Bảng số liệu tổng sản phẩm trong nước phân theo khu vực kinh tế.
Năm Tổng số Nông, lâm
nghiệp và thuỷ
sản
Công nghiệp và
xây dựng
Dịch vụ Thuế sản phẩm
trừ trợ cấp sản
phẩm
Giá trị (tỷ
đồng)
TTr
(%)
Giá trị (tỷ
đồng)
TTr
(%)
Giá trị (tỷ
đồng)
TTr
(%)
Giá trị (tỷ
đồng)
TTr
(%)
Giá trị (tỷ
đồng)
TTr
(%)
2017 4217874,76 100 513873,79 12,18 1482057,1
4
35,14 1811523,95 42,9
5
410419,88 9,73
2018 4532739,4 100 535021,98 11,80 1615270,8
5
35,64 1946626,99 42,9
5
435819,58 9,61
2019 4866315,6 100 549291,56 11,29 1747874,3
7
35,92 2103954,81 43,2
4
465194,85 9,56
2020 5005755,65 100 565986,83 11,31 1824414,7
2
36,45 2146151,35 42,8
7
469202,75 9,37
2021 5133981,29 100 584485,95 11,38 1889692,2
5
36,81 2179808,89 42,4
6
479994,2 9,35
( Tính toán số liệu từ Tổng cục thống kê)
Bảng tốc độ tăng trưởng kinh tế các chỉ tiêu quacác năm 2017-2021.
Chỉ tiêu Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021
Giá trị TL
(%)
Giá trị TL
(%)
Giá trị TL
(%)
Giá trị TL
(%)
Giá trị TL
(%)
Tổng GDP 273731,08 6,9 314864,64 7,5 333576,2 7,4 139440,1 2,9 128225,
6
2,6
Nông, lâm
nghiệp và
thủy sản
15781,49 3,1
7
21148,19 4,12 14269,58 2,6
7
16695,27 3,04 18499,1
2
3,27
Công
nghiệp xây
dựng
113388,77 8,2
8
133213,71 8,99 132603,5 8,2
1
76540,35 4,38 65277,5
3
3,58
Du lịch
dịch vụ
120418,48 7,1
2
135103,04 7,46 157327,8 8,0
8
42196,54 2,01 33657,5
4
1,57
Thuế sp trừ
trợ cấp sp
24142,35 6,2
5
25399,7 6,19 29375,27 6,7
4
4007,9 0,86 10791,4
5
2,30
( Tính toán số liệu từ Tổng cục thống kê)
* Nhận xét:
Tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức khá trong giai đoạn 2017-2021. Trong ba năm
2017- 2019 nền kinh tế đã có sự bứt phá, tốc độ tăng GDP năm sau cao hơn năm trước
và vượt mục tiêu Quốc hội đề ra trong Nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội hằng
năm, trong đó tốc độ tăng GDP năm 2017 đạt 6,9%; năm 2018 tăng 7,5% và là mức
tăng cao nhất kể từ năm 2008; năm 2019 tăng 7,4%. Riêng năm 2020, tăng trưởng
kinh tế đạt 2,91%, tuy là mức tăng thấp nhất của các năm trong giai đoạn 2011-2020
nhưng trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi
lĩnh vực kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới thì đây là thành công lớn của
Việt Nam với mức tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới. Tăng trưởng kinh tế
từng bước được cải thiện, năm 2021 tốc độ tăng trưởng có xu hướng suy giảm và chỉ
đạt 2,6%. Tuy vậy, Việt Nam vẫn là một trong số rất ít quốc gia duy trì mức tăng
trưởng dương trên thế giới.
Theo bảng số liệu, tỷ trọng các ngành qua các năm tương đối ổn định, trong đó ngành
du lịch dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số GDP. Cơ cấu kinh tế tiếp tục
chuyển dịch theo xu hướng giảm tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; tăng
tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Tỷ trọng khu vực nông, lâm
nghiệp và thủy sản đã giảm từ 12,18% năm 2017 xuống 11,80% năm 2018, năm 2019
còn 11,29%. Khu vực công nghiệp, xây dựng tăng từ 35,14% năm 2017 lên 36,45%
năm 2020 và đạt 36,81% năm 2021. Tỷ trọng khu vực dịch vụ tương đối ổn định.
- Giai đoạn 2017-2020, lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản Việt Nam tiếp tục thể
hiện vai trò là bệ đỡ của nền kinh tế, là nền tảng cho ổn định đời sống xã hội.. Tốc độ
tăng trưởng GDP nông, lâm, thủy sản năm 2018 đạt 4,12 % tăng 0,95% so với năm
2017 (đạt 3,17%). Nông nghiệp tăng 3,04 % trong năm 2020 so với mức 2,67% năm
2019, nhờ tích cực xúc tiến xuất khẩu; chuyển đổi cơ cấu ngành (như chuyển từ trồng
lúa sang các loại cây công nghiệp có giá trị cao và chăn nuôi); và khu vực tư nhân
năng động. Năm 2021, đối mặt nhiều khó khăn, thách thức, nhất là ảnh hưởng của đại
dịch Covid-19, nhưng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản đã đạt được những kết quả
hết sức khả quan với tốc độ tăng trưởng GDP ngành nông nghiệp tăng 3,27%, đã vượt
tốc độ tăng trưởng toàn nền kinh tế (đạt 2,6 %), đóng góp 15,7% vào tốc độ tăng tổng
giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế, điều này thể hiện những thành quả đáng ghi
nhận của ngành nông nghiệp, không chỉ đạt và vượt các mục tiêu tăng trưởng đã đề ra,
mà còn tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột” của nền kinh tế .
- Khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt, là ngành có
tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các nhóm ngành và đóng góp chủ yếu vào mức tăng
trưởng chung. Tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2017 – 2019 của khu vực công nghiệp
và xây dựng ước đạt 8,49%, tỉ trọng khu vực công nghiệp (bao gồm xây dựng) có xu
hướng tăng dần ( năm 2017 theo giá so sánh trong GDP tăng từ mức 35,14 % lên
36,45% năm 2020). Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 đã khiến cho khu vực
công nghiệp xây dựng chịu nhiều tác động khiến cho tốc độ tăng trưởng năm 2020
giảm mạnh so với năm trước (từ 8,21% giảm xuống còn 4,31%). Năm 2021, khu vực
công nghiệp và xây dựng tăng 3,58%- đóng góp 55,6% trong tăng trưởng chung toàn
nền kinh tế. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng
trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng 6,37%, đóng góp 1,61 điểm phần trăm vào
tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành sản xuất và phân phối
điện tăng 5,24%, đóng góp 0,19 điểm phần trăm. Ngành khai khoáng giảm 6,21%, làm
giảm 0,23 điểm phần trăm do sản lượng dầu mỏ thô khai thác giảm 5,7% và khí đốt
thiên nhiên dạng khí giảm 19,4%. Ngành xây dựng tăng 0,63%, đóng góp 0,05 điểm
phần trăm.
- Khu vực dịch vụ có vai trò quan trọng và Đóng góp của ngành dịch vụ vào tăng
trưởng kinh tế ngày càng tăng. Các ngành dịch vụ có tiềm năng, lợi thế, có hàm lượng
khoa học, công nghệ cao như viễn thông, công nghệ thông tin, logistics và vận tải, tài
chính, ngân hàng, du lịch, thương mại điện tử... được tập trung phát triển. Ngành du
lịch được triển khai theo hướng tập trung đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật đồng bộ, chú
trọng nâng cao chất lượng và phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ, Ngành du lịch
đã có bước phát triển rõ rệt và đạt được những kết quả quan trọng Tốc độ tăng trưởng
của khu vực dịch vụ năm 2018 đạt 7,46% tăng 0,34% so với năm 2017, năm 2019 khu
vực du lịch dịch vụ đạt mức tăng trưởng cao 8,08%. Năm 2020, dịch bệnh Covid-19
đã tác động rất nghiêm trọng đến ngành du lịch và nhiều ngành dịch vụ như giao
thông vận tải, hàng không, khách sạn… làm tốc độ tăng trưởng giảm xuống còn
2,01%. Năm 2021, tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ đạt 1,57% đóng góp
28,7%, Trong đó tăng trưởng âm của một số ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn đã làm
giảm mức tăng chung của khu vực dịch vụ và toàn bộ nền kinh tế.
Ngành bán buôn, bán lẻ giảm 0,21% so với năm trước, làm giảm 0,02 điểm phần trăm
trong tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế, ngành vận tải kho bãi
giảm 5,02%, làm giảm 0,3 điểm phần trăm, ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm
mạnh 20,81%, làm giảm 0,51 điểm phần trăm. Hoạt động thương mại, vận tải trong
nước, khách du lịch quốc tế trong quý IV/2021 dần khôi phục trở lại. Tổng mức bán lẻ
hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý IV/2021 tăng 28,1% so với quý trước;
vận tải hành khách tăng 48,4%, luân chuyển hành khách tăng 51,3% và vận chuyển
hàng hóa tăng 31,8%, luân chuyển hàng hóa tăng 28,4%; khách quốc tế đến nước ta
tăng 62,7%. Ngược lại, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, ngành y tế và hoạt động trợ
giúp xã hội đạt tốc độ tăng cao nhất trong khu vực dịch vụ với mức tăng 42,75%, đóng
góp 0,55 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,42%,
đóng góp 0,52 điểm phần trăm; ngành thông tin và truyền thông tăng 5,97%, đóng góp
0,36 điểm phần trăm.
* So sánh Việt Nam và Thái Lan.
Biểu đồ so sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam – Thái Lan.
2017 2018 2019 2020 2021
-8
-6
-4
-2
0
2
4
6
8
10
Việt Nam
Thái Lan
(Theo Tổng cục thống kê và Ngân hàng Thế giới)
Thái Lan giống như Việt Nam cũng thuộc nhóm quốc gia đang phát triển nhưng nền
kinh tế lại được xếp vào nhóm các nước công nghiệp mới. Xét về quy thì đây
nền kinh tế lớn thứ 2 trong khu vực khu vực ASEAN, chỉ sau Indonesia, xếp hạng 25
thế giới về GDP danh nghĩa, xếp thứ 21 thế giới xét theo sức mua thương đương.
Nhưng xét về tốc độ tăng trưởng và sự phục hồi sau đại dịch Covid-19, kết quả là Việt
Nam vẫn có tốc độ tăng trưởng cao hơn Thái Lan. Theo số liệu do Hội đồng Phát triển
Kinh tế hội Quốc gia Thái Lan ghi nhận tính chung cả năm 2021, nền kinh tế
Thái Lan đã đạt mức tăng trưởng 1,6%. Trong khi đó, số liệu Tổng cục Thống cho
thấy Việt Nam đạt mức tăng trưởng 2,6% trong năm 2021 so với năm 2020.
Đặc điểm chính của nền kinh tế Thái Lan phụ thuộc lớn vào du lịch xuất khẩu
với kim ngạch xuất khẩu chiếm khoảng 60% GDP. Các mặt hàng xuất khẩu chính
dệt may, giày dép, thủy sản, gạo, cao su, đồ trang sức, xe hơi, máy vi tính thiết bị
điện. Trong khi đó, kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, xuất khẩu thô
đầu trực tiếp nước ngoài. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam dầu
thô, hàng may mặc, hải sản, hàng điện tử, gạo, cao su, cà phê.
một đất nước chú trọng vào du lịch - ngành công nghiệp không khói nên tài
nguyên du lịch hai nước gần giống nhau những nhiều chỉ số Việt Nam vẫn chưa bắt
kịp Thái Lan. Theo Hội đồng Phát triển Kinh tế hội Quốc gia Thái Lan năm
2019 Du lịch chiếm 18,4% tức là gần 1/5 GDP của Thái Lan. Năm 2019 khách du lịch
đã chi gần 2 nghìn tỷ baht Thái. Doanh thu doanh thu từ du lịch của Thái Lan lên tới
62 tỷ USD, gấp đôi con số này Việt Nam 31 tỷ USD. Bỏ qua số liệu của 2 năm
chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid 19, theo thaiwebsites.com số lượng khách du lịch
đến thăm Thái Lan tăng từ 35,35 triệu năm 2017 lên 38,28 triệu năm 2018 và sau đó là
39,80 triệu o năm 2019. Trong khi đó, theo số liệu của Tổng cục Thống Lượng
khách quốc tế đến Việt Nam năm 2019 18 triệu lượt người, tăng 16,2% so với năm
2018. Tức nếu xét riêng trong năm 2019, số lượng khách du lịch đến Việt Nam chỉ
bằng ½ số khách mê đắm đất nước chùa Vàng.
GDP của Thái Lan sụt giảm 6,1% trong năm 2020. Nền kinh tế thuộc vào du lịch này
đang phải vật lộn với một đợt bùng phát mới của COVID-19 bao gồm một biến thể rất
dễ lây lan, giáng một đòn vào sự phục hồi kinh tế vốn đã chậm chạp của Thái Lan.
Vốn phụ thuộc vào ngành du lịch, kinh tế Thái Lan thiệt hại lớn do đại dịch Covid-19
thêm vào đó ảnh hưởng dịch bệnh đã khiến cho ngành lúa gạo Thái Lan gặp nhiều yếu
tố bất lợi. Ngành du lịch đóng góp 3.000 tỷ baht cho nền kinh tế Ti Lan vào năm
2019, chiếm 18% GDP của cả nước, trong đó 2.000 tỷ baht đến từ khách du lịch nước
ngoài (chiếm 12% GDP) và 1.000 tỷ baht từ du lịch nội địa (chiếm 6% GDP).Năm
2021, lượng khách du lịch nước ngoài đến Thái Lan đạt 6,7 triệu lượt, tạo ra doanh thu
khoảng 300 tỷ baht, kém xa con số gần 40 triệu lượt vào năm 2019.
Nền kinh tế Thái Lan trong những năm từ 1960-1990 luôn tăng trưởng với tốc độ
trung bình 7,5%. Nhưng trong giai đoạn 2017-2020, tốc độ tăng trưởng của nước này
đã giảm mạnh, thậm chí vào năm 2020, tổng giá trị quốc nội (GDP) của Thái Lan
giảm 6,1% so với năm 2019- kết quả cả năm tồi tệ nhất trong vòng 2 thập niên qua kể
từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Trong khi đó, kinh tế Việt Nam
ổn định hơn với tổng độ tăng trưởng từ 5,2% trong năm 2012 đến 7,1% trong năm
2018. Việt Nam đã duy trì mức tăng trưởng ổn định 7% và được đánh giá là một trong
những câu chuyện kinh tế thành công của thế kỷ 21. Tốc độ tăng trưởng GDP Việt
Nam trong năm 2018 cao gấp 1,7 ln so với Thái Lan. Cũng giống như các nước khác,
nền kinh tế Việt Nam đã chịu nhiều tác động tiêu cực khi đại dịch Covid-19 bùng
phát. Mặc dù vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Việt Nam đã thành công
trong việc vừa kiềm chế đại dịch và bảo đảm phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế đặc biệt chú trọng vào nhóm ngành công nghiệp xây dựng và dịch vụ đã giúp
cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định.

Preview text:

Bảng số liệu tổng sản phẩm trong nước phân theo khu vực kinh tế. Năm Tổng số Nông, lâm Công nghiệp và Dịch vụ Thuế sản phẩm nghiệp và thuỷ xây dựng trừ trợ cấp sản sản phẩm Giá trị (tỷ TTr Giá trị (tỷ TTr Giá trị (tỷ TTr Giá trị (tỷ TTr Giá trị (tỷ TTr đồng) (%) đồng) (%) đồng) (%) đồng) (%) đồng) (%) 2017 4217874,76 100 513873,79 12,18 1482057,1 35,14 1811523,95 42,9 410419,88 9,73 4 5 2018 4532739,4 100 535021,98 11,80 1615270,8 35,64 1946626,99 42,9 435819,58 9,61 5 5 2019 4866315,6 100 549291,56 11,29 1747874,3 35,92 2103954,81 43,2 465194,85 9,56 7 4 2020 5005755,65 100 565986,83 11,31 1824414,7 36,45 2146151,35 42,8 469202,75 9,37 2 7 2021 5133981,29 100 584485,95 11,38 1889692,2 36,81 2179808,89 42,4 479994,2 9,35 5 6
( Tính toán số liệu từ Tổng cục thống kê)
Bảng tốc độ tăng trưởng kinh tế các chỉ tiêu quacác năm 2017-2021. Chỉ tiêu Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021 Giá trị TL Giá trị TL Giá trị TL Giá trị TL Giá trị TL (%) (%) (%) (%) (%)
Tổng GDP 273731,08 6,9 314864,64 7,5 333576,2 7,4 139440,1 2,9 128225, 2,6 6 Nông, lâm 15781,49 3,1 21148,19 4,12 14269,58 2,6 16695,27 3,04 18499,1 3,27 nghiệp và 7 7 2 thủy sản Công 113388,77 8,2
133213,71 8,99 132603,5 8,2 76540,35 4,38 65277,5 3,58 nghiệp xây 8 1 3 dựng Du lịch
120418,48 7,1 135103,04 7,46 157327,8 8,0 42196,54 2,01 33657,5 1,57 dịch vụ 2 8 4 Thuế sp trừ 24142,35 6,2 25399,7 6,19 29375,27 6,7 4007,9 0,86 10791,4 2,30 trợ cấp sp 5 4 5
( Tính toán số liệu từ Tổng cục thống kê) * Nhận xét:
Tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức khá trong giai đoạn 2017-2021. Trong ba năm
2017- 2019 nền kinh tế đã có sự bứt phá, tốc độ tăng GDP năm sau cao hơn năm trước
và vượt mục tiêu Quốc hội đề ra trong Nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội hằng
năm, trong đó tốc độ tăng GDP năm 2017 đạt 6,9%; năm 2018 tăng 7,5% và là mức
tăng cao nhất kể từ năm 2008; năm 2019 tăng 7,4%. Riêng năm 2020, tăng trưởng
kinh tế đạt 2,91%, tuy là mức tăng thấp nhất của các năm trong giai đoạn 2011-2020
nhưng trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi
lĩnh vực kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới thì đây là thành công lớn của
Việt Nam với mức tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới. Tăng trưởng kinh tế
từng bước được cải thiện, năm 2021 tốc độ tăng trưởng có xu hướng suy giảm và chỉ
đạt 2,6%. Tuy vậy, Việt Nam vẫn là một trong số rất ít quốc gia duy trì mức tăng
trưởng dương trên thế giới.
Theo bảng số liệu, tỷ trọng các ngành qua các năm tương đối ổn định, trong đó ngành
du lịch dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số GDP. Cơ cấu kinh tế tiếp tục
chuyển dịch theo xu hướng giảm tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; tăng
tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Tỷ trọng khu vực nông, lâm
nghiệp và thủy sản đã giảm từ 12,18% năm 2017 xuống 11,80% năm 2018, năm 2019
còn 11,29%. Khu vực công nghiệp, xây dựng tăng từ 35,14% năm 2017 lên 36,45%
năm 2020 và đạt 36,81% năm 2021. Tỷ trọng khu vực dịch vụ tương đối ổn định.
- Giai đoạn 2017-2020, lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản Việt Nam tiếp tục thể
hiện vai trò là bệ đỡ của nền kinh tế, là nền tảng cho ổn định đời sống xã hội.. Tốc độ
tăng trưởng GDP nông, lâm, thủy sản năm 2018 đạt 4,12 % tăng 0,95% so với năm
2017 (đạt 3,17%). Nông nghiệp tăng 3,04 % trong năm 2020 so với mức 2,67% năm
2019, nhờ tích cực xúc tiến xuất khẩu; chuyển đổi cơ cấu ngành (như chuyển từ trồng
lúa sang các loại cây công nghiệp có giá trị cao và chăn nuôi); và khu vực tư nhân
năng động. Năm 2021, đối mặt nhiều khó khăn, thách thức, nhất là ảnh hưởng của đại
dịch Covid-19, nhưng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản đã đạt được những kết quả
hết sức khả quan với tốc độ tăng trưởng GDP ngành nông nghiệp tăng 3,27%, đã vượt
tốc độ tăng trưởng toàn nền kinh tế (đạt 2,6 %), đóng góp 15,7% vào tốc độ tăng tổng
giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế, điều này thể hiện những thành quả đáng ghi
nhận của ngành nông nghiệp, không chỉ đạt và vượt các mục tiêu tăng trưởng đã đề ra,
mà còn tiếp tục khẳng định vai trò “trụ cột” của nền kinh tế.
- Khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt, là ngành có
tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các nhóm ngành và đóng góp chủ yếu vào mức tăng
trưởng chung. Tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2017 – 2019 của khu vực công nghiệp
và xây dựng ước đạt 8,49%, tỉ trọng khu vực công nghiệp (bao gồm xây dựng) có xu
hướng tăng dần ( năm 2017 theo giá so sánh trong GDP tăng từ mức 35,14 % lên
36,45% năm 2020). Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 đã khiến cho khu vực
công nghiệp xây dựng chịu nhiều tác động khiến cho tốc độ tăng trưởng năm 2020
giảm mạnh so với năm trước (từ 8,21% giảm xuống còn 4,31%). Năm 2021, khu vực
công nghiệp và xây dựng tăng 3,58%- đóng góp 55,6% trong tăng trưởng chung toàn
nền kinh tế. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng
trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng 6,37%, đóng góp 1,61 điểm phần trăm vào
tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành sản xuất và phân phối
điện tăng 5,24%, đóng góp 0,19 điểm phần trăm. Ngành khai khoáng giảm 6,21%, làm
giảm 0,23 điểm phần trăm do sản lượng dầu mỏ thô khai thác giảm 5,7% và khí đốt
thiên nhiên dạng khí giảm 19,4%. Ngành xây dựng tăng 0,63%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm.
- Khu vực dịch vụ có vai trò quan trọng và Đóng góp của ngành dịch vụ vào tăng
trưởng kinh tế ngày càng tăng. Các ngành dịch vụ có tiềm năng, lợi thế, có hàm lượng
khoa học, công nghệ cao như viễn thông, công nghệ thông tin, logistics và vận tải, tài
chính, ngân hàng, du lịch, thương mại điện tử... được tập trung phát triển. Ngành du
lịch được triển khai theo hướng tập trung đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật đồng bộ, chú
trọng nâng cao chất lượng và phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ, Ngành du lịch
đã có bước phát triển rõ rệt và đạt được những kết quả quan trọng Tốc độ tăng trưởng
của khu vực dịch vụ năm 2018 đạt 7,46% tăng 0,34% so với năm 2017, năm 2019 khu
vực du lịch dịch vụ đạt mức tăng trưởng cao 8,08%. Năm 2020, dịch bệnh Covid-19
đã tác động rất nghiêm trọng đến ngành du lịch và nhiều ngành dịch vụ như giao
thông vận tải, hàng không, khách sạn… làm tốc độ tăng trưởng giảm xuống còn
2,01%. Năm 2021, tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ đạt 1,57% đóng góp
28,7%, Trong đó tăng trưởng âm của một số ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn đã làm
giảm mức tăng chung của khu vực dịch vụ và toàn bộ nền kinh tế.
Ngành bán buôn, bán lẻ giảm 0,21% so với năm trước, làm giảm 0,02 điểm phần trăm
trong tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế, ngành vận tải kho bãi
giảm 5,02%, làm giảm 0,3 điểm phần trăm, ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm
mạnh 20,81%, làm giảm 0,51 điểm phần trăm. Hoạt động thương mại, vận tải trong
nước, khách du lịch quốc tế trong quý IV/2021 dần khôi phục trở lại. Tổng mức bán lẻ
hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý IV/2021 tăng 28,1% so với quý trước;
vận tải hành khách tăng 48,4%, luân chuyển hành khách tăng 51,3% và vận chuyển
hàng hóa tăng 31,8%, luân chuyển hàng hóa tăng 28,4%; khách quốc tế đến nước ta
tăng 62,7%. Ngược lại, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, ngành y tế và hoạt động trợ
giúp xã hội đạt tốc độ tăng cao nhất trong khu vực dịch vụ với mức tăng 42,75%, đóng
góp 0,55 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,42%,
đóng góp 0,52 điểm phần trăm; ngành thông tin và truyền thông tăng 5,97%, đóng góp 0,36 điểm phần trăm.
* So sánh Việt Nam và Thái Lan.
Biểu đồ so sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam – Thái Lan. 10 8 6 4 2 Việt Nam 0 Thái Lan 2017 2018 2019 2020 2021 -2 -4 -6 -8
(Theo Tổng cục thống kê và Ngân hàng Thế giới)
Thái Lan giống như Việt Nam cũng thuộc nhóm quốc gia đang phát triển nhưng nền
kinh tế lại được xếp vào nhóm các nước công nghiệp mới. Xét về quy mô thì đây là
nền kinh tế lớn thứ 2 trong khu vực khu vực ASEAN, chỉ sau Indonesia, xếp hạng 25
thế giới về GDP danh nghĩa, xếp thứ 21 thế giới xét theo sức mua thương đương.
Nhưng xét về tốc độ tăng trưởng và sự phục hồi sau đại dịch Covid-19, kết quả là Việt
Nam vẫn có tốc độ tăng trưởng cao hơn Thái Lan. Theo số liệu do Hội đồng Phát triển
Kinh tế và Xã hội Quốc gia Thái Lan ghi nhận tính chung cả năm 2021, nền kinh tế
Thái Lan đã đạt mức tăng trưởng 1,6%. Trong khi đó, số liệu Tổng cục Thống kê cho
thấy Việt Nam đạt mức tăng trưởng 2,6% trong năm 2021 so với năm 2020.
Đặc điểm chính của nền kinh tế Thái Lan là phụ thuộc lớn vào du lịch và xuất khẩu
với kim ngạch xuất khẩu chiếm khoảng 60% GDP. Các mặt hàng xuất khẩu chính là
dệt may, giày dép, thủy sản, gạo, cao su, đồ trang sức, xe hơi, máy vi tính và thiết bị
điện. Trong khi đó, kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, xuất khẩu thô
và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam là dầu
thô, hàng may mặc, hải sản, hàng điện tử, gạo, cao su, cà phê.
Là một đất nước chú trọng vào du lịch - ngành công nghiệp không khói nên dù tài
nguyên du lịch hai nước gần giống nhau những nhiều chỉ số Việt Nam vẫn chưa bắt
kịp Thái Lan. Theo Hội đồng Phát triển Kinh tế và Xã hội Quốc gia Thái Lan năm
2019 Du lịch chiếm 18,4% tức là gần 1/5 GDP của Thái Lan. Năm 2019 khách du lịch
đã chi gần 2 nghìn tỷ baht Thái. Doanh thu doanh thu từ du lịch của Thái Lan lên tới
62 tỷ USD, gấp đôi con số này ở Việt Nam là 31 tỷ USD. Bỏ qua số liệu của 2 năm
chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid 19, theo thaiwebsites.com số lượng khách du lịch
đến thăm Thái Lan tăng từ 35,35 triệu năm 2017 lên 38,28 triệu năm 2018 và sau đó là
39,80 triệu vào năm 2019. Trong khi đó, theo số liệu của Tổng cục Thống kê Lượng
khách quốc tế đến Việt Nam năm 2019 là 18 triệu lượt người, tăng 16,2% so với năm
2018. Tức nếu xét riêng trong năm 2019, số lượng khách du lịch đến Việt Nam chỉ
bằng ½ số khách mê đắm đất nước chùa Vàng.
GDP của Thái Lan sụt giảm 6,1% trong năm 2020. Nền kinh tế thuộc vào du lịch này
đang phải vật lộn với một đợt bùng phát mới của COVID-19 bao gồm một biến thể rất
dễ lây lan, giáng một đòn vào sự phục hồi kinh tế vốn đã chậm chạp của Thái Lan.
Vốn phụ thuộc vào ngành du lịch, kinh tế Thái Lan thiệt hại lớn do đại dịch Covid-19
thêm vào đó ảnh hưởng dịch bệnh đã khiến cho ngành lúa gạo Thái Lan gặp nhiều yếu
tố bất lợi. Ngành du lịch đóng góp 3.000 tỷ baht cho nền kinh tế Thái Lan vào năm
2019, chiếm 18% GDP của cả nước, trong đó 2.000 tỷ baht đến từ khách du lịch nước
ngoài (chiếm 12% GDP) và 1.000 tỷ baht từ du lịch nội địa (chiếm 6% GDP).Năm
2021, lượng khách du lịch nước ngoài đến Thái Lan đạt 6,7 triệu lượt, tạo ra doanh thu
khoảng 300 tỷ baht, kém xa con số gần 40 triệu lượt vào năm 2019.
Nền kinh tế Thái Lan trong những năm từ 1960-1990 luôn tăng trưởng với tốc độ
trung bình 7,5%. Nhưng trong giai đoạn 2017-2020, tốc độ tăng trưởng của nước này
đã giảm mạnh, thậm chí vào năm 2020, tổng giá trị quốc nội (GDP) của Thái Lan
giảm 6,1% so với năm 2019- kết quả cả năm tồi tệ nhất trong vòng 2 thập niên qua kể
từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Trong khi đó, kinh tế Việt Nam
ổn định hơn với tổng độ tăng trưởng từ 5,2% trong năm 2012 đến 7,1% trong năm
2018. Việt Nam đã duy trì mức tăng trưởng ổn định 7% và được đánh giá là một trong
những câu chuyện kinh tế thành công của thế kỷ 21. Tốc độ tăng trưởng GDP Việt
Nam trong năm 2018 cao gấp 1,7 lần so với Thái Lan. Cũng giống như các nước khác,
nền kinh tế Việt Nam đã chịu nhiều tác động tiêu cực khi đại dịch Covid-19 bùng
phát. Mặc dù vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Việt Nam đã thành công
trong việc vừa kiềm chế đại dịch và bảo đảm phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế đặc biệt chú trọng vào nhóm ngành công nghiệp xây dựng và dịch vụ đã giúp
cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định.