TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KHÁCH SẠN – DU LỊCH
-------- --------
BÀI THẢO LUẬN
KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Đề tài: Phân tích ý nghĩa của học thuyết giá trị và học thuyết
giá trị thặng dư trong thực hiện nhiệm vụ học tập của bản
thân
Nhóm thực hiện : Nhóm 2
Lớp HP : 2314RLCP1211
GVHD : Thầy Hoàng Văn Mạnh
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Khoá : 2022 – 2026
1
LỜI CẢM ƠN
Trước khi bước vào bài thảo luận, nhóm 2 bọn em xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến trường Đại học Thương mại. Đặc biệt, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu
sắc đến giảng viên bộ môn thầy Hoàng Văn Mạnh đã truyền đạt những kiến thức
quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập. Trong thời gian tham gia lớp
học của thầy chúng em đã thêm cho mình rất nhiều kiến thức bổ ích, tinh thần
học tập hiệu quả và nghiêm túc. Bộ môn Kinh Tế Chính Trị Mác Lenin là môn học
vô cùng bổ ích tính thực tế cao, cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu
thực tiễn của sinh viên. Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế khả
năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ ngỡ. Nếu như chúng em có mắc phải thiếu sót gì
trong bài thảo luận thì rất mong được cô xem xétgóp ý để bài thảo luận của bọn
em được chỉnh chu cũng như hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn !
LỜI CAM ĐOAN
Chúng em xin cam đoan bài thảo luận môn Quản trị học với đề tài “ Phân
tích ý nghĩa của học thuyết giá trị và học thuyết giá trị thặng dư trong thực hiện
nhiệm vụ học tập của bản thân” là công trình nghiên cứu của tập thể nhóm 2,
cũng như của mỗi thành viên trong nhóm. Những phần sử dụng tài liệu kham khảo
trong bài thảo luận đã được nêu rõ trong phần tài liệu kham khảo. Các thông tin, số
liệu, kết quả trình bày trong bài thảo luận là hoàn toàn trung thực, nếu sai chúng
em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và chịu mọi kỷ luật của bộ môn và nhà trường
đề ra.
Hà Nội, ngày 28 tháng 3 năm 2023
2
Đại diện nhóm 2
1.Lí luận về học thuyết giá trị và học thuyết giá trị thặng dư:
Trước khi tiến hành phân tích học thuyết trong trường hợp thực tế, ta cần xem xét
về lý thuyết trước.
1.1.Học thuyết giá trị
1.1.1 Khái niệm:
Học thuyết giá trị xuất phát điểm trong toàn bộ luận kinh tế của C. Mác.
Bằng việc phân tích hàng hóa, C.Mác vạch ra quan hệ giữa người với người thông
qua quan hệ trao đổi hàng hóa, đó chính là lao động, cơ sở của giá trị hàng hóa.
1.1.2. Ý nghĩa của học thuyết giá trị:
Nghiên cứu học thuyết giá trị, hiểu rõ quy luật giá trị sẽ kiến thức điều tiết sản
xuất và lưu thông hàng hóa; kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp hóa sản xuất, tăng
năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Từ đó giúp cho chúng
ta hiểu rõ nguyên nhân của việc lựa chọn tự nhiên phân hóa người sản xuất
hàng hóa; nguyên nhân của sự phân hóa xã hội thành người giàu, người nghèo, tạo
ra sự bất bình đẳng trong xã hội để có phương hướng, giải pháp khắc phục.
1.2.Học thuyết giá trị thặng dư:
1.2.1.Khái niệm:
- Giá trị thặng một phần của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do
lao động của người công nhân làm thuê sáng tạo ra và thuộc về nhà tư bản.
- Học thuyết giá trị thặng một thuyết kinh tế chính trị của Karl Marx cho
rằng giá trị của một sản phẩm không chỉ gồm giá trị của nguyên vật liệu lao
động để sản xuất còn bao gồm giá trị thặng được tạo ra bởi lao động
của người lao động. Theo thuyết này, giá trị thặng được tạo ra bởi người
3
lao động được sử dụng để tạo ra lợi nhuận cho chủ sở hữu sản xuất trong khi
người lao động chỉ nhận được một phần nhỏ của giá trị sản phẩm mà họ tạo ra.
1.2.2. Giá trị của học thuyết giá trị thặng dư
Tính khoa học và cách mạng của học thuyết giá trị thặng dư
Trước hết, học thuyết giá trị thặnghệ thống lý luận khoa học, được C.Mác
phát kiến dựa trên cơ sở phân tích thực tiễn phương thức sản xuất TBCN.
Học thuyết giá tr thặng được hình thành trên sở học thuyết giá trị - lao
động, trực tiếp việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất
hàng hóa. Nhờ đó, C.Mác đã giải quyết được những bế tắc trong luận giá trị
mà các nhà kinh tế chính trị trước đó chưa giải quyết được.
Trước C.Mác đã nhiều nhà kinh tế học nghiên cứu về giá trị thặng dư, nhưng
họ chỉ nghiên cứu giá trị thặng dưới những hình thái đặc thù của là lợi
nhuận, lợi tức, địa tô. Đến C.Mác, ông nghiên cứu giá trị thặng dưới dạng
thuần túy đã chỉ ra được nguồn gốc giá trị thặng lao động không công
của công nhân làm thuê.
Theo C.Mác, khi người công nhân bán sức lao động cho nhà bản, nhà bản
sẽ tiêu dùng sức lao động này trong sản xuất, dẫn tới chỗ tạo ra một giá trị lớn
hơn giá trị sức lao động của người công nhân, ngay cả khi họ tuân thủ theo đúng
quy luật giá trị. C.Mác đã chứng minh một cách khoa học rằng: trong quá trình
sản xuất, lao động cụ thể bảo tồn di chuyển giá trị (c) vào trong sản phẩm
mới, lao động trừu ợng tạo ra giá trị mới (v + m) toàn bộ giá trị hàng hóa
bao gồm (c + v + m). Theo C.Mác, giá trị thặng phần giá trị dôi ra ngoài
giá trị sức lao động do lao động không công của người công nhân tạo ra bị nhà tư
bản chiếm đoạt.
Nhưng C.Mác không tự hạn chế trong những luận điểm chung chung mà đã phân
tích một cách sâu sắc, trên sở rất nhiều tính toán toán học để luận giải tỷ suất
của giá trị thặng dư, những phương pháp kéo dài ngày lao động; chỉ ra bản chất
4
của tiền lương TBCN; phân tích một cách sâu sắc và khoa học các hình thức biểu
hiện của giá trị thặng dư, như lợi nhuận, lợi tức, địa tô; vạch chế chuyển
hóa giá trị thặng thành lợi nhuận lợi nhuận bình quân, giá trị hàng hóa
thành giá cả sản xuất trong điều kiện tự do cạnh tranh, từ đó làmsở lý luận để
giải quyết vấn đề địa tuyệt đối, điều các nhà luận kinh tế trước không
thể giải quyết.
Trên sở học thuyết giá trị - lao động với việc phân tích tính chất hai mặt của
lao động của người sản xuất hàng hóa nguồn gốc giá trị thặng với cách
nguồn gốc đầu tiên của các thu nhập TBCN, C.Mác đã xây dựng một phát
kiến khoa học đại, tạo bước ngoặt cách mạng trong khoa kinh tế chính trị.
Không phải ngẫu nhiên V.I.Lênin gọi học thuyết giá trị thặng “hòn đá
tảng” của học thuyết kinh tế của C.Mác, học thuyết kinh tế lại nội dung
chủ yếu trong học thuyết của chủ nghĩa Mác.
Thứ hai, học thuyết giá trị thặng của C.Mác đã vạch ra quy luật vận động
kinh tế của xã hội tư bản - quy luật giá trị thặng dư - từ đó bóc trần những bí mật
của CNTB, bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân
mà trước đó chưa ai làm được.
Theo đó, C.Mác khẳng định phương thức sản xuất TBCN, quy luật kinh tế
bản là quy luật sản xuất giá trị thặng dư. Quy luật này phản ánh mối quan hệ bản
chất nhất giữa hai giai cấp trong hội bản chi phối sự hoạt động của các
quy luật khác trong hội tư bản. Giá trị thặng không đơn thuần giá trị dôi
ra ngoài giá trsức lao động, mà là một quan hệ hội phản ánh quan hệ bóc lột
giữa một bên người sở hữu liệu sản xuất với bên kia người sở hữu hàng
hóa sức lao động, giữa nhà tư bản với người lao động làm thuê.
C.Mác đã vạch mật sự che đậy tinh vi của nguồn gốc các thu nhập
TBCN, đã tìm ra được nguồn gốc duy nhất của chúng. vậy, không phải ngẫu
5
nhiên các nhà kinh tế học sản các thế lực phản động đã dành rất nhiều
bút mực vào những mưu toan phủ nhận tính khoa học, cách mạng, bác bỏ học
thuyết giá trị thặng dư của C.Mác.
Thứ ba, học thuyết giá thặng đã chỉ ra sự ra đời, tồn tại, phát triển tiêu
vong của phương thức sản xuất TBCN, khí lý luận sắc bén của giai cấp
công nhân đấu tranh chống giai cấp tư sản.
Từ việc phân tích quá trình sản xuất giá trị thặng trong nền sản xuất TBCN,
C.Mác đã chỉ ra quy luật giá trị thặng ra đời cùng với sự ra đời của quan hệ
sản xuất TBCN, tồn tại phát huy tác dụng cùng với sự tồn tại vận động
của nền kinh tế TBCN.
Theo C.Mác, CNTB chỉ nảy sinh khi xuất hiện những điều kiện khả năng
chiếm lao động thặngcủa lao động làm thuê, khi tiền tư liệu sản xuất biến
thành phương tiện bóc lột giá trị thặng dư. Cũng chính chạy theo việc bóc lột
càng nhiều giá trị thặng dư, CNTB đã phát triển từ thấp đến cao, làm cho lực
lượng sản xuất ngày càng phát triển, làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa chế độ
chiếm hữu nhân TBCN về liệu sản xuất với lực lượng sản xuất phát triển
cao mang tính hội hóa sâu sắc. Chính mâu thuẫn này sẽ đưa đến sự thay thế
tất yếu CNTB bằng một xã hội cao hơn.
Sáng tạo ra học thuyết giá trị thặng dư, C.Mác đã làm một cuộc cách mạng trong
lĩnh vực kinh tế - chính trị học, chỉ ra quy luật vận động kinh tế của hội
bản, vạch trần mật của chế độ bản bóc lột giá trị thặng do sức lao
động của những người làm thuê tạo ra. Bóc lột giá trị thặng bản chất
mục tiêu của CNTB, là căn nguyên của mọi mâu thuẫn đối kháng giữa tư bản
lao động, vấn đề không thể giải quyết được trong phương thức sản xuất
TBCN.
6
Ph.Ăngghen cho rằng, việc phát hiện ra học thuyết giá trị thặng dư là công lao vĩ
đại nhất của C.Mác. chiếu sáng rực rỡ lên những lĩnh vực kinh tế trước
kia những nhà XHCN cùng mẫm trong bóng tối không kém những nhà
kinh tế học sản. Chủ nghĩa xã hội khoa học bắt đầu từ ngày giải đáp đó,
đây chính là điểm trung tâm của chủ nghĩa xã hội khoa học.
Dựa trên luận nền tảng học thuyết giá trị, C.Mác đã xây dựng nên học
thuyết giá trị thặng hòn đá tảng trong toàn bộluận kinh tế của ông. Giá trị
thặng dư nguồn cấu thành động lực để tăng trưởng phát triển kinh tế, nhất là
đối với nền sản xuất xã hội.
Tuy nhiên chúng ta cũng thể áp dụng học thuyết này vào quá trình học tập
của bản thân. Không phải ngẫu nhiên mà nhà bác học Lênin lại câu nói rằng
“Học - Học nữa - Học mãi”. ta đang độ tuổi nào hoặc làm việc trong bất cứ
ngành nghề nào thì việc học cũng rất quan trọng bởi chính là yếu tố quyết định
cuộc sống sau này. Việc học việc cả đời không giới hạnbất cứ thành phần
nào.
2.Tại sao lại phải học, học để làm gì?
Việc học rất nhiều lợi ích quan trọng đối với tương lai của con người, bao
gồm:
- Tạo hội việc làm tốt hơn: Việc học được bằng cấp cao hơn giúp con
người có nhiều cơ hội hơn để tìm được việc làm tốt hơn và thu nhập cao hơn trong
tương lai.
- Phát triển sự nghiệp: Học tập liên tục phát triển các kỹ năng mới giúp con
người có thể phát triển sự nghiệp của mình và tiến thân trong công việc.
- Tăng khả năng đáp ứng với thị trường lao động: Với sự phát triển nhanh chóng
của công nghệ kinh tế, thị trường lao động đang sự thay đổi liên tục. Việc
7
học giúp con người khả năng đáp ứng với những thay đổi này đáp ứng nhu
cầu của thị trường lao động.
- Tạo ra nhiều hội: Học tập cũng giúp con người tạo ra nhiều hội khác
nhau trong cuộc sống. Những kiến thức kỹ năng mới thể giúp họ khám phá
thử nghiệm những lĩnh vực mới, tìm kiếm hội kinh doanh hoặc làm việc
trong ngành mới.
- Nâng cao chất lượng cuộc sống: Học tập giúp con người kiến thức kỹ
năng cần thiết để cải thiện chất lượng cuộc sống của mình. Họ thể áp dụng
những kiến thức này để giải quyết các vấn đề phức tạp trong cuộc sống tạo ra
một môi trường sống tốt hơn.
- Đóng góp cho hội: Việc học cũng giúp con người trở thành những thành
viên ích của hội. Những kiến thức kỹ năng mới thể giúp họ đóng góp
cho hội một cách tích cực, tham gia vào các hoạt động cộng đồng làm việc
với những người khác để giải quyết các vấn đề xã hội.
Nói tóm lại mục tiêu chúng ta học tập không ngoài việc nâng cao chất lượng
sức lao động để tạo ra nhiều giá trị mới rồi từ đó tiến tới mức thu nhập cao, cải
thiện chất lượng cuộc sống, khẳng định giá trị riêng của bản thân với những người
xung quanh bởi lợi ích mà bản thân mang lại trong cuộc sống này.
3.Ý nghĩa học thuyết giá trị và giá trị thặng dư trong học tập
3.1.Liên hệ 1
Theo học thuyết giá trị, ta có thể hiểu tri thức là sản phẩm của học tập, dùng để
thỏa mãn nhu cầu của con người thông qua trao đổi mua bán. Được hiểu đơn giản
như khi ta sử dụng tri thức đó để làm việc trao đổi với tiền lương mà ta nhận được
tương ứng. Như vậy, tri thức ta nắm giữ càng nhiều, giá trị của bản thân càng
nâng cao, đặc biệt trong nền kinh tế tri thức ngày nay. Tri thức ở đây không chỉ
những kiến thức thuyết ta học được trên trường còn những kỹ năng
8
mềm như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng làm việc nhóm,... đồng
thời còn những kinh nghiệm từ công việc bản thân đã làm. Để làm được điều
này ta phải chủ động hành động. Em xin đưa ra một số biện pháp như sau:
Thứ nhất, để có thể tạo ra được giá trị thặng dư thì người công nhân, người lao
động phải đạt được một năng suất lao động nhất định phù hợp với một độ dài ngày
lao động nhất định cường độ lao động nhất định. Khi muốn tạo ra và tăng thêm
nguồn giá trị thặng dư thì phải kết hợp, thực hiện đồng thời làm việc với cường độ
lao động phù hợp song song với việc tăng năng suất lao động kèm theo đó phải lao
động làm việc đủ giờ lao động trong ngày quy định. Tương tự với việc học tập,
căn cứ vào đặc điểm của bản thân mà lập ra mục tiêu kế hoạch, thực hiện
nghiêm khắc theo kế hoạch.
dụ như bản thân em thường tập trung cao vào buổi sáng nên học vào thời
điểm đó sẽ nâng cao năng suất học tập nhất. Em sẽ lên kế hoạch học tiếng anh
trong vòng một tiếng rưỡi em biết mình sẽ tập trung được nhiều nhất trong
khoảng thời gian đó em một người nhanh chán. Trong một tiếng rưỡi đó em
sẽ đảm bảo bản thân phải học được hai mươi từ vựng mới tập nghe được hai
bài nghe tiếng anh.
Thứ hai, theo học thuyết cần nhận thức ràng đúng đắn về vai trò, tầm
quan trọng của nhân tố vật chất nhân tố con người trong quá trình sản xuất
nhằm tạo ra giá trị thặng dư. Quá trình sản xuất hàng hóa sự thống nhất giữa
quá trình lao động quá trình làm tăng giá trị. Quá trình lao động của công nhân
lao động tạo ra các giá trị sử dụng. Sức sản xuất lao động của người công nhân lao
động càng cao thì sẽ càng tạo ra được nhiều giá trị sử dụng trong một đơn vị thời
gian nhất định. Sức sản xuất của người lao động được quyết định, chi phối bởi
nhiều những yếu tố khác nhau như mức độ áp dụng khoa học công nghệ vào quá
trình sản xuất, trình độ khéo léo trung bình của công nhân Bởi vậy, muốn
nhiều của cải, nhiều giá trị sử dụng cần phải coi trọng giáo dục đào tạo, coi trọng
9
khoa học công nghệ, cải tiến tổ chức và quản lý. Trong học tập cũng vậy. Tạo một
môi trường học tập thuận lợi một trong những cách học hiệu quả để giúp ta tập
trung và tiếp thu kiến thức tốt hơn.
- Chọn một không gian học tập yên tĩnh thoải mái: Tìm một nơi yên tĩnh
không bị nhiễu để thể tập trung vào học tập. Chọn một chỗ ngồi thoải mái
tốt cho sức khỏe như một bàn và ghế đủ rộng rãi.
- Loại bỏ các yếu tố xao nhãng: Loại bỏ các yếu tố xao nhãng như điện thoại,
máy tính, truyền hình, đồ ăn uống các yếu tố khác thể gây phân tâm ảnh
hưởng đến khả năng tập trung của bản thân.
- Sử dụng công cụ học tập phù hợp: Sử dụng các công cụ học tập phù hợp như
sách, bài giảng, bảng trắng, bút, giấy các ứng dụng học tập trực tuyến để giúp
bản thân tập trung hơn.
- Thay đổi môi trường học tập: Đôi khi việc thay đổi môi trường học tập thể
giúp bản thân tập trung hơn. Thử đi tới một thư viện hoặc quán phê để thay đổi
không khí học tập.
- Sử dụng các kỹ thuật tập trung: Sử dụng các kỹ thuật tập trung như kỹ thuật
Pomodoro hoặc kỹ thuật tập trung 5 phút để giúp tập trung hơn khi học tập.
- Học nhóm: Nếu người thích học tập theo nhóm, hãy tìm kiếm các bạn cùng
lứa để học tập cùng nhau. Học nhóm giúp học tập một cách hiệu quả hơn thông
qua việc trao đổi kiến thức và giải quyết các vấn đề khó khăn cùng nhau.
Đặc biệt bản thân em thấy sử dụng công cụ học tập phù hợp và thỉnh thảng thay
đổi môi trường học tập tạo nên hiệu quả rệt trong việc tiếp thu kiến thức. Khi
em nhà không động lực học tập thì em sẽ ra thư viện nơi rất nhiều người
cùng học tập, không khí đó sẽ ảnh hưởng tới bản thân em sẽđộng lực học
tập hơn. Hoặc dùng các app học chơi như Kahoot! cũng giúp em rất nhiều,
không chỉ giúp giảm căng thẳng mà còn giúp em vẫn ôn lại được kiến thức đã qua.
10
Đôi khi khi chơi với nhóm đông người sự cạnh tranh sẽ giúp em cố gắng vượt
qua hơn.
3.2.Liên hệ 2
Xét trong phạm vi cụ thể: “nhiệm vụ học tập của bản thân, học tập không chỉ
ngồi nghe giảng chép trên giảng đường học đây mang nghĩa rộng hơn: sự
tiếp thu một cách tích cực kiến thức mới qua hoạt động hàng ngày. một sinh
viên ngành quản trị khách sạn chương trình định hướng nghề nghiệp, tháng 5 đến
tháng 9 sắp tới đây, sinh viên sẽ tham gia học phần thực tập, mở đầu bằng chuyến
đi tour thực tế như một hình thức kiến tập.
Ta có thể khẳng định chuyến đi tour này là hàng hoá vì:
thỏa mãn nhu cầu được tích lũy kinh nghiệm, hiểu biết thêm của sinh
viên; thoả mãn nhu cầu rèn luyện, chuẩn bị cho sinh viên trước khi bước vào
doanh nghiệp thực tập chính thức, đảm bảo uy tín của trường
Thông qua việc mua bán tour
Tour được tạo ra để trao đổi mua bán, đạt lợi ích
Để sở hữu sử dụng hàng hoá này sinh viên mua với vật giá trị trao đổi (giá
trị) tương đương, vật trung gian để trao đổi tiền. (4 tour với 4 mức giá khác
nhau). Bản thân thấy được những đánh đổi về cả tiền bạc, thời gian, thể chất để có
được kiến thức trong quá trình học, một sinh viên như em cần phải tích cực tham
gia trao đổi trên lớp và tự học tại nhà để không lãng phí những gì đã bỏ ra.
Ngoài việc tham gia học phần thực tập tại trường để lấy kinh nghiệm, em còn tìm
hiểu đăng làm casual banquet (nhân viên bán thời gian tại bộ phận tiệc) tại
Intercontinental Landmark 72 với mức lương 22,500 VNĐ/giờ, mỗi ca làm việc 9
11
tiếng rưỡi. Một casual như em sẽ phải làm nhiều công việc khác nhau trong ca làm:
chuẩn bị phòng tiệc, phục vụ bàn, đón tiếp hướng dẫn khách, dọn dẹp phòng
tiệc khu vực làm việc,... Nghe thì đơn giản nhưng công việc phải vác nặng,
trực tiếp phục vụ khách hàng với lượng công việc lớn, yêu cầu cao ít nhân lực,
khách sạn lựa chọn thuê những sinh viên từ các trường đại học/cao đẳng ngành
khách sạn du lịch nhằm tiết kiệm được chi phí đào tạo, lương thưởng, đãi ngộ
vẫn nhân lực trình độ cao thể thực hiện công việc hiệu quả. Nhà bản trả
lương để nhân viên làm 9 tiếng rưỡi, nếu hoàn thành xong công việc trước khi hết
9 tiếng này thì vẫn sẽ phải tiếp tục làm những công việc khác ngoài bộ phận đã
đăng kí, bằng cách này nhà tư bản thu được nhiều giá trị thặng dư hơn (lợi nhuận).
Việc biết đến học thuyết giá trị thặng dư thay đổi cách nhìn nhận của em về lương
bình quân của ngành dịch vụ (lương thấp sovoiws khối lượng công việc) điều này
kích thích quá trình học hỏi tích lũy kinh nghiệm của em để nâng cao chất lượng
sức lao động, tạo được giá trị lớn hơn, đạt được vị trí cao hơn để nhận được phần
lương cao hơn. Theo học phần về tổng quan khách sạn quá trình thăng tiến trong
khách sạn khá cố định trừ khi bản thân đạt được thành tựu lớn, muốn đạt được
những thành tựu lớn hơn ngay từ khi còn sinh viên bản thân phải tự nghiên cứu,
tìm hiểu thêm, nâng cao kiến thức năng làm việc, chú ý phát triển sự sáng tạo,...
việc đầu tiên thể làm học tốt những học phần hiện có, tấm bằng loại giỏi
một bước đệm để đạt được thành công trong công việc sau này. Kể cả khi tốt
nghiệp, ta vẫn tiếp tục hoàn thiện bản thân, không ngừng học tập.
Tựu chung lại, học thuyết giá trị và học thuyết giá trị thặng dư đem lại sự hiểu biết,
kích thích con người nhận thức được bản chất để phát triển chính mình vận
dụng nó để lên kế hoạch thực tập tích luỹ kinh nghiệm sao cho hợp lí.
12
13

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KHÁCH SẠN – DU LỊCH -------- -------- BÀI THẢO LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Đề tài: Phân tích ý nghĩa của học thuyết giá trị và học thuyết
giá trị thặng dư trong thực hiện nhiệm vụ học tập của bản thân Nhóm thực hiện : Nhóm 2 Lớp HP : 2314RLCP1211
GVHD : Thầy Hoàng Văn Mạnh
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị Khoá : 2022 – 2026 1 LỜI CẢM ƠN
Trước khi bước vào bài thảo luận, nhóm 2 bọn em xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến trường Đại học Thương mại. Đặc biệt, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu
sắc đến giảng viên bộ môn thầy Hoàng Văn Mạnh đã truyền đạt những kiến thức
quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập. Trong thời gian tham gia lớp
học của thầy chúng em đã có thêm cho mình rất nhiều kiến thức bổ ích, tinh thần
học tập hiệu quả và nghiêm túc. Bộ môn Kinh Tế Chính Trị Mác Lenin là môn học
vô cùng bổ ích và có tính thực tế cao, cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu
thực tiễn của sinh viên. Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế và khả
năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ ngỡ. Nếu như chúng em có mắc phải thiếu sót gì
trong bài thảo luận thì rất mong được cô xem xét và góp ý để bài thảo luận của bọn
em được chỉnh chu cũng như hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn ! LỜI CAM ĐOAN
Chúng em xin cam đoan bài thảo luận môn Quản trị học với đề tài “ Phân
tích ý nghĩa của học thuyết giá trị và học thuyết giá trị thặng dư trong thực hiện
nhiệm vụ học tập của bản thân” là công trình nghiên cứu của tập thể nhóm 2,
cũng như của mỗi thành viên trong nhóm. Những phần sử dụng tài liệu kham khảo
trong bài thảo luận đã được nêu rõ trong phần tài liệu kham khảo. Các thông tin, số
liệu, kết quả trình bày trong bài thảo luận là hoàn toàn trung thực, nếu sai chúng
em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và chịu mọi kỷ luật của bộ môn và nhà trường đề ra.
Hà Nội, ngày 28 tháng 3 năm 2023 2 Đại diện nhóm 2
1.Lí luận về học thuyết giá trị và học thuyết giá trị thặng dư:
Trước khi tiến hành phân tích học thuyết trong trường hợp thực tế, ta cần xem xét về lý thuyết trước. 1.1.Học thuyết giá trị 1.1.1 Khái niệm:
Học thuyết giá trị là xuất phát điểm trong toàn bộ lý luận kinh tế của C. Mác.
Bằng việc phân tích hàng hóa, C.Mác vạch ra quan hệ giữa người với người thông
qua quan hệ trao đổi hàng hóa, đó chính là lao động, cơ sở của giá trị hàng hóa.
1.1.2. Ý nghĩa của học thuyết giá trị:
Nghiên cứu học thuyết giá trị, hiểu rõ quy luật giá trị sẽ có kiến thức điều tiết sản
xuất và lưu thông hàng hóa; kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng
năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Từ đó giúp cho chúng
ta hiểu rõ nguyên nhân của việc lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sản xuất
hàng hóa; nguyên nhân của sự phân hóa xã hội thành người giàu, người nghèo, tạo
ra sự bất bình đẳng trong xã hội để có phương hướng, giải pháp khắc phục.
1.2.Học thuyết giá trị thặng dư: 1.2.1.Khái niệm:
- Giá trị thặng dư là một phần của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do
lao động của người công nhân làm thuê sáng tạo ra và thuộc về nhà tư bản.
- Học thuyết giá trị thặng dư là một lý thuyết kinh tế chính trị của Karl Marx cho
rằng giá trị của một sản phẩm không chỉ gồm giá trị của nguyên vật liệu và lao
động để sản xuất nó mà còn bao gồm giá trị thặng dư được tạo ra bởi lao động
của người lao động. Theo lý thuyết này, giá trị thặng dư được tạo ra bởi người 3
lao động được sử dụng để tạo ra lợi nhuận cho chủ sở hữu sản xuất trong khi
người lao động chỉ nhận được một phần nhỏ của giá trị sản phẩm mà họ tạo ra.
1.2.2. Giá trị của học thuyết giá trị thặng dư
Tính khoa học và cách mạng của học thuyết giá trị thặng dư
Trước hết, học thuyết giá trị thặng dư là hệ thống lý luận khoa học, được C.Mác
phát kiến dựa trên cơ sở phân tích thực tiễn phương thức sản xuất TBCN.
Học thuyết giá trị thặng dư được hình thành trên cơ sở học thuyết giá trị - lao
động, mà trực tiếp là việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất
hàng hóa. Nhờ đó, C.Mác đã giải quyết được những bế tắc trong lý luận giá trị
mà các nhà kinh tế chính trị trước đó chưa giải quyết được.
Trước C.Mác đã có nhiều nhà kinh tế học nghiên cứu về giá trị thặng dư, nhưng
họ chỉ nghiên cứu giá trị thặng dư dưới những hình thái đặc thù của nó là lợi
nhuận, lợi tức, địa tô. Đến C.Mác, ông nghiên cứu giá trị thặng dư dưới dạng
thuần túy và đã chỉ ra được nguồn gốc giá trị thặng dư là lao động không công của công nhân làm thuê.
Theo C.Mác, khi người công nhân bán sức lao động cho nhà tư bản, nhà tư bản
sẽ tiêu dùng sức lao động này trong sản xuất, dẫn tới chỗ tạo ra một giá trị lớn
hơn giá trị sức lao động của người công nhân, ngay cả khi họ tuân thủ theo đúng
quy luật giá trị. C.Mác đã chứng minh một cách khoa học rằng: trong quá trình
sản xuất, lao động cụ thể bảo tồn và di chuyển giá trị cũ (c) vào trong sản phẩm
mới, lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới (v + m) và toàn bộ giá trị hàng hóa
bao gồm (c + v + m). Theo C.Mác, giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra ngoài
giá trị sức lao động do lao động không công của người công nhân tạo ra bị nhà tư bản chiếm đoạt.
Nhưng C.Mác không tự hạn chế trong những luận điểm chung chung mà đã phân
tích một cách sâu sắc, trên cơ sở rất nhiều tính toán toán học để luận giải tỷ suất
của giá trị thặng dư, những phương pháp kéo dài ngày lao động; chỉ ra bản chất 4
của tiền lương TBCN; phân tích một cách sâu sắc và khoa học các hình thức biểu
hiện của giá trị thặng dư, như lợi nhuận, lợi tức, địa tô; vạch rõ cơ chế chuyển
hóa giá trị thặng dư thành lợi nhuận và lợi nhuận bình quân, giá trị hàng hóa
thành giá cả sản xuất trong điều kiện tự do cạnh tranh, từ đó làm cơ sở lý luận để
giải quyết vấn đề địa tô tuyệt đối, điều mà các nhà lý luận kinh tế trước không thể giải quyết.
Trên cơ sở học thuyết giá trị - lao động với việc phân tích tính chất hai mặt của
lao động của người sản xuất hàng hóa và nguồn gốc giá trị thặng dư với tư cách
là nguồn gốc đầu tiên của các thu nhập TBCN, C.Mác đã xây dựng một phát
kiến khoa học vĩ đại, tạo bước ngoặt cách mạng trong khoa kinh tế chính trị.
Không phải ngẫu nhiên mà V.I.Lênin gọi học thuyết giá trị thặng dư là “hòn đá
tảng” của học thuyết kinh tế của C.Mác, mà học thuyết kinh tế lại là nội dung
chủ yếu trong học thuyết của chủ nghĩa Mác.
Thứ hai, học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác đã vạch ra quy luật vận động
kinh tế của xã hội tư bản - quy luật giá trị thặng dư - từ đó bóc trần những bí mật
của CNTB, bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân
mà trước đó chưa ai làm được.
Theo đó, C.Mác khẳng định ở phương thức sản xuất TBCN, quy luật kinh tế cơ
bản là quy luật sản xuất giá trị thặng dư. Quy luật này phản ánh mối quan hệ bản
chất nhất giữa hai giai cấp trong xã hội tư bản và chi phối sự hoạt động của các
quy luật khác trong xã hội tư bản. Giá trị thặng dư không đơn thuần là giá trị dôi
ra ngoài giá trị sức lao động, mà là một quan hệ xã hội phản ánh quan hệ bóc lột
giữa một bên là người sở hữu tư liệu sản xuất với bên kia là người sở hữu hàng
hóa sức lao động, giữa nhà tư bản với người lao động làm thuê.
C.Mác đã vạch rõ bí mật và sự che đậy tinh vi của nguồn gốc các thu nhập
TBCN, đã tìm ra được nguồn gốc duy nhất của chúng. Vì vậy, không phải ngẫu 5
nhiên mà các nhà kinh tế học tư sản và các thế lực phản động đã dành rất nhiều
bút mực vào những mưu toan phủ nhận tính khoa học, cách mạng, bác bỏ học
thuyết giá trị thặng dư của C.Mác.
Thứ ba, học thuyết giá thặng dư đã chỉ ra sự ra đời, tồn tại, phát triển và tiêu
vong của phương thức sản xuất TBCN, là vũ khí lý luận sắc bén của giai cấp
công nhân đấu tranh chống giai cấp tư sản.
Từ việc phân tích quá trình sản xuất giá trị thặng dư trong nền sản xuất TBCN,
C.Mác đã chỉ ra quy luật giá trị thặng dư ra đời cùng với sự ra đời của quan hệ
sản xuất TBCN, nó tồn tại và phát huy tác dụng cùng với sự tồn tại và vận động của nền kinh tế TBCN.
Theo C.Mác, CNTB chỉ nảy sinh khi xuất hiện những điều kiện và khả năng
chiếm lao động thặng dư của lao động làm thuê, khi tiền và tư liệu sản xuất biến
thành phương tiện bóc lột giá trị thặng dư. Cũng chính chạy theo việc bóc lột
càng nhiều giá trị thặng dư, CNTB đã phát triển từ thấp đến cao, làm cho lực
lượng sản xuất ngày càng phát triển, làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa chế độ
chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất với lực lượng sản xuất phát triển
cao mang tính xã hội hóa sâu sắc. Chính mâu thuẫn này sẽ đưa đến sự thay thế
tất yếu CNTB bằng một xã hội cao hơn.
Sáng tạo ra học thuyết giá trị thặng dư, C.Mác đã làm một cuộc cách mạng trong
lĩnh vực kinh tế - chính trị học, chỉ ra quy luật vận động kinh tế của xã hội tư
bản, vạch trần bí mật của chế độ tư bản là bóc lột giá trị thặng dư do sức lao
động của những người làm thuê tạo ra. Bóc lột giá trị thặng dư là bản chất và là
mục tiêu của CNTB, là căn nguyên của mọi mâu thuẫn đối kháng giữa tư bản và
lao động, là vấn đề không thể giải quyết được trong phương thức sản xuất TBCN. 6
Ph.Ăngghen cho rằng, việc phát hiện ra học thuyết giá trị thặng dư là công lao vĩ
đại nhất của C.Mác. Nó chiếu sáng rực rỡ lên những lĩnh vực kinh tế mà trước
kia những nhà XHCN cùng mò mẫm trong bóng tối không kém gì những nhà
kinh tế học tư sản. Chủ nghĩa xã hội khoa học bắt đầu từ ngày có giải đáp đó, và
đây chính là điểm trung tâm của chủ nghĩa xã hội khoa học.
Dựa trên lý luận nền tảng là học thuyết giá trị, C.Mác đã xây dựng nên học
thuyết giá trị thặng dư – hòn đá tảng trong toàn bộ lý luận kinh tế của ông. Giá trị
thặng dư là nguồn cấu thành động lực để tăng trưởng và phát triển kinh tế, nhất là
đối với nền sản xuất xã hội.
Tuy nhiên chúng ta cũng có thể áp dụng học thuyết này vào quá trình học tập
của bản thân. Không phải ngẫu nhiên mà nhà bác học Lênin lại có câu nói rằng
“Học - Học nữa - Học mãi”. Dù ta đang ở độ tuổi nào hoặc làm việc trong bất cứ
ngành nghề nào thì việc học cũng rất quan trọng bởi nó chính là yếu tố quyết định
cuộc sống sau này. Việc học là việc cả đời và không giới hạn ở bất cứ thành phần nào.
2.Tại sao lại phải học, học để làm gì?
Việc học có rất nhiều lợi ích quan trọng đối với tương lai của con người, bao gồm:
- Tạo cơ hội việc làm tốt hơn: Việc học và có được bằng cấp cao hơn giúp con
người có nhiều cơ hội hơn để tìm được việc làm tốt hơn và thu nhập cao hơn trong tương lai.
- Phát triển sự nghiệp: Học tập liên tục và phát triển các kỹ năng mới giúp con
người có thể phát triển sự nghiệp của mình và tiến thân trong công việc.
- Tăng khả năng đáp ứng với thị trường lao động: Với sự phát triển nhanh chóng
của công nghệ và kinh tế, thị trường lao động đang có sự thay đổi liên tục. Việc 7
học giúp con người có khả năng đáp ứng với những thay đổi này và đáp ứng nhu
cầu của thị trường lao động.
- Tạo ra nhiều cơ hội: Học tập cũng giúp con người tạo ra nhiều cơ hội khác
nhau trong cuộc sống. Những kiến thức và kỹ năng mới có thể giúp họ khám phá
và thử nghiệm những lĩnh vực mới, tìm kiếm cơ hội kinh doanh hoặc làm việc trong ngành mới.
- Nâng cao chất lượng cuộc sống: Học tập giúp con người có kiến thức và kỹ
năng cần thiết để cải thiện chất lượng cuộc sống của mình. Họ có thể áp dụng
những kiến thức này để giải quyết các vấn đề phức tạp trong cuộc sống và tạo ra
một môi trường sống tốt hơn.
- Đóng góp cho xã hội: Việc học cũng giúp con người trở thành những thành
viên có ích của xã hội. Những kiến thức và kỹ năng mới có thể giúp họ đóng góp
cho xã hội một cách tích cực, tham gia vào các hoạt động cộng đồng và làm việc
với những người khác để giải quyết các vấn đề xã hội.
Nói tóm lại mục tiêu chúng ta học tập không ngoài việc nâng cao chất lượng
sức lao động để tạo ra nhiều giá trị mới rồi từ đó tiến tới mức thu nhập cao, cải
thiện chất lượng cuộc sống, khẳng định giá trị riêng của bản thân với những người
xung quanh bởi lợi ích mà bản thân mang lại trong cuộc sống này.
3.Ý nghĩa học thuyết giá trị và giá trị thặng dư trong học tập 3.1.Liên hệ 1
Theo học thuyết giá trị, ta có thể hiểu tri thức là sản phẩm của học tập, dùng để
thỏa mãn nhu cầu của con người thông qua trao đổi mua bán. Được hiểu đơn giản
như khi ta sử dụng tri thức đó để làm việc trao đổi với tiền lương mà ta nhận được
tương ứng. Như vậy, tri thức mà ta nắm giữ càng nhiều, giá trị của bản thân càng
nâng cao, đặc biệt trong nền kinh tế tri thức ngày nay. Tri thức ở đây không chỉ là
những kiến thức lý thuyết ta học được ở trên trường mà còn là những kỹ năng 8
mềm như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng làm việc nhóm,... đồng
thời còn là những kinh nghiệm từ công việc bản thân đã làm. Để làm được điều
này ta phải chủ động hành động. Em xin đưa ra một số biện pháp như sau:
Thứ nhất, để có thể tạo ra được giá trị thặng dư thì người công nhân, người lao
động phải đạt được một năng suất lao động nhất định phù hợp với một độ dài ngày
lao động nhất định và cường độ lao động nhất định. Khi muốn tạo ra và tăng thêm
nguồn giá trị thặng dư thì phải kết hợp, thực hiện đồng thời làm việc với cường độ
lao động phù hợp song song với việc tăng năng suất lao động kèm theo đó phải lao
động làm việc đủ giờ lao động trong ngày quy định. Tương tự với việc học tập,
căn cứ vào đặc điểm của bản thân mà lập ra mục tiêu và kế hoạch, thực hiện
nghiêm khắc theo kế hoạch.
Ví dụ như bản thân em thường tập trung cao vào buổi sáng nên học vào thời
điểm đó sẽ nâng cao năng suất học tập nhất. Em sẽ lên kế hoạch học tiếng anh
trong vòng một tiếng rưỡi vì em biết mình sẽ tập trung được nhiều nhất trong
khoảng thời gian đó vì em là một người nhanh chán. Trong một tiếng rưỡi đó em
sẽ đảm bảo bản thân phải học được hai mươi từ vựng mới và tập nghe được hai bài nghe tiếng anh.
Thứ hai, theo học thuyết cần nhận thức rõ ràng và đúng đắn về vai trò, tầm
quan trọng của nhân tố vật chất và nhân tố con người trong quá trình sản xuất
nhằm tạo ra giá trị thặng dư. Quá trình sản xuất hàng hóa là sự thống nhất giữa
quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị. Quá trình lao động của công nhân
lao động tạo ra các giá trị sử dụng. Sức sản xuất lao động của người công nhân lao
động càng cao thì sẽ càng tạo ra được nhiều giá trị sử dụng trong một đơn vị thời
gian nhất định. Sức sản xuất của người lao động được quyết định, chi phối bởi
nhiều những yếu tố khác nhau như mức độ áp dụng khoa học công nghệ vào quá
trình sản xuất, trình độ khéo léo trung bình của công nhân … Bởi vậy, muốn có
nhiều của cải, nhiều giá trị sử dụng cần phải coi trọng giáo dục đào tạo, coi trọng 9
khoa học công nghệ, cải tiến tổ chức và quản lý. Trong học tập cũng vậy. Tạo một
môi trường học tập thuận lợi là một trong những cách học hiệu quả để giúp ta tập
trung và tiếp thu kiến thức tốt hơn.
- Chọn một không gian học tập yên tĩnh và thoải mái: Tìm một nơi yên tĩnh và
không bị nhiễu để có thể tập trung vào học tập. Chọn một chỗ ngồi thoải mái và
tốt cho sức khỏe như một bàn và ghế đủ rộng rãi.
- Loại bỏ các yếu tố xao nhãng: Loại bỏ các yếu tố xao nhãng như điện thoại,
máy tính, truyền hình, đồ ăn uống và các yếu tố khác có thể gây phân tâm và ảnh
hưởng đến khả năng tập trung của bản thân.
- Sử dụng công cụ học tập phù hợp: Sử dụng các công cụ học tập phù hợp như
sách, bài giảng, bảng trắng, bút, giấy và các ứng dụng học tập trực tuyến để giúp bản thân tập trung hơn.
- Thay đổi môi trường học tập: Đôi khi việc thay đổi môi trường học tập có thể
giúp bản thân tập trung hơn. Thử đi tới một thư viện hoặc quán cà phê để thay đổi không khí học tập.
- Sử dụng các kỹ thuật tập trung: Sử dụng các kỹ thuật tập trung như kỹ thuật
Pomodoro hoặc kỹ thuật tập trung 5 phút để giúp tập trung hơn khi học tập.
- Học nhóm: Nếu là người thích học tập theo nhóm, hãy tìm kiếm các bạn cùng
lứa để học tập cùng nhau. Học nhóm giúp học tập một cách hiệu quả hơn thông
qua việc trao đổi kiến thức và giải quyết các vấn đề khó khăn cùng nhau.
Đặc biệt bản thân em thấy sử dụng công cụ học tập phù hợp và thỉnh thảng thay
đổi môi trường học tập tạo nên hiệu quả rõ rệt trong việc tiếp thu kiến thức. Khi
em ở nhà không có động lực học tập thì em sẽ ra thư viện nơi có rất nhiều người
cùng học tập, không khí ở đó sẽ ảnh hưởng tới bản thân em và sẽ có động lực học
tập hơn. Hoặc dùng các app học mà chơi như Kahoot! cũng giúp em rất nhiều,
không chỉ giúp giảm căng thẳng mà còn giúp em vẫn ôn lại được kiến thức đã qua. 10
Đôi khi khi chơi với nhóm đông người có sự cạnh tranh sẽ giúp em cố gắng vượt qua hơn. 3.2.Liên hệ 2
Xét trong phạm vi cụ thể: “nhiệm vụ học tập của bản thân, học tập không chỉ là
ngồi nghe giảng và chép trên giảng đường mà học ở đây mang nghĩa rộng hơn: sự
tiếp thu một cách tích cực kiến thức mới qua hoạt động hàng ngày. Là một sinh
viên ngành quản trị khách sạn chương trình định hướng nghề nghiệp, tháng 5 đến
tháng 9 sắp tới đây, sinh viên sẽ tham gia học phần thực tập, mở đầu bằng chuyến
đi tour thực tế như một hình thức kiến tập.
Ta có thể khẳng định chuyến đi tour này là hàng hoá vì:
Nó thỏa mãn nhu cầu được tích lũy kinh nghiệm, hiểu biết thêm của sinh
viên; thoả mãn nhu cầu rèn luyện, chuẩn bị cho sinh viên trước khi bước vào
doanh nghiệp thực tập chính thức, đảm bảo uy tín của trường
Thông qua việc mua bán tour
Tour được tạo ra để trao đổi mua bán, đạt lợi ích
Để sở hữu và sử dụng hàng hoá này sinh viên mua với vật có giá trị trao đổi (giá
trị) tương đương, vật trung gian để trao đổi là tiền. (4 tour với 4 mức giá khác
nhau). Bản thân thấy được những đánh đổi về cả tiền bạc, thời gian, thể chất để có
được kiến thức trong quá trình học, một sinh viên như em cần phải tích cực tham
gia trao đổi trên lớp và tự học tại nhà để không lãng phí những gì đã bỏ ra.
Ngoài việc tham gia học phần thực tập tại trường để lấy kinh nghiệm, em còn tìm
hiểu và đăng kí làm casual banquet (nhân viên bán thời gian tại bộ phận tiệc) tại
Intercontinental Landmark 72 với mức lương 22,500 VNĐ/giờ, mỗi ca làm việc 9 11
tiếng rưỡi. Một casual như em sẽ phải làm nhiều công việc khác nhau trong ca làm:
chuẩn bị phòng tiệc, phục vụ bàn, đón tiếp và hướng dẫn khách, dọn dẹp phòng
tiệc và khu vực làm việc,... Nghe thì đơn giản nhưng công việc phải bê vác nặng,
trực tiếp phục vụ khách hàng với lượng công việc lớn, yêu cầu cao và ít nhân lực,
khách sạn lựa chọn thuê những sinh viên từ các trường đại học/cao đẳng ngành
khách sạn du lịch nhằm tiết kiệm được chi phí đào tạo, lương thưởng, đãi ngộ mà
vẫn có nhân lực trình độ cao thể thực hiện công việc hiệu quả. Nhà tư bản trả
lương để nhân viên làm 9 tiếng rưỡi, nếu hoàn thành xong công việc trước khi hết
9 tiếng này thì vẫn sẽ phải tiếp tục làm những công việc khác ngoài bộ phận đã
đăng kí, bằng cách này nhà tư bản thu được nhiều giá trị thặng dư hơn (lợi nhuận).
Việc biết đến học thuyết giá trị thặng dư thay đổi cách nhìn nhận của em về lương
bình quân của ngành dịch vụ (lương thấp sovoiws khối lượng công việc) điều này
kích thích quá trình học hỏi tích lũy kinh nghiệm của em để nâng cao chất lượng
sức lao động, tạo được giá trị lớn hơn, đạt được vị trí cao hơn để nhận được phần
lương cao hơn. Theo học phần về tổng quan khách sạn quá trình thăng tiến trong
khách sạn khá cố định trừ khi bản thân đạt được thành tựu lớn, muốn đạt được
những thành tựu lớn hơn ngay từ khi còn là sinh viên bản thân phải tự nghiên cứu,
tìm hiểu thêm, nâng cao kiến thức kĩ năng làm việc, chú ý phát triển sự sáng tạo,...
mà việc đầu tiên có thể làm là học tốt những học phần hiện có, tấm bằng loại giỏi
là một bước đệm để đạt được thành công trong công việc sau này. Kể cả khi tốt
nghiệp, ta vẫn tiếp tục hoàn thiện bản thân, không ngừng học tập.
Tựu chung lại, học thuyết giá trị và học thuyết giá trị thặng dư đem lại sự hiểu biết,
kích thích con người nhận thức được bản chất để phát triển chính mình và vận
dụng nó để lên kế hoạch thực tập tích luỹ kinh nghiệm sao cho hợp lí. 12 13