BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA: KINH TẾ-LUẬT
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÍ KINH TẾ
----- -----
BÁO CÁO THẢO LUẬN
Đề tài: Phân tích và lấy ví dụ minh họa về một hãng cạnh tranh hoàn hảo
và chỉ rõ cách thức mà hãng này lựa chọn sản lượng và lợi nhuận
khi giá thị trường thay đổi trong thời gian ngắn hạn
Giáo viên hướng dẫn: Lương Nguyệt Ánh
Sinh viên thực hiện: Nhóm 5
Lớp học phần: 2271MIEC0111
1
MỤC LỤC
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ HÃNG CTHH TRONG
NGẮN HẠN.............................................................................................................5
I. Khái quát về thị trường cạnh tranh hoàn hảo:..............................................5
1. Khái niệm.....................................................................................................5
2. Đặc điểm:......................................................................................................5
3. Đặc trưng:....................................................................................................6
II. Đường cầu D và dường doanh thu biên MR của doanh nghiệp cạnh tranh
hoàn hảo:..............................................................................................................7
1. Khái niệm đường cầu và đường doanh thu cận biên của hãng CTHH:. .7
2. Mối quan hệ giữa đường cầu và đường doanh thu cận biên của hãng
cạnh tranh hoàn hảo........................................................................................7
3. Phương trình đường cầu của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo..........8
4. Đặc điểm của doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo........8
5. Quyết định của doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo.....8
III. Lựa chọn sản lượng của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn........9
PHẦN 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ HÃNG CTHH TRONG
NGẮN HẠN...........................................................................................................13
1. Khái quát chung về cà phê Buôn Ma Thuột................................................13
2. Tình huống nghiên cứu:................................................................................14
3. Cách thức hãng đưa ra quyết định lựa chọn sản lượng và lợi nhuận........14
4. Kết luận..........................................................................................................19
2
LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Sau ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, hoạt động thương mại và
đầu tư toàn cầu đang phục hồi trở lại. Theo báo cáo cập nhật tình
hình kinh tế Việt Nam, tính đến thời điểm hiện tại kinh tế- xã hội
nước ta đang tiếp tục đà phục hồi, phát triển nhanh và mạnh với
nhiều điểm sáng. Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước tiến tới hội
nhập với rất nhiều cơ hội phía trước.Tuy nhiên chúng ta cũng phải
đối đầu với không ít khó khăn, thách thức. Bên cạnh những điểm nổi
bật về khôi phục, cải thiện trên nhiều lĩnh vực, nền kinh tế Việt Nam
cũng gặp vấn đề về cân bằng thị trường, thiếu hụt nguồn cung, chi
phí sản xuất làm gián đoạn tình hình phát triển của một số doanh
nghiệp,...
Nếu coi nền kinh tế là một cơ thể thì mỗi doanh nghiệp sẽ là
một tế bào. Để cơ thể có thể khỏe mạnh thì mỗi tế bào phải có đủ
chất dinh dưỡng để nuôi sống nó. Vậy tế bào lấy chất dinh dưỡng từ
đâu? Muốn có được dinh dưỡng, mỗi doanh nghiệp phải có năng lực
nhất định, đặc biệt là khả năng cạnh tranh trong nước và ngoài nước
để thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách mạnh mẽ nhất. Nền kinh
tế cũng không thể phát triển nếu doanh nghiệp gặp những vấn đề
trong cạnh tranh và tạo giá trị gia tăng. Chính vì vậy, cạnh tranh đang
là một trong những mục tiêu hàng đầu để phát triển doanh nghiệp nói
riêng và nền kinh tế nước nhà nói chung. Có thể nói, cạnh tranh là
chìa khóa để mở ra những khúc mắc mà không ít các doanh nghiệp
lớn - nhỏ phải “ngập ngừng”. Ví dụ như: Làm sao để lợi nhuận đạt
tối đa? Làm cách nào để đứng vững trên thị trường? Làm sao để đem
lại thành phẩm tốt nhất đến người tiêu dùng mà giá thành lại rẻ?...
Sau khi tìm hiểu môn Kinh tế học vi mô I, chúng em đã nghiên
cứu và báo cáo thảo luận với đề tài: Phân tích và lấy một ví dụ
minh họa về một hãng cạnh tranh hoàn hảo và chỉ rõ cách thức
hãng này lựa chọn sản lượng và lợi nhuận khi giá thị trường
thay đổi trong thời gian ngắn hạn.
2. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
3
2.1. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là gì?
2.2. Đặc trưng của thị trường cạnh tranh hoàn hảo
2.3. Thực trạng mặt hàng cà phê hiện nay?
2.4. Cách thức hãng lựa chọn sản lượng và lợi nhuận khi giá thị trường
thay đổi trong ngắn hạn?
2.5. Rút ra kết luận về vấn đề nghiên cứu
3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Mục tiêu chung: Tìm hiểu cách thức hãng CTHH lựa chọn sản
lượng và lợi nhuận khi giá thị trường thay đổi trong ngắn hạn cũng
như đưa ra phương hướng, mục tiêu và giải quyết vấn đề
3.2. Mục tiêu cụ thể
Phân tích, tìm hiểu một số lí thuyết của vấn đề nghiên cứu
Đánh giá, phân tích thực trạng của hãng CTHH khi giá thị
trường thay đổi trong ngắn hạn
Đề ra phương hướng, mục tiêu, giải pháp hãng tối đa hóa lợi
nhuận khi giá thị trường thay đổi trong ngắn hạn
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo, hãng CTHH kinh doanh mặt hàng
cà phê
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Khu vực Buôn Ma Thuột
4
PHẦN 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ HÃNG CTHH
TRONG NGẮN HẠN
* PHÂN LOẠI THỊ TRƯỜNG:
Cấu trúc thị trường : được phân chia dựa vào số lượng người mua và bán trên
thị trường; đặc trưng của sản phẩm.
● Thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
● Thị trường bán cạnh tranh ( cạnh tranh mang tính độc quyền ).
● Thị trường bán độc quyền ( độc quyền mang tính cạnh tranh ).
● Thị trường độc quyền.
I. Khái quát về thị trường cạnh tranh hoàn hảo:
1. Khái niệm
Trong nền sản xuất hàng hóa thị trường được xem là một phạm trù riêng bao
gồm ba nhân tố chính liên kết chặt chẽ với nhau: giá cả, lượng cung ứng và nhu cầu.
Hiểu một cách đơn giản, thị trường là nơi để thực hiện các giao dịch mua bán
chuyển nhượng và trao đổi các loại hàng sản phẩm gồm: hàng hóa, dịch vụ, vốn, lao
động, và những nguồn lực khác của nền kinh tế.
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường có vô số người mua và bán , sản
phẩm trên thị trường là tương tự nhau ( đồng nhất, có thể thay thế cho nhau ) và
không có rào cản thị trường đối với việc gia nhập hay rút khỏi ngành
Ví dụ:
oThị trường cà phê Buôn Mê Thuột,...
oThị trường các mặt hàng nông sản, phế liệu,.
2. Đặc điểm:
Các doanh nghiệp CTHH không có sức mạnh thị trường:
Số lượng người bán: rất nhiều
Sản phẩm có thể thay thế cho nhau (đồng nhất): sản phẩm của những người
bán trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo là giống nhau, không có sự phân
biệt. Sản phẩm của hãng này và hãng khác là hàng hóa thay thế hoàn hảo
5
Không có rào cản thâm nhập thị trường: tự do gia nhập và rút khỏi thị trường
Sản phẩm điển hình: nông nghiệp
Cạnh tranh hoàn hảo có qui mô rất nhỏ so với thị trường, không ảnh hưởng
đến giá và lượng thị trường (do quy luật cung – cầu quyết định)
=> Doanh nghiệp không có khả năng chi phối thị trường và chi phối giá
=> Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo là ‘ người chấp nhận giá’
3. Đặc trưng:
a) Nhiều người mua và nhiều người bán độc lập với nhau
Những người bán độc lập với nhau: chỉ quan tâm đến chi phí và lợi nhuận của
bản thân mà không quan tâm đến của người khác
b) Sản phẩm đồng nhất – hàng hóa thay thế hoàn hảo. (sản phẩm gần giống
nhau)
VD: Sản phẩm đồng nhất là các loại trứng: trứng gà ta gà tây, trứng vịt
c) Tự do gia nhập và rời bỏ thị trường
- Một người bán muốn gia nhập hay rời bỏ thị trường này thì không có một rào
cản nào cả.
- Rào cản có thể là công nghệ sản xuất, bằng sáng chế.
VD: Nếu một bà A bán trứng gà, gà đẻ bao nhiêu thì bà bán bây nhiêu, ngày nào
không có trứng thì bà ngừng bán, ngày nào có thì bà lại bán tiếp.
d) Thông tin hoàn hảo
- Người mua và người bán có thể biết được giá cả thị trường, đặc tính của sản
phẩm, chất lượng của sản phẩm.
- Người mua có thể biết giá mua thấp nhất là bao nhiêu, người bán có thể biết
giá mà có thể bán cao nhất là bao nhiêu
e) Mức giá trên thị trường quyết định bởi cung và cầu, doanh nghiệp là người
chấp nhận giá của thị trường
Doanh nghiệp có quy mô nhỏ nên không thể chi phối giá của thị trường. Nếu
người bán bán giá cao hơn so với thị trường thì ít người mua, vì người mua nắm
được thông tin về giá cả của sản phẩm tương tự trên thị trường. Còn nếu bán giá
thấp được thông tin về giá cả của sản phẩm tương tự trên thị trường. Còn nếu bán
giá thấp thì lợi nhuận nhỏ
6
II. Đường cầu D và dường doanh thu biên MR của doanh nghiệp cạnh tranh
hoàn hảo:
1. Khái niệm đường cầu và đường doanh thu cận biên của hãng CTHH:
- Đường cầu của thị trường: là đường thể hiện nhu cầu của tất cả người mua
trên thị trường nhưng với sản phẩm của tất cả các hãng. Đường cầu thị
trường là đường cầu dốc xuống.
- Đường cầu của hãng cạnh tranh hoàn hảo: là đường thể hiện các nhu cầu của
toàn bộ người mua trên thị trường với riêng sản phẩm của một hãng.
- Đường cầu của hãng CTHH là đường nằm ngang -> trả lời cho câu hỏi: tại
một mức giá nhất định thì tất cả người mua trên thị trường quyết định mua
bao nhiêu sản phẩm của riêng hãng đấy.
- Đường doanh thu cận biên của hãng trùng với đường cầu và đường doanh
thu bình quân
2. Mối quan hệ giữa đường cầu và đường doanh thu cận biên của hãng cạnh
tranh hoàn hảo
Đường cầu của mỗi hãng trong ngành cạnh tranh hoàn hảo là đường cầu nằm
ngang tại mức giá thị trường
Đường doanh thu cận biên của hãng trùng với đường cầu và đường doanh
thu bình quân
7
3. Phương trình đường cầu của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo
TR = P.Q = a .Q MR = (TR)’ = (a . Q)’ = a = MR Q Q
Trong đó:
PE = a ( hằng số không phụ thuộc vào Q)
MR: doanh thu cận biên
Đường cầu (D) = Đường doanh thu biên (MR) = PE = AR
4. Đặc điểm của doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo
a) Đường cầu doanh nghiệp
- Thị trường đạt tại mức giá cân bằng là P các doanh nghiệp phải chấp nhận 0,
giá này bởi vì họ không thể chi phối được giá của thị trường
- Thị trường đạt tại mức giá cân bằng là P , các doanh nghiệp phải chấp nhận 0
giá này bởi vì họ không thể chi phối được giá của thị trường
- Đường cầu sản phẩm của doanh nghiệp là nằm ngang tương ứng với mức giá
P0, hệ số co giãn là E = = ∞d
8
b) Doanh thu của doanh nghiệp
Tổng doanh thu (TR): TR = P.Q - P: giá bán, Q: mức sản lượng bán ra
Doanh thu biên: MR =
Doanh thu trung bình: AR = == P
5. Quyết định của doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Trong ngắn hạn (mức giá đã được quy định bởi thị trường):
* Giả định:
oSố doanh nghiệp trong ngành không đổi
oSản lượng của doanh nghiệp có khả năng thay đổi
o Sản xuất sản lượng là bao nhiêu để tối đa hóa được lợi nhuận.
* Phân tích:
oLợi nhuận = TR – TC = P.Q – TC
o Doanh nghiệp lựa chọn mức sản lượng căn cứ vào mục tiêu và tổng chi
phí bỏ ra.
III. Lựa chọn sản lượng của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn
Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH trong ngắn hạn:
- Điều kiện chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp: MR=MC
- Hãng CTHH: đường MR chính là đường cầu và chính là giá thị trường
=> P = MR
- Kết hợp hai điều kiện trên, suy ra điều kiện để hãng CTHH tối đa hóa lợi
nhuận là hãng lựa chọn mức sản lượng mà tại đó:
P=MC
9
10
11
12
13
PHẦN 2:
CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ HÃNG CTHH
TRONG NGẮN HẠN
1. Khái quát chung về cà phê Buôn Ma Thuột
* Quá trình hình thành cà phê Buôn Ma Thuột:
Cây cà phê du nhập vào Việt Nam khá sớm (từ năm 1857) thông qua một
số linh mục thừa sai người Pháp. Đầu tiên là giống cà phê chè (coffee
arabica) được trồng thử nghiệm tại các Nhà thờ Thiên chúa giáo ở một số
tỉnh phía Bắc sau đó mới phát triển dần vào Nam Tây Nguyên và Đông Nam
Bộ. Nhưng cho đến nay xét về cả quy mô lẫn danh tiếng, không nơi nào ở
Việt Nam có cà phê nổi tiếng trong và ngoài nước như cà phê Buôn Ma
Thuột.
Với lợi thế là một vùng đất đỏ bazan màu mỡ, có những ưu thế đặc trưng
về điều kiện tự nhiên, cao nguyên Buôn Ma Thuột không những là nơi cây cà
phê sinh trưởng tốt, mà còn tạo nên hạt cà phê chất lượng cao, hương vị khác
biệt so với nhiều vùng đất khác. Chính sự khác biệt đó là yếu tố quyết định
lợi thế cạnh tranh của cà phê Buôn Ma Thuột với các vùng khác.
* Quá trình phát triển cà phê Buôn Ma Thuột:
Với các điều kiện tự nhiên phù hợp, được trồng và chăm sóc tốt nên chất
lượng cà phê ngày càng tăng lên, kích thước hạt lớn, chất lượng nước đậm đà
rất được ưa chuộng ở Pháp và một số nước châu Âu. Ngoài hương vị thơm
ngon đặc trưng tự nhiên, thời kỳ này cà phê Buôn Ma Thuột còn nổi danh
với một loại cà phê mang tính huyền thoại là “cà phê chồn”. Tuy nhiên, thời
kỳ này do bệnh gỉ sắt phát triển mạnh trên cây cà phê chè, làm giảm đáng kể
năng suất, nên các chủ đồn điền Pháp lần lượt chuyển sang trồng loại cà phê
vối (cà phê chè chỉ còn khoảng 1% diện tích), năng suất cao, chất lượng
thơm ngon hơn. Chính vì vậy, cà phê vối Robusta, được chọn lọc qua nhiều
thập kỷ, đã trở thành cây cà phê chủ lực ở vùng đất Buôn Ma Thuột bởi khả
năng thích nghi với điều kiện tự nhiên, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao
của nó.
14
Đến năm 1959 đã có 49 đồn điền trồng cà phê ở khu vực Buôn Ma Thuột
(bao gồm cả Buôn Hồ, Phước An) với tổng diện tích trên 5.200 ha; trong đó
riêng đồn điền CHPI là 576 ha. Ngoài các đồn điền của Pháp, đã dần xuất
hiện một số đồn điền trồng cà phê do người dân tộc bản xứ và người Kinh
khai phá, làm chủ. Đến năm 1975, tổng diện tích cà phê ở Dak Lak đã tăng
lên 8.600 ha, cho sản lượng hằng năm trên 11.000 tấn, hầu hết là cà phê vối
Robusta. Tuy xuất khẩu chưa nhiều, nhưng thông qua con đường du lịch, hạt
cà phê Buôn Ma Thuột đã đến được nhiều quốc gia trên thế giới và nhiều
người thực sự ngưỡng mộ chất lượng và hương vị thơm ngon của nó.
2. Tình huống nghiên cứu:
a) Trong bài thảo luận, ta xét đến mặt hàng phê trong phạm vi vùng Buôn
Ma Thuột
b) Ta cũng giả sử thị trường là thị trường CTHH với các đặc điểm sau:
Có rất nhiều người mua và người bán trên thị trường
Sản phẩm hàng hóa là giống nhau
Các doanh nghiệp có thể tự do gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường
Thông tin trên thị trường hoàn hảo, cả người mua người bán đều
thông tin đầy đủ về nhau
c) Để nghiên cứu được cách thức hãng này lựa chọn sản lượng lợi nhuận
trong ngắn hạn, ta phải giả định trên thị trường những sự thay đổi lớn về
giá cả sản phẩm. Khi đó buộc hãng phải đưa ra sự lựa chọn sản lượng tối
ưu nhất để tối đa hóa lợi nhuận
3. Cách thức hãng đưa ra quyết định lựa chọn sản lượng và lợi nhuận
Đối với bất cứ doanh nghiệp nào trước khi quyết định sản xuất kinh doanh mặt
hàng nào đó với số lượng là bao nhiêu đều phải dựa trên mục tiêu là tối đa hóa lợi
nhuận khi giá của thị trường thay đổi
Và tùy theo tình hình biến động giá cụ thể và dựa trên sự phân tích lợi nhuận của
hãng mà hãng sẽ đưa ra sự lựa chọn mức sản lượng của mình cũng như quyết định
nên sản xuất hay đóng cửa
Sau đây nhóm chúng em sẽ trình bày trong phạm vi ngắn hạn về những tình
huống giả định về sự thay đổi giá sản phẩm trên thị trường để thấy được cách thức
mà hãng đưa ra quyết định phù hợp với doanh nghiệp của mình
15
Giả sử trong 3 tháng đầu năm hãng quyết định sản xuất với quy mô trong ngắn
hạn với hàm tổng chi phí: TC =
Chi phí bình quân ATC = = Q + + 2
Tổng chi phí cố định: TFC = 64
Tổng chi phí biến đổi: TVC =
Chi phí biến đổi bình quân AVC = = Q + 2
Chi phí cận biên MC = 2Q + 2
Phòa vốn = ATC ATC = 0min Q
 1 - = 0
 Q = 8
ATC = 8 + + 2 = 18 = Pmin a vốn
Pđóng cửa = AVC = Q + 2 ≥ 2 do Q ≥ 0min
AVC =2min
Vì P = MC = 2Q + 2 nên đường cầu có dạng Q = D
Với Q : đơn vị tấn
P : nghìn đô / tấn
P = 20 > ATCmin
P = 18 = ATCmin
AVCmin < P = 6 < ATCmin
P = 2 ≤ AVCmin
Trường hợp 1: Giả sử trên thị trường giá cà phê là P = 20>ATCmin
16
P = 20, khi đó lượng P = MC => 2Q + 2 = 20 => Q = 9
Mức sản lượng Q* của hãng là 9
Tổng doanh thu: TR = P.Q* = 20. 9 = 180
Tổng chi phí : TC = Q +2Q + 64 = 1632
Phần lợi nhuận : π = TR – TC = 180 – 163 = 17
Ở trường hợp này, hãng muốn tối đa hóa lợi nhuận thì phải chọn mức sản lượng mà
chi phí cận biên bằng bằng giá của sản phẩm ( trong thị trường CTHH ta có P=MC).
Ta thấy phần diện tích hình AP EB hãng thu được lợi nhuận kinh tế dương đồng 1
thời đó cũng là mức lợi nhuận tối đa
Trường hợp 2: Khi giá thị trên thị trường P = 18 = ATC min
Khi P = 18 thì mức sản lượng từ Q* xác định tại P = MC => 2Q + 2 = 18 => Q = 8
Mức sản lượng của hãng = 8
Tổng doanh thu : TR = P.Q* = 18.8 = 144
Tổng chi phí TC = Q + 2Q + 64 = 1442
17
Phần lợi nhuận của hãng π = TR – TC = 0
Khi giá thị trường thay đổi P=ATC hãng vẫn theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi min
nhuận lựa chọn ở mức sản lượng Q*. Lợi nhuận mà hãng thu được là phần diện tích
hình 0P EQ* nó chính bằng tổng chi phí sản xuất ra sản phẩm nên lợi nhuận lúc này2
bằng 0, hãng sẽ hòa vốn và điểm E được gọi là điểm hòa vốn.
Trường hợp 3: Giá của thị trường nằm giữa ATC AVCmin min (AVCmin < P = 6 <
ATC )min
Khi P = 6, xét P = MC => 2Q + 2 = 6 => Q =2
Mức sản lượng Q* Của hãng = 2
Tổng doanh thu: TR = P . Q* = 6.2 = 12
Tổng chi phí: TC = Q + 2Q + 64 = 2 + 2.2 + 64 = 722 2
Phần lợi nhuận tăng thu được là:
π = TR – TC = 12 – 72 = - 60
Tổng chi phí cố định: TFC = 64
|π|<TFC => Hãng vẫn bù đắp được một phần chi phí cố định
Trong trường hợp này hãng đứng trước hai sự lựa chọn: một là tiếp tục sản
xuất, hai là hãng sẽ đóng cửa.
Nếu tiếp tục sản xuất hãng vẫn chịu lỗ trong ngắn hạn nhưng kì vọng trong
tương lai hãng sẽ kiếm thêm được lợi nhuận vì khi đó có thể giá thành sản phẩm
tăng hoặc chi phí sản xuất sẽ giảm xuống. Lúc này phần diện tích hình P ABE là 3
phần biểu thị tổng thua lỗ mà hãng phải chịu khi chọn sản xuất ở mức sản lượng Q*
18
Nhưng nếu doanh nghiệp chọn đóng cửa ngừng sản xuất, hãng sẽ phải chịu
toàn bộ khoản chi phí được biểu hiện thông qua diện tích hình MABN
Mặc dù hãng lựa chọn phương án nào cũng sẽ vẫn bị thua lỗ nhưng nếu so
sánh hai phần diện tích của hình vẽ thì ở trường hợp này hãng vẫn nên tiếp tục sản
xuất thay vì ngừng hoạt động ở doanh nghiệp. Vì hãng vừa có thể bù đắp được chi
phí biến đổi lại vừa được một phần chi phí cố định. Như vậy, dù chi phí cố định
không liên quan đến việc lựa chọn sản lượng của hãng, nhưng nó lại là yếu tố quyết
định giúp hãng lựa chọn phương án nên tiếp tục sản xuất hay ngừng sản xuất trong
ngắn hạn
Theo như những gì biểu hiện trên hình vẽ thì lựa chọn tiếp tục sản xuất là lựa
chọn khôn ngoan nhất của hãng.
Trường hợp 4: P = 1 ≤ AVC ( xét P = AVC )min min
Khi P = 2 mức sản lượng Q* xác định tại P = MC
2Q + 2 = 2 => Q = 0
Mức sản lượng Q* = 0
Tổng doanh thu: TR = P.Q* = 1.0 = 0
Tổng chi phí: TC = 64
Lợi nhuận của hãng: π = TR – TC = -64
Nếu hãng sản xuất, hãng sẽ sản xuất ở mức sản lượng tối ưu Q* và sẽ bị thua lỗ
toàn bộ chi phí. Điều này được thể hiện qua hình P ABE. Còn nếu đóng cửa sản 4
xuất, hãng cũng vẫn chịu toàn bộ thua lỗ như phần diện tích hình vẽ trên.
Giả sử nhà quản lí vẫn lựa chọn tiếp tục sản xuất khi P=AVCmin
19
Nếu giá thấp hơn AVC tại mức sản lượng ở đó mà P=MC thì hãng nên đóng min
cửa ngừng sản xuất và phải chịu toàn bộ thua lỗ của chi phí cố định (π = -TFC).
đây cũng là khoản lỗ tối thiểu có thể khi giá thấp hơn chi phí biến đổi bình quân.
Do hãng đóng cửa khi giá giảm xuống dưới AVC nên điểm tối thiểu trên đường min
AVC là điểm đóng cửa của hãng và mức giá này là mức giá đóng cửa của hãng
4. Kết luận
Qua việc nghiên cứu và phân tích về một sản phẩm trong hãng cạnh tranh hoàn
hảo, thảo luận xem cách thức hoạt động của nó trong việc lựa chọn sản lượng và lợi
nhuận như thế nào trên giá cả thị trường thay đổi trong ngắn hạn, nhóm 5 chúng em
rút ra được một số kết luận sau: Nếu quyết định sản xuất thì hãng CTHH luôn phải
lựa chọn sản xuất ở mức sản lượng tối ưu thoả mãn điều kiện chi phí giá sản phẩm
bằng chi phí cận biên (P=MC). Hơn nữa thì việc lựa chọn mức sản lượng định sản
xuất bao nhiêu cũng như đưa ra quyết định có tiếp tục sản xuất hay không của hãng
CTHH cũng phải phụ thuộc vào mức giá cả thực tế của sản phẩm và dựa trên cơ sở
phân tích về lợi nhuận có thể thu được khi đã lựa chọn ở mức sản lượng tối ưu.
Trong ngắn hạn hãng CTHH có phần tổng chi phí cố định và biến đổi nên khi có
trường hợp mặc dù là hãng bị thua lỗ nhưng vẫn phải lựa chọn phương án tiếp tục
sản xuất.
Với bài thuyết trình nhóm chúng em xoay quanh sản phẩm ở vùng đất màu mỡ
Buôn Ma Thuột là cà phê: Ban đầu cà phê rất đắt, vì thế chỉ có tầng lớp quý tộc
hoặc những người giàu có mới được thưởng thức thứ đồ uống thơm ngon này. Vào
những thời kỳ khủng hoảng, người nghèo không có đủ tiền mua cà phê, họ phải
uống các loại đồ uống giả cà phê để thay thế. Ngày nay, ở một số nước người ta coi
việc uống cà phê như một thức uống phổ thông (cà phê thường có hàm lượng
Cafein thấp) và ăn kèm bánh trái hoặc hoa quả. Do đó thị trường cà phê đang là một
trong những thị trường đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp tham gia, khai thác và
phát triển. Bài thảo luận của nhóm chúng em cũng phần nào cung cấp được những
thực trạng của thị trường cung ứng cà phê trong giai đoạn hiện nay. Nhóm đã phân
tích về hành vi của doanh nghiệp cạnh tranh mặt hang cà phê nguyên chất đồng thời
tìm cách lựa chọn tối đa hoá sản lượng và lợi nhuận trong ngắn hạn. Và chúng ta
cũng đã biết được rằng khi mua hàng hoá của một doanh nghiệp trong thị trường
cạnh tranh, ta có thể tin chắc rằng giá mà chúng ta phải trả gần với chi phí sản xuất
ra hàng hóa đó. Đặc biệt nếu các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau và tìm cách tối
đa hóa lơi nhuận, giá hàng hóa sẽ bằng chi phí cận biên để sản xuất ra hàng hóa đó.
20

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA: KINH TẾ-LUẬT
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÍ KINH TẾ ----- ----- BÁO CÁO THẢO LUẬN
Đề tài: Phân tích và lấy ví dụ minh họa về một hãng cạnh tranh hoàn hảo
và chỉ rõ cách thức mà hãng này lựa chọn sản lượng và lợi nhuận
khi giá thị trường thay đổi trong thời gian ngắn hạn
Giáo viên hướng dẫn: Lương Nguyệt Ánh
Sinh viên thực hiện: Nhóm 5
Lớp học phần: 2271MIEC0111 1 MỤC LỤC
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ HÃNG CTHH TRONG
NGẮN HẠN.............................................................................................................5
I. Khái quát về thị trường cạnh tranh hoàn hảo:..............................................5
1. Khái niệm.....................................................................................................5
2. Đặc điểm:......................................................................................................5
3. Đặc trưng:....................................................................................................6
II. Đường cầu D và dường doanh thu biên MR của doanh nghiệp cạnh tranh
hoàn hảo:..............................................................................................................7
1. Khái niệm đường cầu và đường doanh thu cận biên của hãng CTHH:. .7
2. Mối quan hệ giữa đường cầu và đường doanh thu cận biên của hãng
cạnh tranh hoàn hảo........................................................................................7
3. Phương trình đường cầu của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo..........8
4. Đặc điểm của doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo........8
5. Quyết định của doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo.....8
III. Lựa chọn sản lượng của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn........9
PHẦN 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ HÃNG CTHH TRONG
NGẮN HẠN...........................................................................................................13
1. Khái quát chung về cà phê Buôn Ma Thuột................................................13
2. Tình huống nghiên cứu:................................................................................14
3. Cách thức hãng đưa ra quyết định lựa chọn sản lượng và lợi nhuận........14
4. Kết luận..........................................................................................................19 2 LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Sau ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, hoạt động thương mại và
đầu tư toàn cầu đang phục hồi trở lại. Theo báo cáo cập nhật tình
hình kinh tế Việt Nam, tính đến thời điểm hiện tại kinh tế- xã hội
nước ta đang tiếp tục đà phục hồi, phát triển nhanh và mạnh với
nhiều điểm sáng. Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước tiến tới hội
nhập với rất nhiều cơ hội phía trước.Tuy nhiên chúng ta cũng phải
đối đầu với không ít khó khăn, thách thức. Bên cạnh những điểm nổi
bật về khôi phục, cải thiện trên nhiều lĩnh vực, nền kinh tế Việt Nam
cũng gặp vấn đề về cân bằng thị trường, thiếu hụt nguồn cung, chi
phí sản xuất làm gián đoạn tình hình phát triển của một số doanh nghiệp,...
Nếu coi nền kinh tế là một cơ thể thì mỗi doanh nghiệp sẽ là
một tế bào. Để cơ thể có thể khỏe mạnh thì mỗi tế bào phải có đủ
chất dinh dưỡng để nuôi sống nó. Vậy tế bào lấy chất dinh dưỡng từ
đâu? Muốn có được dinh dưỡng, mỗi doanh nghiệp phải có năng lực
nhất định, đặc biệt là khả năng cạnh tranh trong nước và ngoài nước
để thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách mạnh mẽ nhất. Nền kinh
tế cũng không thể phát triển nếu doanh nghiệp gặp những vấn đề
trong cạnh tranh và tạo giá trị gia tăng. Chính vì vậy, cạnh tranh đang
là một trong những mục tiêu hàng đầu để phát triển doanh nghiệp nói
riêng và nền kinh tế nước nhà nói chung. Có thể nói, cạnh tranh là
chìa khóa để mở ra những khúc mắc mà không ít các doanh nghiệp
lớn - nhỏ phải “ngập ngừng”. Ví dụ như: Làm sao để lợi nhuận đạt
tối đa? Làm cách nào để đứng vững trên thị trường? Làm sao để đem
lại thành phẩm tốt nhất đến người tiêu dùng mà giá thành lại rẻ?...
Sau khi tìm hiểu môn Kinh tế học vi mô I, chúng em đã nghiên
cứu và báo cáo thảo luận với đề tài: Phân tích và lấy một ví dụ
minh họa về một hãng cạnh tranh hoàn hảo và chỉ rõ cách thức
hãng này lựa chọn sản lượng và lợi nhuận khi giá thị trường
thay đổi trong thời gian ngắn hạn.
2. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 3
2.1. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là gì?
2.2. Đặc trưng của thị trường cạnh tranh hoàn hảo
2.3. Thực trạng mặt hàng cà phê hiện nay?
2.4. Cách thức hãng lựa chọn sản lượng và lợi nhuận khi giá thị trường
thay đổi trong ngắn hạn?
2.5. Rút ra kết luận về vấn đề nghiên cứu
3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Mục tiêu chung: Tìm hiểu cách thức hãng CTHH lựa chọn sản
lượng và lợi nhuận khi giá thị trường thay đổi trong ngắn hạn cũng
như đưa ra phương hướng, mục tiêu và giải quyết vấn đề 3.2. Mục tiêu cụ thể
Phân tích, tìm hiểu một số lí thuyết của vấn đề nghiên cứu
Đánh giá, phân tích thực trạng của hãng CTHH khi giá thị
trường thay đổi trong ngắn hạn
Đề ra phương hướng, mục tiêu, giải pháp hãng tối đa hóa lợi
nhuận khi giá thị trường thay đổi trong ngắn hạn
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo, hãng CTHH kinh doanh mặt hàng cà phê
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Khu vực Buôn Ma Thuột 4 PHẦN 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ HÃNG CTHH TRONG NGẮN HẠN
* PHÂN LOẠI THỊ TRƯỜNG:
Cấu trúc thị trường : được phân chia dựa vào số lượng người mua và bán trên
thị trường; đặc trưng của sản phẩm.
● Thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
● Thị trường bán cạnh tranh ( cạnh tranh mang tính độc quyền ).
● Thị trường bán độc quyền ( độc quyền mang tính cạnh tranh ).
● Thị trường độc quyền.
I. Khái quát về thị trường cạnh tranh hoàn hảo: 1. Khái niệm
Trong nền sản xuất hàng hóa thị trường được xem là một phạm trù riêng bao
gồm ba nhân tố chính liên kết chặt chẽ với nhau: giá cả, lượng cung ứng và nhu cầu.
Hiểu một cách đơn giản, thị trường là nơi để thực hiện các giao dịch mua bán
chuyển nhượng và trao đổi các loại hàng sản phẩm gồm: hàng hóa, dịch vụ, vốn, lao
động, và những nguồn lực khác của nền kinh tế.
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường có vô số người mua và bán , sản
phẩm trên thị trường là tương tự nhau ( đồng nhất, có thể thay thế cho nhau ) và
không có rào cản thị trường đối với việc gia nhập hay rút khỏi ngành Ví dụ:
oThị trường cà phê Buôn Mê Thuột,...
oThị trường các mặt hàng nông sản, phế liệu,. 2. Đặc điểm:
Các doanh nghiệp CTHH không có sức mạnh thị trường:
Số lượng người bán: rất nhiều
Sản phẩm có thể thay thế cho nhau (đồng nhất): sản phẩm của những người
bán trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo là giống nhau, không có sự phân
biệt. Sản phẩm của hãng này và hãng khác là hàng hóa thay thế hoàn hảo 5
Không có rào cản thâm nhập thị trường: tự do gia nhập và rút khỏi thị trường
Sản phẩm điển hình: nông nghiệp
Cạnh tranh hoàn hảo có qui mô rất nhỏ so với thị trường, không ảnh hưởng
đến giá và lượng thị trường (do quy luật cung – cầu quyết định)
=> Doanh nghiệp không có khả năng chi phối thị trường và chi phối giá
=> Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo là ‘ người chấp nhận giá’ 3. Đặc trưng:
a) Nhiều người mua và nhiều người bán độc lập với nhau
Những người bán độc lập với nhau: chỉ quan tâm đến chi phí và lợi nhuận của
bản thân mà không quan tâm đến của người khác
b) Sản phẩm đồng nhất – hàng hóa thay thế hoàn hảo. (sản phẩm gần giống nhau)
VD: Sản phẩm đồng nhất là các loại trứng: trứng gà ta gà tây, trứng vịt
c) Tự do gia nhập và rời bỏ thị trường
- Một người bán muốn gia nhập hay rời bỏ thị trường này thì không có một rào cản nào cả.
- Rào cản có thể là công nghệ sản xuất, bằng sáng chế.
VD: Nếu một bà A bán trứng gà, gà đẻ bao nhiêu thì bà bán bây nhiêu, ngày nào
không có trứng thì bà ngừng bán, ngày nào có thì bà lại bán tiếp. d) Thông tin hoàn hảo
- Người mua và người bán có thể biết được giá cả thị trường, đặc tính của sản
phẩm, chất lượng của sản phẩm.
- Người mua có thể biết giá mua thấp nhất là bao nhiêu, người bán có thể biết
giá mà có thể bán cao nhất là bao nhiêu
e) Mức giá trên thị trường quyết định bởi cung và cầu, doanh nghiệp là người
chấp nhận giá của thị trường
Doanh nghiệp có quy mô nhỏ nên không thể chi phối giá của thị trường. Nếu
người bán bán giá cao hơn so với thị trường thì ít người mua, vì người mua nắm rõ
được thông tin về giá cả của sản phẩm tương tự trên thị trường. Còn nếu bán giá
thấp được thông tin về giá cả của sản phẩm tương tự trên thị trường. Còn nếu bán
giá thấp thì lợi nhuận nhỏ 6
II. Đường cầu D và dường doanh thu biên MR của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo:
1. Khái niệm đường cầu và đường doanh thu cận biên của hãng CTHH:
- Đường cầu của thị trường: là đường thể hiện nhu cầu của tất cả người mua
trên thị trường nhưng với sản phẩm của tất cả các hãng. Đường cầu thị
trường là đường cầu dốc xuống.
- Đường cầu của hãng cạnh tranh hoàn hảo: là đường thể hiện các nhu cầu của
toàn bộ người mua trên thị trường với riêng sản phẩm của một hãng.
- Đường cầu của hãng CTHH là đường nằm ngang -> trả lời cho câu hỏi: tại
một mức giá nhất định thì tất cả người mua trên thị trường quyết định mua
bao nhiêu sản phẩm của riêng hãng đấy.
- Đường doanh thu cận biên của hãng trùng với đường cầu và đường doanh thu bình quân
2. Mối quan hệ giữa đường cầu và đường doanh thu cận biên của hãng cạnh tranh hoàn hảo
Đường cầu của mỗi hãng trong ngành cạnh tranh hoàn hảo là đường cầu nằm
ngang tại mức giá thị trường
Đường doanh thu cận biên của hãng trùng với đường cầu và đường doanh thu bình quân 7
3. Phương trình đường cầu của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo
TR = P.Q = a .Q và MR = (TR)’Q = (a . Q)’Q = a = MR Trong đó:
PE = a ( hằng số không phụ thuộc vào Q) MR: doanh thu cận biên
Đường cầu (D) = Đường doanh thu biên ( ⇨ MR) = PE = AR
4. Đặc điểm của doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo
a) Đường cầu doanh nghiệp
- Thị trường đạt tại mức giá cân bằng là P các doanh nghiệp phải chấp nhận 0,
giá này bởi vì họ không thể chi phối được giá của thị trường
- Thị trường đạt tại mức giá cân bằng là P , các doanh nghiệp phải chấp nhận 0
giá này bởi vì họ không thể chi phối được giá của thị trường
- Đường cầu sản phẩm của doanh nghiệp là nằm ngang tương ứng với mức giá
P0, hệ số co giãn là Ed = = ∞ 8
b) Doanh thu của doanh nghiệp
Tổng doanh thu (TR): TR = P.Q - P: giá bán, Q: mức sản lượng bán ra Doanh thu biên: MR =
Doanh thu trung bình: AR = == P
5. Quyết định của doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Trong ngắn hạn (mức giá đã được quy định bởi thị trường): * Giả định:
oSố doanh nghiệp trong ngành không đổi
oSản lượng của doanh nghiệp có khả năng thay đổi
o Sản xuất sản lượng là bao nhiêu để tối đa hóa được lợi nhuận. * Phân tích:
oLợi nhuận = TR – TC = P.Q – TC
o Doanh nghiệp lựa chọn mức sản lượng căn cứ vào mục tiêu và tổng chi phí bỏ ra.
III. Lựa chọn sản lượng của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn
Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH trong ngắn hạn:
- Điều kiện chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp: MR=MC
- Hãng CTHH: đường MR chính là đường cầu và chính là giá thị trường => P = MR
- Kết hợp hai điều kiện trên, suy ra điều kiện để hãng CTHH tối đa hóa lợi
nhuận là hãng lựa chọn mức sản lượng mà tại đó: P=MC 9 10 11 12 13 PHẦN 2:
CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ HÃNG CTHH TRONG NGẮN HẠN
1. Khái quát chung về cà phê Buôn Ma Thuột
* Quá trình hình thành cà phê Buôn Ma Thuột:
Cây cà phê du nhập vào Việt Nam khá sớm (từ năm 1857) thông qua một
số linh mục thừa sai người Pháp. Đầu tiên là giống cà phê chè (coffee
arabica) được trồng thử nghiệm tại các Nhà thờ Thiên chúa giáo ở một số
tỉnh phía Bắc sau đó mới phát triển dần vào Nam Tây Nguyên và Đông Nam
Bộ. Nhưng cho đến nay xét về cả quy mô lẫn danh tiếng, không nơi nào ở
Việt Nam có cà phê nổi tiếng trong và ngoài nước như cà phê Buôn Ma Thuột.
Với lợi thế là một vùng đất đỏ bazan màu mỡ, có những ưu thế đặc trưng
về điều kiện tự nhiên, cao nguyên Buôn Ma Thuột không những là nơi cây cà
phê sinh trưởng tốt, mà còn tạo nên hạt cà phê chất lượng cao, hương vị khác
biệt so với nhiều vùng đất khác. Chính sự khác biệt đó là yếu tố quyết định
lợi thế cạnh tranh của cà phê Buôn Ma Thuột với các vùng khác.
* Quá trình phát triển cà phê Buôn Ma Thuột:
Với các điều kiện tự nhiên phù hợp, được trồng và chăm sóc tốt nên chất
lượng cà phê ngày càng tăng lên, kích thước hạt lớn, chất lượng nước đậm đà
rất được ưa chuộng ở Pháp và một số nước châu Âu. Ngoài hương vị thơm
ngon đặc trưng tự nhiên, thời kỳ này cà phê Buôn Ma Thuột còn nổi danh
với một loại cà phê mang tính huyền thoại là “cà phê chồn”. Tuy nhiên, thời
kỳ này do bệnh gỉ sắt phát triển mạnh trên cây cà phê chè, làm giảm đáng kể
năng suất, nên các chủ đồn điền Pháp lần lượt chuyển sang trồng loại cà phê
vối (cà phê chè chỉ còn khoảng 1% diện tích), năng suất cao, chất lượng
thơm ngon hơn. Chính vì vậy, cà phê vối Robusta, được chọn lọc qua nhiều
thập kỷ, đã trở thành cây cà phê chủ lực ở vùng đất Buôn Ma Thuột bởi khả
năng thích nghi với điều kiện tự nhiên, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao của nó. 14
Đến năm 1959 đã có 49 đồn điền trồng cà phê ở khu vực Buôn Ma Thuột
(bao gồm cả Buôn Hồ, Phước An) với tổng diện tích trên 5.200 ha; trong đó
riêng đồn điền CHPI là 576 ha. Ngoài các đồn điền của Pháp, đã dần xuất
hiện một số đồn điền trồng cà phê do người dân tộc bản xứ và người Kinh
khai phá, làm chủ. Đến năm 1975, tổng diện tích cà phê ở Dak Lak đã tăng
lên 8.600 ha, cho sản lượng hằng năm trên 11.000 tấn, hầu hết là cà phê vối
Robusta. Tuy xuất khẩu chưa nhiều, nhưng thông qua con đường du lịch, hạt
cà phê Buôn Ma Thuột đã đến được nhiều quốc gia trên thế giới và nhiều
người thực sự ngưỡng mộ chất lượng và hương vị thơm ngon của nó.
2. Tình huống nghiên cứu:
a) Trong bài thảo luận, ta xét đến mặt hàng cà phê trong phạm vi ở vùng Buôn Ma Thuột
b) Ta cũng giả sử thị trường là thị trường CTHH với các đặc điểm sau:
Có rất nhiều người mua và người bán trên thị trường
Sản phẩm hàng hóa là giống nhau
Các doanh nghiệp có thể tự do gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường
Thông tin trên thị trường là hoàn hảo, cả người mua và người bán đều có
thông tin đầy đủ về nhau
c) Để nghiên cứu được cách thức hãng này lựa chọn sản lượng và lợi nhuận
trong ngắn hạn, ta phải giả định trên thị trường có những sự thay đổi lớn về
giá cả sản phẩm. Khi đó buộc hãng phải đưa ra sự lựa chọn sản lượng và tối
ưu nhất để tối đa hóa lợi nhuận
3. Cách thức hãng đưa ra quyết định lựa chọn sản lượng và lợi nhuận
Đối với bất cứ doanh nghiệp nào trước khi quyết định sản xuất kinh doanh mặt
hàng nào đó với số lượng là bao nhiêu đều phải dựa trên mục tiêu là tối đa hóa lợi
nhuận khi giá của thị trường thay đổi
Và tùy theo tình hình biến động giá cụ thể và dựa trên sự phân tích lợi nhuận của
hãng mà hãng sẽ đưa ra sự lựa chọn mức sản lượng của mình cũng như quyết định
nên sản xuất hay đóng cửa
Sau đây nhóm chúng em sẽ trình bày trong phạm vi ngắn hạn về những tình
huống giả định về sự thay đổi giá sản phẩm trên thị trường để thấy được cách thức
mà hãng đưa ra quyết định phù hợp với doanh nghiệp của mình 15
Giả sử trong 3 tháng đầu năm hãng quyết định sản xuất với quy mô trong ngắn
hạn với hàm tổng chi phí: TC =
Chi phí bình quân ATC = = Q + + 2
Tổng chi phí cố định: TFC = 64
Tổng chi phí biến đổi: TVC =
Chi phí biến đổi bình quân AVC = = Q + 2
Chi phí cận biên MC = 2Q + 2
Phòa vốn = ATC min ATCQ’ = 0 1 - = 0 Q = 8
ATCmin = 8 + + 2 = 18 = Phòa vốn
Pđóng cửa = AVCmin = Q + 2 ≥ 2 do Q ≥ 0 AVCmin =2
Vì P = MC = 2Q + 2 nên đường cầu có dạng QD = Với Q : đơn vị tấn P : nghìn đô / tấn P = 20 > ATCmin P = 18 = ATCmin AVCmin < P = 6 < ATCmin P = 2 ≤ AVCmin
Trường hợp 1: Giả sử trên thị trường giá cà phê là P = 20>ATCmin 16
P = 20, khi đó lượng P = MC => 2Q + 2 = 20 => Q = 9
Mức sản lượng Q* của hãng là 9
Tổng doanh thu: TR = P.Q* = 20. 9 = 180
Tổng chi phí : TC = Q +2Q + 64 = 163 2
Phần lợi nhuận : π = TR – TC = 180 – 163 = 17
Ở trường hợp này, hãng muốn tối đa hóa lợi nhuận thì phải chọn mức sản lượng mà
chi phí cận biên bằng bằng giá của sản phẩm ( trong thị trường CTHH ta có P=MC).
Ta thấy phần diện tích hình AP EB hãng thu được lợi nhuận kinh tế dương 1 đồng
thời đó cũng là mức lợi nhuận tối đa
Trường hợp 2: Khi giá thị trên thị trường P = 18 = ATC min
Khi P = 18 thì mức sản lượng từ Q* xác định tại P = MC => 2Q + 2 = 18 => Q = 8
Mức sản lượng của hãng = 8
Tổng doanh thu : TR = P.Q* = 18.8 = 144
Tổng chi phí TC = Q + 2Q + 64 = 144 2 17
Phần lợi nhuận của hãng π = TR – TC = 0
Khi giá thị trường thay đổi P=ATCmin hãng vẫn theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi
nhuận lựa chọn ở mức sản lượng Q*. Lợi nhuận mà hãng thu được là phần diện tích
hình 0P EQ* nó chính bằng tổng chi phí sản xuất 2
ra sản phẩm nên lợi nhuận lúc này
bằng 0, hãng sẽ hòa vốn và điểm E được gọi là điểm hòa vốn.
Trường hợp 3: Giá của thị trường nằm giữa ATCmin và AVCmin (AVCmin < P = 6 < ATCmin)
Khi P = 6, xét P = MC => 2Q + 2 = 6 => Q =2
Mức sản lượng Q* Của hãng = 2
Tổng doanh thu: TR = P . Q* = 6.2 = 12
Tổng chi phí: TC = Q + 2Q + 64 = 2 2 + 2.2 + 64 = 72 2
Phần lợi nhuận tăng thu được là:
π = TR – TC = 12 – 72 = - 60
Tổng chi phí cố định: TFC = 64
|π| Hãng vẫn bù đắp được một phần chi phí cố định
Trong trường hợp này hãng đứng trước hai sự lựa chọn: một là tiếp tục sản
xuất, hai là hãng sẽ đóng cửa.
Nếu tiếp tục sản xuất hãng vẫn chịu lỗ trong ngắn hạn nhưng kì vọng trong
tương lai hãng sẽ kiếm thêm được lợi nhuận vì khi đó có thể giá thành sản phẩm
tăng hoặc chi phí sản xuất sẽ giảm xuống. Lúc này phần diện tích hình P ABE là 3
phần biểu thị tổng thua lỗ mà hãng phải chịu khi chọn sản xuất ở mức sản lượng Q* 18
Nhưng nếu doanh nghiệp chọn đóng cửa ngừng sản xuất, hãng sẽ phải chịu
toàn bộ khoản chi phí được biểu hiện thông qua diện tích hình MABN
Mặc dù hãng lựa chọn phương án nào cũng sẽ vẫn bị thua lỗ nhưng nếu so
sánh hai phần diện tích của hình vẽ thì ở trường hợp này hãng vẫn nên tiếp tục sản
xuất thay vì ngừng hoạt động ở doanh nghiệp. Vì hãng vừa có thể bù đắp được chi
phí biến đổi lại vừa được một phần chi phí cố định. Như vậy, dù chi phí cố định
không liên quan đến việc lựa chọn sản lượng của hãng, nhưng nó lại là yếu tố quyết
định giúp hãng lựa chọn phương án nên tiếp tục sản xuất hay ngừng sản xuất trong ngắn hạn
Theo như những gì biểu hiện trên hình vẽ thì lựa chọn tiếp tục sản xuất là lựa
chọn khôn ngoan nhất của hãng.
Trường hợp 4: P = 1 ≤ AVCmin ( xét P = AVCmin)
Khi P = 2 mức sản lượng Q* xác định tại P = MC 2Q + 2 = 2 => Q = 0 Mức sản lượng Q* = 0
Tổng doanh thu: TR = P.Q* = 1.0 = 0 Tổng chi phí: TC = 64
Lợi nhuận của hãng: π = TR – TC = -64
Nếu hãng sản xuất, hãng sẽ sản xuất ở mức sản lượng tối ưu Q* và sẽ bị thua lỗ
toàn bộ chi phí. Điều này được thể hiện qua hình P4ABE. Còn nếu đóng cửa sản
xuất, hãng cũng vẫn chịu toàn bộ thua lỗ như phần diện tích hình vẽ trên.
Giả sử nhà quản lí vẫn lựa chọn tiếp tục sản xuất khi P=AVCmin 19
Nếu giá thấp hơn AVCmin tại mức sản lượng ở đó mà P=MC thì hãng nên đóng
cửa ngừng sản xuất và phải chịu toàn bộ thua lỗ của chi phí cố định (π = -TFC). Và
đây cũng là khoản lỗ tối thiểu có thể khi giá thấp hơn chi phí biến đổi bình quân.
Do hãng đóng cửa khi giá giảm xuống dưới AVCmin nên điểm tối thiểu trên đường
AVC là điểm đóng cửa của hãng và mức giá này là mức giá đóng cửa của hãng 4. Kết luận
Qua việc nghiên cứu và phân tích về một sản phẩm trong hãng cạnh tranh hoàn
hảo, thảo luận xem cách thức hoạt động của nó trong việc lựa chọn sản lượng và lợi
nhuận như thế nào trên giá cả thị trường thay đổi trong ngắn hạn, nhóm 5 chúng em
rút ra được một số kết luận sau: Nếu quyết định sản xuất thì hãng CTHH luôn phải
lựa chọn sản xuất ở mức sản lượng tối ưu thoả mãn điều kiện chi phí giá sản phẩm
bằng chi phí cận biên (P=MC). Hơn nữa thì việc lựa chọn mức sản lượng định sản
xuất bao nhiêu cũng như đưa ra quyết định có tiếp tục sản xuất hay không của hãng
CTHH cũng phải phụ thuộc vào mức giá cả thực tế của sản phẩm và dựa trên cơ sở
phân tích về lợi nhuận có thể thu được khi đã lựa chọn ở mức sản lượng tối ưu.
Trong ngắn hạn hãng CTHH có phần tổng chi phí cố định và biến đổi nên khi có
trường hợp mặc dù là hãng bị thua lỗ nhưng vẫn phải lựa chọn phương án tiếp tục sản xuất.
Với bài thuyết trình nhóm chúng em xoay quanh sản phẩm ở vùng đất màu mỡ
Buôn Ma Thuột là cà phê: Ban đầu cà phê rất đắt, vì thế chỉ có tầng lớp quý tộc
hoặc những người giàu có mới được thưởng thức thứ đồ uống thơm ngon này. Vào
những thời kỳ khủng hoảng, người nghèo không có đủ tiền mua cà phê, họ phải
uống các loại đồ uống giả cà phê để thay thế. Ngày nay, ở một số nước người ta coi
việc uống cà phê như một thức uống phổ thông (cà phê thường có hàm lượng
Cafein thấp) và ăn kèm bánh trái hoặc hoa quả. Do đó thị trường cà phê đang là một
trong những thị trường đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp tham gia, khai thác và
phát triển. Bài thảo luận của nhóm chúng em cũng phần nào cung cấp được những
thực trạng của thị trường cung ứng cà phê trong giai đoạn hiện nay. Nhóm đã phân
tích về hành vi của doanh nghiệp cạnh tranh mặt hang cà phê nguyên chất đồng thời
tìm cách lựa chọn tối đa hoá sản lượng và lợi nhuận trong ngắn hạn. Và chúng ta
cũng đã biết được rằng khi mua hàng hoá của một doanh nghiệp trong thị trường
cạnh tranh, ta có thể tin chắc rằng giá mà chúng ta phải trả gần với chi phí sản xuất
ra hàng hóa đó. Đặc biệt nếu các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau và tìm cách tối
đa hóa lơi nhuận, giá hàng hóa sẽ bằng chi phí cận biên để sản xuất ra hàng hóa đó. 20