đai, nhà cửa và các loại
tài sản khác . Thực chất nó bao gồm hai phần, một là khấu hao tài sản cho thuê và hai là lợi
tức của chủ sở hữu tài sản.
Lợi nhuận ( π): là khoản thu nhập còn lại của doanh thu do bán sản phẩm sau khi đã tất cả chi phí sản xuất
Khấu hao ( De ): là khoản tiêu dùng bù đắp giá trị hao mòn của tài sản cố định
Thuế gián thu ( Te ): là thuế gián tiếp đánh vào thu nhập, được coi là một khoản chi phí
để sản xuất ra luồng sản phẩm.
Công thức chung xác định GDP theo luồng thu nhập: Tổng tất cả các loại thu nhập (của
người lao động, người sở hữu vốn và nhà nước).
Trong trường hợp đơn giản nhất , tức là nền kinh tế chỉ bảo gồm các hộ gia đình và
doanh nghiệp, chưa tính tới khấu hao: GDP = w + i + r + π
Trong nền kinh tế có yếu tố Chính phủ và khu vực nước ngoài, khi tính GDP theo
phương pháp này cần có 2 điều chỉnh như sau:
GDP = w + i + r + π + Te + De
1.3.3 Phương pháp xác định GDP theo giá trị gia tăng:
Để xác định GDP theo phương pháp này, trước hết chúng ta cần hiểu rõ về giá trị gia
tăng: Giá trị gia tăng (value added, viết tắt là VA) là khoản chênh lệch giữa giá trị sản lượng
của một doanh nghiệp với khoản mua vào về vật liệu và dịch vụ từ các doanh nghiệp khác
(hay giá trị hàng hoá trung gian từ doanh nghiệp khác), mà được dùng trong việc sản xuất ra
sản lượng đó. Cụ thể: VA = TO – II Trong đó:
TO: giá trị sản lượng của doanh nghiệp.
II: giá trị đầu vào mua hàng tương ứng của doanh nghiệp.
Ngoài ra, GDP bằng tổng GTGT của tất cả các doanh nghiệp (hoặc các ngành kinh tế) trong nền kinh tế:
GDP = ∑VAi
1.4Các yếu tố ảnh hưởng đến GDP
Trên thực tế, GDP chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau.
1.4.1 Các yếu tố khách quan: Dân số:
Dân số là nguồn cung cấp lao động cho xã hội để tạo ra của cải vật chất và tinh thần,
tuy nhiên cùng lúc đó là đối tượng tiêu thụ các hàng hóa, loại hình dịch vụ do chính con
người tạo ra. Thế nên, dân số và GDP có mối quan hệ tương tác và không thể tách rời. Dân
số chính là yếu tố giúp bạn dễ dàng tính toán GDP bình quân đầu người của một quốc gia
tại một thời điểm cụ thể. 6
Có thể thấy tạo mỗi quốc gia thì chênh lệch GDP và GDP bình quân đầu người là không
hề nhỏ. Không phải quốc gia có GDP cao thì GDP bình quân đầu người sẽ cao và chất lượng
cuộc sống người dân ổn định. Điển hình là Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản về tổng GDP
nhưng GDP bình quân người lại thấp hơn hẳn so với các nước khác. Sự khác biệt này là do
Trung Quốc là nước có dân số lớn nhất trên thế giới nên GDP tạo ra so với các nước có dân
số thấp hơn như Nhật Bản, Đức lớn hơn nhưng cũng chính vì lợi thế đó khiến GDP bình
quân đầu người của Trung Quốc chênh lệch nhiều so với các nước khác.
Không những tổng dân số mà các yếu tố khác liên quan như cơ cấu tuổi dân số, nhân
khẩu học, kinh nghiệm người lao động, tỷ lệ dân số đạt đến trình độ đại học…. cũng ảnh
hưởng không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.
Xu hướng điều chỉnh FDI:
FDI (tiếng Anh là Foreign Direct Investment) là chỉ số đầu tư trực tiếp nước ngoài, một
hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hoặc tổ chức nước này vào nước khác bằng cách cài
đặt nhà xưởng sản xuất, cơ sở kinh doanh. Đây là một nhân tố cần thiết trong quá trình tạo
ra sản phẩm vì FDI sẽ gồm có tiền bạc, vật chất, phương tiện sản xuất, cơ sở hạ tầng và các
hoạt động xã hội ảnh hưởng.
Có nhiều loại hoạt đôxng FDI như buôn bán đối ứng, hợp tác kinh doanh, liên doanh,
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT.
FDI có ảnh hưởng quan trọng tới GDP cả trong ngắn hạn và dài hạn. Nhìn chung,
đây là nguồn vốn quan trọng để bổ sung vốn thiếu hụt trong nước, cộng với tác động
lan tỏa của việc chuyển giao công nghệ, tăng cơ hội việc làm, phát triển kỹ năng sản
xuất của người lao động..., và do vậy, làm tăng sản lượng.
Bên cạnh những tác động tích cực thì FDI cũng có nhiều ảnh hưởng tiêu cực đối với
nước được tiếp nhận đầu tư:
FDI có thể làm cho cơ cấu ngành , vùng, sản phẩm của nước tiếp nhâxn đầu tư phát
triển không đồng đều, bất hợp lý hoặc thậm chí là mất cân đối nghiêm trọng.
FDI có thể tạo ra các đối thủ cạnh tranh quá gay gắt đối với các nhà đầu tư trong nước
, nếu không có sự chuẩn bị hợp lý thì sản xuất của nước tiếp nhân đầux tư sẽ bị giảm sút hoăc bị phá sản.x
FDI có thể biến nước nhận đầu tư thành thị trường tiêu thụ sản phẩm không như mong muốn.
Khả năng tiếp nhận đầu tư của doanh nghiệp:
Đối với các doanh nghiệp nhận được nhiều nguồn đầu tư và lên kế hoạch sử dụng đầu
tư hiệu quả sẽ gia tăng sản lượng sản phẩm làm ra, mở rộng quy mô sản xuất, tạo thêm nhiều
việc làm. Từ đó góp phần vào tốc độ tăng trưởng GDP. Và ngược lại, những doanh nghiệp
không được đầu tư hay không tận dụng được nguồn đầu tư có thể gây thiếu hụt ngân sách, sụt giảm GDP.
Thu nhập và chi tiêu:
Thu nhập và của cải hộ gia đình: Thu nhập cao hơn khuyến khích người tiêu dùng chi
tiêu nhiều tiền hơn cho hàng hoá và dịch vụ, kích thích các doanh nghiệp tăng cường sản xuất làm tăng GDP. 7
Tiêu dùng: GDP có tác động tích cực lên tiêu dùng chính phủ và tiêu dùng cá nhân.
Đồng thời tiêu dùng cá nhân, tiêu dùng chính phủ cũng có tác động tích cực lên GDP.
Các yếu tố khách quan khác:
Tỷ giá: Tiền tệ giảm giá khi GDP giảm làm cho hàng hóa trong nước rẻ hơn đối với người nước ngoài.
Tăng trưởng kinh tế toàn cầu: Tăng trưởng kinh tế toàn cầu mạnh mẽ làm tăng nhu cầu
đối với hàng hóa trong nước. Nó sẽ dẫn đến tăng xuất khẩu và GDP.
Giá đầu vào: Tiền lương và giá nguyên vật liệu giảm làm giảm chi phí sản xuất và tăng
tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp. Nó khuyến khích họ tăng gia sản xuất làm tăng GDP.
Công nghệ: Nó làm tăng năng suất lao động bằng cách cho phép người lao động sản
xuất nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn với cùng một nguồn lực, làm tăng GDP. Môi trường: thiên tai, dịch bệnh,...
1.4.2 Các yếu tố chủ quan:
Lạm phát của quốc gia:
Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời
gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đấy. Quá trình kinh tế của một quốc gia mong
muốn tăng trưởng ở cấp độ cao thì phải chấp thuận lạm phát với một cấp độ cụ thể. Thế
nhưng, khi lạm phát tăng cao quá mức cho phép, nó sẽ gây ra sự ngộ nhận cho sự phát triển
GDP và dẫn đến khủng hoảng kinh tế. Có rất nhiều lý do dẫn đến lạm phát và nhà nước luôn
phải có các chính sách nhằm kiểm soát lạm phát. mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng
không phải là mối quan hệ một chiều mà là sự tác động qua lại. Trong ngắn hạn khi lạm phát
còn ở mức thấp, lạm phát và tăng trưởng thường có mối quan hệ cùng chiều nghĩa là nếu
muốn tăng trưởng đạt tốc độ cao hơn thì phải chấp nhận tăng lạm phát. Tuy nhiên, mối quan
hệ này không tồn tại mãi mãi mà đến một lúc nào đó nếu lạm phát tiếp tục tăng cao sẽ ảnh
hưởng làm giảm tăng trưởng. Trong dài hạn, khi tăng trưởng đã đạt đến mức tối ưu thì lạm
phát không tác động đến tăng trưởng nữa mà lúc này lạm phát là hậu quả của việc cung tiền
quá mức vào nền kinh tế.”
Khả năng tiếp nhận đầu tư của doanh nghiệp:
Đối với các doanh nghiệp nhận được nhiều nguồn đầu tư và lên kế hoạch sử dụng đầu
tư hiệu quả sẽ gia tăng sản lượng sản phẩm làm ra, mở rộng quy mô sản xuất, tạo thêm nhiều
việc làm. Từ đó góp phần vào tốc độ tăng trưởng GDP. Và ngược lại, những doanh nghiệp
không được đầu tư hay không tận dụng được nguồn đầu tư có thể gây thiếu hụt ngân sách, sụt giảm GDP.
Chính sách chính phủ:
Chính sách tài khoá: Chính sách tài khoá là việc chính phủ sử dụng thuế và chi tiêu
công để điều tiết mức chi tiêu của nền kinh tế. Chính sách tài khoá có tác động dài hạn lẫn
ngắn hạn trong một nền kinh tế: 8
Tác động ngắn hạn: thay đổi tổng cầu, việc làm, giá cả.
Tác động dài hạn: điều chỉnh cơ cấu kinh tế và tăng trưởng dài hạn.
Với từng mục tiêu khác nhau, chính phủ sẽ sử dụng chính sách tài khoá khác nhau:
Mục tiêu tăng sản lượng và việc làm: Chính phủ sử dụng chính sách tài khoá mở rộng
( tăng chi tiêu công, giảm thuế).
Mục tiêu kiềm chế lạm phát: Chính phủ sử dụng chính chính sách tài khoá thu hẹp (cắt
giảm chi tiêu, tăng thuế).
Tuy nhiên, chính sách tài khoá cũng có nhiều hạn chế. Do đó nếu chính phủ sử dụng không
hợp lý có thể gây thâm hụt ngân sách và bóp nghẹt đầu tư, làm giảm sản lượng.
Chính sách tiền tệ: Chính sách tiền tệ là hệ thống các giải pháp và công cụ quản lý vĩ
mô của nhà nước về tiền tệ do ngân hàng trung ương khởi tháo và thực thi. Công cụ được sử
dụng trong chính sách này là lãi suất và cung tiền. Các tác động của chính sách tiền tệ bao gồm:
Tác động ngắn hạn: chủ yếu tác động lên đầu tư tư nhân làm thay đổi tổng cầu, từ đó
dẫn đến sự biến động về sản lượng, việc làm, giá cả.
Tác động dài hạn: thay đổi sản lượng tiềm năng thông qua đầu tư dài hạn.
Công cụ chính sách tiền tệ được sử dụng tuỳ thuộc vào mục đích kinh tế:
Mục tiêu tăng sản lượng và việc làm: chính phủ điều tiết tăng mức cung tiền để tăng
đầu tư tư nhân, từ đó giúp tăng tổng cầu và sản lượng.
Mục tiêu kiềm chế lạm phát: chính phủ điều tiết giảm mức cung tiền làm giảm đầu tư
tư nhân, giảm tổng cầu và giá cả.
Chính sách thu nhập: Bao gồm một loạt các biện pháp mà chính phủ sử dụng nhằm
tác động trực tiếp đến tiền công, giá cả từ đó tác động tới sản lượng, giá cả việc làm như quy
định tiền công tối thiểu, thuế thu nhập, chính sách trợ cấp, an sinh xã hội.
Chính sách kinh tế đối ngoại: Chính sách kinh tế đối ngoại là một hệ thống các quan
điểm, nguyên tắc, công cụ và phương pháp mà Nhà nước áp dụng để quản lí các hoạt động
kinh tế đối ngoại của quốc gia, nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của
từng thời kì. Các chính sách được đưa ra cho từng thời kỳ khác nhau. Mục đích:
Ổn định tỷ giá hối đoái.
Cải thiện cán cân thương mại.
Giữ cho thâm hụt cán cân thanh toán ở mức có thể chấp nhận được. Công
cụ sử dụng:
Công cụ bảo hộ mậu dịch: thuế nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu,...
Chính sách quản lý thị trường ngoại hối (lựa chọn cơ chế tủ giá hối đoái cho đến thay
đổi tủ giá hối đoái. 9
1.5 Ý nghĩa phân tích GDP trong phân tích kinh tế vĩ mô.
Cách tính và tiếp cận GDP cho phép họ đánh giá cơ cấu cũng như chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo ngành và nhóm ngành kinh tế. GDP được tính và phân tổ theo ngành kinh tế,
theo khu vực kinh tế và theo tỉnh/thành phố (GRDP) trong khi GNI do tính thêm phần thu
nhập sở hữu thuần, không thể thực hiện phân tổ theo ngành kinh tế và theo tỉnh, thành phố
mà chỉ phân tổ theo khu vực thể chế. Để trở thành cơ sở lập kế hoạch và chính sách phát
triển kinh tế quốc gia, chỉ tiêu GDP giúp phản ánh rõ ràng hơn thực trạng sản xuất của nền
kinh tế, của từng ngành kinh tế, từ đó các Chính phủ sẽ có định hướng tập trung phát triển
khu vực kinh tế, vùng kinh tế quan tâm.
1.6 Chỉ số điều chỉnh GDP và các chỉ số liên quan:
Chỉ số điều chỉnh GDP:
Chỉ số điều chỉnh GDP (DGDP) hay chỉ số giảm phát GDP phản ánh giá cá của tất cả
các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế (được tính vào GDP) tại thời kì
hiện hành so với mức giá đó ở thời kì cơ sở.
Chỉ số điều chỉnh GDP được tính bằng tỷ số giữa GDP danh nghĩa và GDP thực. Chỉ
số điều chỉnh GDP có thể được dùng để đo lường lạm phát (lạm phát thể hiện mức độ tăng
tương đối – theo phần trăm của mức giá chung trong nền kinh tế).
Chỉ số giá tiêu dùng CPI:
Chỉ số giá tiêu dùng CPI là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương
đối của giá cả hàng hóa theo thời gian. Chỉ số giá tiêu dùng có thể được dùng để tính chỉ số
lạm phát so với năm trước.
Chỉ số sản xuất PPI:
Chỉ số sản xuất PPI là chỉ số giá bán buôn lần đầu, phản ánh sự biến động giá cả đầu
vào, thực chất là biến động chi phí giá cả đầu vào của các doanh nghiệp, vì vậy chỉ số sản
xuất PPI dùng để đo lường biến động giá cả mà các doanh nghiệp trải qua.
1.7 Lưu ý và hạn chế khi sử dụng GDP:
Qua các ý nêu trên, chúng ta thấy được tác dụng quan trọng của GDP trong thống kê
kinh tế. Đây là một chỉ số hữu ích để đánh giá kích thước, qui mô, sức tăng trưởng của một
nền kinh tế qua các thời kì. Song, GDP không phải một công cụ toàn năng. Công cụ này vẫn
còn một vài nhược điểm sau đây:
Đầu tiên, Chỉ số GDP không thể hiện đầy đủ và kiểm soát các hoạt động sản xuất như
tự cung, tự cấp, chất lượng của hàng hóa… Điều này không phải vấn đề lớn với các nước
công nghiệp phát triển mạnh trên thế giới. Nhưng đối với các nước nông nghiệp như Việt
Nam, đây lại là một lỗ hổng khá lớn bởi nông dân Việt Nam chủ yếu tự cung tự cấp lương
thực mà không thông qua mua bán trao đổi. Lương thực sản xuất ra được tiêu thụ ngay trong
hộ gia đình sẽ không được thể hiện trên chỉ số GDP. Ngoài ra, giá cả không hoàn toàn phụ
thuộc vào chất lượng, từ đó khiến cho GDP không thể đánh giá được chất lượng sản phẩm của 1 nền kinh tế. 10
Thứ hai, Chỉ số GDP không định lượng được giá trị phi chính thức từ hoạt động kinh
tế như việc làm ngoài giấy tờ, kinh doanh thị trường chợ đen,... Điều này khiến cho việc
quản lý kinh tế trở nên hết sức khó khăn, nhất là ở ngành nông nghiệp do chưa được quản lý
một cách chặt chẽ, quy mô. Bên cạnh đó còn là vấn đề buôn lậu và các tệ nạn xã hội khác
như ma tuý, mại dâm,... cũng là một trong những nguyên nhân gây ra sự thiếu chính xác của chỉ số này.
Thứ ba, Chỉ số GDP không tính được lợi nhuận gửi lại nhà đầu tư nước ngoài ở trong
quốc gia đó. Các loại thu nhập bao gồm các khoản đầu tư, cổ phiếu, trái phiếu, nhà đất và
các công cụ tài chính khác của người nước ngoài sẽ không được tính vào GDP của nước
đang cư trú. Đối với đất nước đang trên đà hội nhập và thu hút vốn đầu tư như Việt Nam
hiện nay, dòng tiền của người nước ngoài là không hề nhỏ. Chính vì vậy, chúng ta phải sử
dụng thêm chỉ số GNI như đã nêu ở trên để tránh sai sót.
Cuối cùng, Mức tăng trưởng GDP không đo lường chính xác được sự phát triển của
một quốc gia và đời sống người dân. Bởi GDP chỉ phản ánh chủ yếu đến sản lượng vật chất,
không xem xét đến tình hình phát triển tổng thể của quốc gia. GDP chỉ cho chúng ta biết
được qui mô của nền kinh tế mà không thể hiện được chất lượng cuộc sống người dân, hay
rộng hơn, là sự ổn định và tiềm lực của nền kinh tế.
PHẦN II. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
2.1 GDP của Việt Nam được tính như thế nào?
2.1.1 Cơ quan chịu trách nhiệm tính GDP:
Ở Việt Nam GDP được tính toán bởi Tổng cục thống kê dựa trên cơ sở các báo cáo từ
các đơn vị, tổ chức kinh tế cũng như báo cáo của các Cục thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
2.1.2 Phương pháp tính GDP của Việt Nam:
Chỉ tiêu GDP của Việt Nam hàng quý, năm được biên soạn theo 2 phương pháp, từ góc
độ sản xuất gọi là phương pháp sản xuất ( xác định GDP theo giá trị gia tăng ) và từ góc độ
sử dụng gọi là phương pháp sử dụng ( Xác định GDP theo luồng sản phẩm ) . Hai phương
pháp này dựa vào hoạt động sản xuất và hành vi tiêu dùng của các chủ thể của toàn bộ nền
kinh tế. Đây là cách làm khoa học, vừa đảm bảo xem xét được đầy đủ hoạt động sản xuất và
hành vi tiêu dùng cũng như vừa có thể so sánh, đối chiếu để đánh giá tính chính xác của từng
phương pháp, bổ trợ thông tin để kiểm tra chéo về chuỗi các hoạt động sản xuất – tiêu dùng
các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo phương pháp sản xuất, kết quả sản xuất của các ngành kinh tế của cả nước tạo ra
trong quý được tiếp cận từ các đơn vị sản xuất gồm: Doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty,
hộ sản xuất nông, lâm thủy sản, cơ sở kinh doanh cá thể phi nông lâm thủy sản, các cơ quan
nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, các đơn vị sự nghiệp… qua các chỉ tiêu về doanh thu, 11
chi phí, sản lượng, diện tích… từ các nguồn gồm: Điều tra thống kê, chế độ báo cáo thống
kê quốc gia, hồ sơ hành chính…
Theo phương pháp sử dụng, GDP được tính toán dựa vào tổng mức bán lẻ hàng hóa và
dịch vụ; số liệu về thu, chi ngân sách Nhà nước (từ Bộ tài chính); trị giá xuất, nhập khẩu
hàng hóa và dịch vụ (số liệu từ Tổng cục Hải quan); kết quả hoạt động xây dựng, nhập khẩu
máy móc thiết bị và từ kết quả nhiều cuộc điều tra khác… 12
2.2 Dữ liệu GDP thực và danh nghĩa:
2.2.1 Bảng số liệu GDP danh nghĩa qua các năm từ 2018- 2022:
Biểu đồ biến động của GDP thực v à GDP danh nghĩa giai đoạn 2018-2022.
Sự biến động của GDP giai đoạn 2018-2022:
Từ biểu đồ trên ta có thể thấy rằng GDP danh nghĩa vẫn luôn có xu thế tăng. Năm
2022 tăng gấp 1,36 lần so với năm 2018 .
GDP thực tăng dần qua các năm , trong đó năm 2022 gấp 1,31 lần 2018.
Bên cạnh đó, GDP tăng nhưng không đồng nghĩa với việc đời sống của người dân sẽ tăng lên
mà còn phải chịu sự ảnh hưởng của lạm phát hay đúng với ý nghĩa GDP
không phản ảnh tốt về phúc lợi kinh tế của con người. Chỉ một bộ phận nhỏ được hưởng
lợi , còn đa số phải chịu rủi ro vì l ạm phát tăng. 13
Qua bảng trên thể hiện GDP danh nghĩa và thực giai đoạn 2018-2022, dựa vào đó có
thể thấy được chỉ số điều chỉnh GDP và tỷ lệ lạm phát tính theo chỉ số điều chỉnh GDP. Theo
số liệu, cho thấy giá cả chung trong nền kinh tế Việt Nam có xu hướng tăng lên của chỉ số
điều chỉnh GDP nhưng tốc độ tăng giá chậm lại từ 2018-2020 và tăng trở lại từ 2021-2022.
Năm 2019, chỉ số điều chỉnh GDP bằng 158,38, hàm ý mức giá chung của nền kinh tế
trong năm 2019 tăng 58,38% so với năm 2010 r. Tương tự các năm 2018 , 2020,2021,2022
lần lượt tăng 54,63%; 60,7%; 65,17%; 71,54%. Nhưng khi tính tỷ lệ phần trăm giữa chỉ số
điều chỉnh GDP của năm 2019 và 2018 đạt thấy mức giá chung của năm 2019 chỉ tăng
2,42%so với mức giá chung 2018. Tương tự, mức giá chung 2020 tăng 1,48% so với 2019,
2021 tăng 2,78% so với 2020, 2022 tăng 3,86% so với 2021.
Về tốc độ tăng trưởng: Số liệu và nội dung có trong slide
Biểu đồ tốc độ tăng trưởng GDP và lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2018-2022
Ta có thể thấy được rằng tốc độ tăng trưởng biến động liên tục qua các năm lần lượt là
7.47% , 7.36%, 2.87%, 2.56%, 8.02%.
Giai đoạn từ năm 2018-2022 tăng trưởng không đồng đều. Căn bản giai đoạn 20182019
có mức độ chênh lệch tăng trưởng không đáng kể khi giảm 0,11%. Trong đó GDP năm 2019
đạt kết quả ấn tượng với tốc độ tăng 7,36% (Quý I tăng 6,82%, quý II tăng 6,73%; quý III
tăng 7,48%; quý IV tăng 6,97%) vượt mục tiêu của Quốc hội đề ra từ 6,6%-6,8%, khẳng định
tính kịp thời và hiệu quả của các giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt các
cấp, các ngành, các địa phương và côxng đồng doanh nghiêpx cùng nỗ lực thực hiện để đạt và
vượt mục tiêu tăng trưởng. Mức tăng trưởng năm nay tuy thấp hơn mức tăng 7,47% của năm
2018 nhưng cao hơn mức tăng của các năm 20112017. Trong mức tăng chung của toàn nền
kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,01%, đóng góp 4,6% vào mức tăng
chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng
8,90%, đóng góp 50,4%; khu vực dịch vụ tăng 7,3%, đóng góp 45% vào mức tăng chung. 14
Giai đoạn từ 2020 -2021 tốc độ tăng trưởng lại có biến động mạnh khi mà giảm dần
qua các năm. Trong đó đáng chú ý là năm 2020 với một số điểm nổi bật. Cụ thể, GDP năm
2020 đạt 2,87% (Quý I tăng 3,68%; quý II tăng 0,39%; quý III tăng 2,69%; quý IV tăng
4,48%) trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh
vực kinh tế – xã hội của Việt Nam. Điều này cho thấy tính đúng đắn trong chỉ đạo, điều hành
khôi phục kinh tế, phòng chống dịch bệnh và sự quyết tâm, đồng lòng của toàn bộ hệ thống
chính trị, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự nỗ lực, cố gắng của người dân và cộng đồng
doanh nghiệp để thực hiện có hiệu quả mục tiêu “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển
kinh tế – xã hội”. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và
thủy sản tăng 2,68%, đóng góp 13,5% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền
kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,98%, đóng góp 53%; khu vực dịch vụ tăng 2,34%, đóng góp 33,5%.
Cuối cùng là năm 2022, tốc độ tăng trưởng đã thay đổi một cách vượt bậc cũng như sự
trở lại guồng phát triển kinh tế. Đây cũng là một mốc đánh dấu sự trở lại của nền kinh tế sau
những năm đối mặt với diễn biến phức tạp của đại dịch covid-19. Trong đó, GDP năm 2022
tăng cao ở mức 8,02% so với năm trước, là mức tăng cao nhất các năm trong giai đoạn 2011-
2022. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,36%, đóng góp 5,11% vào tốc độ tăng
tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,78%,
đóng góp 38,24%. Khu vực dịch vụ tăng 9,99%, đóng góp 56,65% vào tốc độ tăng tổng giá
trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ý nghĩa:
Xét đến cả hai GDP danh nghĩa và GDP thực đều có xu hướng tăng, điều này có ý nghĩa:
GDP danh nghĩa có xu hướng tăng, nhất là khi nền kinh tế trải qua tình trạng lạm phát
( mức giá chung tăng ) sẽ có sự đóng góp không nhỏ của sự gia tăng giá mà trong đó, sản
xuất thực sự có thể tăng, không đổi hoặc thậm chí là giảm.
Khi GDP thực có xu hướng tăng, điều này cho thấy giá trị sản xuất cũng sẽ có xu hướng tăng qua các năm.
Tuy tốc độ tăng trưởng GDP của năm 2020 và 2021 có xu hướng tăng trưởng chậm
hơn các năm khác trong giai đoạn 2018-2022 nhưng tốc độ tăng trưởng GDP này lại đạt mức
kỷ lục cao hơn mục tiêu đề ra và cũng cao hơn mọi dự báo. Xét riêng GDP năm 2020 tăng
2,871% (Quý I tăng 3,68%; quý II tăng 0,39%; quý III tăng 2,69%; quý IV tăng 4,48%)
trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh
tế – xã hội là thành công lớn của Việt Nam. Điều này cho thấy tính đúng đắn trong chỉ đạo,
điều hành khôi phục kinh tế, phòng chống dịch bệnh và sự quyết tâm, đồng lòng của toàn bộ
hệ thống chính trị, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự nỗ lực, cố gắng của người dân và
cộng đồng doanh nghiệp để thực hiện có hiệu quả mục tiêu “vừa phòng chống dịch bệnh,
vừa phát triển kinh tế – xã hội.
Môi trường kinh doanh, đầu tư được cải thiện mạnh mẽ, thúc đẩy các kế hoạch đầu tư
lớn của khu vực kinh tế tư nhân. Tổng kết 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài, Chính phủ
khẳng định vai trò và những đóng góp to lớn của khu vực này đối với kinh tế - xã hội 15
nước chủ động cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước, theo đó tập trung vào những lĩnh
vực then chốt, thiết yếu, những địa bàn quan trọng và an ninh - quốc phòng, những lĩnh vực
mà DN thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư ; tuy nhiên, sự thay đổi này không
đáng kể, kinh tế nhà nước vẫn phát huy được vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế
quốc dân. Trong 3 năm tiếp, tỷ trọng của kinh tế nhà nước dần tăng trở lại con số ban đầu
khoảng 21%, do dịch bệnh bùng phát dẫn đến khủng hoảng kinh tế toàn cầu,dẫn đến suy
giảm tỉ trọng của nền kinh tế khác. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước lúc này được Đảng
và Nhà nước đề cao để đảm bảo an sinh xã hội, ổn định chính trị, an ninh - quốc phòng, góp
phần kiềm chế lạm phát,..
Kinh tế ngoài nhà nước:
Trong loại hình kinh tế ngoài nhà nước gồm kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể và kinh tế
tập thể. Các thành phần kinh tế này vẫn chịu sự kiểm soát của kinh tế nhà nước nên trong
quá trình phát triển vẫn chưa ổn định do chính sách ưu đãi từ nhà nước còn hạn chế. Tuy
vậy, thành phần kinh tế này vẫn giữ vai trò quan trọng với tỷ trọng khoảng 50% trong cơ cấu
GDP. Trong đó, kinh tế cá thể, tiểu chủ dựa trên hình thức tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất,
đóng góp tỷ trọng GDP khá cao nhưng lại đang giảm liên tục. Đây là một xu thế tất yếu, do
sự phát triển của nền kinh tế thị trường và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn
ra một cách mạnh mẽ buộc những thành viên của kinh tế cá thể, tiểu chủ phải thay đổi, di
chuyển vào các bộ phận, các thành phần kinh tế khác để bảo đảm lợi ích, do đó làm tăng sức
cạnh tranh và cơ hội để phát triển khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất.
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài:
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế mới nảy sinh trong quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Hiện nay, đã có hàng ngàn công ty nước ngoài có
dự án đầu tư ở Việt Nam, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Cho đến nay, tổng số vốn
đầu tư nước ngoài FDI đăng ký từng năm dao động trong khoảng 15 - 38 tỷ USD và đóng
góp vào GDP khoảng 19 - 20%.
2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến GDP của Việt Nam:
Mặc dù có rất nhiều yếu tố tác động đến GDP của một quốc gia nhưng sau khi tìm hiểu,
nhóm chúng tôi nhận thấy những yếu tố sau đây có tác động đáng kể và rõ rệt nhất đến GDP
Việt Nam trong 5 năm trở lại đây.
2.3.1 Các yếu tố khách quan:
Xu hướng đầu tư FDI:
Bằng việc tích cực thực hiện các chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài mà những
năm qua Việt Nam luôn có xu hướng tăng và an toàn về FDI. Với những dự án mở cửa, hội
nhập toàn cầu và đổi mới các chính sách kinh doanh mà Việt Nam đang trở thành thị trường
được nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm và chú ý. 16
Hiện nay, Việt Nam có rất nhiều đối tác đầu tư với hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Trong đó, tập chung chủ yếu vẫn là từ các nguồn đầu tư từ các nước trọng điểm như:
Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản,…
Về lĩnh vực đầu tư, vốn FDI ngày càng được chú trọng vào các các ngành không phổ
biến, ít chủ lực như: công nghiệp chế biến, chế tạo,…Trong những năm gần đây, các nhà đầu
tư đang có xu hướng phát triển một số ngành dịch vụ như kinh doanh bất động sản, bán buôn
và bán lẻ, mạnh nhất là ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt,…
Bảng tổng số vốn đầu tư FDI giai đoạn 2018-2022
Do đó, có thể nói FDI có tác động không nhỏ đến kinh tế Việt Nam:
FDI góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Viêx t Nam, nâng cao hiêux quả sử dụng các
nguồn lực đầu tư trong nước.
FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiêx p hoá – hiênx đại
hoá, nâng cao năng lực sản xuất công nghiêp.x
FDI góp phần nâng cao năng lực quản lý kinh tế , quản trị doanh nghiê x p, tạo thêm áp
lực đối với viêcx cải thiênx môi trường kinh doanh. Các số liệu thống kê cho thấy, tăng
trưởng kinh tế có mối tương quan thuận chiều với tốc độ tăng thu hút FDI thực hiện hàng
năm ở Việt Nam. Vốn FDI chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư của toàn xã
hội. Việc gia tăng vốn FDI được giải ngân sẽ làm mở rộng quy mô sản xuất của các ngành
kinh tế, từ đó tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Vốn FDI thực hiện đạt 20,38 tỷ
USD, chiếm khoảng 1/4 tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp 20,35% trong giá trị GDP
năm 2019). Bên cạnh đó, FDI cũng giúp đẩy mạnh xuất khẩu, đóng góp vào thặng dư cán
cân thương mại của Việt Nam, từ đó thúc đẩy tăng trưởng GDP. Dịch COVID-19:
Tuy là quốc gia có tốc độ tăng trưởng GDP dương trong năm 2020, nhưng trước diễn
biến và mức độ tác động của dịch bệnh COVID-19 được đánh giá là nghiêm trọng, phức tạp
và khó lường, nền kinh tế Việt Nam cũng không tránh khỏi những khó khăn và phải đối mặt
với các tình huống phát sinh do đại dịch gây ra. Nhiều nghiên cứu trong nước cũng cho thấy
tác động của dịch bệnh COVID-19 đối với nền kinh tế trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Đại 17
dịch COVID-19 ảnh hưởng mạnh mẽ lên chuỗi giá trị toàn cầu, đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI), hệ thống tài chính, kim ngạch xuất nhập khẩu, tình hình lao động,… COVID-19 tác
động làm tăng tỷ lệ nghèo và cận nghèo về thu nhập và làm sụt giảm thu nhập tạm thời của
hộ gia đình và người lao động, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, hoạt động thương
mại, lao động, việc làm và thu nhập của người lao động. GDP quý I/2020 của Việt Nam chỉ
tăng 3,68%, là mức thấp nhất trong 10 năm gần đây mặc dù Việt Nam nằm trong số ít các
quốc gia kiểm soát tốt dịch bệnh nhờ có cách làm đúng, kịp thời, hiệu quả, chi phí thấp, đặc
biệt là sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Dân số: Nhân khẩu học:
Những yếu tố như dân số trẻ (70% dân số có độ tuổi dưới 35), công nghệ, lực lượng
lao động đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Việt Nam sẽ là động lực
tăng trưởng của khu vực trong thập kỷ tới, thúc đẩy 98% sự gia tăng lực lượng lao động,
đóng góp 70 - 80% số lượng người tiêu dùng mới.
Chi phí lao động của Việt Nam cũng thấp hơn nhiều so với các khu vực khác của châu
Á, chỉ bằng khoảng 50% so với Trung Quốc. Sự kết hợp giữa lực lượng lao động ngày càng
mở rộng, chi phí lao động thấp và năng suất ngày càng cao của Việt Nam là những yếu tố
hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.
Tốc độ gia tăng dân số:
Sự tăng lên của GDP bình quân đầu người sẽ làm phúc lợi xã hội tăng theo. Tại các
quốc gia có tỷ lệ tăng trưởng dân số cao sẽ tác động tới GDP bình quân đầu người theo chiều
hướng phụ thuộc vào bản chất tác động lên GDP bình quân đầu người. Trong trường hợp
tăng trưởng dân số cao đóng góp nguồn nhân lực thúc đẩy kinh tế phát triển, khi đó GDP
bình quân đầu người tăng. Ngược lại, tại quốc gia không có chính sách phát triển kinh tế phù
hợp, dân số tăng không chỉ không đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, mà còn kéo nền kinh
tế trở nên trì trệ, GDP bình quân đầu người sẽ sụt giảm. Nền kinh tế Việt Nam trong giai
đoạn 2018-2022 chính là biểu hiện của xu hướng thứ nhất trong quan điểm của Thomas
Piketty, tức là dân số tăng trưởng nhanh thúc đẩy kinh tế phát triển, GDP bình quân đầu người tăng.
Thu nhập và tiêu dùng:
Từ năm 2018-2022, thu nhập bình quân đầu người có sự tăng mạnh, cụ thể: tăng từ
2,587 USD năm 2018 lên 4,100 USD năm 2022. Thu nhập người dân làm tăng chi tiêu từ đó
làm tăng sản lượng góp phần thúc đẩy sự tang trưởng của GDP Việt Nam.
2.3.2 Các yếu tố chủ quan:
Chính sách hỗ trợ của chính phủ:
Chính sách tiền tệ: 18
Chính phủ đã ban hành hàng loạt chính sách, trong đó chính sách tiền tệ đã khẳng định
được vai trò lưu thông “dòng máu” của nền kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó khăn, ổn
định sản xuất. Các chính sách được Chính phủ ban hành thể hiện sự quyết liệt và sáng tạo
của Chính phủ. Những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp
có nguồn lực để vượt qua khó khăn do tác động của đại dịch Covid-19. Chính sách tiền
tệ chủ động, linh hoạt, góp phần hạ mặt bằng lãi suất hỗ trợ nền kinh tế. Mục tiêu ưu tiên
hàng đầu của các chính sách, trong đó có chính sách tiền tệ là duy trì hoạt động của doanh
nghiệp, hạn chế tối đa tình trạng phá sản; duy trì việc làm cho người lao động, hạn chế tình
trạng thất nghiệp, mất thu nhập; đảm bảo hệ thống ngân hàng - huyết mạch của nền kinh tế
- duy trì được trạng thái ổn định, vận hành tốt, đủ năng lực vực dậy nền kinh tế sau đại dịch Covid-19.
Chính sách tiền tệ hỗ trợ khu vực sản xuất, kinh doanh thông qua việc Ngân hàng Nhà
nước hỗ trợ các ngân hàng thương mại cơ cấu lại các khoản nợ hiện hành cho các khách
hàng (giảm lãi suất đối với các khoản nợ hiện hành, đảo nợ…); miễn, giảm lãi trong thời kỳ
doanh nghiệp không có doanh thu. Cùng với hệ thống ngân hàng lành mạnh, dự trữ ngoại
hối tăng đã tạo nền tảng tốt để ứng phó những “cú sốc” từ bên ngoài. Việc bổ sung dự trữ
ngoại hối Nhà nước và cán cân thanh toán thặng dư là những điều kiện thuận lợi, hỗ trợ giữ
ổn định tỷ giá, bảo đảm an ninh tài chính tiền tệ quốc gia.
Chính sách tài khoá:
Từ năm 2018-2022, chính phủ liên tục đề ra chính sách tài khóa hợp lý nhằm tăng sản
lượng, ổn định lạm phát thông qua việc miễn giảm thuế, phí với các doanh nghiệp, thực hiện
chi chuyển nhượng và giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ phục hồi sản xuất kinh doanh sau đại dịch. Lạm phát:
Mặc dù trong giai đoạn 2018-2022, lạm phát hầu như tăng nhưng về cơ bản vẫn luôn duy
trì ở mức ổn định 2-5% giúp bình ổn giá cả tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế.
2.4 Nhận xét về nền kinh tế Việt Nam:
Kinh tế tăng trưởng từng bước vững chắc và ngày càng được cải thiện, quy mô
kinh tế ngày càng mở rộng, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm:
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) giai đoạn 2018 – 2022 được đánh giá
khá cao. Mặc dù năm 2020 và 2021 kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid19
với nhiều lần cách ly, giãn cách xã hội. Bên cạnh đó nước ta còn hứng chịu những hậu quả
nặng nề của thiên tai, bão lụt nghiêm trọng ở miền Trung nhưng tốc độ tăng trưởng bình
quân trong 5 năm 2018 - 2022 vẫn thuộc nhóm các nước có mức tăng trưởng khá cao trong
khu vực và trên thế giới. Trong đó, các lĩnh vực như: công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tiếp
tục giữ vai trò dẫn dắt, đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng chung của đất nước. Quy mô
GDP và GDP bình quân đầu người tiếp tục được mở rộng bất chấp những khó khăn thử thách
mà nền kinh tế phải đương đầu trong giai đoạn này. Các cân đối lớn của nền kinh tế về tích 19
luỹ - tiêu dùng, tiết kiêmx - đầu tư, năng lượng, lương thực, lao đôxng - viêc xlàm,… tiếp
tục được bảo đảm, góp phần củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô.
Giá cả hàng hoá tương đối ổn định, lạm phát hằng năm được kiểm soát thấp hơn
mục tiêu đề ra:
Giá cả các mặt hàng diễn biến tương đối ổn định. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân
giai đoạn 2018 - 2022 đạt khoảng 3,1%, giảm mạnh so với giai đoạn 2011 - 2015 (7,7%),
trong phạm vi mục tiêu đề ra (dưới 4%). Lạm phát cơ bản bình quân được kiểm soát tốt qua
các năm, được giữ ở mức tương đối ổn định so với các thời kì trước.
Huy động nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng lên, vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài tăng mạnh, đạt mức kỷ lục và hiệu quả sử dụng dần được nâng cao:
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2018 - 2022 đạt 9,8 triệu tỉ đồng, bằng
33,7% GDP (mục tiêu 32 - 34%). Cơ cấu đầu tư chuyển dịch tích cực, tỉ trọng đầu tư của
khu vực nhà nước giảm, phù hợp với định hướng cơ cấu lại đầu tư công và giảm dần sở hữu
Nhà nước tại các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, nhất là các lĩnh vực Nhà nước không cần
nắm giữ cổ phần chi phối.
Cán cân xuất, nhập khẩu hàng hóa được cải thiện rõ rệt, chuyển từ thâm hụt
sang thặng dư, cơ cấu xuất, nhập khẩu chuyển dịch tích cực, bền vững hơn:
Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hoá tăng từ 480 tỉ USD tỉ USD năm 2018 lên
khoảng 517 tỉ USD năm 2021 mặc dù ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19 vẫn đạt
tới 669 tỷ USD và năm 2022 sau khi ổn định xã hội đã đạt tới 730,2 tỷ USD. Xuất khẩu hàng
hóa tăng từ 243,5 tỉ USD năm 2018 lên 371,3 tỉ USD năm 2020, tăng bình quân 11,7% giai
đoạn 2017 - 2021, là động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. Cán cân thương mại hàng
hóa đạt thặng dư, năm sau cao hơn năm trước tạo điều kiện cải thiện cán cân thanh toán, góp
phần ổn định các chỉ số kinh tế vĩ mô khác.
Cơ cấu xuất, nhập khẩu chuyển dịch theo hướng tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến,
chế tạo, giảm xuất khẩu thô; nhập khẩu chủ yếu ở nhóm hàng cần thiết phục vụ sản xuất,
xuất khẩu và phục vụ các dự án đầu tư trong lĩnh vực năng lượng, điện tử.Tỉ trọng và tốc
độ tăng trưởng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước ngày càng tăng. Danh mục các mặt
hàng xuất khẩu được mở rộng, số mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỉ USD trở lên tăng
qua các năm. Thị trường xuất khẩu được mở rộng và đa dạng, nhiều sản phẩm của doanh
nghiệp trong nước đã dần có chỗ đứng và khả năng cạnh tranh trên nhiều thị trường có yêu
cầu cao về chất lượng, điển hình là một số doanh nghiệp viễn thông. Thị trường nhập khẩu
máy móc, nguyên liệu cho sản xuất đã dịch chuyển dần từ khu vực Châu Á sang thị trường Châu Âu và Châu Mỹ.
Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất,
hiêu quả và sức cạnh tranh:e
Công nghiệp: Cơ cấu công nghiệp dịch chuyển đúng hướng và tích cực, giảm tỉ trọng
của ngành khai khoáng, tăng nhanh tỉ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, phù hợp với
mục tiêu phát triển bền vững. Đã hình thành được một số ngành công nghiệp có quy mô lớn,
có khả năng cạnh tranh và vị trí vững chắc trên thị trường quốc tế. Một số doanh nghiệp công 20