Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
1./ VN lãng phí mỗi năm 1 tỷ USD
Đó là nhận định của giáo sư David Dapice, Trường Đại học Harvard (Mỹ) trong bài phát biểu tại Hội
thảo tổng kết 20 năm đổi mới ở VN diễn ra tại Hà Nội hôm qua.
- Giáo sư đánh giá mức độ đầu tư không hiệu quả tại VN như thế nào?
- Mỗi quốc gia đều có sự chi tiêu lãng phí nhưng vấn đề đặt ra là liệu hệ thống có thể phát
hiện khi nào thì sự lãng phí ở mức không thể chấp nhận được. Theo con số tôi có được,
thu nhập từ dầu thô sau thuế của VN vào năm 2006 dự đoán là 5 tỷ USD. Các khoản kiều
hối có nhiều ước tính khác nhau nhưng cũng vào khoảng 5 tỷ USD nữa. Đầu tư nước
ngoài vào VN theo số liệu của Chính phủ là khoảng 4-5 tỷ USD. Còn viện trợ phát triển
ODA sau khi trừ các khoản phải trả ở mức 2-3 tỷ USD.
IMF dự đoán tổng sản phẩm quốc nội GDP của VN năm 2006 đạt khoảng 55 tỷ USD, như
vậy các luồng vốn nước ngoài bằng khoảng 25-30% GDP năm nay. Thực tế mỗi năm
Chính phủ VN cũng đầu tư vào mức 30% GDP. Nếu đầu tư một cách tiết kiệm và khôn
ngoan, tỷ lệ tăng trưởng GDP của VN phải ở mức thực là 9-10% như ở Trung Quốc chứ không phải là 7-8%.
Khoảng thập kỷ 1960 và 1970, khi Đài Loan có mức thu nhập bình quân đầu người như VN hiện nay, họ đã
tăng trưởng trên 11% trong suốt 10 năm liền tuy lượng đầu tư chỉ chiếm 25% GDP. Như vậy, sự lãng phí làm
VN mỗi năm tổn thất khoảng 2% GDP, tương đương 1 tỷ USD. Nếu điều này kéo dài trong vài năm, sự khác
biệt sẽ rất lớn và lên tới vài tỷ USD mỗi năm do sự lãng phí của năm trước sẽ làm giảm sản lượng của năm tiếp
theo.
- Đâu là những ví dụ điển hình của việc lãng phí nguồn lực, thưa ông?
- Việc các doanh nghiệp nhà nước được đầu tư quá nhiều cũng có thể làm xói mòn hiệu quả. Mới đây, Tổng
công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) được phân bổ 750 triệu USD của đợt phát hành trái phiếu
quốc tế nhằm mở rộng và đầu tư hàng loạt nhà máy đóng tàu ở các tỉnh. Theo tính toán của tôi, việc sử dụng
nguồn vốn của Vinashin không hiệu quả. Một xưởng đóng tàu 120.000 tấn hiện đại được xây dựng ở Ấn Độ với
chi phí 90 triệu USD, trong khi với Vinashin phải cần tới 150 triệu USD. Như vậy với cùng một thời gian đóng
tàu là 18 tháng, cùng một giá bán thì rõ ràng việc đóng tàu tại VN tập trung vào mục tiêu bán hàng hơn là lợi
nhuận từ vốn.
Vinashin còn có một kế hoạch tổng thể đầu tư 3 tỷ USD vào các xưởng đóng tàu, nhà máy thép và các ngành
công nghiệp cung ứng khác. Mức đầu tư đó sẽ khiến quy mô của Vinashin bằng 3/4 quy mô của Hyundai, tập
đoàn đóng tàu lớn nhất thế giới với 15% thị phần toàn cầu. Không hề có dấu hiệu nào cho thấy Vinashin có khả
năng kỹ thuật cũng như quản lý để biện minh cho một thị phần lớn như vậy.
Rõ ràng việc quyết định đầu tư hàng loạt nhà máy đóng tàu ở các tỉnh sẽ làm các địa phương hài lòng vì nó kéo
theo sự phát triển hạ tầng ở các địa phương. Mặt khác, VN cũng muốn học tập các nước Đông Á vì đóng tàu là
một ngành công nghiệp mà nhiều quốc gia châu Á đã thành công. Nhưng VN không nên sao chép thành công
này với cách mà VN đang tiến hành là Chính phủ đi vay tiền đầu tư vào các ngành thiếu hiệu quả và tạo ít việc
làm.
Một ví dụ nữa là dự án sân bay tại Đồng Nai với ý đồ thu hút 40-50 triệu khách/năm. Khu vực sân bay Tân Sơn
Nhất rộng tương đương với khu sân bay Changi của Singapore (đón 64 triệu khách/năm) và việc hiện đại hóa
sân bay Tân Sơn Nhất sẽ giúp sân bay này đảm nhận được lượng hành khách tại khu vực TP HCM trong 20-30
năm tới. Sân bay Tân Sơn Nhất năm nay dự kiến chỉ đón 4 triệu khách. Vì vậy, tôi cho rằng ý đồ đầu tư 4 tỷ
USD vào một sân bay ở Đồng Nai là rất lãng phí.
- Vậy theo ông, làm thế nào để giảm bớt sự lãng phí?
- VN cần một cơ chế để cảnh báo về các khoản đầu tư lãng phí. Đó có thể là một nhóm tại Quốc hội, là các
chuyên gia tư vấn cho Thủ tướng, hoặc một nhóm học giả. Các nhóm này có thể làm việc cùng nhau để chia sẻ
và cung cấp thông tin. Tôi nghĩ việc có những thông tin rõ ràng và có những người hiểu biết về “sự việc” rằng
đó có thể là các khoản đầu tư lãng phí sẽ rất hữu ích.
Giáo sư David
Dapice (Tuổi Trẻ)
1
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Ở nước nào cũng tồn tại những nhóm lợi ích khác nhau và có nhóm hoạt động mạnh, nhóm không. Tôi thấy tại
VN các doanh nghiệp nước ngoài được tổ chức tốt và hiện diện mạnh mẽ hơn trong việc trình bày quan điểm
với Chính phủ, trong khi các doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như không có nhiều tiếng nói. Đây là điều không tốt.
Tóm lại, một khi mà sự thật được phơi bày thì rõ ràng sẽ có sức ép lớn hơn cho trách nhiệm giải trình. Và
những quyết định đầu tư lãng phí, gây thiệt hại cho đất nước sẽ không còn dễ dàng được thông qua nữa.
Ông Nguyễn Hoàng Anh và
“Siêu ủy ban” quản lý 1,5 triệu
tỷ trước "giờ G"
Hoàng Thắng Thứ Ba, ngày 25/09/2018 07:05 AM (GMT+7)
(Dân Việt) "Siêu uỷ ban" quản lý vốn Nhà nước sẽ chính thức đi vào
tháng 10 tới và quản lý 1,5 triệu tỷ đồng, tương đương gần 50% giá trị
vốn Nhà nước tại DN. Chuyên gia cho rằng người quản lý "siêu uỷ ban"
phải là người kỹ trị, chứ không phải nhà chính trị. Ông Nguyễn Hoàng
Anh được bổ nhiệm làm Chủ tịch là cựu Bí thư tỉnh Cao Bằng.
Thích Chia
sẻ
•“Siêu Uỷ ban” quản lý 5 triệu tỷ sẽ hoạt động vào tháng 10 tới
•Chê SCIC, nhiều doanh nghiệp muốn về “Siêu ủy ban” cho xứng tầm
•Quyền lực và vốn Nhà nước của siêu uỷ ban quan lý vốn Nhà nước ra
sao?
•Hé lộ 2 “ông lớn” Nhà nước không về “Siêu ủy ban” Quản lý vốn
•Bổ nhiệm nữ Vụ trưởng làm Phó Chủ tịch “siêu ủy ban” quản lý vốn
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trao quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Hoàng
Anh làm Chủ tịch Uỷ ban Quản vốn Nhà nước tại doanh nghiệp (Ảnh: Báo
Lao Động)
Doanh nghiệp về “Siêu ủy ban” quản lý 1,5 triệu tỷ “khủng” cỡ nào?
Trong một cuộc họp diễn ra đầu tháng 9.2019, Phó Thủ tướng Vương Đình
Huệ đã yêu cầu các đơn vị liên quan sớm tạo điều kiện để Uỷ ban Quản lý vốn
Nhà nước tại doanh nghiệp đi vào hoạt động trong tháng 10.
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam cũng sẽ được chuyển giao về "Siêu
ủy ban" (Ảnh minh họa)
Trong danh sách này, 7 tập đoàn tên trong Dự thảo (lần 1) Nghị định quy
định về chức năng, nhiệm vụ, cấu tổ chức của Ủy ban Quản vốn nhà
nước tại doanh nghiệp Nhà nước vẫn được giữ nguyên, bao gồm: Tập đoàn
Xăng dầu Việt Nam, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt
Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam, Tập
đoàn Công nghiệp than khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông
2
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Việt Nam.
11 tổng công ty có tên trong Dự thảo (lần 1) cũng có tên trong danh sách này là
Tổng công ty Viễn thông MobiFone, Tổng công ty Thuốc Việt Nam, Tổng
công ty Hàng không Việt Nam, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty
Đường sắt Việt Nam, Tổng công ty Đầu phát triển đường cao tốc Việt Nam,
Tổng công ty Cảng Hàng không, Tổng công ty phê Việt Nam, Tổng công ty
Lương thực miền Nam, Tổng công ty lương thực miền Bắc, Tổng công ty Lâm
nghiệp Việt Nam.
Giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu nhà nước của 19 doanh nghiệp được bàn giao
về "siêu uỷ ban" do ông Nguyễn Hoàng Anh làm Chủ tịch trên 820.000 tỷ
đồng, tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp gần 1,5 triệu tỷ đồng, tương
đương gần 50% giá trị vốn nhà nước và tài sản của khu vực DNNN.
Tổng công ty đầu kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), đơn vị đứng đầu
danh sách chuyển giao về “Siêu ủy ban” quản vốn - sở hữu vốn tại 136
doanh nghiệp, gồm 129 công ty cổ phần (Ảnh minh họa)
Trong số 19 doanh nghiệp nêu trên, Tổng công ty đầu kinh doanh vốn
nhà nước (SCIC), đơn vị đứng đầu danh sách chuyển giao về “Siêu ủy ban”
quản vốn - sở hữu vốn tại 136 doanh nghiệp, gồm 129 công ty cổ phần.
Trong danh sách công ty do SCIC sở hữu vốn 20 đơn vị bị giám sát đặc
biệt.
6 tháng đầu năm 2018, SCIC ghi nhận doanh thu cổ tức đạt 1.220 tỷ đồng,
tương đương 49% kế hoạch năm. Doanh thu tài chính đạt 715 tỷ đồng, thực
hiện 55% chỉ tiêu.
Riêng nguồn thu từ hoạt động bán vốn tại các doanh nghiệp Nhà nước (bao
gồm Nhựa Bình Minh), SCIC đạt 2.669 tỷ đồng, chiếm 48% tổng thu từ bán cổ
phần cả nước (5.598 tỷ đồng).
Trong 6 tháng, công ty lãi sau thuế 1.923 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước
1.513 tỷ đồng nộp quỹ Hỗ trợ sắp xếp phát triển doanh nghiệp 2.818 tỷ
đồng.
Năm 2018, SCIC đặt mục tiêu tổng doanh thu gần 7.900 tỷ đồng lợi nhuận
sau thuế hơn 5.400 tỷ đồng. Trong 6 tháng cuối năm, SCIC sẽ tích cực đẩy
mạnh hiệu quả bán vốn doanh nghiệp, trọng tâm một số công ty lớn như
Vinaconex, Vocarimex, Domesco, Vina Control…
18 Tập đoàn ,Tổng Công ty Nhà nước còn lại được chuyển giao về “Siêu ủy
ban” đều các DN hàng đầu thuộc các ngành công nghiệp quan trọng
như điện, than, dầu khí, viễn thông...
SCIC về “Siêu ủy ban”, lo Nhà nước nhỏ trong Nhà nước lớn
chức năng khá tương đồng với “Siêu uỷ ban”, song Tổng công ty Đầu tư
kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) sẽ không còn trực thuộc Bộ Tài chính
chuyển về “Siêu ủy ban” do ông Nguyễn Hoàng Anh làm chủ tịch. SCIC vẫn
quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp thuộc đối
tượng được chuyển giao từ các Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, trừ một số
doanh nghiệp đặc thù
3
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Ông Phùng Văn Hùng, Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội (Ảnh:
VGP)
Điều này khiến ông Phùng Văn Hùng, Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế của
Quốc hội, lo ngại sự chồng chéo này sẽ dễ dẫn đến "một nhà nước nhỏ trong
một nhà nước lớn" khi đưa SCIC về Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước.
Theo đó, khi lập "Siêu ủy ban” quản lý lượng vốn lớn của các tập đoàn của Nhà
nước, mục đích đặt ra khắc phục tình trạng vừa đá vừa thổi còi. Mục đích
tiếp theo quan trọng làm sao quản sử dụng vốn Nhà nước hiệu quả.
thế Dự thảo đã giao chức năng quan trọng cho Ủy ban, phải bảo đảm an toàn
khối lượng tài sản lớn của Nhà nước.
Ông Hùng phân tích dự thảo về hoạt động của "Siêu ủy ban” nơi ông Nguyễn
Hoàng Anh làm chủ tịch vẫn giao SCIC đại diện chủ sở hữu các doanh nghiệp
chuyển giao từ các bộ, ngành. Tuy nhiên, Ủy ban cũng đại diện các doanh
nghiệp chủ sở hữu. Điều này dẫn đến sự chồng chéo trong ủy ban đại
diện chủ sở hữu khác.
"Như vậy, tôi băn khoăn liệu chúng ta tạo nên nhà nước nhỏ trong một nhà
nước lớn? Trách nhiệm SCIC với việc chung thế nào? Vai trò Ủy ban quản
vốn Nhà nước với các doanh nghiệp SCIC đại diện chủ sở hữu thế nào?
Đây vấn đề cần ràng minh bạch để Ủy ban hoạt động tốt, SCIC phát huy
tác dụng hiệu quả", ông Hùng nói.
Gánh nặng trên vai người quản lý 1,5 triệu tỷ đồng vốn Nhà nước
Vào đầu tháng 1.2018, khi Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định thành lập
Uỷ ban Quản vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. Đáng chú ý bổ nhiệm ông
Nguyễn Hoàng Anh, cựu thư tỉnh Cao Bằng giữ chức chủ tịch Uỷ ban Quản
lý vốn Nhà nước.
Đi kèm với đó danh sách 30 Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước dự kiến
chuyển giao cho Uỷ ban Quản vốn tài sản Nhà nước với quy vốn
tài sản tại các doanh nghệp lên tới 5 triệu tỷ đồng, PV Dân Việt khi đó đã
cuộc trao đổi với TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên ĐH Fulbright Việt Nam.
TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên ĐH Fulbright Việt Nam
Ông Tuấn đặt vấn đề: “5 triệu tỷ đồng một lượng tài sản quá lớn. Đó sự
thách thức về năng lực quản trị đối với Ủy ban. Việt Nam liệu đã nhà quản
trị nào đủ sức quản lý lượng tài sản này một cách hiệu quả?
Theo TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn, số vốn này không chỉ tập trung trong một ngành,
chúng nằm rất nhiều lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải,
dầu khí, diện lực… Liệu người đứng đầu đủ hiểu biết năng lực chuyên
môn để quản lý không?
Việt Nam, không tính khu vực Nhà nước, để tìm được 1 người xuất sắc đủ
sức quản trị một doanh nghiệp đã khó. Ngay cả những tỷ phú giàu nhất Việt
Nam cũng chỉ quản lượng tài sản bằng 1/10, 1/15 con số khổng lổ nêu trên
đã gặp vấn đề.
“Giờ giao cho một người xưa nay làm công tác lãnh đạo chính trị sang quản
5 triệu tỷ đồng tài sản liệu đủ sức quản không? Trước đó, trách nhiệm
quản thuộc riêng từng Bộ. Bộ Công Thương mới chỉ quản một phần của
con số 5 triệu tỷ đồng này còn chưa làm hiệu quả. Giờ gom cả tài sản của các
4
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Bộ khác, cả SCIC về thì làm sao thể quản nổi?”, ông Tuấn liên tiếp đặt
câu hỏi.
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan
Về hoạt động quản lý, điều hành Uỷ ban Quản vốn nhà nước tại doanh
nghiệp nơi ông Nguyễn Hoàng Anh làm chủ tịch, chuyên gia kinh tế Phạm Chi
Lan cũng cho rằng, thành công hiệu quả của Uỷ ban phụ thuộc phần lớn
vào người quản lý.
“Đó phải những người kỹ trị, chứ không phải nhà chính trị. Người làm
chính trị nhưng nếu không năng, không am hiểu thị trường, thấu hiểu các
nguyên tắc trên thị trường, cách quản bản thì không thể làm được. Cách
chúng ta đảo lộn giữa hai nhiệm vụ này nên khiến tôi không yên tâm”, Chi
Lan nói.
Theo Phạm Chi Lan, trong báo cáo 2035, các chuyên gia kiến nghị Việt
Nam chỉ nên duy trì 20 DNNN, lúc đó không cần đến “Siêu uỷ ban”. Lấy dụ
từ nước Pháp, Lan cho biết Pháp chỉ hơn 20 DNNN nhưng mỗi DN đều
hoạt động rất đặc thù, chế, luật pháp riêng. Với Việt Nam, từ nay đến
năm 2035 là rất dài, nên cần một Uỷ ban như vậy.
Giới chuyên gia lên ti]ng về nguy cơ b^t ổn
Nhóm giáo sư, chuyên gia kinh t] của Đại học Harvard chuyên tư v^n
chính sách cho chính phủ Việt Nam vừa mới công bố bản thảo luận
chính sách: “Tình trạng b^t ổn vĩ mô - Nguyên nhân và phản ứng chính
sách”.
Bản báo cáo này dựa trên nền tảng của nghiên cứu “Lựa chọn thành công”
mà nhóm tác giả đã tận tay đệ trình lên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Theo báo chí Vt Nam, phát biểu tại buổi tiếp giáo sư Thomas Vellery và các
thành viên trong Chương trình Việt Nam của Đại học Harvard (Hoa Kỳ) hôm
15.01 vừa qua ở Hà Nôi ông Dũng mong đại học Harvard tiếp tục góp ý về
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Vt Nam.
Tuy nhiên, theo báo Diễn Đàn ra ở Paris, báo cáo quan trọng này đã không được báo chí trong nước đăng tải.
Báo cáo lần này xuất hiện trong bối cảnh kinh tế vĩ mô của Việt Nam có nhiều dấu hiệu bất ổn: lạm phát tăng-chỉ
số giá tiêu dùng tháng Hai đã tăng đến 3,65%, chính sách siết chặt tiền tệ được ban hành khiến nhiều ngân hàng
rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản buộc phải “lao đầu” vào cuộc đua tăng lãi suất, thị trường chứng khoán giảm
giá kỷ lục…
Báo Tuổi Tr† cho hay, Giáo sư David Dapice - chuyên gia kinh tế trưởng chương trình Vt Nam tại Harvard đã
th‡ng thắn nhâ„n định sau buổi làm viêc với Thủ tướng Vt Nam về các thách thức như thâm thủng mâu dịch, thị
trường bất đông sản nóng, giá đất quá cao, lạm phát cao khiến tăng trưởng châm lại và thất nghiêp nhiều lên.
Kinh t] đang nóng
Riêng về bản báo cáo vừa nói, văn bản này nhận định: “Nền kinh tế Việt Nam
đang nóng. Bằng chứng là lạm phát vẫn tiếp tục gia tăng, thâm hụt ngân sách
và thương mại ngày càng lớn, và bong bóng giá bất động sản ngày càng
phình to”.
Đánh giá cách điều hành nền kinh tế của chính phủ VN, các tác giả nhận định th‡ng thắn: “Hệ thống quản lý kinh
tế của Việt Nam chưa tương thích với một nền kinh tế hội nhập toàn cầu. Hiện nay, ba bộ và cơ quan ngang bộ
Đại học Harvard tại Hoa Kỳ ở Cambridge,
tiểu bang Massachusetts
Chính sách tiền tệ còn phải gánh
một loạt áp lực khác chứ không đơn
thuần chỉ có Ngân hàng Nhà nước
quy]t là xong
Giáo sư David Dapice, đại học Harvard
5
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
có trách nhiệm hoạch định chính sách vĩ mô là Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch- Đầu tư (Bộ KHĐT), và Ngân hàng
Nhà nước (NHNN) chưa phối hợp với nhau một cách hiệu quả”.
Nhấn mạnh đến vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong vấn đề giải quyết bài toán chống lạm phát các tác giả cho
rằng:
“Ngân hàng Nhà nước không được phép quyết định lượng cung tiền và cung tín dụng như “thiên chức” vốn có
của các ngân hàng trung ương trên thế giới mà chỉ có thể sử dụng một số ít các công cụ (như tỷ lệ dự trữ bắt
buộc và các quyết định và chỉ thị có tính hành chính) không thực sự hữu hiệu khi phải đối diện với nguy cơ lạm
phát”.
Các tác giả cũng chỉ ra điểm yếu của Bộ Tài chính là: “Thiếu chiến lược hữu hiệu về nguồn thu ngân sách; Không
kiểm soát được chi tiêu ngân sách; kiểm soát chi thường xuyên kém; chi
ngoài ngân sách quá nhiều”.
Còn điểm yếu của Bộ Kế hoạch Đầu tư là: “Phân bổ vốn và nguồn lực theo
các tiêu thức chính trị thay vì kinh tế”.
Báo cáo đề xuất năm khuyến nghị chính sách cho chính phủ VN: (1) Tăng
cường sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và ngân sách, (2)Xây dựng một
cơ quan hoạch định chính sách kinh tế cao cấp, (3) Tăng cường năng lực và
tính độc lập cho Ngân hàng Nhà nước, (4) Kiểm soát đầu tư công, (5) Giảm
bong bóng bất động sản.
Tư bản thân hữu
t vấn đề khác được nêu ra là quan hê 'tư bản thân hữu' giữa các tâp đoàn kinh tế lớn ở Vt Nam, và hê„ thống
chính trị.
Theo tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, phó tổng giám đốc Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, một trong những
người tham dự cuộc đối thoại vừa qua với Thủ tướng hồi giữa tháng Giêng thì "mối quan hệ này “sâu sắc” đến
mức chi phối đến các quyết sách của Nhà nước."
Trả lời báo Tuổi Tr†, ông nói:
"Các tập đoàn của chúng ta làm việc theo một cơ chế đặc biệt, báo cáo trực tiếp với Thủ tướng, “bỏ qua” các bộ
quản lý chuyên ngành...Điều nguy hiểm hơn là họ đang liên tục lập ra những công ty cổ phần con, phân tán tài
sản nhà nước về những công ty con, trong đó các vị lãnh đạo của tập đoàn nắm giữ một lượng cổ phiếu đáng kể
ở những công ty con mới này."
Bên cạnh nhiều ý kiến về cải cách, khuyến nghị đáng chú ý nhất trong báo cáo là đề xuất thành lập một cơ quan
thuộc dạng siêu bộ, được quyền hạn lớn để các thể quyết định các chính sách kinh tế vĩ mô.
Các tác giả đánh giá rằng “tại thời điểm hiện nay, thẩm quyền ra quyết định chính sách quá phân tán, và điều này
một mặt cản trở sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan hoạch định chính sách, mặt khác gây khó khăn cho các
nhà lãnh đạo cao nhất khi họ phải phản ứng một cách quyết đoán nếu khủng hoảng xảy ra”.
Từ đó, các tác giả khuyến nghị Việt Nam cần tập trung thẩm quyền hoạch định chính sách trong tay một cơ quan
hoạch định chính sách cao cấp duy nhất, một cơ quan có thẩm quyền cao hơn các bộ ban ngành, chính quyền
địa phương và cả các tập đoàn kinh tế nhà nước.
Cơ quan này sẽ là nơi thu hút các chuyên gia kinh tế hàng đầu của Việt Nam với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm,
và cất nhắc tuyệt đối dựa vào năng lực.
Thứ Ba, 24/10/2006, 07:32 (GMT+7)
Đại biểu Đặng Văn Thanh - Phó chủ nhiệm Uy ban kinh tế - ngân sách Quốc Hội:
Chi tiêu tại V„t Nam lên cao trong dịp Giáng
Sinh nhưng bị châ m lại từ sau Tết Nguyên
Đán vì lạm phát
6
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Tăng cường giám sát vốn đầu tư để tăng trưởng chất lượng
TT - Trong phiên thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội, nhiều đại biểu đã làm hội trường Quốc hội (QH)
“nóng” lên khi đặt vấn đề tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong sáu năm qua đã tăng liên tục (hiện nay chiếm đến
41% GDP), nhưng chất lượng tăng trưởng nảy sinh nhiều vấn đề bất cập.
Trao đổi với Tuổi Trẻ bên hành lang QH, đại biểu Đặng Văn Thanh (ảnh), phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế - ngân
sách QH, cho biết:
- Thực tế vừa qua cho thấy tăng trưởng kinh tế của chúng ta tương đối cao, nhưng chưa tương xứng với mức
tăng trưởng của nguồn vốn. Trong tổng nguồn vốn đầu tư thì nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nguồn vốn của dân
doanh được sử dụng có hiệu quả và không dàn trải. Còn nguồn vốn nhà nước, gồm vốn ngân sách, vốn vay...
vẫn chưa thật sự tập trung, tình trạng thất thoát, lãng phí vẫn diễn ra.
Thực tế có thể thấy rất nhiều công trình xây dựng xong chưa kịp nghiệm thu đã bị hư hỏng, nhiều dự án đầu tư
kéo dài hay đã kết thúc khi đi vào sử dụng khai thác chưa có hiệu quả, kém hơn công suất thiết kế.
* Với nguồn vốn nhà nước còn thất thoát, lãng phí, dư luận cho rằng ngoài trách nhiệm chính của các cơ quan
quản lý nguồn vốn đầu tư, cơ quan thẩm định nguồn vốn cũng phải có trách nhiệm?
- Trên cơ sở kết quả của thanh tra, kiểm tra, đặc biệt là kết quả kiểm toán, đã chỉ ra tình hình thất thoát, lãng phí
ở một số dự án là hết sức nghiêm trọng. Sự thất thoát, lãng phí này diễn ra ở tất cả các khâu, từ khâu phân bổ
đến khâu bố trí vốn, sử dụng vốn, trong đó khâu sử dụng vốn lại thất thoát, lãng phí từ việc chuẩn bị dự án đầu
tư, khảo sát thiết kế, đến thi công công trình, nghiệm thu đưa vào sử dụng.
Ở không ít công trình được kiểm tra, số thất thoát, lãng phí hiện nay khoảng trên dưới 10% giá trị công trình, vì
vậy với một công trình vốn đầu tư lên đến hàng nghìn tỉ đồng thì thất thoát vài chục tỉ đồng là điều rất có thể.
Tuy nhiên, những thất thoát như vậy có thể “đong đếm” được, còn dạng thất thoát, lãng phí như chậm tiến độ,
chậm giải ngân, thay đổi mục tiêu đầu tư, qui hoạch “treo”... còn ảnh hưởng lớn hơn và gây thiệt hại không nhỏ
đối với nền kinh tế, đời sống nhân dân.
* Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém trong nền kinh tế đã được đề cập rất nhiều, nhưng việc khắc
phục yếu kém dường như vẫn còn quá chậm?
- Đúng là những yếu kém trên chúng ta đã phát hiện từ lâu, nhưng mức độ trầm trọng cũng như nguyên nhân
của những yếu kém này thì ngày càng bộc lộ rõ hơn, được nhận thức đầy đủ hơn và cần phải làm ngay nhiều
việc. Vì vậy, để chuẩn bị cho năm 2007, đặc biệt là chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 - 2010,
tôi tin với những đòi hỏi từ cuộc sống và những cơ hội mà chúng ta có được từ việc gia nhập Tổ chức Thương
mại thế giới (WTO), tình hình sẽ sớm được cải thiện.
Vấn đề lớn nhất hiện nay là nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy hành chính, bộ máy quản lý nhà
nước. Làm tốt được điều này sẽ giúp chúng ta sớm cải thiện được môi trường đầu tư kinh doanh tốt hơn, thông
thoáng hơn.
Với thất thoát, lãng phí trong đầu tư sẽ khó ngăn chặn được trong một sớm một chiều. Vấn đề là phải siết chặt
hơn nữa kỷ luật, kỷ cương trong công tác qui hoạch, của bộ máy hành chính, tổ chức bộ máy và cán bộ công
chức theo hướng tinh gọn, rõ ràng về trách nhiệm, gắn quyền với trách nhiệm, đề cao vai trò và tính kỷ luật, kỷ
cương trong chấp hành pháp luật và trách nhiệm công vụ, xử lý thật nghiêm vi phạm.
7
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Đ.Đ. .
2./ DNNN phải đổi mới để giữ vững vai trò chủ đạo11:14' 08/10/2006 (GMT+7)
(VietNamNet) - Phát biểu kết luận tại Hội nghị về sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước (DNNN) giai
đoạn 2006 - 2010. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: DNNN là lực lượng nòng cốt và vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế. Chỉ có sắp xếp và đổi mới, DNNN mới mạnh lên và phát huy hiệu quả hơn nữa
trong điều kiện cơ chế thị trường và hội nhập cạnh tranh.
Khẳng định vai trò của DNNN
Thủ tướng chỉ rõ, nước ta hiện có khoảng 245 ngàn DN thuộc nhiều thành phần kinh tế. Trong số hơn 5
ngàn DNNN từ đầu giai đoạn 2001-2005, chúng ta đã cổ phần hóa hơn 3 ngàn, chỉ còn lại hơn 2 ngàn DN
100% vốn Nhà nước nhưng vẫn chiếm 40% GDPhơn 50% số thu ngân sách. Số lượng ít nhưng vai trò
DNNN vẫn rất quan trọng. Quá trình phát triển kinh tế, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đòi hỏi DNNN phải thực
sự mạnh, hiệu quả để làm tốt vai trò chủ lực.
Muốn mạnh và hiệu quả hơn trong điều kiện cơ chế thị trường và hội nhập cạnh tranh, phải sắp xếp đổi mới
DNNN. Chúng ta đã đi được 1 chặng đường khá dài, từ hơn 12 ngàn DNNN trước đây sắp xếp lại chỉ còn 5.600
DN khi bước vào giai đoạn 2001 - 2005. Tuy giảm số lượng, nhưng DNNN vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng,
bảo đảm dịch vụ thiết yếu cho nền kinh tế.
Trọng tâm 5 năm tới: CPH
Thủ tướng nhấn mạnh, trọng tâm giai đoạn 2006-2010 là CPH để cơ bản hoàn thành sắp xếp đổi mới DNNN.
Theo dự kiến chúng ta sẽ CPH 79 trong số 105 tổng công ty lớn, và 1.500 trong số 2176 DNNN hiện có. Số
còn lại là DN công ích, nông lâm trường... CPH được tiến hành với tinh thần tiến công nhưng phải có bước đi
chặt chẽ và vững chắc. Quá trình sắp xếp và đổi mới DNNN phải đặt trong cơ chế thị trường, bảo đảm DNNN
vừa có hiệu quả kinh tế vừa có khả năng điều tiết kinh tế vĩ mô, đảm bảo ổn định nền kinh tế.
Hết sức hạn chế việc chuyển DNNN sang công ty TNHH 1 thành viên, nếu CPH được dứt khoát CPH, kể cả
những DN đã chuyển sang TNHH 1 thành viên cũng cần xem xét.
Để đẩy nhanh tiến trình sắp xếp CPH, Thủ tướng đề nghị các tỉnh và bộ ngành cần tiếp tục cụ thể hoá các luật,
nghị định, thông tư theo tinh thần Nghị quyết Đại hội 10 về sắp xếp và đổi mới DN. Ban chỉ đạo Đổi mới và
phát triển DN và các bộ ngành và địa phương cần tiếp tục hoàn chỉnh chương trình hành động của mình.
Các Bộ ngành và địa phương cần tập trung thảo luận dự thảo Quyết định mới của Thủ tướng Chính phủ để thay
thế Quyết định 155/QĐ-TTg. Thủ tướng Chính phủ cũng sẽ có chỉ thị về vấn đề sắp xếp và đổi mới DN, trong
đó chỉ rõ thời gian cụ thể CPH, sắp xếp từng đơn vị một.
Một số định hướng cụ thể
Từ kết quả đổi mới DNNN trong thời gian qua và yêu cầu của giai đoạn tới, Thủ tướng lưu ý các các cơ quan
cần tập trung rà soát hoàn thiện thể chế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội 10 và Luật DN, Luật Đất đai. Luật đã
Phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra ngay từ khâu lập dự án cho đến nghiệm thu, đưa công trình vào sử
dụng. QH, HĐND các cấp cần tăng cường hoạt động giám sát trong các dự án quan trọng và quyết định vốn
đầu tư hằng năm
Theo dõi phiên họp QH trong ngày qua trang webVăn phòng QH cập nhật toàn bộ diễn biến kỳ họp QH lần 10
khóa XI trong ngày trên trang web Quốc hội (www.na.gov.vn). Đây là lần đầu tiên QH thực hiện việc cung cấp
thông tin nhanh này.
Nội dung cập nhật gồm biên bản kỳ họp (ghi âm thảo luận tại hội trường), tường thuật các phát biểu, tranh luận,
góp ý của đại biểu QH tại kỳ họp, thông cáo các kỳ họp, văn kiện các kỳ họp, trả lời chất vấn...Tại trang web
này, độc giả có thể theo dõi toàn bộ phiên họp trong ngày chỉ 3-4 giờ sau khi phiên họp kết thúc.
8
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
được ban hành, những điều gì còn vướng mắc cần phải tiếp tục sửa đổi đổi. Điều này hết sức quan trọng vì
quyết định đến tiến trình sắp xếp đổi mới DNNN.
Về đất đai: Trong quá trình xây dựng thể chế chú ý đến vấn đề đất đai khi CPH, các quy định phải thật cụ thể để
vừa đẩy nhanh CPH vừa ngăn ngừa tiêu cực lợi dụng chính sách.
Thủ tướng đề cập đến việc đưa giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị DN để CPH. Quá trình CPH hơn 3000 DN
trước đây chưa thực hiện việc này, nay phải làm thí điểm chật chẽ. Bộ Tài chính và các bộ ngành cần có hướng
dẫn đất đai trong CPH và sắp xếp DN vừa tạo điều kiện cho DN phát triển nhưng không để thất thoát trong lĩnh
vực này. Cụ thể, Thủ tướng đưa ra hai gợi ý: đưa giá trị sử dụng đất vào CPH theo hình thức giao, bán đấu giá
trên thị trường hoặc thu tiền thuê theo giá trị do UBND tỉnh thành quyết định.
Về định giá DN: Định giá DN dứt khoát phải theo nguyên tắc thị trường, từ đó tiến hành đấu giá, gắn liền với
việc niêm yết trên thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó, trong CPH cũng phải tính tới lợi ích người lao động.
Đề nghị giảm 40% cho lao động so với giá đấu giá là thoả đáng. Tuy nhiên, việc giảm giá đối với cổ đông chiến
lược cần tính toán lại.
Về minh bạch tài chính: Trước khi CPH nhất thiết phải thuê kiểm toán độc lập hay kiểm toán quốc tế. Đối với
các Tổng công ty hay Tập đoàn chưa tiến hành CPH thì phải khẩn trương CPH các công ty thành viên.
Việc chuyển sang mô hình công ty mẹ - con, cần phải rút kinh nghiệm từ thực tiễn và có những bước đi vững
chắc. Chủ tịch HĐQT sẽ là người phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước.
Về niêm yết trên sàn chứng khoán: Thủ tướng nhắc nhở, việc CPH phải gắn liền với niêm yết trên sàn chứng
khoán. Hiện nay, chúng ta đã có hơn 60 DN trên sàn chứng khoán và đã chứng minh hướng đi đúng đắn này.
Những năm tới phải thúc đẩy việc này một cách mạnh mẽ hơn.
Bên cạnh đó, Thủ tướng chỉ đạo các Bộ ngành có liên quan rà soát và tính toán về các vấn đề như: tỷ lệ nhà đầu
tư nước ngoài tham gia CPH, việc tính toán thương hiệu trong CPH, quy hoạch và CPH các nông lâm trường...
để bảo đảm phù hợp với thực tế trong nước, cũng như với yêu cầu của kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập.
3./ V \t Nam tụt hạng về tính cạnh tranh
V \t Nam đ]ng ở vị trí th] 77, tụt ba hạng so với năm ngoái, trong bảng xếp hạng về tính cạnh tranh
được Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố hôm nay.
Hoa Kỳ năm ngoái đứng số mô Št, thì nay tụt xuống số sáu, nhường ngôi đầu cho Thụy Sĩ, tiếp theo là Phần Lan,
Thụy Điển, Đan Mạch và Singapore.
Trong báo cáo công bố hôm thứ Ba, Diễn đàn Kinh tế Thế giới nói những cam kết chi tiêu quốc phòng trong và
ngoài nước của Washington, kế hoạch giảm tiếp thuế và phí tổn lâu dài từ quỹ hưu bổng và y tế đang tạo nên lo
ngại tài chính cho Hoa Kỳ, nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Tổ chức quốc tế đă Št trụ sở ở Geneva cảnh báo nếu kinh tế Mỹ bị ảnh hưởng tiêu cực, kinh tế toàn cầu cũng sẽ
chịu tác đô Šng.
Nhâ Št Bản, Đức, Hà Lan và Anh là bốn nước còn lại nằm trong tốp 10 quốc gia có nền kinh tế cạnh tranh nhất
năm 2006.
Nói về Thụy Sĩ, Diễn đàn Kinh tế Thế giới nhâ Šn định cơ sở hạ tầng tốt, nghiên cứu khoa học phong phú, bảo vê Š
sở hữu trí tuê Š và môŠt văn hóa kinh doanh sâu sắc đã giúp nước này từ vị trí thứ tư năm 2005 vọt lên số Št năm
nay.
Giống như Thụy Sĩ, các nước Bắc Âu được đánh giá cao nhờ có các cơ cấu tổ chức mạnh, giáo dục tốt, nhưng
bị chê vì thiếu sự linh hoạt trong thị trường lao đôŠng.
Trong các quốc gia thuôŠc Liên hiê Šp châu Âu EU, có Italy bị tụt hạng, từ 38 xuống còn 42, vì các yếu kém định
chế và kinh tế vĩ mô.
9
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Chín cô \t trụ
Phúc trình năm nay xem xét các nền kinh tế dựa trên chín cô Št trụ: định chế, cơ sở hạ tầng, kinh tế vĩ mô, y tế và
giáo dục cấp môŠt, giáo dục đại học, hiê Šu quả thị trường, s•n sàng về công nghê Š, sự thông hiểu về quản lý kinh
doanh, và sáng tạo.
Ngoài chín côŠt trụ này, bản phúc trình cũng lưu ý tới trình đô Š phát triển khác nhau của các nước. Ví dụ, những
yếu tố tác đôŠng tới năng suất ở Thụy Điển dĩ nhiên khác các yếu tố tác đô Šng năng suất ở Ghana.
Vì thế, Chỉ số Cạnh tranh Toàn cầu (GCI) lại tách các nước thành ba giai đoạn phát triển.
Ở giai đoạn thứ nhất, tính cạnh tranh của các nước phụ thuô Šc vào bốn cô Št trụ đầu tiên: định chế, cơ sở hạ tầng,
kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục cấp mô Št.
Giai đoạn phát triển tiếp theo tính đến ba Št trụ: giáo dục đại học, hiê Šu quả thị trường, s•n sàng về công nghê Š.
Và giai đoạn phát triển cao nhất gồm hai côŠt trụ cuối cùng: sự thông hiểu về quản lý kinh doanh, và sáng tạo.
Šc dù chín côŠt trụ đều đáng được các nước để ý, nhưng tầm quan trọng của từng yếu tố lại phụ thuô Šc vào mỗi
giai đoạn phát triển của từng nước.
Có thể dễ nhâ Šn thấy rằng V Št Nam đang ở giai đoạn phát triển thứ nhất. Trong nhóm chỉ số này, định chế của
V Št Nam xếp thứ 74, cơ sở hạ tầng 83, kinh tế vĩ mô 53, y tế và giáo dục cấp mô Št 56.
Về giáo dục đại học, V Št Nam xếp thứ 90, hiê Šu quả thị trường 73, s•n sàng về công nghê Š 85.
Ở hai côŠt trụ còn lại, V Št Nam xếp thứ 86 về sự thông hiểu kinh doanh, và sáng tạo xếp thứ 75.
Tổng kết lại, V Št Nam năm nay xếp thứ 77 trên tổng số 125 nước.
Trung Quốc và Nga tụt hạng
Báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm nay dựa trên khảo sát đối với 11.000 doanh nhân quốc tế.
Nga tụt chín hạng, chỉ đứng thứ 62 năm nay, vì khu vực tư nhân không tin tưởng vào sự đô Šc lâ Šp của ngành tư
pháp.
Thứ hạng của Trung Quốc cũng giảm, từ 48 xuống còn 54.
Báo cáo nói thành tích của Trung Quốc năm nay tốt xấu lẫn lô Šn. Tăng trưởng cao, lạm phát thấp và tỉ lê Š tiết
kiê Šm cao, bị bù trừ bởi lo ngại về hê Š thống ngân hàng, tỉ lê Š theo học trung học và đại học cũng thấp hơn các
nước phát triển.
Bản phúc trình kêu gọi Trung Quốc giảm bớt gánh nă Šng kiểm soát của nhà nước, tăng cường tính đô Šc lâ Šp của tư
pháp và bảo vê Š sở hữu trí tuê Š.
Št thế lực khác tại châu Á, Ấn ĐôŠ, lên hai hạng, đứng thứ 43.
Tại châu Mỹ Latin, Chile xếp hạng cao nhất, ở vị trí 27, trong lúc Brazil đứng thứ 66, tụt chín hạng.
Thuâ Šn lợi nhờ giá dầu khiến giới kinh doanh tăng thêm tin tưởng vào các nước tại Trung Đông: Tiểu vương
quốc •râ Šp thống nhất xếp thứ 32, và Qatar, 38.
Xếp cuối bảng là các nước chủ yếu ở vùng hạ Sahara của châu Phi: Burkina Faso, Malawi, Mali, Zimbabwe,
Ethiopia, Mozambique, Đông Timor, Chad, Burundi và Angola.
4./ Đánh giá khả năng quản la quốc gia
10
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Nghiên c]u mới của Ngân hàng Thế giới (World Bank) về khả năng quản la quốc gia tại hơn 200 nước
cho thấy Viê \t Nam ở hạng thấp khi so sánh với các chính phủ khác.
Báo cáo "Governance Matters 2006" của World Bank xem xét sáu khía cạnh về quản lý đất nước tại 213 nước
từ 1996 đến cuối 2005.
Sáu khía cạnh được xem xét là:
Tiếng nAi và trách nhiê Cm giải trình: đo lường nhân quyền, quyền dân sự và quyền chính trị.
En đFnh chính trF và vGng bạo lực: khả năng bạo lực đe dọa thay đổi trong chính phủ, tính cả khủng bố.
Hiê Cu năng chính phủ: khả năng của bôŠ máy hành chính và dịch vụ công.
ChJt lưKng quản lL: đo lường tần suất của các chính sách không thân thiê Šn với thị trường.
Thi hành luâ Ct pháp: chất lượng của viê Šc thực thi hợp đồng, cảnh sát, tòa án, trong đó tính đến sự đô Šc lâ Šp của
ngành tư pháp.
Kiểm soát tham nhNng: lợi dụng quyền hạn để tư lợi, tính cả tham nhũng lớn và cò con.
dn định chính trị, nhưng kem về nhân quyền
Báo cáo cho thấy V Št Nam đạt điểm cao nhất về ổn định chính trị, đạt 59 trên thang điểm 100 của World Bank.
Bảng xếp hạng tính theo phần trăm của World Bank đồng nghĩa chính trị của V Št Nam ổn định hơn 59% các
nước khác trên thế giới (chỉ kém 41% trong 213 nước được khảo sát)
Nhưng V Št Nam bị điểm rất thấp trong khía cạnh "Tiếng nói và trách nhiê Šm giải trình", chỉ đạt 7.7/100, đồng
nghĩa 92.3% trong các nước được khảo sát có nhân quyền và quyền dân sự tốt hơn V Št Nam.
Khi phân tích kỹ hơn, điểm về nhân quyền, quyền dân sự và quyền chính trị tại V Št Nam đạt cao nhất là năm
1996 và 2002 (cùng đạt 10.6), và từ từ tụt: 1998 (3.4), 2000 (5.8), 2003 (8.2), 2004 (8.7) và chỉ đạt 7.7 vào năm
2005.
Về hiê Šu năng của chính phủ, điểm của V Št Nam năm 2005 là 45, đồng nghĩa 55% chính phủ các nước được
khảo sát có hiê Šu năng tốt hơn chính phủ V Št Nam.
Báo cáo của World Bank cho thấy hiê Šu năng của chính phủ V Št Nam, trong 10 năm qua, không có sự cải thiê Šn
đáng kể. Điểm cao nhất vẫn là năm 1996 (51), 1998 (48.8), 2000 (41.1), 2002 (46.9), 2003 (46.4), 2004 (42.6).
Điểm về chất lượng quản lý của V Št Nam năm 2005 cũng rất thấp, chỉ đạt 25.7%.
Trong khía cạnh pháp luâ Št, điểm của V Št Nam năm 2005 là 42. Đây là điểm khá cao khi so với các nước trong
vùng Đông Nam Á, kém môŠt chút so với Thái Lan (56.5), nhưng cao hơn Philippines (38.6), Campuchia (11.1),
Lào (11.6).
Có lẽ ít ai ngạc nhiên khi thấy điểm về khả năng kiểm soát tham nhũng của V Št Nam thấp, đạt 26.6 vào năm
2005 - như vâ Šy, hơn 70% các nước trên thế giới "sạch" hơn V Št Nam.
Điểm về tham nhũng của V Št Nam đạt tiến bôŠ nhất vào năm 2002 (31.4) và 2003 (31.4), nhưng nhìn chung từ
10 năm qua vẫn bình bình như thế: 1996 (26.8), 1998 (27), 2000 (25), 2004 (23).
Đọc báo cáo mới nhất của World Bank, người ta thấy rằng V Št Nam ngày hôm nay đã có những tiến bô Š và phát
triển hơn so với hai thâ Šp niên trước.
11
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Nhưng nhiều nước khác cũng tiến bô Š và làm thế nào để V Št Nam theo kịp các nước phát triển - chứ không phải
chỉ tự so sánh với quá khứ của mình - là mô Št thách thức lớn.
Báo cáo của World Bank dựa trên trả lời của 120.000 công dân, doanh nghiê Šp và chuyên gia, thông qua các
khảo sát của 25 tổ chức trên thế giới.
5./ Lại bàn về chất lượng tăng trưởng và đầu tư 19:54' 20/10/2005 (GMT+7)
Hiện nay chúng ta nói lạm phát 5% hay 6%, nhưng ở thời điểm này, con số này dựa trên cơ sở
nào thì còn phải thảo luận thêm. Trong bối cảnh đó, huy động ngắn hạn cho mục tiêu dài hạn
là một hiện tượng r^t nguy hiểm.
Hai hôm nay, QH đang thảo luận về báo cáo kinh tế xã hội của Chính phủ mà một trong những nội
dung quan trọng nhất là chất lượng tăng trưởng và đầu tư. Đây không phải là vấn đề mới nhưng
cũng không lúc nào cũ, nhất là đối với những quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Nhân dịp này,
chúng ta nên xem lại những khái niệm liên quan và hướng tới một cách nhìn bình tĩnh hơn về những
vấn đề nóng này.
Những tranh cãi
Khái niệm chất lượng tăng trưởng, đối với nhiều người, có v† giống như một bóng ma. Ai cũng bảo
thấy nhưng không ai có thể diễn tả cụ thể như thế nào. Nếu không biết thước đo là gì, thì sao có thể
nói chính xác là chất lượng tăng trưởng của ta đang ở đâu?
Nhiều người muốn dùng đến chỉ số ICOR (hệ số giữa mức tăng của đầu vào và đầu ra). Ví dụ như
trong một năm, tổng đầu tư của chúng ta bằng 40% thu nhập quốc dân (GDP), tăng trưởng GDP đạt
8%, nghĩa là chỉ số ICOR bằng 5. Tuy nhiên, chỉ số này nói lên chất lượng của đầu tư chứ không
phải chất lượng của tăng trưởng.
Ở một thái cực khác, chúng ta lại nói đến tăng trưởng bền vững. Khái niệm này bao gồm sự bền
vững về xã hội, về kinh tế, môi trường v.v...
Còn các quan điểm trung dung thì rất nhiều. Có người cho rằng xem xét chất lượng phải dựa vào chỉ
số phát triển con người (HDI). Có người lại muốn nói đến các vấn đề xã hội kèm theo. Có quan điểm
nói chất lượng là phải giữ gìn được bản sắc. Báo cáo chất lượng tăng trưởng năm 1997 của
Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) còn kèm theo vấn đề tạo việc làm cho người dân.
Các khái niệm trên thực ra rất mông lung do phải bao hàm quá nhiều chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu
khó có thể mà lượng hóa được. Có thể nêu số liệu về tăng trưởng, có thể cảm nhận về chất lượng
cuộc sống, nhưng chất lượng tăng trưởng thì gần như vẫn là thứ mơ hồ.
Nhiều khi chúng ta nói đến chất lượng tăng trưởng mà không hiểu mình đang nói theo nghĩa hẹp hay
nghĩa rộng. Cũng giống như khái niệm khả năng cạnh tranh, khái niệm chất lượng tăng trưởng hiện
còn đang gây ra nhiều tranh cãi.
Đâu là tiêu chí quan trọng?
Để đánh giá chất lượng tăng trưởng, cần phải giới hạn những tiêu chí trong phạm vi cần thiết, mặc
dù điều này có thể làm giảm độ chính xác của đánh giá. Chúng ta có thói quen đặt ra quá nhiều tiêu
chí, để nói rằng tăng trưởng thế nào mà nạn thất nghiệp không giảm? Rồi tăng trưởng mà vẫn không
ngăn được lạm phát v.v... Ngay cả mục tiêu mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ cũng đề ra hàng trăm
tiêu chí, không ai xem hết được.
Việc đơn giản hóa cũng có hai trường phái khác nhau. Một bên chú trọng vào số lượng, nghĩa là tốc
độ tăng trưởng. Bến kia coi trọng những chỉ tiêu đi kèm với tăng trưởng, ch‡ng hạn như công ăn việc
làm, lạm phát, cân bằng thu nhập v.v... Những người theo trường phái thứ nhất sẽ tập trung đầu tư
vào một số đầu tàu và cho phép sự phân hóa giầu nghèo diễn ra nhanh chóng. Họ chấp nhận khi
nào đủ lực sẽ quay trở lại với chất lượng và sự bền vững.
12
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Có phải chúng ta đang chú trọng vào tốc độ? Mức tăng trưởng gần đây của chúng ta là từ 5% đến
7% mỗi năm. Con số này chưa phải ghê gớm lắm nếu so sánh với tốc độ mười mấy phần trăm của
nhiều nước trong những năm 70. Nhờ vào dầu mỏ, Iran thậm chí đã từng tăng trưởng đến 25%.
Tăng trưởng công bằng
Chúng ta không nhất thiết phải lựa chọn sự tăng trưởng theo kiểu đánh đổi giữa tốc độ và công
bằng. Tớc đây đã có thời kỳ chúng ta quá chú trọng đến công bằng, dùng chính sách thuế để lấy
của người giàu chia cho người nghèo. Hậu quả là người nghèo thì ỷ lại mà những người giàu thì sẽ
mất động lực để phấn đấu.
Rõ ràng, như vậy là đánh đổi và cùng kéo xuống. Điều khó khăn là phải hiểu được trong điều kiện
nào thì hai mục tiêu trên mới song hành với nhau, cũng như đến thời điểm nào thì xảy ra sự mất cân
bằng về hiệu quả.
Tăng trưởng bền vững
Lâu nay ta vẫn nói tốc độ tăng trưởng cao. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là duy trì tốc độ này được bao
lâu và nguồn tăng trưởng ấy do đâu mà có. Để phân tích, có lẽ chỉ nên tập trung vào hai vấn đề mấu
chốt này thôi, chưa cần phải đi quá xa.
Không thể tăng trưởng nếu không đầu tư. Gần đây chúng ta nói nhiều về tình trạng đầu tư dàn trải.
Tuy nhiên cũng phải hiểu rõ khái niệm dàn trải. Nếu dàn trải để giải quyết mục tiêu công bằng thì sẽ
không mang lại tăng trưởng cao và kết quả cũng không giải quyết được các vấn đề xã hội. Mặt khác,
nếu đầu tư tập trung nhưng hầu hết lại chỉ tập trung vào những lĩnh vực không tốt thì sự tập trung ấy
cũng không có ích lợi nhiều lắm.
Quan trọng nhất là xét quy trình của đầu tư sao cho thật sự hiệu quả. Ví dụ như chương trình đánh
bắt xa bờ. Thay vì đầu tư hàng ngàn tỷ cho các tàu đánh bắt, ta có thể dành một phần để xây cơ sở
chế biến hay các dịch vụ phụ trợ khác. Đầu tư tất cho tàu đánh bắt xa bờ mà không có cơ sở chế
biến xử lý thì rõ ràng mục tiêu lớn cũng hỏng, mục tiêu nhỏ cũng hỏng luôn.
Đầu tu lớn hay nhỏ, không quan trọng
Thực ra khó xác định những khái niệm thế nào là tập trung hay dàn trải, thế nào là đầu tư lớn hay
nhỏ. Tiêu chí của những người làm doanh nghiệp rất rõ ràng: đó là hiệu quả. Chúng ta có coi trọng
một doanh nghiệp khi họ nói "Tôi chỉ buôn muối sang Đài Loan"? Thực ra, tốc độ tăng trưởng có
được như hiện nay hầu hết nhờ vào những người làm ăn nhỏ. Họ làm tăng năng suất lao động, làm
giảm nhập siêu, lại giải quyết việc làm cho nhiều người. Đầu tư cho họ không thể coi là đầu tư dàn
trải.
Đầu tư ngắn hay dài, lại là điều quan trọng
Vì muốn đẩy mục tiêu tăng trưởng bằng mọi giá, nên có thể xảy ra vấn đề nguy hiểm là vay vốn để
đầu tư. Việc vay vốn chỉ có hạn mức, nhưng yêu cầu thực tế thường cao hơn.
Hiện nay chúng ta nói lạm phát 5% hay 6%, nhưng ở thời điểm này, con số này dựa trên cơ sở nào
thì còn phải thảo luận thêm. Trong bối cảnh đó, huy động ngắn hạn cho mục tiêu dài hạn là một hiện
tượng rất nguy hiểm.
6./ Hiệu suất sử dụng vốn đã thấp, nay lại có chiều hướng giảm. Năm 2004, cứ 4,7 đồng vốn
tạo ra 1 đồng lời, còn năm nay, 5 đồng vốn mới sinh 1 đồng lời. ĐB Lê Quốc Dung (Thái Bình)
phát biểu sáng 20/10.
3/4 đầu tàu của nền kinh t] đang... ì ạch
Theo ĐB Lê Quốc Dung: Tăng trưởng kinh tế cao (năm 2005 ước là 8,4%) chủ yếu cho tăng vốn đầu
tư nhưng hiệu suất sử dụng vốn (ICOR) thấp, nay lại có chiều hướng giảm.
13
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Ông cho biết thêm: Nếu ICOR năm 2004 là 4,7/1 (4,7 đồng vốn tạo ra 1 đồng lời), thì năm 2005 là
5/1, 5 đồng vốn mới sinh ra một đồng lời. Năng suất lao động cũng thấp so với nhiều nước trong khu
vực (thấp hơn Thái Lan 6,5 lần).
Giá trị sản phẩm công nghiệp tăng 16,7% nhưng thực chất giá trị gia tăng chỉ tăng 10,2%, nông
nghiệp tương ứng là 6% và 4,1%.
Nguồn lực của nền kinh tế là ''đầu tầu'' kinh tế dân doanh đang chuyển mình mạnh mẽ nhất. Còn ba
''đầu tầu'' khác đang rất ì ạch là DNNN, khu vực sự nghiệp và cải cách hành chính.
DNNN có tình trạng ỉ lại, thua lỗ kéo dài. Liều thuốc cổ phần hoá ''ngấm'' rất chậm, số vốn của nhà
nước được cổ phần hoá chỉ chiếm 9%. Nhiều doanh nghiệp muốn duy trì tỷ lệ vốn nhà nước 51% để
làm chỗ dựa.
Khu vực sự nghiệp như y tế, giáo dục, khoa học - kỹ thuật cũng ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng
bao cấp.
ĐB Dung lấy dẫn chứng, trong số 24 viện khoa học chuyển đổi thì chỉ một xin ở với Tổng công ty,
còn lại 23 viện muốn nương nhờ các bộ. ''Lĩnh vực sự nghiệp rất cần khoán 10 như nông nghiệp'',
ông nói.
''Đầu tầu'' thứ tư là bộ máy nhà nước với cải cách hành chính chậm chạp, tệ tham nhũng, gây phiền
hà của bộ phận công chức, thất thoát, lãng phí trong sử dụng tiền và tài sản của nhà nước đang là
lực cản lớn đối với tăng trưởng kinh tế.
Để truyền động lực các ''đầu tầu'' trên, theo ĐB Dung, ''tổ chức, chỉ đạo là vấn đề quan trọng''.
Ông kiến nghị Chính phủ: ''Phải rà soát, đánh giá sử dụng vốn đầu tư của nhà nước, vốn viện trợ.
Quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm để không xẩy ra việc cạnh tranh, xé rào trong đầu tư. Làm rõ
nguyên nhân suất đầu tư của ta thấp hơn nhiều các nước trong khu vực?''.
Chưa nên tăng học phí trong lúc giá cả leo thang
ĐB Ngô Thị Minh (Quảng Ninh) chuyển tải nguyện vọng của cử tri lên diễn đàn Quốc hội, đề nghị
không tăng học phí, viện phí trong lúc giá cả leo thanh như hiện nay. ''Giá cả tăng đã là gánh nặng
với mỗi gia đình, nay tăng học phí, viện phí, chi tiêu càng vất vả hơn'', ĐB Minh bày tỏ.
Ngoài ra, theo bà, tăng học phí, viện phí còn thể hiện sự yếu kém trong xã hội hoá giáo dục và y tế.
Nếu mở rộng cho các thành phần kinh tế tham gia, thì trường học, bệnh viện của Nhà nước có điều
kiện lo cho đối tượng chính sách và người nghèo.
Còn trong giáo dục, cần tạo điều kiện thành lập trường tư thục bằng chính sách ưu đãi thuê đất, vay
vốn, hoặc thu hút vốn doanh nghiệp đầu tư vào các trường...
Chiều nay, Quốc hội tiếp tục thảo luận về kinh tế, xã hội.
Kinh tế VN sẽ tăng trưởng 7,8% trong năm nay
Đó là dự đoán được đưa ra trong bản "Cập nhật triển vọng phát triển châu Á năm 2006" vừa được Ngân
hàng Phát triển châu Á (ADB) công bố sáng nay. Tăng trưởng trong lĩnh vực tư nhân, tiêu dùng và xuất
khẩu là những động lực chính thúc đẩy sự phát triển của VN.
Theo đánh giá của ADB, triển vọng kinh tế của VN trong ngắn hạn và trung hạn rất tích cực. Đặc biệt, việc tr
thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) sẽ là nhân tố quan trọng giúp thu hút đầu tư trong
năm tới. Dự báo, đầu tư sẽ tăng khoảng 15%, chiếm 38% GDP trong năm 2007. Công nghiệp và dịch vụ tiếp
tục là động lực chính của tăng trưởng kinh tế với tốc độ lần lượt vào khoảng 10,4% và 8%.
14
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Việc thực hiện các cam kết liên quan đến Khu vực mậu dịch tự do ASEAN hay các cam kết WTO sẽ mang lại
nhiều cơ hội thúc đẩy xuất khẩu cho VN trong năm tới. Theo đó, ADB dự đoán, xuất khẩu sẽ tăng khoảng 18%,
nhanh hơn so với mức tăng nhập khẩu và sẽ giúp thu hẹp thâm hụt mậu dịch của VN.
Ngoài ra, luồng kiều hối được dự báo tăng lên cũng sẽ góp phần tạo thặng dư thương mại và gia tăng dự trữ
ngoại hối cho quốc gia. Bản cập nhật dự đoán tăng trưởng kinh tế của VN trong năm 2007 sẽ đạt khoảng 8%.
Theo đánh giá của ADB, giá cả các mặt hàng thực phẩm, vật liệu xây dựng và giao thông vận chuyển tăng cao
đã góp phần làm gia tăng chỉ số lạm phát của năm nay. Trong năm 2007, lạm phát sẽ tiếp tục chịu áp lực gia
tăng và ở mức khoảng 8,3%.
Trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2006-2010, VN đặt mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức 7,5-8%
và tăng thu nhập bình quân đầu người lên mức 1.100 USD. Theo ADB, mục tiêu này không phải là quá tham
vọng và có thể đạt được, bởi hiện VN đang có đà tăng trưởng, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư và kinh tế tư nhân.
Môi trường kinh doanh tụt hạng
Báo cáo Môi trường kinh doanh 2007 do Ngân hàng Thế giới công bố sáng nay cho thấy, xếp hạng về môi
trường kinh doanh của VN đã bị tụt 6 bậc so với năm ngoái, chỉ xếp thứ 104 trên tổng số 175 nền kinh tế thế
giới.
Có tất cả 10 chỉ số để đánh giá môi trường kinh doanh là: Thành lập doanh nghiệp, cấp giấy phép, tuyển dụng
và sa thải lao động, đăng ký tài sản, vay vốn, bảo vệ nhà đầu tư, thương mại quốc tế, đóng thuế, thực thị hợp
đồng và giải thể doanh nghiệp.
Bà Caralee McLish - Giám đốc chương trình dự án Báo cáo môi trường kinh doanh nhận xét, VN là một trong
những nền kinh tế có cải cách mạnh mẽ về rút ngắn thời gian cấp phép, linh hoạt trong các quy định lao động.
Thời gian cấp phép xây dựng đã nhanh hơn, còn 113 ngày so với 143 ngày trước đây. Chi phí cấp phép kinh
doanh cũng giảm từ 64,1% xuống còn 56,4% tổng thu nhập trên đầu người.
Tuy nhiên, VN vẫn chưa thành công trong việc thu hẹp khoảng cách với các quốc gia đứng đầu ASEAN và vẫn
là một nơi còn nhiều thử thách cho hoạt động kinh doanh.
Cụ thể, ở VN vẫn thiếu sự bảo vệ các cổ đông thiểu số chống lại sự lạm quyền của giám đốc trong sử dụng tài
sản công ty. Trong tiêu chí này, VN chỉ xếp hạng 170 trong số 175 quốc gia. Tại VN hầu như chưa có khung
pháp lý cũng như các thông lệ quy định trách nhiệm của giám đốc hay thành viên hội đồng quản trị hoặc quyền
khiếu kiện của các cổ đông thiểu số.
Việc giải thể doanh nghiệp cũng còn gặp nhiều khó khăn. Thời gian trung bình để hoàn thành thủ tục phá sản
doanh nghiệp ở VN là 5 năm và mức thu hồi tài sản chỉ được 18%, xếp thứ 116 trong số 175 quốc gia.
Trong lĩnh vực đóng thuế, VN đứng thứ 120 trong số 175 quốc gia. Các doanh nghiệp thường mất trung bình
1.050 tiếng đồng hồ, tương đương với 130 ngày làm việc để hoàn tất các thủ tục liên quan đến đóng thuế. Báo
cáo cũng cho biết con số tổng hợp về số thuế thực sự phải đóng là 41,6%, cao hơn nhiều so với mức thuế thu
nhập doanh nghiệp chính thức 28%.
Việc thành lập doanh nghiệp cũng vẫn phức tạp và tốn kém hơn nhiều quốc gia khác trong khu vực như
Singapore, Thái Lan và Malaysia. Để thành lập một doanh nghiệp tư nhân ở VN phải qua 11 bước và hơn 50
ngày - chưa có cải tiền gì so với năm ngoái. Tuy nhiên, điều ghi nhận là chi phí thành lập doanh nghiệp đã giảm
từ 50% xuống 44,5% tổn thu nhập quốc dân tính trên đầu người.
Môi trường kinh doanh bị tụt hạng vì thuế
Theo báo cáo năm 2006, VN bị tụt 6 bậc so với năm ngoái. Đánh giá xếp hạng môi trường kinh doanh
này ít nhiều tác động đến tâm la các nhà đầu tư khi rót vốn vào VN. Dưới đây là a kiến bà Phạm Chi
Lan, từng là thành viên Ban nghiên c]u của Thủ tướng về vấn đề này.
15
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Khó có thể so sánh một cách tuyệt đối về môi trường kinh doanh mỗi nước bởi những điều kiện và xuất phát
điểm khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta cần xem xét từng chỉ số, tự rọi lại mình xem "người ta" đánh giá về mình
đúng hay chưa đúng. Đúng để làm tốt hơn những điều được xếp hạng cao và khắc phục những điều chưa làm
tốt. Chưa đúng cũng là để làm sao người ngoài hiểu đúng những gì chúng ta đang làm.
Riêng việc đánh tụt hạng VN về lĩnh vực đóng thuế có lẽ là không oan chút nào. Nhiều điều tra do các tổ chức,
hiệp hội trong nước tiến hành cũng nhận định việc đóng thuế ở VN đang gây nhiều phiền hà cho các nhà đầu tư
trong và ngoài nước.
Thuế thu nhập doanh nghiệp chính thức là 28% nhưng báo cáo của Công ty tài chính quốc tế (IFC) và Ngân
hàng thế giới (WB) cho thấy tổng số thuế thực đóng lên tới 41,6%. Tại sao lại có những phần dôi ra đó? Vì còn
nhiều khoản mà ngành tài chính không công nhận là những chi phí hợp lý cần có để đóng thuế? tiêu cực giữa
người thu thuế và người nộp thuế? Không dừng lại ở đó, với 32 số lần đóng thuế trong một năm và 1.050
giờ/năm dành cho việc đóng thuế (số liệu trong báo cáo) cũng đủ khiến VN "chiếm" được vị trí 120/175 (riêng
lĩnh vực đóng thuế) trong bảng xếp hạng.
Bàn xa hơn một chút bảng xếp hạng trên, chúng ta thấy lâu nay việc cải cách thuế thường tập trung vào việc
tính toán những tỷ lệ, việc thu hay không thu mà chưa chú trọng thích đáng vào hệ thống hành thu. Cách thu
thuế thủ công như hiện nay khiến không thể tránh khỏi những sai sót, lầm lẫn do các thao tác cơ học gây ra.
Xây dựng được hệ thống hành thu trực tuyến sẽ cải thiện đáng kể đối với toàn bộ hệ thống thuế VN, và đây là
việc hoàn toàn trong khả năng, không những không cần sự giúp đỡ tài chính từ bên ngoài mà còn giúp tiết kiệm
nhân lực và tăng thu ngân sách. Nó còn làm giảm thời gian tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ thu thuế và người nộp
thuế, nhờ đó giảm tiêu cực, hạch sách, quan liêu.
Để của công không bị biến thành của... ông
TTCT - Những vụ nhà công bị biến thành nhà ở sở hữu tư nhân được báo chí phản ánh thời gian qua đã khiến
dư luận hết sức bức xúc và hoài nghi về việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (TSNN) hiện nay.
Ông PHẠM ĐÌNH CƯỜNG, cục trưởng Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính), đã trả lời phỏng vấn Tuổi Trẻ
Cuối Tuần về vấn đề trên. Ông nói:
- TSNN bao gồm toàn bộ tài sản của các cơ quan hành chính sự nghiệp, đất đai, nhà cửa, vật kiến trúc, tài sản
của Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước... Hiện nay việc quản lý, sử dụng TSNN của chúng ta có khá
nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh.
* Nhưng tình hình quản lý sử dụng TSNN hiện nay như thế nào, thưa ông?
- Trước khi những trường hợp nhà công vụ bị biến thành nhà sở hữu tư nhân như vừa qua thì các cơ quan chức
năng đã nhìn ra và đã có nhiều văn bản hướng dẫn. Tuy nhiên, chúng ta cần có những hướng dẫn cụ thể hơn vì
quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý diễn ra rất nhanh và phức tạp.
Vì thế, để đảm bảo tính đồng bộ và tính khả thi, tất cả các văn bản phải thường xuyên đối chiếu với thực tiễn
cuộc sống, với yêu cầu quản lý để điều chỉnh. Nếu chúng ta hoàn thiện được qui chế tốt, cụ thể về nhà ở công
vụ thì những việc tranh luận, bàn cãi sẽ không nhiều. Đồng thời, những văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng
TSNN cũng cần được tuyên truyền để mọi người dân, mọi tổ chức, cơ quan nhà nước nắm chắc và giám sát.
Hiện nay, một số vi phạm pháp luật đang xảy ra không chỉ ở lĩnh vực quản lý tài sản mà trong cả quản lý đầu tư,
quản lý tài chính, quản lý đất đai... gây bức xúc trong công luận và dư luận. Những trường hợp sai phạm vừa
qua đã thể hiện dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau nhưng để đánh giá đúng và xử lý nghiêm minh, kịp
thời cần phải căn cứ vào hồ sơ cụ thể.
Việc này Chính phủ đang chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương thực hiện. Trong quá trình này, sự phát
hiện của báo chí đóng vai trò rất quan trọng. Ví dụ như tình trạng sử dụng ôtô công vào việc riêng, mua sắm ôtô
vượt định mức. Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính và các cơ quan chức năng làm gắt (không thanh toán các
hợp đồng mua sắm vượt chế độ, vượt định mức, thu hồi xe mua sai, xử lý trách nhiệm...) nên những hiện tượng
đó đã giảm rõ rệt tuy chưa chấm dứt hoàn toàn.
16
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
* Sau những vụ việc như vừa qua, cục có đặt ra kế hoạch rà soát lại tình hình quản lý, sử dụng tài sản công ở
các bộ, ngành, địa phương hay không?
- Hằng năm chúng tôi vẫn tổng hợp báo cáo về tình hình quản lý, sử dụng TSNN ở các bộ, ngành, địa phương.
Chính những số liệu, tài liệu đó đã giúp chúng tôi, giúp bộ, giúp Chính phủ hoàn thiện hệ thống văn bản pháp
luật.
Tới đây Bộ Tài chính sẽ tiếp tục rà soát lại và hoàn thiện thể chế quản lý tài sản công để có căn cứ báo cáo các
vụ việc theo chỉ đạo của Thủ tướng. Chúng tôi sẽ rà soát lại ba loại văn bản gồm: văn bản điều chỉnh việc quản
lý, sử dụng trụ sở; văn bản điều chỉnh nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; văn bản điều chỉnh nhà ở công vụ.
Song song chúng tôi cũng đang khẩn trương tập hợp đầy đủ hồ sơ cụ thể của các vụ việc đã được phát hiện để
nếu có vấn đề thì căn cứ vào khung pháp luật đó xác định đúng sai và báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý.
Những sai phạm xảy ra trong thời gian qua một phần cũng vì chưa được xử lý nghiêm. Về việc sử dụng ôtô
công sai mục đích, mua sắm sai tiêu chuẩn thì chúng ta đã xử lý kịp thời và kiên quyết nên tác dụng khá rõ. Tuy
nhiên, vấn đề nhà ở phức tạp hơn, động chạm nhiều hơn, hệ thống pháp luật qui chuẩn cũng chưa tốt nên ít
được xử lý kịp thời, nghiêm khắc. Nếu xử lý nghiêm khắc, kịp thời thì tác dụng răn đe sẽ tốt ngay.
* Ông có cho rằng việc xử lý các vi phạm về quản lý, sử dụng TSNN một phần khó thực hiện bởi những mối
quan hệ chằng chịt?
- Theo thói quen của người Á Đông, chúng ta rất tôn trọng các vị tiền nhiệm, các vị có công với cách mạng.
Yếu tố đó cần phải trân trọng nhưng vì việc tôn trọng đó mà vi phạm các qui định pháp luật thì không được. Do
đó, kết luận đúng, sai về một trường hợp phải kết luận theo văn bản pháp luật.
* Nếu chiếu theo Luật phòng chống tham nhũng thì việc lợi dụng chức vụ để biến TSNN thành tài sản cá nhân
là hành vi tham nhũng?
- Đúng vậy. Luật ngân sách nhà nước cũng đã qui định rõ tổ chức, cá nhân nào có hành vi vi phạm làm thiệt hại
cho ngân sách nhà nước thì phải bồi thường, tùy theo mức độ vi phạm phải xử lý hành chính hoặc truy cứu
trách nhiệm hình sự.
* Như ông nói thì hệ thống văn bản vẫn chưa chặt chẽ, cụ thể. Vậy tới đây sẽ có những thay đổi gì để TSNN
không bị biến thành tài sản cá nhân?
- Trong chương trình làm việc của Chính phủ, của Bộ Tài chính đã có kế hoạch xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống
pháp luật về quản lý tài sản. Đáng chú ý nhất là dự thảo Luật quản lý TSNN. Hiện nay chúng tôi đã ra được dự
thảo lần đầu. Theo chương trình thì cuối năm nay sẽ trình Chính phủ và năm 2007 sẽ trình xin ý kiến Quốc hội.
Trong khi chờ Luật quản lý TSNN được Quốc hội thông qua, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ba văn bản quan
trọng. Văn bản thứ nhất là dự thảo nghị định của Chính phủ về phân cấp quản lý TSNN. Có thể Chính phủ sẽ
ban hành trong tháng mười này. Chúng tôi quan niệm đi đôi với việc tăng cường năng lực của các cấp chính
quyền địa phương, việc tự chủ tài chính của các đơn vị thì quyền trực tiếp quản lý tài sản của các bộ, các ngành,
địa phương là quan trọng.
Văn bản thứ hai cũng đã trình lên Thủ tướng là dự thảo quyết định của Thủ tướng về sắp xếp lại nhà đất trong
phạm vi cả nước. Đây cũng là văn bản rất quan trọng vì nó sẽ sắp xếp lại hệ thống trụ sở của các cơ quan nhà
nước theo đúng qui hoạch, sử dụng đúng mục đích, khai thác tốt nhất nguồn tài sản. Văn bản thứ ba là dự thảo
quyết định của Thủ tướng về sửa đổi tiêu chuẩn, định mức về trụ sở làm việc cho phù hợp với thực tiễn.
Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng đang hoàn chỉnh một số văn bản rất quan trọng khác. Thứ nhất là qui chế về tiêu
chuẩn, định mức và chế độ sử dụng ôtô công. Đây là vấn đề dư luận rất quan tâm. Thủ tướng Chính phủ đã có
quyết định dừng mua sắm ôtô mới nên qui chế này ra đời sẽ có sự thay đổi cơ bản để sắp xếp lại, điều chuyển
ôtô hiện có, đồng thời thay thế dần việc trang bị ôtô bằng việc khoán kinh phí sử dụng và thuê dịch vụ...
Thực hiện những biện pháp này sẽ tiết kiệm được một nguồn ngân sách lớn mua sắm, duy trì ôtô công, đồng
thời mở rộng dịch vụ, mở rộng thị trường vận chuyển công cộng. Thứ hai là các văn bản hoàn thiện các chính
17
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
sách tài chính về đất đai như qui định về thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền cho thuê mặt đất, mặt nước để
phù hợp với thực tiễn và đảm bảo nguồn thu ngân sách.
Cùng với việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, các cơ quan quản lý nhà nước, công luận, các tổ chức
quần chúng cùng quan tâm đến việc quản lý, sử dụng TSNN, giám sát chặt chẽ việc sử dụng TSNN ở các cấp,
ngành, địa phương, đơn vị cơ sở, tôi tin những hiện tượng sai phạm sẽ giảm và sẽ cơ bản chấm dứt trong
thời gian không lâu.
Thống kê của UBND TP Hà Nội cho thấy có trên 6,3 triệu m đất tại hơn 1.000 địa điểm nhà đất thuộc sở hữu 2
nhà nước của các cơ quan hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp của cả trung ương và TP đang bị sử dụng sai mục
đích như tự ý cho thuê lại nhà, đất để hưởng chênh lệch; tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang làm cơ sở
sản xuất kinh doanh; tự ý chuyển đổi mục đích một phần nhà đất để làm nhà ở cho cán bộ, công nhân viên; tự ý
mua bán, chuyển nhượng quyền thuê, nhất là tại các vị trí đất có sinh lời cao, có khuôn viên rộng; để hoang hóa.
Thứ Bảy, 14/10/2006, 16:07 (GMT+7)
Doanh nghiệp nhà nước:
Không thể giữ bí mật tài chính mãi được nữa!
TTCT - Công khai báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là một trong những cơ sở quan
trọng để người dân, với tư cách là người đóng thuế, ngoài việc biết được tiền thuế của mình đã được Chính phủ
sử dụng như thế nào, còn có thể giám sát hoạt động kinh doanh và sử dụng tài sản nhà nước, cũng như tham gia
góp ý các vấn đề mang tính quốc sách cho nước nhà.
Hiệu ứng của công khai báo cáo tài chính
Sau khi lần đầu tiên công khai báo cáo kiểm toán nhà nước (KTNN), người dân mới biết chính xác con số
không nhỏ các tập đoàn và tổng công ty lớn có kết quả tài chính vô cùng tệ hại. Và đứng trước sức ép của công
18
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
luận, Chính phủ đã phải yêu cầu dừng lại chủ trương cho phép một số tổng công ty và tập đoàn tiếp tục vay nợ
nước ngoài thông qua phát hành trái phiếu quốc tế.
Hoặc như vụ giá xăng dầu, đứng trước sức ép của công luận đòi hỏi phải công khai mức lợi nhuận của các
doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, Bộ Thương mại mới cho công bố mức siêu lợi nhuận của ngành này. Và sự
thật mới được sáng tỏ: sau hai lần giảm giá và tính toán hết các khoản thuế tăng thêm, chi phí vận chuyển, kho
bãi, lợi nhuận còn lại... lên đến 1.000 đồng cho 1 lít xăng (điều mà hàng chục năm trước đây người dân không
thể biết được), mà đây cũng mới chỉ là con số do các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tự giác khai báo với
cấp trên, lợi nhuận thật ắt còn phải cao hơn con số này. Nhờ vậy các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu mới
không còn lý do để không thể không giảm giá xăng dầu.
Hay như vụ Tổng công ty Điện lực (EVN) cứ một mực than thở thiếu vốn nên phải tăng giá điện. Thế nhưng
đứng trước sức ép đòi phải công khai hoạt động trước khi tăng giá điện, người dân vô cùng bất ngờ khi biết
rằng có một lượng vốn không nhỏ trong vốn đầu tư lại chuyển hướng sang một lĩnh vực trái khoáy là viễn
thông, thay vì đầu tư vào cơ sở hạ tầng cho sản xuất và cung ứng điện năng. Do... bị lộ những thông tin này mà
phần nào đó EVN không thuyết phục được Chính phủ đồng ý cho phép tăng giá điện.
Cơ chế hiện tại không cho phép người dân giám sát DNNN
Thực tế này cho thấy điều quan trọng nhất sắp tới đây là người đóng thuế làm sao có thể tham gia việc giám sát
một cách thường xuyên hơn nữa hoạt động kinh doanh và báo cáo tài chính - đã được báo cáo kiểm toán - của
các DNNN, thay vì chỉ được biết sau mỗi khi có các sự cố đụng chạm đến quyền lợi thiết thực của mình, hay
chỉ mỗi năm một lần khi KTNN báo cáo trước Quốc hội.
Người dân có thể thực hiện “quyền được biết” này thông qua giải mã từ báo cáo KTNN. Thế nhưng điều bất
thường là vẫn còn đó những vùng đất cấm và những điều chưa minh bạch trong một báo cáo được gọi là công
khai lần đầu tiên trong năm nay: danh mục các DNNN và số liệu cụ thể về kết quả tài chính các DNNN được
kiểm toán vẫn chưa được công bố trên trang web của KTNN (có thể các dữ kiện này được gửi đến các đại biểu
Quốc hội hay chăng?). Hơn nữa, như thú nhận của vị đứng đầu, KTNN dù có ba đầu sáu tay cũng không thể đủ
lực để kiểm toán hết toàn bộ khu vực DNNN mỗi năm.
Như vậy, một cách khác để thực hiện quyền được biết rất hiệu quả là tìm thông tin trên trang web của các
DNNN. Đáng ngạc nhiên là khi vào trang web của hàng loạt tập đoàn và tổng công ty lớn, ta cũng chỉ thấy toàn
là thành tích, huân chương, huy chương mà không thấy bất cứ số liệu và thuyết minh nào về báo cáo tài chính
đã được kiểm toán.
Chẳng hạn như người dân muốn quan tâm đến việc tiền thuế của mình được sử dụng ra sao nhân “kỷ niệm” một
năm ngày Vinashin nhận 750 triệu USD trái phiếu quốc tế từ Chính phủ, cách duy nhất chỉ là truy cập vào trang
web của Vinashin (do không còn kênh thông tin nào khác). Ta thấy ngay một tiêu điểm rất hot là “hoạt động tài
chính”, nhưng cũng chỉ được vài dòng với các thông tin “thúc đẩy”, “mở rộng”, “cố gắng” mà không có bất kỳ
số liệu nào về kết quả tài chính.
Chỉ có các yếu tố định tính mơ hồ, hoàn toàn vắng bóng các định lượng kết quả tài chính. Trong khi thực tế thì
điều mâu thuẫn là: bất chấp các thông tin liên tục về việc Vinashin nhận được hợp đồng này hợp đồng nọ, tỉ suất
lợi nhuận trước thuế chỉ là 0,42% và số tiền còn thiếu nợ ngân sách nhà nước gần 70 tỉ đồng. Điều mà người
dân quan tâm là với một kết quả tài chính quá yếu kém như thế, liệu việc sử dụng 750 triệu USD, việc trả nợ và
tương lai sắp tới là như thế nào thì hoàn toàn không được thể hiện.
Chẳng lẽ người đóng thuế không được quyền biết những thông tin như thế?
Minh bạch tài chính là xu hướng tất yếu để hội nhập thành công
Thiết nghĩ báo cáo tài chính của các DNNN đâu phải là bí mật quốc gia lớn đến nỗi phải không công khai cho
dân biết. Không thể viện lý do rằng trên thực tế Chính phủ đã lập ra một Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh
vốn nhà nước đứng ra quản lý phần vốn nhà nước tại các DNNN, nên các báo cáo tài chính chỉ cần được báo
cáo với Chính phủ hay các bộ ngành là đủ, hoặc công khai thì sẽ làm lộ bí mật kinh doanh. Đây là những lập
luận quá lỗi thời và không phù hợp với xu hướng minh bạch tài chính khi Việt Nam là thành viên của WTO.
19
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Mỗi đối tượng có những mục tiêu riêng khi sử dụng quyền được biết của mình từ báo cáo tài chính.
Công khai báo cáo tài chính trong hệ thống các ngân hàng thương mại và công ty cổ phần giúp các doanh
nghiệp này luôn chịu sự giám sát của các nhà đầu tư.
Ngoài ý nghĩa nữa là người dân và các nhóm lợi ích - như của người tiêu dùng - có thể tham gia góp ý chính
sách cho Chính phủ, công khai kết quả tài chính đã được kiểm toán đối với các DNNN còn có mục đích chính
là để người dân trực tiếp giám sát tiền thuế của mình được sử dụng hiệu quả ra sao.
Đó là chưa kể còn nhiều đối tượng khác mong muốn việc công khai tài chính để xem trên thực tế Chính phủ có
thực hiện một sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế khác hay không. Các khoản trợ cấp bất hợp lý và
những chính sách ưu đãi nếu có sẽ được phát hiện từ việc công khai này.
Chúng ta vì thế mong chờ Nhà nước cần sớm triển khai một đạo luật bắt buộc các DNNN phải công bố báo cáo
tài chính trên các phương tiện thông tin đại chúng. Điều này còn là công cụ thiết thực nhằm triển khai có hiệu
quả Luật phòng chống tham nhũng, và cũng để người dân kiểm chứng tính hợp lý và hợp pháp của việc các
DNNN có khả năng móc túi dân thông qua các chiến dịch tăng giá hay thu phí vô tội vạ vì những lý do mà
người dân không thể kiểm chứng được.
Cải cách hệ thống tài chính: Cuộc toàn cầu hoá ti]p theo?
VNECONOMY cập nhật: 14/10/2006
Giai đoạn toàn cầu hoá sGp tới đây sẽ là toàn cầu hAa về các hệ thống tài chính. ĐA là quan điểm nêu ra trong
bài viết của tác giả Frederic Mishkin trên tờ Financial Times số ra ngày 9/10 vừa qua. VnEconomy xin giới
thiệu tới các bạn bản dFch bài viết đáng chú L này.
Không thể giữ bí mật tài chính mãi được nữa!
Thế giới ngày nay đang trải qua giai đoạn th] hai của toàn cầu hoá. Liệu các nhà
lãnh đạo chính trị và kinh tế sẽ tiếp tục đưa thế giới bước vào giai đoạn tiếp theo
của toàn cầu hoá, cải thiện hệ thống tài chính tại các nước đang phát triển, hay
sẽ chấm d]t quá trình này?
Toàn cầu hóa trong lĩnh vực thương mại trong nửa thế kỷ qua đã đưa hàng tỷ người
thoát khỏi tình trạng nghèo khổ. Từ những năm 1960, nền kinh tế thế giới đã đạt tốc
độ tăng trưởng cao hơn bao giờ hết. Thu nhập đầu người tăng lên trong khi tỷ lệ đói
nghèo giảm xuống nhanh chóng ở những quốc gia biết tận dụng những lợi ích của toàn cầu hóa, trở thành các
nước hướng ra xuất khẩu. Chỉ riêng ở Ấn Độ và Trung Quốc, toàn cầu hóa đã đưa hơn 1 tỷ người thoát khỏi
tình trạng đói nghèo.
Trong khi đó, những nước chưa tận dụng được những lợi ích của toàn cầu hóa, chẳng hạn các nước ở khu vực
tiểu sa mạc Sahara ở châu Phi, phải gánh chịu hậu quả là khoảng cách tương đối giữa họ và các nước biết tận
dụng toàn cầu hóa tăng nhanh.
Mặt khác, thu nhập bình quân đầu người của các nước này còn giảm xuống một cách tuyệt đối. Năm 1960, thu
nhập bình quân đầu người của Somalia cao hơn so với Hàn Quốc là 10%. 45 năm sau, thu nhập bình quân đầu
người của Somalia sụt giảm trong khi người dân Hàn Quốc được hưởng nhiều lợi ích từ quá trình tăng trưởng
kinh tế năng động của nước mình.
Kết quả là, hiện nay, thu nhập bình quân đầu người của người Somalia chỉ bằng chưa đầy 1/10 thu nhập bình
quân đầu người của Hàn Quốc.
Toàn cầu hóa không phải là một quá trình tất yếu đồng thời cũng không phải là một quá trình không thể đảo
ngược. Những gì mà thế giới đang trải qua hiện nay thực chất là giai đoạn toàn cầu hóa thứ hai về các dòng
chảy thương mại và vốn ở thời kỳ hiện đại. Giai đoạn toàn cầu hóa đầu tiên bắt đầu vào năm 1870 và kết thúc
cùng với sự bùng nổ của chiến tranh thế giới lần thứ nhất, phá vỡ các dòng chảy vốn và thương mại quốc tế
Những gì mà thế giới
đang trải qua hiện nay
thực chất là giai đoạn
toàn cầu hóa thứ hai về
các dòng chảy thương
mại và vốn ở thời kỳ
hiện đại.
20

Preview text:

Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
1./ VN lãng phí mỗi năm 1 tỷ USD
Đó là nhận định của giáo sư David Dapice, Trường Đại học Harvard (Mỹ) trong bài phát biểu tại Hội
thảo tổng kết 20 năm đổi mới ở VN diễn ra tại Hà Nội hôm qua.
- Giáo sư đánh giá mức độ đầu tư không hiệu quả tại VN như thế nào?
- Mỗi quốc gia đều có sự chi tiêu lãng phí nhưng vấn đề đặt ra là liệu hệ thống có thể phát
hiện khi nào thì sự lãng phí ở mức không thể chấp nhận được. Theo con số tôi có được,
thu nhập từ dầu thô sau thuế của VN vào năm 2006 dự đoán là 5 tỷ USD. Các khoản kiều
hối có nhiều ước tính khác nhau nhưng cũng vào khoảng 5 tỷ USD nữa. Đầu tư nước
ngoài vào VN theo số liệu của Chính phủ là khoảng 4-5 tỷ USD. Còn viện trợ phát triển
ODA sau khi trừ các khoản phải trả ở mức 2-3 tỷ USD.
IMF dự đoán tổng sản phẩm quốc nội GDP của VN năm 2006 đạt khoảng 55 tỷ USD, như Giáo sư David
vậy các luồng vốn nước ngoài bằng khoảng 25-30% GDP năm nay. Thực tế mỗi năm Dapice (Tuổi Trẻ)
Chính phủ VN cũng đầu tư vào mức 30% GDP. Nếu đầu tư một cách tiết kiệm và khôn
ngoan, tỷ lệ tăng trưởng GDP của VN phải ở mức thực là 9-10% như ở Trung Quốc chứ không phải là 7-8%.
Khoảng thập kỷ 1960 và 1970, khi Đài Loan có mức thu nhập bình quân đầu người như VN hiện nay, họ đã
tăng trưởng trên 11% trong suốt 10 năm liền tuy lượng đầu tư chỉ chiếm 25% GDP. Như vậy, sự lãng phí làm
VN mỗi năm tổn thất khoảng 2% GDP, tương đương 1 tỷ USD. Nếu điều này kéo dài trong vài năm, sự khác
biệt sẽ rất lớn và lên tới vài tỷ USD mỗi năm do sự lãng phí của năm trước sẽ làm giảm sản lượng của năm tiếp theo.
- Đâu là những ví dụ điển hình của việc lãng phí nguồn lực, thưa ông?
- Việc các doanh nghiệp nhà nước được đầu tư quá nhiều cũng có thể làm xói mòn hiệu quả. Mới đây, Tổng
công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) được phân bổ 750 triệu USD của đợt phát hành trái phiếu
quốc tế nhằm mở rộng và đầu tư hàng loạt nhà máy đóng tàu ở các tỉnh. Theo tính toán của tôi, việc sử dụng
nguồn vốn của Vinashin không hiệu quả. Một xưởng đóng tàu 120.000 tấn hiện đại được xây dựng ở Ấn Độ với
chi phí 90 triệu USD, trong khi với Vinashin phải cần tới 150 triệu USD. Như vậy với cùng một thời gian đóng
tàu là 18 tháng, cùng một giá bán thì rõ ràng việc đóng tàu tại VN tập trung vào mục tiêu bán hàng hơn là lợi nhuận từ vốn.
Vinashin còn có một kế hoạch tổng thể đầu tư 3 tỷ USD vào các xưởng đóng tàu, nhà máy thép và các ngành
công nghiệp cung ứng khác. Mức đầu tư đó sẽ khiến quy mô của Vinashin bằng 3/4 quy mô của Hyundai, tập
đoàn đóng tàu lớn nhất thế giới với 15% thị phần toàn cầu. Không hề có dấu hiệu nào cho thấy Vinashin có khả
năng kỹ thuật cũng như quản lý để biện minh cho một thị phần lớn như vậy.
Rõ ràng việc quyết định đầu tư hàng loạt nhà máy đóng tàu ở các tỉnh sẽ làm các địa phương hài lòng vì nó kéo
theo sự phát triển hạ tầng ở các địa phương. Mặt khác, VN cũng muốn học tập các nước Đông Á vì đóng tàu là
một ngành công nghiệp mà nhiều quốc gia châu Á đã thành công. Nhưng VN không nên sao chép thành công
này với cách mà VN đang tiến hành là Chính phủ đi vay tiền đầu tư vào các ngành thiếu hiệu quả và tạo ít việc làm.
Một ví dụ nữa là dự án sân bay tại Đồng Nai với ý đồ thu hút 40-50 triệu khách/năm. Khu vực sân bay Tân Sơn
Nhất rộng tương đương với khu sân bay Changi của Singapore (đón 64 triệu khách/năm) và việc hiện đại hóa
sân bay Tân Sơn Nhất sẽ giúp sân bay này đảm nhận được lượng hành khách tại khu vực TP HCM trong 20-30
năm tới. Sân bay Tân Sơn Nhất năm nay dự kiến chỉ đón 4 triệu khách. Vì vậy, tôi cho rằng ý đồ đầu tư 4 tỷ
USD vào một sân bay ở Đồng Nai là rất lãng phí.
- Vậy theo ông, làm thế nào để giảm bớt sự lãng phí?
- VN cần một cơ chế để cảnh báo về các khoản đầu tư lãng phí. Đó có thể là một nhóm tại Quốc hội, là các
chuyên gia tư vấn cho Thủ tướng, hoặc một nhóm học giả. Các nhóm này có thể làm việc cùng nhau để chia sẻ
và cung cấp thông tin. Tôi nghĩ việc có những thông tin rõ ràng và có những người hiểu biết về “sự việc” rằng
đó có thể là các khoản đầu tư lãng phí sẽ rất hữu ích. 1
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Ở nước nào cũng tồn tại những nhóm lợi ích khác nhau và có nhóm hoạt động mạnh, nhóm không. Tôi thấy tại
VN các doanh nghiệp nước ngoài được tổ chức tốt và hiện diện mạnh mẽ hơn trong việc trình bày quan điểm
với Chính phủ, trong khi các doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như không có nhiều tiếng nói. Đây là điều không tốt.
Tóm lại, một khi mà sự thật được phơi bày thì rõ ràng sẽ có sức ép lớn hơn cho trách nhiệm giải trình. Và
những quyết định đầu tư lãng phí, gây thiệt hại cho đất nước sẽ không còn dễ dàng được thông qua nữa. Ông Nguyễn Hoàng Anh và
“Siêu ủy ban” quản lý 1,5 triệu tỷ trước "giờ G"
Hoàng Thắng Thứ Ba, ngày 25/09/2018 07:05 AM (GMT+7)
(Dân Việt) "Siêu uỷ ban" quản lý vốn Nhà nước sẽ chính thức đi vào
tháng 10 tới và quản lý 1,5 triệu tỷ đồng, tương đương gần 50% giá trị
vốn Nhà nước tại DN. Chuyên gia cho rằng người quản lý "siêu uỷ ban"
phải là người kỹ trị, chứ không phải nhà chính trị. Ông Nguyễn Hoàng
Anh được bổ nhiệm làm Chủ tịch là cựu Bí thư tỉnh Cao Bằng. Thích Chia sẻ
•“Siêu Uỷ ban” quản lý 5 triệu tỷ sẽ hoạt động vào tháng 10 tới
•Chê SCIC, nhiều doanh nghiệp muốn về “Siêu ủy ban” cho xứng tầm
•Quyền lực và vốn Nhà nước của siêu uỷ ban quan lý vốn Nhà nước ra sao?
•Hé lộ 2 “ông lớn” Nhà nước không về “Siêu ủy ban” Quản lý vốn
•Bổ nhiệm nữ Vụ trưởng làm Phó Chủ tịch “siêu ủy ban” quản lý vốn
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trao quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Hoàng
Anh làm Chủ tịch Uỷ ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp (Ảnh: Báo Lao Động)
Doanh nghiệp về “Siêu ủy ban” quản lý 1,5 triệu tỷ “khủng” cỡ nào?
Trong một cuộc họp diễn ra đầu tháng 9.2019, Phó Thủ tướng Vương Đình
Huệ đã yêu cầu các đơn vị liên quan sớm tạo điều kiện để Uỷ ban Quản lý vốn
Nhà nước tại doanh nghiệp đi vào hoạt động trong tháng 10.
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam cũng sẽ được chuyển giao về "Siêu ủy ban" (Ảnh minh họa)
Trong danh sách này, 7 tập đoàn có tên trong Dự thảo (lần 1) Nghị định quy
định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Ủy ban Quản lý vốn nhà
nước tại doanh nghiệp Nhà nước vẫn được giữ nguyên, bao gồm: Tập đoàn
Xăng dầu Việt Nam, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt
Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam, Tập
đoàn Công nghiệp than khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông 2
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN Việt Nam.
11 tổng công ty có tên trong Dự thảo (lần 1) cũng có tên trong danh sách này là
Tổng công ty Viễn thông MobiFone, Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam, Tổng
công ty Hàng không Việt Nam, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty
Đường sắt Việt Nam, Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam,
Tổng công ty Cảng Hàng không, Tổng công ty Cà phê Việt Nam, Tổng công ty
Lương thực miền Nam, Tổng công ty lương thực miền Bắc, Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam.
Giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu nhà nước của 19 doanh nghiệp được bàn giao
về "siêu uỷ ban" do ông Nguyễn Hoàng Anh làm Chủ tịch là trên 820.000 tỷ
đồng, tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp gần 1,5 triệu tỷ đồng, tương
đương gần 50% giá trị vốn nhà nước và tài sản của khu vực DNNN.
Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), đơn vị đứng đầu
danh sách chuyển giao về “Siêu ủy ban” quản lý vốn - sở hữu vốn tại 136
doanh nghiệp, gồm 129 công ty cổ phần (Ảnh minh họa)
Trong số 19 doanh nghiệp nêu trên, Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn
nhà nước (SCIC), đơn vị đứng đầu danh sách chuyển giao về “Siêu ủy ban”
quản lý vốn - sở hữu vốn tại 136 doanh nghiệp, gồm 129 công ty cổ phần.
Trong danh sách công ty do SCIC sở hữu vốn có 20 đơn vị bị giám sát đặc biệt.
6 tháng đầu năm 2018, SCIC ghi nhận doanh thu cổ tức đạt 1.220 tỷ đồng,
tương đương 49% kế hoạch năm. Doanh thu tài chính đạt 715 tỷ đồng, thực hiện 55% chỉ tiêu.
Riêng nguồn thu từ hoạt động bán vốn tại các doanh nghiệp Nhà nước (bao
gồm Nhựa Bình Minh), SCIC đạt 2.669 tỷ đồng, chiếm 48% tổng thu từ bán cổ
phần cả nước (5.598 tỷ đồng).
Trong 6 tháng, công ty lãi sau thuế 1.923 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước
1.513 tỷ đồng và nộp quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp 2.818 tỷ đồng.
Năm 2018, SCIC đặt mục tiêu tổng doanh thu gần 7.900 tỷ đồng và lợi nhuận
sau thuế hơn 5.400 tỷ đồng. Trong 6 tháng cuối năm, SCIC sẽ tích cực đẩy
mạnh hiệu quả bán vốn doanh nghiệp, trọng tâm là một số công ty lớn như
Vinaconex, Vocarimex, Domesco, Vina Control…
18 Tập đoàn ,Tổng Công ty Nhà nước còn lại được chuyển giao về “Siêu ủy
ban” đều là các DN hàng đầu thuộc các ngành công nghiệp quan trọng
như điện, than, dầu khí, viễn thông...
SCIC về “Siêu ủy ban”, lo Nhà nước nhỏ trong Nhà nước lớn
Có chức năng khá tương đồng với “Siêu uỷ ban”, song Tổng công ty Đầu tư và
kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) sẽ không còn trực thuộc Bộ Tài chính mà
chuyển về “Siêu ủy ban” do ông Nguyễn Hoàng Anh làm chủ tịch. Và SCIC vẫn
là cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp thuộc đối
tượng được chuyển giao từ các Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, trừ một số doanh nghiệp đặc thù 3
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Ông Phùng Văn Hùng, Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội (Ảnh: VGP)
Điều này khiến ông Phùng Văn Hùng, Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế của
Quốc hội, lo ngại sự chồng chéo này sẽ dễ dẫn đến "một nhà nước nhỏ trong
một nhà nước lớn" khi đưa SCIC về Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước.
Theo đó, khi lập "Siêu ủy ban” quản lý lượng vốn lớn của các tập đoàn của Nhà
nước, mục đích đặt ra là khắc phục tình trạng vừa đá vừa thổi còi. Mục đích
tiếp theo là quan trọng làm sao quản lý và sử dụng vốn Nhà nước hiệu quả. Vì
thế Dự thảo đã giao chức năng quan trọng cho Ủy ban, phải bảo đảm an toàn
khối lượng tài sản lớn của Nhà nước.
Ông Hùng phân tích dự thảo về hoạt động của "Siêu ủy ban” nơi ông Nguyễn
Hoàng Anh làm chủ tịch vẫn giao SCIC đại diện chủ sở hữu các doanh nghiệp
chuyển giao từ các bộ, ngành. Tuy nhiên, Ủy ban cũng đại diện các doanh
nghiệp chủ sở hữu. Điều này dẫn đến sự chồng chéo là trong ủy ban có đại diện chủ sở hữu khác.
"Như vậy, tôi băn khoăn liệu chúng ta có tạo nên nhà nước nhỏ trong một nhà
nước lớn? Trách nhiệm SCIC với việc chung thế nào? Vai trò Ủy ban quản lý
vốn Nhà nước với các doanh nghiệp mà SCIC đại diện chủ sở hữu thế nào?
Đây là vấn đề cần rõ ràng minh bạch để Ủy ban hoạt động tốt, SCIC phát huy
tác dụng hiệu quả", ông Hùng nói.
Gánh nặng trên vai người quản lý 1,5 triệu tỷ đồng vốn Nhà nước
Vào đầu tháng 1.2018, khi Thủ tướng Chính phủ vừa có quyết định thành lập
Uỷ ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. Đáng chú ý có bổ nhiệm ông
Nguyễn Hoàng Anh, cựu Bí thư tỉnh Cao Bằng giữ chức chủ tịch Uỷ ban Quản lý vốn Nhà nước.
Đi kèm với đó là danh sách 30 Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước dự kiến
chuyển giao cho Uỷ ban Quản lý vốn và tài sản Nhà nước với quy mô vốn và
tài sản tại các doanh nghệp lên tới 5 triệu tỷ đồng, PV Dân Việt khi đó đã có
cuộc trao đổi với TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên ĐH Fulbright Việt Nam.
TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên ĐH Fulbright Việt Nam
Ông Tuấn đặt vấn đề: “5 triệu tỷ đồng là một lượng tài sản quá lớn. Đó là sự
thách thức về năng lực quản trị đối với Ủy ban. Việt Nam liệu đã có nhà quản
trị nào đủ sức quản lý lượng tài sản này một cách hiệu quả?”
Theo TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn, số vốn này không chỉ tập trung trong một ngành,
chúng nằm ở rất nhiều lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải,
dầu khí, diện lực… Liệu người đứng đầu có đủ hiểu biết và năng lực chuyên môn để quản lý không?
Ở Việt Nam, không tính khu vực Nhà nước, để tìm được 1 người xuất sắc đủ
sức quản trị một doanh nghiệp đã là khó. Ngay cả những tỷ phú giàu nhất Việt
Nam cũng chỉ quản lý lượng tài sản bằng 1/10, 1/15 con số khổng lổ nêu trên đã gặp vấn đề.
“Giờ giao cho một người xưa nay làm công tác lãnh đạo chính trị sang quản lý
5 triệu tỷ đồng tài sản liệu có đủ sức quản lý không? Trước đó, trách nhiệm
quản lý thuộc riêng từng Bộ. Bộ Công Thương mới chỉ quản lý một phần của
con số 5 triệu tỷ đồng này còn chưa làm hiệu quả. Giờ gom cả tài sản của các 4
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Bộ khác, cả SCIC về thì làm sao có thể quản lý nổi?”, ông Tuấn liên tiếp đặt câu hỏi.
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan
Về hoạt động quản lý, điều hành Uỷ ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh
nghiệp nơi ông Nguyễn Hoàng Anh làm chủ tịch, chuyên gia kinh tế Phạm Chi
Lan cũng cho rằng, thành công và hiệu quả của Uỷ ban phụ thuộc phần lớn vào người quản lý.
“Đó phải là những người kỹ trị, chứ không phải là nhà chính trị. Người làm
chính trị nhưng nếu không có kĩ năng, không am hiểu thị trường, thấu hiểu các
nguyên tắc trên thị trường, cách quản lý cơ bản thì không thể làm được. Cách
chúng ta đảo lộn giữa hai nhiệm vụ này nên khiến tôi không yên tâm”, bà Chi Lan nói.
Theo bà Phạm Chi Lan, trong báo cáo 2035, các chuyên gia kiến nghị Việt
Nam chỉ nên duy trì 20 DNNN, lúc đó không cần đến “Siêu uỷ ban”. Lấy ví dụ
từ nước Pháp, bà Lan cho biết Pháp chỉ có hơn 20 DNNN nhưng mỗi DN đều
hoạt động rất đặc thù, có cơ chế, luật pháp riêng. Với Việt Nam, từ nay đến
năm 2035 là rất dài, nên cần một Uỷ ban như vậy.
Giới chuyên gia lên ti]ng về nguy cơ b^t ổn
Nhóm giáo sư, chuyên gia kinh t] của Đại học Harvard chuyên tư v^n
chính sách cho chính phủ Việt Nam vừa mới công bố bản thảo luận
chính sách: “Tình trạng b^t ổn vĩ mô - Nguyên nhân và phản ứng chính sách”.
Bản báo cáo này dựa trên nền tảng của nghiên cứu “Lựa chọn thành công”
mà nhóm tác giả đã tận tay đệ trình lên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Theo báo chí Viê„t Nam, phát biểu tại buổi tiếp giáo sư Thomas Vellery và các
thành viên trong Chương trình Việt Nam của Đại học Harvard (Hoa Kỳ) hôm
15.01 vừa qua ở Hà Nô„i ông Dũng mong đại học Harvard tiếp tục góp ý về
Đại học Harvard tại Hoa Kỳ ở Cambridge, tiểu bang Massachusetts
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Viê„t Nam.
Tuy nhiên, theo báo Diễn Đàn ra ở Paris, báo cáo quan trọng này đã không được báo chí trong nước đăng tải.
Báo cáo lần này xuất hiện trong bối cảnh kinh tế vĩ mô của Việt Nam có nhiều dấu hiệu bất ổn: lạm phát tăng-chỉ
số giá tiêu dùng tháng Hai đã tăng đến 3,65%, chính sách siết chặt tiền tệ được ban hành khiến nhiều ngân hàng
rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản buộc phải “lao đầu” vào cuộc đua tăng lãi suất, thị trường chứng khoán giảm giá kỷ lục…
Báo Tuổi Tr† cho hay, Giáo sư David Dapice - chuyên gia kinh tế trưởng chương trình Viê„t Nam tại Harvard đã
th‡ng thắn nhâ„n định sau buổi làm viê„c với Thủ tướng Viê„t Nam về các thách thức như thâm thủng mâ„u dịch, thị
trường bất đô„ng sản nóng, giá đất quá cao, lạm phát cao khiến tăng trưởng châ„m lại và thất nghiê„p nhiều lên. Kinh t] đang nóng
Chính sách tiền tệ còn phải gánh
một loạt áp lực khác chứ không đơn
Riêng về bản báo cáo vừa nói, văn bản này nhận định: “Nền kinh tế Việt Nam
thuần chỉ có Ngân hàng Nhà nước
đang nóng. Bằng chứng là lạm phát vẫn tiếp tục gia tăng, thâm hụt ngân sách quy]t là xong
và thương mại ngày càng lớn, và bong bóng giá bất động sản ngày càng phình to”.
Giáo sư David Dapice, đại học Harvard
Đánh giá cách điều hành nền kinh tế của chính phủ VN, các tác giả nhận định th‡ng thắn: “Hệ thống quản lý kinh
tế của Việt Nam chưa tương thích với một nền kinh tế hội nhập toàn cầu. Hiện nay, ba bộ và cơ quan ngang bộ 5
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
có trách nhiệm hoạch định chính sách vĩ mô là Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch- Đầu tư (Bộ KHĐT), và Ngân hàng
Nhà nước (NHNN) chưa phối hợp với nhau một cách hiệu quả”.
Nhấn mạnh đến vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong vấn đề giải quyết bài toán chống lạm phát các tác giả cho rằng:
“Ngân hàng Nhà nước không được phép quyết định lượng cung tiền và cung tín dụng như “thiên chức” vốn có
của các ngân hàng trung ương trên thế giới mà chỉ có thể sử dụng một số ít các công cụ (như tỷ lệ dự trữ bắt
buộc và các quyết định và chỉ thị có tính hành chính) không thực sự hữu hiệu khi phải đối diện với nguy cơ lạm phát”.
Các tác giả cũng chỉ ra điểm yếu của Bộ Tài chính là: “Thiếu chiến lược hữu hiệu về nguồn thu ngân sách; Không
kiểm soát được chi tiêu ngân sách; kiểm soát chi thường xuyên kém; chi
ngoài ngân sách quá nhiều”.
Còn điểm yếu của Bộ Kế hoạch Đầu tư là: “Phân bổ vốn và nguồn lực theo
các tiêu thức chính trị thay vì kinh tế”.
Báo cáo đề xuất năm khuyến nghị chính sách cho chính phủ VN: (1) Tăng
cường sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và ngân sách, (2)Xây dựng một
cơ quan hoạch định chính sách kinh tế cao cấp, (3) Tăng cường năng lực và
tính độc lập cho Ngân hàng Nhà nước, (4) Kiểm soát đầu tư công, (5) Giảm
Chi tiêu tại Viê„t Nam lên cao trong dịp Giáng
Sinh nhưng bị châ„m lại từ sau Tết Nguyên
bong bóng bất động sản. Đán vì lạm phát Tư bản thân hữu
Mô„t vấn đề khác được nêu ra là quan hê„ 'tư bản thân hữu' giữa các tâ„p đoàn kinh tế lớn ở Viê„t Nam, và hê„ thống chính trị.
Theo tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, phó tổng giám đốc Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, một trong những
người tham dự cuộc đối thoại vừa qua với Thủ tướng hồi giữa tháng Giêng thì "mối quan hệ này “sâu sắc” đến
mức chi phối đến các quyết sách của Nhà nước."
Trả lời báo Tuổi Tr†, ông nói:
"Các tập đoàn của chúng ta làm việc theo một cơ chế đặc biệt, báo cáo trực tiếp với Thủ tướng, “bỏ qua” các bộ
quản lý chuyên ngành...Điều nguy hiểm hơn là họ đang liên tục lập ra những công ty cổ phần con, phân tán tài
sản nhà nước về những công ty con, trong đó các vị lãnh đạo của tập đoàn nắm giữ một lượng cổ phiếu đáng kể
ở những công ty con mới này."
Bên cạnh nhiều ý kiến về cải cách, khuyến nghị đáng chú ý nhất trong báo cáo là đề xuất thành lập một cơ quan
thuộc dạng siêu bộ, được quyền hạn lớn để các thể quyết định các chính sách kinh tế vĩ mô.
Các tác giả đánh giá rằng “tại thời điểm hiện nay, thẩm quyền ra quyết định chính sách quá phân tán, và điều này
một mặt cản trở sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan hoạch định chính sách, mặt khác gây khó khăn cho các
nhà lãnh đạo cao nhất khi họ phải phản ứng một cách quyết đoán nếu khủng hoảng xảy ra”.
Từ đó, các tác giả khuyến nghị Việt Nam cần tập trung thẩm quyền hoạch định chính sách trong tay một cơ quan
hoạch định chính sách cao cấp duy nhất, một cơ quan có thẩm quyền cao hơn các bộ ban ngành, chính quyền
địa phương và cả các tập đoàn kinh tế nhà nước.
Cơ quan này sẽ là nơi thu hút các chuyên gia kinh tế hàng đầu của Việt Nam với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm,
và cất nhắc tuyệt đối dựa vào năng lực.
Thứ Ba, 24/10/2006, 07:32 (GMT+7)
Đại biểu Đặng Văn Thanh - Phó chủ nhiệm Uy ban kinh tế - ngân sách Quốc Hội: 6
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Tăng cường giám sát vốn đầu tư để tăng trưởng chất lượng
TT - Trong phiên thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội, nhiều đại biểu đã làm hội trường Quốc hội (QH)
“nóng” lên khi đặt vấn đề tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong sáu năm qua đã tăng liên tục (hiện nay chiếm đến
41% GDP), nhưng chất lượng tăng trưởng nảy sinh nhiều vấn đề bất cập.
Trao đổi với Tuổi Trẻ bên hành lang QH, đại biểu Đặng Văn Thanh (ảnh), phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế - ngân sách QH, cho biết:
- Thực tế vừa qua cho thấy tăng trưởng kinh tế của chúng ta tương đối cao, nhưng chưa tương xứng với mức
tăng trưởng của nguồn vốn. Trong tổng nguồn vốn đầu tư thì nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nguồn vốn của dân
doanh được sử dụng có hiệu quả và không dàn trải. Còn nguồn vốn nhà nước, gồm vốn ngân sách, vốn vay...
vẫn chưa thật sự tập trung, tình trạng thất thoát, lãng phí vẫn diễn ra.
Thực tế có thể thấy rất nhiều công trình xây dựng xong chưa kịp nghiệm thu đã bị hư hỏng, nhiều dự án đầu tư
kéo dài hay đã kết thúc khi đi vào sử dụng khai thác chưa có hiệu quả, kém hơn công suất thiết kế.
* Với nguồn vốn nhà nước còn thất thoát, lãng phí, dư luận cho rằng ngoài trách nhiệm chính của các cơ quan
quản lý nguồn vốn đầu tư, cơ quan thẩm định nguồn vốn cũng phải có trách nhiệm?
- Trên cơ sở kết quả của thanh tra, kiểm tra, đặc biệt là kết quả kiểm toán, đã chỉ ra tình hình thất thoát, lãng phí
ở một số dự án là hết sức nghiêm trọng. Sự thất thoát, lãng phí này diễn ra ở tất cả các khâu, từ khâu phân bổ
đến khâu bố trí vốn, sử dụng vốn, trong đó khâu sử dụng vốn lại thất thoát, lãng phí từ việc chuẩn bị dự án đầu
tư, khảo sát thiết kế, đến thi công công trình, nghiệm thu đưa vào sử dụng.
Ở không ít công trình được kiểm tra, số thất thoát, lãng phí hiện nay khoảng trên dưới 10% giá trị công trình, vì
vậy với một công trình vốn đầu tư lên đến hàng nghìn tỉ đồng thì thất thoát vài chục tỉ đồng là điều rất có thể.
Tuy nhiên, những thất thoát như vậy có thể “đong đếm” được, còn dạng thất thoát, lãng phí như chậm tiến độ,
chậm giải ngân, thay đổi mục tiêu đầu tư, qui hoạch “treo”... còn ảnh hưởng lớn hơn và gây thiệt hại không nhỏ
đối với nền kinh tế, đời sống nhân dân.
* Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém trong nền kinh tế đã được đề cập rất nhiều, nhưng việc khắc
phục yếu kém dường như vẫn còn quá chậm?
- Đúng là những yếu kém trên chúng ta đã phát hiện từ lâu, nhưng mức độ trầm trọng cũng như nguyên nhân
của những yếu kém này thì ngày càng bộc lộ rõ hơn, được nhận thức đầy đủ hơn và cần phải làm ngay nhiều
việc. Vì vậy, để chuẩn bị cho năm 2007, đặc biệt là chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 - 2010,
tôi tin với những đòi hỏi từ cuộc sống và những cơ hội mà chúng ta có được từ việc gia nhập Tổ chức Thương
mại thế giới (WTO), tình hình sẽ sớm được cải thiện.
Vấn đề lớn nhất hiện nay là nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy hành chính, bộ máy quản lý nhà
nước. Làm tốt được điều này sẽ giúp chúng ta sớm cải thiện được môi trường đầu tư kinh doanh tốt hơn, thông thoáng hơn.
Với thất thoát, lãng phí trong đầu tư sẽ khó ngăn chặn được trong một sớm một chiều. Vấn đề là phải siết chặt
hơn nữa kỷ luật, kỷ cương trong công tác qui hoạch, của bộ máy hành chính, tổ chức bộ máy và cán bộ công
chức theo hướng tinh gọn, rõ ràng về trách nhiệm, gắn quyền với trách nhiệm, đề cao vai trò và tính kỷ luật, kỷ
cương trong chấp hành pháp luật và trách nhiệm công vụ, xử lý thật nghiêm vi phạm. 7
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra ngay từ khâu lập dự án cho đến nghiệm thu, đưa công trình vào sử
dụng. QH, HĐND các cấp cần tăng cường hoạt động giám sát trong các dự án quan trọng và quyết định vốn đầu tư hằng năm
Theo dõi phiên họp QH trong ngày qua trang webVăn phòng QH cập nhật toàn bộ diễn biến kỳ họp QH lần 10
khóa XI trong ngày trên trang web Quốc hội (www.na.gov.vn). Đây là lần đầu tiên QH thực hiện việc cung cấp thông tin nhanh này.
Nội dung cập nhật gồm biên bản kỳ họp (ghi âm thảo luận tại hội trường), tường thuật các phát biểu, tranh luận,
góp ý của đại biểu QH tại kỳ họp, thông cáo các kỳ họp, văn kiện các kỳ họp, trả lời chất vấn...Tại trang web
này, độc giả có thể theo dõi toàn bộ phiên họp trong ngày chỉ 3-4 giờ sau khi phiên họp kết thúc. Đ.Đ. .
2./ DNNN phải đổi mới để giữ vững vai trò chủ đạo11:14' 08/10/2006 (GMT+7)
(VietNamNet) - Phát biểu kết luận tại Hội nghị về sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước (DNNN) giai
đoạn 2006 - 2010. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: DNNN là lực lượng nòng cốt và vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế. Chỉ có sắp xếp và đổi mới, DNNN mới mạnh lên và phát huy hiệu quả hơn nữa
trong điều kiện cơ chế thị trường và hội nhập cạnh tranh.
Khẳng định vai trò của DNNN
Thủ tướng chỉ rõ, nước ta hiện có khoảng 245 ngàn DN thuộc nhiều thành phần kinh tế. Trong số hơn 5
ngàn DNNN từ đầu giai đoạn 2001-2005, chúng ta đã cổ phần hóa hơn 3 ngàn, chỉ còn lại hơn 2 ngàn DN
100% vốn Nhà nước nhưng vẫn chiếm 40% GDP và hơn 50% số thu ngân sách. Số lượng ít nhưng vai trò
DNNN vẫn rất quan trọng. Quá trình phát triển kinh tế, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đòi hỏi DNNN phải thực
sự mạnh, hiệu quả để làm tốt vai trò chủ lực.
Muốn mạnh và hiệu quả hơn trong điều kiện cơ chế thị trường và hội nhập cạnh tranh, phải sắp xếp đổi mới
DNNN. Chúng ta đã đi được 1 chặng đường khá dài, từ hơn 12 ngàn DNNN trước đây sắp xếp lại chỉ còn 5.600
DN khi bước vào giai đoạn 2001 - 2005. Tuy giảm số lượng, nhưng DNNN vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng,
bảo đảm dịch vụ thiết yếu cho nền kinh tế. Trọng tâm 5 năm tới: CPH
Thủ tướng nhấn mạnh, trọng tâm giai đoạn 2006-2010 là CPH để cơ bản hoàn thành sắp xếp đổi mới DNNN.
Theo dự kiến chúng ta sẽ CPH 79 trong số 105 tổng công ty lớn, và 1.500 trong số 2176 DNNN hiện có. Số
còn lại là DN công ích, nông lâm trường... CPH được tiến hành với tinh thần tiến công nhưng phải có bước đi
chặt chẽ và vững chắc. Quá trình sắp xếp và đổi mới DNNN phải đặt trong cơ chế thị trường, bảo đảm DNNN
vừa có hiệu quả kinh tế vừa có khả năng điều tiết kinh tế vĩ mô, đảm bảo ổn định nền kinh tế.
Hết sức hạn chế việc chuyển DNNN sang công ty TNHH 1 thành viên, nếu CPH được dứt khoát CPH, kể cả
những DN đã chuyển sang TNHH 1 thành viên cũng cần xem xét.
Để đẩy nhanh tiến trình sắp xếp CPH, Thủ tướng đề nghị các tỉnh và bộ ngành cần tiếp tục cụ thể hoá các luật,
nghị định, thông tư theo tinh thần Nghị quyết Đại hội 10 về sắp xếp và đổi mới DN. Ban chỉ đạo Đổi mới và
phát triển DN và các bộ ngành và địa phương cần tiếp tục hoàn chỉnh chương trình hành động của mình.
Các Bộ ngành và địa phương cần tập trung thảo luận dự thảo Quyết định mới của Thủ tướng Chính phủ để thay
thế Quyết định 155/QĐ-TTg. Thủ tướng Chính phủ cũng sẽ có chỉ thị về vấn đề sắp xếp và đổi mới DN, trong
đó chỉ rõ thời gian cụ thể CPH, sắp xếp từng đơn vị một.
Một số định hướng cụ thể
Từ kết quả đổi mới DNNN trong thời gian qua và yêu cầu của giai đoạn tới, Thủ tướng lưu ý các các cơ quan
cần tập trung rà soát hoàn thiện thể chế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội 10 và Luật DN, Luật Đất đai. Luật đã 8
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
được ban hành, những điều gì còn vướng mắc cần phải tiếp tục sửa đổi đổi. Điều này hết sức quan trọng vì
quyết định đến tiến trình sắp xếp đổi mới DNNN.
Về đất đai: Trong quá trình xây dựng thể chế chú ý đến vấn đề đất đai khi CPH, các quy định phải thật cụ thể để
vừa đẩy nhanh CPH vừa ngăn ngừa tiêu cực lợi dụng chính sách.
Thủ tướng đề cập đến việc đưa giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị DN để CPH. Quá trình CPH hơn 3000 DN
trước đây chưa thực hiện việc này, nay phải làm thí điểm chật chẽ. Bộ Tài chính và các bộ ngành cần có hướng
dẫn đất đai trong CPH và sắp xếp DN vừa tạo điều kiện cho DN phát triển nhưng không để thất thoát trong lĩnh
vực này. Cụ thể, Thủ tướng đưa ra hai gợi ý: đưa giá trị sử dụng đất vào CPH theo hình thức giao, bán đấu giá
trên thị trường hoặc thu tiền thuê theo giá trị do UBND tỉnh thành quyết định.
Về định giá DN: Định giá DN dứt khoát phải theo nguyên tắc thị trường, từ đó tiến hành đấu giá, gắn liền với
việc niêm yết trên thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó, trong CPH cũng phải tính tới lợi ích người lao động.
Đề nghị giảm 40% cho lao động so với giá đấu giá là thoả đáng. Tuy nhiên, việc giảm giá đối với cổ đông chiến
lược cần tính toán lại.
Về minh bạch tài chính: Trước khi CPH nhất thiết phải thuê kiểm toán độc lập hay kiểm toán quốc tế. Đối với
các Tổng công ty hay Tập đoàn chưa tiến hành CPH thì phải khẩn trương CPH các công ty thành viên.
Việc chuyển sang mô hình công ty mẹ - con, cần phải rút kinh nghiệm từ thực tiễn và có những bước đi vững
chắc. Chủ tịch HĐQT sẽ là người phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước.
Về niêm yết trên sàn chứng khoán: Thủ tướng nhắc nhở, việc CPH phải gắn liền với niêm yết trên sàn chứng
khoán. Hiện nay, chúng ta đã có hơn 60 DN trên sàn chứng khoán và đã chứng minh hướng đi đúng đắn này.
Những năm tới phải thúc đẩy việc này một cách mạnh mẽ hơn.
Bên cạnh đó, Thủ tướng chỉ đạo các Bộ ngành có liên quan rà soát và tính toán về các vấn đề như: tỷ lệ nhà đầu
tư nước ngoài tham gia CPH, việc tính toán thương hiệu trong CPH, quy hoạch và CPH các nông lâm trường...
để bảo đảm phù hợp với thực tế trong nước, cũng như với yêu cầu của kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập.
3./ Viê \t Nam tụt hạng về tính cạnh tranh
Viê \t Nam đ]ng ở vị trí th] 77, tụt ba hạng so với năm ngoái, trong bảng xếp hạng về tính cạnh tranh
được Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố hôm nay.
Hoa Kỳ năm ngoái đứng số mô Š
t, thì nay tụt xuống số sáu, nhường ngôi đầu cho Thụy Sĩ, tiếp theo là Phần Lan,
Thụy Điển, Đan Mạch và Singapore.
Trong báo cáo công bố hôm thứ Ba, Diễn đàn Kinh tế Thế giới nói những cam kết chi tiêu quốc phòng trong và
ngoài nước của Washington, kế hoạch giảm tiếp thuế và phí tổn lâu dài từ quỹ hưu bổng và y tế đang tạo nên lo
ngại tài chính cho Hoa Kỳ, nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Tổ chức quốc tế đă Š
t trụ sở ở Geneva cảnh báo nếu kinh tế Mỹ bị ảnh hưởng tiêu cực, kinh tế toàn cầu cũng sẽ chịu tác đô Šng. Nhâ Š
t Bản, Đức, Hà Lan và Anh là bốn nước còn lại nằm trong tốp 10 quốc gia có nền kinh tế cạnh tranh nhất năm 2006.
Nói về Thụy Sĩ, Diễn đàn Kinh tế Thế giới nhâ Š
n định cơ sở hạ tầng tốt, nghiên cứu khoa học phong phú, bảo vê Š sở hữu trí tuê Š
và mô Št văn hóa kinh doanh sâu sắc đã giúp nước này từ vị trí thứ tư năm 2005 vọt lên số mô Št năm nay.
Giống như Thụy Sĩ, các nước Bắc Âu được đánh giá cao nhờ có các cơ cấu tổ chức mạnh, giáo dục tốt, nhưng
bị chê vì thiếu sự linh hoạt trong thị trường lao đô Šng. Trong các quốc gia thuô Š c Liên hiê Š
p châu Âu EU, có Italy bị tụt hạng, từ 38 xuống còn 42, vì các yếu kém định chế và kinh tế vĩ mô. 9
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN Chín cô \t trụ
Phúc trình năm nay xem xét các nền kinh tế dựa trên chín cô Š
t trụ: định chế, cơ sở hạ tầng, kinh tế vĩ mô, y tế và
giáo dục cấp mô Št, giáo dục đại học, hiê Š
u quả thị trường, s•n sàng về công nghê Š
, sự thông hiểu về quản lý kinh doanh, và sáng tạo.
Ngoài chín cô Št trụ này, bản phúc trình cũng lưu ý tới trình đô Š phát triển khác nhau của các nước. Ví dụ, những
yếu tố tác đô Šng tới năng suất ở Thụy Điển dĩ nhiên khác các yếu tố tác đô Šng năng suất ở Ghana.
Vì thế, Chỉ số Cạnh tranh Toàn cầu (GCI) lại tách các nước thành ba giai đoạn phát triển.
Ở giai đoạn thứ nhất, tính cạnh tranh của các nước phụ thuô Šc vào bốn cô Š
t trụ đầu tiên: định chế, cơ sở hạ tầng,
kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục cấp mô Š t.
Giai đoạn phát triển tiếp theo tính đến ba cô Št trụ: giáo dục đại học, hiê Š
u quả thị trường, s•n sàng về công nghê Š .
Và giai đoạn phát triển cao nhất gồm hai cô Š
t trụ cuối cùng: sự thông hiểu về quản lý kinh doanh, và sáng tạo. Mă Š c dù chín cô Š
t trụ đều đáng được các nước để ý, nhưng tầm quan trọng của từng yếu tố lại phụ thuô Šc vào mỗi
giai đoạn phát triển của từng nước. Có thể dễ nhâ Š n thấy rằng Viê Š
t Nam đang ở giai đoạn phát triển thứ nhất. Trong nhóm chỉ số này, định chế của Viê Š
t Nam xếp thứ 74, cơ sở hạ tầng 83, kinh tế vĩ mô 53, y tế và giáo dục cấp mô Št 56.
Về giáo dục đại học, Viê Š t Nam xếp thứ 90, hiê Š
u quả thị trường 73, s•n sàng về công nghê Š 85.
Ở hai cô Št trụ còn lại, Viê Š
t Nam xếp thứ 86 về sự thông hiểu kinh doanh, và sáng tạo xếp thứ 75. Tổng kết lại, Viê Š
t Nam năm nay xếp thứ 77 trên tổng số 125 nước.
Trung Quốc và Nga tụt hạng
Báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm nay dựa trên khảo sát đối với 11.000 doanh nhân quốc tế.
Nga tụt chín hạng, chỉ đứng thứ 62 năm nay, vì khu vực tư nhân không tin tưởng vào sự đô Šc lâ Š p của ngành tư pháp.
Thứ hạng của Trung Quốc cũng giảm, từ 48 xuống còn 54.
Báo cáo nói thành tích của Trung Quốc năm nay tốt xấu lẫn lô Šn. Tăng trưởng cao, lạm phát thấp và tỉ lê Š tiết kiê Š
m cao, bị bù trừ bởi lo ngại về hê Š
thống ngân hàng, tỉ lê Š
theo học trung học và đại học cũng thấp hơn các nước phát triển.
Bản phúc trình kêu gọi Trung Quốc giảm bớt gánh nă Š
ng kiểm soát của nhà nước, tăng cường tính đô Šc lâ Š p của tư pháp và bảo vê Š sở hữu trí tuê Š .
Mô Št thế lực khác tại châu Á, Ấn Đô Š, lên hai hạng, đứng thứ 43.
Tại châu Mỹ Latin, Chile xếp hạng cao nhất, ở vị trí 27, trong lúc Brazil đứng thứ 66, tụt chín hạng. Thuâ Š
n lợi nhờ giá dầu khiến giới kinh doanh tăng thêm tin tưởng vào các nước tại Trung Đông: Tiểu vương
quốc •râ Šp thống nhất xếp thứ 32, và Qatar, 38.
Xếp cuối bảng là các nước chủ yếu ở vùng hạ Sahara của châu Phi: Burkina Faso, Malawi, Mali, Zimbabwe,
Ethiopia, Mozambique, Đông Timor, Chad, Burundi và Angola.
4./ Đánh giá khả năng quản la quốc gia 10
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Nghiên c]u mới của Ngân hàng Thế giới (World Bank) về khả năng quản la quốc gia tại hơn 200 nước
cho thấy Viê \t Nam ở hạng thấp khi so sánh với các chính phủ khác.
Báo cáo "Governance Matters 2006" của World Bank xem xét sáu khía cạnh về quản lý đất nước tại 213 nước từ 1996 đến cuối 2005.
Sáu khía cạnh được xem xét là: Tiếng nAi và trách nhiê C
m giải trình: đo lường nhân quyền, quyền dân sự và quyền chính trị.
En đFnh chính trF và vGng bạo lực: khả năng bạo lực đe dọa thay đổi trong chính phủ, tính cả khủng bố. Hiê C
u năng chính phủ: khả năng của bô Š máy hành chính và dịch vụ công.
ChJt lưKng quản lL: đo lường tần suất của các chính sách không thân thiê Š n với thị trường. Thi hành luâ C
t pháp: chất lượng của viê Šc thực thi hợp đồng, cảnh sát, tòa án, trong đó tính đến sự đô Šc lâ Š p của ngành tư pháp.
Kiểm soát tham nhNng: lợi dụng quyền hạn để tư lợi, tính cả tham nhũng lớn và cò con.
dn định chính trị, nhưng kem về nhân quyền Báo cáo cho thấy Viê Š
t Nam đạt điểm cao nhất về ổn định chính trị, đạt 59 trên thang điểm 100 của World Bank.
Bảng xếp hạng tính theo phần trăm của World Bank đồng nghĩa chính trị của Viê Š
t Nam ổn định hơn 59% các
nước khác trên thế giới (chỉ kém 41% trong 213 nước được khảo sát) Nhưng Viê Š
t Nam bị điểm rất thấp trong khía cạnh "Tiếng nói và trách nhiê Š
m giải trình", chỉ đạt 7.7/100, đồng
nghĩa 92.3% trong các nước được khảo sát có nhân quyền và quyền dân sự tốt hơn Viê Š t Nam.
Khi phân tích kỹ hơn, điểm về nhân quyền, quyền dân sự và quyền chính trị tại Viê Š
t Nam đạt cao nhất là năm
1996 và 2002 (cùng đạt 10.6), và từ từ tụt: 1998 (3.4), 2000 (5.8), 2003 (8.2), 2004 (8.7) và chỉ đạt 7.7 vào năm 2005. Về hiê Š
u năng của chính phủ, điểm của Viê Š
t Nam năm 2005 là 45, đồng nghĩa 55% chính phủ các nước được khảo sát có hiê Š
u năng tốt hơn chính phủ Viê Š t Nam.
Báo cáo của World Bank cho thấy hiê Š
u năng của chính phủ Viê Š
t Nam, trong 10 năm qua, không có sự cải thiê Š n
đáng kể. Điểm cao nhất vẫn là năm 1996 (51), 1998 (48.8), 2000 (41.1), 2002 (46.9), 2003 (46.4), 2004 (42.6).
Điểm về chất lượng quản lý của Viê Š
t Nam năm 2005 cũng rất thấp, chỉ đạt 25.7%.
Trong khía cạnh pháp luâ Š t, điểm của Viê Š
t Nam năm 2005 là 42. Đây là điểm khá cao khi so với các nước trong
vùng Đông Nam Á, kém mô Št chút so với Thái Lan (56.5), nhưng cao hơn Philippines (38.6), Campuchia (11.1), Lào (11.6).
Có lẽ ít ai ngạc nhiên khi thấy điểm về khả năng kiểm soát tham nhũng của Viê Š
t Nam thấp, đạt 26.6 vào năm 2005 - như vâ Š
y, hơn 70% các nước trên thế giới "sạch" hơn Viê Š t Nam.
Điểm về tham nhũng của Viê Š
t Nam đạt tiến bô Š nhất vào năm 2002 (31.4) và 2003 (31.4), nhưng nhìn chung từ
10 năm qua vẫn bình bình như thế: 1996 (26.8), 1998 (27), 2000 (25), 2004 (23).
Đọc báo cáo mới nhất của World Bank, người ta thấy rằng Viê Š
t Nam ngày hôm nay đã có những tiến bô Š và phát
triển hơn so với hai thâ Š p niên trước. 11
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Nhưng nhiều nước khác cũng tiến bô Š và làm thế nào để Viê Š
t Nam theo kịp các nước phát triển - chứ không phải
chỉ tự so sánh với quá khứ của mình - là mô Š t thách thức lớn.
Báo cáo của World Bank dựa trên trả lời của 120.000 công dân, doanh nghiê Š
p và chuyên gia, thông qua các
khảo sát của 25 tổ chức trên thế giới.
5./ Lại bàn về chất lượng tăng trưởng và đầu tư 19:54' 20/10/2005 (GMT+7)
Hiện nay chúng ta nói lạm phát 5% hay 6%, nhưng ở thời điểm này, con số này dựa trên cơ sở
nào thì còn phải thảo luận thêm. Trong bối cảnh đó, huy động ngắn hạn cho mục tiêu dài hạn
là một hiện tượng r^t nguy hiểm.
Hai hôm nay, QH đang thảo luận về báo cáo kinh tế xã hội của Chính phủ mà một trong những nội
dung quan trọng nhất là chất lượng tăng trưởng và đầu tư. Đây không phải là vấn đề mới nhưng
cũng không lúc nào cũ, nhất là đối với những quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Nhân dịp này,
chúng ta nên xem lại những khái niệm liên quan và hướng tới một cách nhìn bình tĩnh hơn về những vấn đề nóng này. Những tranh cãi
Khái niệm chất lượng tăng trưởng, đối với nhiều người, có v† giống như một bóng ma. Ai cũng bảo
thấy nhưng không ai có thể diễn tả cụ thể như thế nào. Nếu không biết thước đo là gì, thì sao có thể
nói chính xác là chất lượng tăng trưởng của ta đang ở đâu?
Nhiều người muốn dùng đến chỉ số ICOR (hệ số giữa mức tăng của đầu vào và đầu ra). Ví dụ như
trong một năm, tổng đầu tư của chúng ta bằng 40% thu nhập quốc dân (GDP), tăng trưởng GDP đạt
8%, nghĩa là chỉ số ICOR bằng 5. Tuy nhiên, chỉ số này nói lên chất lượng của đầu tư chứ không
phải chất lượng của tăng trưởng.
Ở một thái cực khác, chúng ta lại nói đến tăng trưởng bền vững. Khái niệm này bao gồm sự bền
vững về xã hội, về kinh tế, môi trường v.v...
Còn các quan điểm trung dung thì rất nhiều. Có người cho rằng xem xét chất lượng phải dựa vào chỉ
số phát triển con người (HDI). Có người lại muốn nói đến các vấn đề xã hội kèm theo. Có quan điểm
nói chất lượng là phải giữ gìn được bản sắc. Báo cáo chất lượng tăng trưởng năm 1997 của
Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) còn kèm theo vấn đề tạo việc làm cho người dân.
Các khái niệm trên thực ra rất mông lung do phải bao hàm quá nhiều chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu
khó có thể mà lượng hóa được. Có thể nêu số liệu về tăng trưởng, có thể cảm nhận về chất lượng
cuộc sống, nhưng chất lượng tăng trưởng thì gần như vẫn là thứ mơ hồ.
Nhiều khi chúng ta nói đến chất lượng tăng trưởng mà không hiểu mình đang nói theo nghĩa hẹp hay
nghĩa rộng. Cũng giống như khái niệm khả năng cạnh tranh, khái niệm chất lượng tăng trưởng hiện
còn đang gây ra nhiều tranh cãi.
Đâu là tiêu chí quan trọng?
Để đánh giá chất lượng tăng trưởng, cần phải giới hạn những tiêu chí trong phạm vi cần thiết, mặc
dù điều này có thể làm giảm độ chính xác của đánh giá. Chúng ta có thói quen đặt ra quá nhiều tiêu
chí, để nói rằng tăng trưởng thế nào mà nạn thất nghiệp không giảm? Rồi tăng trưởng mà vẫn không
ngăn được lạm phát v.v... Ngay cả mục tiêu mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ cũng đề ra hàng trăm
tiêu chí, không ai xem hết được.
Việc đơn giản hóa cũng có hai trường phái khác nhau. Một bên chú trọng vào số lượng, nghĩa là tốc
độ tăng trưởng. Bến kia coi trọng những chỉ tiêu đi kèm với tăng trưởng, ch‡ng hạn như công ăn việc
làm, lạm phát, cân bằng thu nhập v.v... Những người theo trường phái thứ nhất sẽ tập trung đầu tư
vào một số đầu tàu và cho phép sự phân hóa giầu nghèo diễn ra nhanh chóng. Họ chấp nhận khi
nào đủ lực sẽ quay trở lại với chất lượng và sự bền vững. 12
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Có phải chúng ta đang chú trọng vào tốc độ? Mức tăng trưởng gần đây của chúng ta là từ 5% đến
7% mỗi năm. Con số này chưa phải ghê gớm lắm nếu so sánh với tốc độ mười mấy phần trăm của
nhiều nước trong những năm 70. Nhờ vào dầu mỏ, Iran thậm chí đã từng tăng trưởng đến 25%. Tăng trưởng công bằng
Chúng ta không nhất thiết phải lựa chọn sự tăng trưởng theo kiểu đánh đổi giữa tốc độ và công
bằng. Trước đây đã có thời kỳ chúng ta quá chú trọng đến công bằng, dùng chính sách thuế để lấy
của người giàu chia cho người nghèo. Hậu quả là người nghèo thì ỷ lại mà những người giàu thì sẽ
mất động lực để phấn đấu.
Rõ ràng, như vậy là đánh đổi và cùng kéo xuống. Điều khó khăn là phải hiểu được trong điều kiện
nào thì hai mục tiêu trên mới song hành với nhau, cũng như đến thời điểm nào thì xảy ra sự mất cân bằng về hiệu quả. Tăng trưởng bền vững
Lâu nay ta vẫn nói tốc độ tăng trưởng cao. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là duy trì tốc độ này được bao
lâu và nguồn tăng trưởng ấy do đâu mà có. Để phân tích, có lẽ chỉ nên tập trung vào hai vấn đề mấu
chốt này thôi, chưa cần phải đi quá xa.
Không thể tăng trưởng nếu không đầu tư. Gần đây chúng ta nói nhiều về tình trạng đầu tư dàn trải.
Tuy nhiên cũng phải hiểu rõ khái niệm dàn trải. Nếu dàn trải để giải quyết mục tiêu công bằng thì sẽ
không mang lại tăng trưởng cao và kết quả cũng không giải quyết được các vấn đề xã hội. Mặt khác,
nếu đầu tư tập trung nhưng hầu hết lại chỉ tập trung vào những lĩnh vực không tốt thì sự tập trung ấy
cũng không có ích lợi nhiều lắm.
Quan trọng nhất là xét quy trình của đầu tư sao cho thật sự hiệu quả. Ví dụ như chương trình đánh
bắt xa bờ. Thay vì đầu tư hàng ngàn tỷ cho các tàu đánh bắt, ta có thể dành một phần để xây cơ sở
chế biến hay các dịch vụ phụ trợ khác. Đầu tư tất cho tàu đánh bắt xa bờ mà không có cơ sở chế
biến xử lý thì rõ ràng mục tiêu lớn cũng hỏng, mục tiêu nhỏ cũng hỏng luôn.
Đầu tu lớn hay nhỏ, không quan trọng
Thực ra khó xác định những khái niệm thế nào là tập trung hay dàn trải, thế nào là đầu tư lớn hay
nhỏ. Tiêu chí của những người làm doanh nghiệp rất rõ ràng: đó là hiệu quả. Chúng ta có coi trọng
một doanh nghiệp khi họ nói "Tôi chỉ buôn muối sang Đài Loan"? Thực ra, tốc độ tăng trưởng có
được như hiện nay hầu hết nhờ vào những người làm ăn nhỏ. Họ làm tăng năng suất lao động, làm
giảm nhập siêu, lại giải quyết việc làm cho nhiều người. Đầu tư cho họ không thể coi là đầu tư dàn trải.
Đầu tư ngắn hay dài, lại là điều quan trọng
Vì muốn đẩy mục tiêu tăng trưởng bằng mọi giá, nên có thể xảy ra vấn đề nguy hiểm là vay vốn để
đầu tư. Việc vay vốn chỉ có hạn mức, nhưng yêu cầu thực tế thường cao hơn.
Hiện nay chúng ta nói lạm phát 5% hay 6%, nhưng ở thời điểm này, con số này dựa trên cơ sở nào
thì còn phải thảo luận thêm. Trong bối cảnh đó, huy động ngắn hạn cho mục tiêu dài hạn là một hiện tượng rất nguy hiểm.
6./ Hiệu suất sử dụng vốn đã thấp, nay lại có chiều hướng giảm. Năm 2004, cứ 4,7 đồng vốn
tạo ra 1 đồng lời, còn năm nay, 5 đồng vốn mới sinh 1 đồng lời. ĐB Lê Quốc Dung (Thái Bình) phát biểu sáng 20/10.
3/4 đầu tàu của nền kinh t] đang... ì ạch
Theo ĐB Lê Quốc Dung: Tăng trưởng kinh tế cao (năm 2005 ước là 8,4%) chủ yếu cho tăng vốn đầu
tư nhưng hiệu suất sử dụng vốn (ICOR) thấp, nay lại có chiều hướng giảm. 13
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Ông cho biết thêm: Nếu ICOR năm 2004 là 4,7/1 (4,7 đồng vốn tạo ra 1 đồng lời), thì năm 2005 là
5/1, 5 đồng vốn mới sinh ra một đồng lời. Năng suất lao động cũng thấp so với nhiều nước trong khu
vực (thấp hơn Thái Lan 6,5 lần).
Giá trị sản phẩm công nghiệp tăng 16,7% nhưng thực chất giá trị gia tăng chỉ tăng 10,2%, nông
nghiệp tương ứng là 6% và 4,1%.
Nguồn lực của nền kinh tế là ''đầu tầu'' kinh tế dân doanh đang chuyển mình mạnh mẽ nhất. Còn ba
''đầu tầu'' khác đang rất ì ạch là DNNN, khu vực sự nghiệp và cải cách hành chính.
DNNN có tình trạng ỉ lại, thua lỗ kéo dài. Liều thuốc cổ phần hoá ''ngấm'' rất chậm, số vốn của nhà
nước được cổ phần hoá chỉ chiếm 9%. Nhiều doanh nghiệp muốn duy trì tỷ lệ vốn nhà nước 51% để làm chỗ dựa.
Khu vực sự nghiệp như y tế, giáo dục, khoa học - kỹ thuật cũng ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng bao cấp.
ĐB Dung lấy dẫn chứng, trong số 24 viện khoa học chuyển đổi thì chỉ một xin ở với Tổng công ty,
còn lại 23 viện muốn nương nhờ các bộ. ''Lĩnh vực sự nghiệp rất cần khoán 10 như nông nghiệp'', ông nói.
''Đầu tầu'' thứ tư là bộ máy nhà nước với cải cách hành chính chậm chạp, tệ tham nhũng, gây phiền
hà của bộ phận công chức, thất thoát, lãng phí trong sử dụng tiền và tài sản của nhà nước đang là
lực cản lớn đối với tăng trưởng kinh tế.
Để truyền động lực các ''đầu tầu'' trên, theo ĐB Dung, ''tổ chức, chỉ đạo là vấn đề quan trọng''.
Ông kiến nghị Chính phủ: ''Phải rà soát, đánh giá sử dụng vốn đầu tư của nhà nước, vốn viện trợ.
Quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm để không xẩy ra việc cạnh tranh, xé rào trong đầu tư. Làm rõ
nguyên nhân suất đầu tư của ta thấp hơn nhiều các nước trong khu vực?''.
Chưa nên tăng học phí trong lúc giá cả leo thang
ĐB Ngô Thị Minh (Quảng Ninh) chuyển tải nguyện vọng của cử tri lên diễn đàn Quốc hội, đề nghị
không tăng học phí, viện phí trong lúc giá cả leo thanh như hiện nay. ''Giá cả tăng đã là gánh nặng
với mỗi gia đình, nay tăng học phí, viện phí, chi tiêu càng vất vả hơn'', ĐB Minh bày tỏ.
Ngoài ra, theo bà, tăng học phí, viện phí còn thể hiện sự yếu kém trong xã hội hoá giáo dục và y tế.
Nếu mở rộng cho các thành phần kinh tế tham gia, thì trường học, bệnh viện của Nhà nước có điều
kiện lo cho đối tượng chính sách và người nghèo.
Còn trong giáo dục, cần tạo điều kiện thành lập trường tư thục bằng chính sách ưu đãi thuê đất, vay
vốn, hoặc thu hút vốn doanh nghiệp đầu tư vào các trường...
Chiều nay, Quốc hội tiếp tục thảo luận về kinh tế, xã hội.
Kinh tế VN sẽ tăng trưởng 7,8% trong năm nay
Đó là dự đoán được đưa ra trong bản "Cập nhật triển vọng phát triển châu Á năm 2006" vừa được Ngân
hàng Phát triển châu Á (ADB) công bố sáng nay. Tăng trưởng trong lĩnh vực tư nhân, tiêu dùng và xuất
khẩu là những động lực chính thúc đẩy sự phát triển của VN.
Theo đánh giá của ADB, triển vọng kinh tế của VN trong ngắn hạn và trung hạn rất tích cực. Đặc biệt, việc trở
thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) sẽ là nhân tố quan trọng giúp thu hút đầu tư trong
năm tới. Dự báo, đầu tư sẽ tăng khoảng 15%, chiếm 38% GDP trong năm 2007. Công nghiệp và dịch vụ tiếp
tục là động lực chính của tăng trưởng kinh tế với tốc độ lần lượt vào khoảng 10,4% và 8%. 14
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Việc thực hiện các cam kết liên quan đến Khu vực mậu dịch tự do ASEAN hay các cam kết WTO sẽ mang lại
nhiều cơ hội thúc đẩy xuất khẩu cho VN trong năm tới. Theo đó, ADB dự đoán, xuất khẩu sẽ tăng khoảng 18%,
nhanh hơn so với mức tăng nhập khẩu và sẽ giúp thu hẹp thâm hụt mậu dịch của VN.
Ngoài ra, luồng kiều hối được dự báo tăng lên cũng sẽ góp phần tạo thặng dư thương mại và gia tăng dự trữ
ngoại hối cho quốc gia. Bản cập nhật dự đoán tăng trưởng kinh tế của VN trong năm 2007 sẽ đạt khoảng 8%.
Theo đánh giá của ADB, giá cả các mặt hàng thực phẩm, vật liệu xây dựng và giao thông vận chuyển tăng cao
đã góp phần làm gia tăng chỉ số lạm phát của năm nay. Trong năm 2007, lạm phát sẽ tiếp tục chịu áp lực gia
tăng và ở mức khoảng 8,3%.
Trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2006-2010, VN đặt mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức 7,5-8%
và tăng thu nhập bình quân đầu người lên mức 1.100 USD. Theo ADB, mục tiêu này không phải là quá tham
vọng và có thể đạt được, bởi hiện VN đang có đà tăng trưởng, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư và kinh tế tư nhân.
Môi trường kinh doanh tụt hạng
Báo cáo Môi trường kinh doanh 2007 do Ngân hàng Thế giới công bố sáng nay cho thấy, xếp hạng về môi
trường kinh doanh của VN đã bị tụt 6 bậc so với năm ngoái, chỉ xếp thứ 104 trên tổng số 175 nền kinh tế thế giới.
Có tất cả 10 chỉ số để đánh giá môi trường kinh doanh là: Thành lập doanh nghiệp, cấp giấy phép, tuyển dụng
và sa thải lao động, đăng ký tài sản, vay vốn, bảo vệ nhà đầu tư, thương mại quốc tế, đóng thuế, thực thị hợp
đồng và giải thể doanh nghiệp.
Bà Caralee McLish - Giám đốc chương trình dự án Báo cáo môi trường kinh doanh nhận xét, VN là một trong
những nền kinh tế có cải cách mạnh mẽ về rút ngắn thời gian cấp phép, linh hoạt trong các quy định lao động.
Thời gian cấp phép xây dựng đã nhanh hơn, còn 113 ngày so với 143 ngày trước đây. Chi phí cấp phép kinh
doanh cũng giảm từ 64,1% xuống còn 56,4% tổng thu nhập trên đầu người.
Tuy nhiên, VN vẫn chưa thành công trong việc thu hẹp khoảng cách với các quốc gia đứng đầu ASEAN và vẫn
là một nơi còn nhiều thử thách cho hoạt động kinh doanh.
Cụ thể, ở VN vẫn thiếu sự bảo vệ các cổ đông thiểu số chống lại sự lạm quyền của giám đốc trong sử dụng tài
sản công ty. Trong tiêu chí này, VN chỉ xếp hạng 170 trong số 175 quốc gia. Tại VN hầu như chưa có khung
pháp lý cũng như các thông lệ quy định trách nhiệm của giám đốc hay thành viên hội đồng quản trị hoặc quyền
khiếu kiện của các cổ đông thiểu số.
Việc giải thể doanh nghiệp cũng còn gặp nhiều khó khăn. Thời gian trung bình để hoàn thành thủ tục phá sản
doanh nghiệp ở VN là 5 năm và mức thu hồi tài sản chỉ được 18%, xếp thứ 116 trong số 175 quốc gia.
Trong lĩnh vực đóng thuế, VN đứng thứ 120 trong số 175 quốc gia. Các doanh nghiệp thường mất trung bình
1.050 tiếng đồng hồ, tương đương với 130 ngày làm việc để hoàn tất các thủ tục liên quan đến đóng thuế. Báo
cáo cũng cho biết con số tổng hợp về số thuế thực sự phải đóng là 41,6%, cao hơn nhiều so với mức thuế thu
nhập doanh nghiệp chính thức 28%.
Việc thành lập doanh nghiệp cũng vẫn phức tạp và tốn kém hơn nhiều quốc gia khác trong khu vực như
Singapore, Thái Lan và Malaysia. Để thành lập một doanh nghiệp tư nhân ở VN phải qua 11 bước và hơn 50
ngày - chưa có cải tiền gì so với năm ngoái. Tuy nhiên, điều ghi nhận là chi phí thành lập doanh nghiệp đã giảm
từ 50% xuống 44,5% tổn thu nhập quốc dân tính trên đầu người.
Môi trường kinh doanh bị tụt hạng vì thuế
Theo báo cáo xếp hạng môi trường kinh doanh năm 2006, VN bị tụt 6 bậc so với năm ngoái. Đánh giá
này ít nhiều tác động đến tâm la các nhà đầu tư khi rót vốn vào VN. Dưới đây là a kiến bà Phạm Chi
Lan, từng là thành viên Ban nghiên c]u của Thủ tướng về vấn đề này. 15
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Khó có thể so sánh một cách tuyệt đối về môi trường kinh doanh mỗi nước bởi những điều kiện và xuất phát
điểm khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta cần xem xét từng chỉ số, tự rọi lại mình xem "người ta" đánh giá về mình
đúng hay chưa đúng. Đúng để làm tốt hơn những điều được xếp hạng cao và khắc phục những điều chưa làm
tốt. Chưa đúng cũng là để làm sao người ngoài hiểu đúng những gì chúng ta đang làm.
Riêng việc đánh tụt hạng VN về lĩnh vực đóng thuế có lẽ là không oan chút nào. Nhiều điều tra do các tổ chức,
hiệp hội trong nước tiến hành cũng nhận định việc đóng thuế ở VN đang gây nhiều phiền hà cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Thuế thu nhập doanh nghiệp chính thức là 28% nhưng báo cáo của Công ty tài chính quốc tế (IFC) và Ngân
hàng thế giới (WB) cho thấy tổng số thuế thực đóng lên tới 41,6%. Tại sao lại có những phần dôi ra đó? Vì còn
nhiều khoản mà ngành tài chính không công nhận là những chi phí hợp lý cần có để đóng thuế? Vì tiêu cực giữa
người thu thuế và người nộp thuế? Không dừng lại ở đó, với 32 số lần đóng thuế trong một năm và 1.050
giờ/năm dành cho việc đóng thuế (số liệu trong báo cáo) cũng đủ khiến VN "chiếm" được vị trí 120/175 (riêng
lĩnh vực đóng thuế) trong bảng xếp hạng.
Bàn xa hơn một chút bảng xếp hạng trên, chúng ta thấy lâu nay việc cải cách thuế thường tập trung vào việc
tính toán những tỷ lệ, việc thu hay không thu mà chưa chú trọng thích đáng vào hệ thống hành thu. Cách thu
thuế thủ công như hiện nay khiến không thể tránh khỏi những sai sót, lầm lẫn do các thao tác cơ học gây ra.
Xây dựng được hệ thống hành thu trực tuyến sẽ cải thiện đáng kể đối với toàn bộ hệ thống thuế VN, và đây là
việc hoàn toàn trong khả năng, không những không cần sự giúp đỡ tài chính từ bên ngoài mà còn giúp tiết kiệm
nhân lực và tăng thu ngân sách. Nó còn làm giảm thời gian tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ thu thuế và người nộp
thuế, nhờ đó giảm tiêu cực, hạch sách, quan liêu.
Để của công không bị biến thành của... ông
TTCT - Những vụ nhà công bị biến thành nhà ở sở hữu tư nhân được báo chí phản ánh thời gian qua đã khiến
dư luận hết sức bức xúc và hoài nghi về việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (TSNN) hiện nay.
Ông PHẠM ĐÌNH CƯỜNG, cục trưởng Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính), đã trả lời phỏng vấn Tuổi Trẻ
Cuối Tuần về vấn đề trên. Ông nói:
- TSNN bao gồm toàn bộ tài sản của các cơ quan hành chính sự nghiệp, đất đai, nhà cửa, vật kiến trúc, tài sản
của Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước... Hiện nay việc quản lý, sử dụng TSNN của chúng ta có khá
nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh.
* Nhưng tình hình quản lý sử dụng TSNN hiện nay như thế nào, thưa ông?
- Trước khi những trường hợp nhà công vụ bị biến thành nhà sở hữu tư nhân như vừa qua thì các cơ quan chức
năng đã nhìn ra và đã có nhiều văn bản hướng dẫn. Tuy nhiên, chúng ta cần có những hướng dẫn cụ thể hơn vì
quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý diễn ra rất nhanh và phức tạp.
Vì thế, để đảm bảo tính đồng bộ và tính khả thi, tất cả các văn bản phải thường xuyên đối chiếu với thực tiễn
cuộc sống, với yêu cầu quản lý để điều chỉnh. Nếu chúng ta hoàn thiện được qui chế tốt, cụ thể về nhà ở công
vụ thì những việc tranh luận, bàn cãi sẽ không nhiều. Đồng thời, những văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng
TSNN cũng cần được tuyên truyền để mọi người dân, mọi tổ chức, cơ quan nhà nước nắm chắc và giám sát.
Hiện nay, một số vi phạm pháp luật đang xảy ra không chỉ ở lĩnh vực quản lý tài sản mà trong cả quản lý đầu tư,
quản lý tài chính, quản lý đất đai... gây bức xúc trong công luận và dư luận. Những trường hợp sai phạm vừa
qua đã thể hiện dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau nhưng để đánh giá đúng và xử lý nghiêm minh, kịp
thời cần phải căn cứ vào hồ sơ cụ thể.
Việc này Chính phủ đang chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương thực hiện. Trong quá trình này, sự phát
hiện của báo chí đóng vai trò rất quan trọng. Ví dụ như tình trạng sử dụng ôtô công vào việc riêng, mua sắm ôtô
vượt định mức. Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính và các cơ quan chức năng làm gắt (không thanh toán các
hợp đồng mua sắm vượt chế độ, vượt định mức, thu hồi xe mua sai, xử lý trách nhiệm...) nên những hiện tượng
đó đã giảm rõ rệt tuy chưa chấm dứt hoàn toàn. 16
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
* Sau những vụ việc như vừa qua, cục có đặt ra kế hoạch rà soát lại tình hình quản lý, sử dụng tài sản công ở
các bộ, ngành, địa phương hay không?
- Hằng năm chúng tôi vẫn tổng hợp báo cáo về tình hình quản lý, sử dụng TSNN ở các bộ, ngành, địa phương.
Chính những số liệu, tài liệu đó đã giúp chúng tôi, giúp bộ, giúp Chính phủ hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật.
Tới đây Bộ Tài chính sẽ tiếp tục rà soát lại và hoàn thiện thể chế quản lý tài sản công để có căn cứ báo cáo các
vụ việc theo chỉ đạo của Thủ tướng. Chúng tôi sẽ rà soát lại ba loại văn bản gồm: văn bản điều chỉnh việc quản
lý, sử dụng trụ sở; văn bản điều chỉnh nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; văn bản điều chỉnh nhà ở công vụ.
Song song chúng tôi cũng đang khẩn trương tập hợp đầy đủ hồ sơ cụ thể của các vụ việc đã được phát hiện để
nếu có vấn đề thì căn cứ vào khung pháp luật đó xác định đúng sai và báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý.
Những sai phạm xảy ra trong thời gian qua một phần cũng vì chưa được xử lý nghiêm. Về việc sử dụng ôtô
công sai mục đích, mua sắm sai tiêu chuẩn thì chúng ta đã xử lý kịp thời và kiên quyết nên tác dụng khá rõ. Tuy
nhiên, vấn đề nhà ở phức tạp hơn, động chạm nhiều hơn, hệ thống pháp luật qui chuẩn cũng chưa tốt nên ít
được xử lý kịp thời, nghiêm khắc. Nếu xử lý nghiêm khắc, kịp thời thì tác dụng răn đe sẽ tốt ngay.
* Ông có cho rằng việc xử lý các vi phạm về quản lý, sử dụng TSNN một phần khó thực hiện bởi những mối quan hệ chằng chịt?
- Theo thói quen của người Á Đông, chúng ta rất tôn trọng các vị tiền nhiệm, các vị có công với cách mạng.
Yếu tố đó cần phải trân trọng nhưng vì việc tôn trọng đó mà vi phạm các qui định pháp luật thì không được. Do
đó, kết luận đúng, sai về một trường hợp phải kết luận theo văn bản pháp luật.
* Nếu chiếu theo Luật phòng chống tham nhũng thì việc lợi dụng chức vụ để biến TSNN thành tài sản cá nhân là hành vi tham nhũng?
- Đúng vậy. Luật ngân sách nhà nước cũng đã qui định rõ tổ chức, cá nhân nào có hành vi vi phạm làm thiệt hại
cho ngân sách nhà nước thì phải bồi thường, tùy theo mức độ vi phạm phải xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
* Như ông nói thì hệ thống văn bản vẫn chưa chặt chẽ, cụ thể. Vậy tới đây sẽ có những thay đổi gì để TSNN
không bị biến thành tài sản cá nhân?
- Trong chương trình làm việc của Chính phủ, của Bộ Tài chính đã có kế hoạch xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống
pháp luật về quản lý tài sản. Đáng chú ý nhất là dự thảo Luật quản lý TSNN. Hiện nay chúng tôi đã ra được dự
thảo lần đầu. Theo chương trình thì cuối năm nay sẽ trình Chính phủ và năm 2007 sẽ trình xin ý kiến Quốc hội.
Trong khi chờ Luật quản lý TSNN được Quốc hội thông qua, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ba văn bản quan
trọng. Văn bản thứ nhất là dự thảo nghị định của Chính phủ về phân cấp quản lý TSNN. Có thể Chính phủ sẽ
ban hành trong tháng mười này. Chúng tôi quan niệm đi đôi với việc tăng cường năng lực của các cấp chính
quyền địa phương, việc tự chủ tài chính của các đơn vị thì quyền trực tiếp quản lý tài sản của các bộ, các ngành,
địa phương là quan trọng.
Văn bản thứ hai cũng đã trình lên Thủ tướng là dự thảo quyết định của Thủ tướng về sắp xếp lại nhà đất trong
phạm vi cả nước. Đây cũng là văn bản rất quan trọng vì nó sẽ sắp xếp lại hệ thống trụ sở của các cơ quan nhà
nước theo đúng qui hoạch, sử dụng đúng mục đích, khai thác tốt nhất nguồn tài sản. Văn bản thứ ba là dự thảo
quyết định của Thủ tướng về sửa đổi tiêu chuẩn, định mức về trụ sở làm việc cho phù hợp với thực tiễn.
Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng đang hoàn chỉnh một số văn bản rất quan trọng khác. Thứ nhất là qui chế về tiêu
chuẩn, định mức và chế độ sử dụng ôtô công. Đây là vấn đề dư luận rất quan tâm. Thủ tướng Chính phủ đã có
quyết định dừng mua sắm ôtô mới nên qui chế này ra đời sẽ có sự thay đổi cơ bản để sắp xếp lại, điều chuyển
ôtô hiện có, đồng thời thay thế dần việc trang bị ôtô bằng việc khoán kinh phí sử dụng và thuê dịch vụ...
Thực hiện những biện pháp này sẽ tiết kiệm được một nguồn ngân sách lớn mua sắm, duy trì ôtô công, đồng
thời mở rộng dịch vụ, mở rộng thị trường vận chuyển công cộng. Thứ hai là các văn bản hoàn thiện các chính 17
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
sách tài chính về đất đai như qui định về thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền cho thuê mặt đất, mặt nước để
phù hợp với thực tiễn và đảm bảo nguồn thu ngân sách.
Cùng với việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, các cơ quan quản lý nhà nước, công luận, các tổ chức
quần chúng cùng quan tâm đến việc quản lý, sử dụng TSNN, giám sát chặt chẽ việc sử dụng TSNN ở các cấp,
ngành, địa phương, đơn vị cơ sở, tôi tin những hiện tượng sai phạm sẽ giảm và sẽ cơ bản chấm dứt trong thời gian không lâu.
Thống kê của UBND TP Hà Nội cho thấy có trên 6,3 triệu m2 đất tại hơn 1.000 địa điểm nhà đất thuộc sở hữu
nhà nước của các cơ quan hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp của cả trung ương và TP đang bị sử dụng sai mục
đích như tự ý cho thuê lại nhà, đất để hưởng chênh lệch; tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang làm cơ sở
sản xuất kinh doanh; tự ý chuyển đổi mục đích một phần nhà đất để làm nhà ở cho cán bộ, công nhân viên; tự ý
mua bán, chuyển nhượng quyền thuê, nhất là tại các vị trí đất có sinh lời cao, có khuôn viên rộng; để hoang hóa.
Thứ Bảy, 14/10/2006, 16:07 (GMT+7) Doanh nghiệp nhà nước:
Không thể giữ bí mật tài chính mãi được nữa!
TTCT - Công khai báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là một trong những cơ sở quan
trọng để người dân, với tư cách là người đóng thuế, ngoài việc biết được tiền thuế của mình đã được Chính phủ
sử dụng như thế nào, còn có thể giám sát hoạt động kinh doanh và sử dụng tài sản nhà nước, cũng như tham gia
góp ý các vấn đề mang tính quốc sách cho nước nhà.
Hiệu ứng của công khai báo cáo tài chính
Sau khi lần đầu tiên công khai báo cáo kiểm toán nhà nước (KTNN), người dân mới biết chính xác con số
không nhỏ các tập đoàn và tổng công ty lớn có kết quả tài chính vô cùng tệ hại. Và đứng trước sức ép của công 18
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
luận, Chính phủ đã phải yêu cầu dừng lại chủ trương cho phép một số tổng công ty và tập đoàn tiếp tục vay nợ
nước ngoài thông qua phát hành trái phiếu quốc tế.
Hoặc như vụ giá xăng dầu, đứng trước sức ép của công luận đòi hỏi phải công khai mức lợi nhuận của các
doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, Bộ Thương mại mới cho công bố mức siêu lợi nhuận của ngành này. Và sự
thật mới được sáng tỏ: sau hai lần giảm giá và tính toán hết các khoản thuế tăng thêm, chi phí vận chuyển, kho
bãi, lợi nhuận còn lại... lên đến 1.000 đồng cho 1 lít xăng (điều mà hàng chục năm trước đây người dân không
thể biết được), mà đây cũng mới chỉ là con số do các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tự giác khai báo với
cấp trên, lợi nhuận thật ắt còn phải cao hơn con số này. Nhờ vậy các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu mới
không còn lý do để không thể không giảm giá xăng dầu.
Hay như vụ Tổng công ty Điện lực (EVN) cứ một mực than thở thiếu vốn nên phải tăng giá điện. Thế nhưng
đứng trước sức ép đòi phải công khai hoạt động trước khi tăng giá điện, người dân vô cùng bất ngờ khi biết
rằng có một lượng vốn không nhỏ trong vốn đầu tư lại chuyển hướng sang một lĩnh vực trái khoáy là viễn
thông, thay vì đầu tư vào cơ sở hạ tầng cho sản xuất và cung ứng điện năng. Do... bị lộ những thông tin này mà
phần nào đó EVN không thuyết phục được Chính phủ đồng ý cho phép tăng giá điện.
Cơ chế hiện tại không cho phép người dân giám sát DNNN
Thực tế này cho thấy điều quan trọng nhất sắp tới đây là người đóng thuế làm sao có thể tham gia việc giám sát
một cách thường xuyên hơn nữa hoạt động kinh doanh và báo cáo tài chính - đã được báo cáo kiểm toán - của
các DNNN, thay vì chỉ được biết sau mỗi khi có các sự cố đụng chạm đến quyền lợi thiết thực của mình, hay
chỉ mỗi năm một lần khi KTNN báo cáo trước Quốc hội.
Người dân có thể thực hiện “quyền được biết” này thông qua giải mã từ báo cáo KTNN. Thế nhưng điều bất
thường là vẫn còn đó những vùng đất cấm và những điều chưa minh bạch trong một báo cáo được gọi là công
khai lần đầu tiên trong năm nay: danh mục các DNNN và số liệu cụ thể về kết quả tài chính các DNNN được
kiểm toán vẫn chưa được công bố trên trang web của KTNN (có thể các dữ kiện này được gửi đến các đại biểu
Quốc hội hay chăng?). Hơn nữa, như thú nhận của vị đứng đầu, KTNN dù có ba đầu sáu tay cũng không thể đủ
lực để kiểm toán hết toàn bộ khu vực DNNN mỗi năm.
Như vậy, một cách khác để thực hiện quyền được biết rất hiệu quả là tìm thông tin trên trang web của các
DNNN. Đáng ngạc nhiên là khi vào trang web của hàng loạt tập đoàn và tổng công ty lớn, ta cũng chỉ thấy toàn
là thành tích, huân chương, huy chương mà không thấy bất cứ số liệu và thuyết minh nào về báo cáo tài chính đã được kiểm toán.
Chẳng hạn như người dân muốn quan tâm đến việc tiền thuế của mình được sử dụng ra sao nhân “kỷ niệm” một
năm ngày Vinashin nhận 750 triệu USD trái phiếu quốc tế từ Chính phủ, cách duy nhất chỉ là truy cập vào trang
web của Vinashin (do không còn kênh thông tin nào khác). Ta thấy ngay một tiêu điểm rất hot là “hoạt động tài
chính”, nhưng cũng chỉ được vài dòng với các thông tin “thúc đẩy”, “mở rộng”, “cố gắng” mà không có bất kỳ
số liệu nào về kết quả tài chính.
Chỉ có các yếu tố định tính mơ hồ, hoàn toàn vắng bóng các định lượng kết quả tài chính. Trong khi thực tế thì
điều mâu thuẫn là: bất chấp các thông tin liên tục về việc Vinashin nhận được hợp đồng này hợp đồng nọ, tỉ suất
lợi nhuận trước thuế chỉ là 0,42% và số tiền còn thiếu nợ ngân sách nhà nước gần 70 tỉ đồng. Điều mà người
dân quan tâm là với một kết quả tài chính quá yếu kém như thế, liệu việc sử dụng 750 triệu USD, việc trả nợ và
tương lai sắp tới là như thế nào thì hoàn toàn không được thể hiện.
Chẳng lẽ người đóng thuế không được quyền biết những thông tin như thế?
Minh bạch tài chính là xu hướng tất yếu để hội nhập thành công
Thiết nghĩ báo cáo tài chính của các DNNN đâu phải là bí mật quốc gia lớn đến nỗi phải không công khai cho
dân biết. Không thể viện lý do rằng trên thực tế Chính phủ đã lập ra một Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh
vốn nhà nước đứng ra quản lý phần vốn nhà nước tại các DNNN, nên các báo cáo tài chính chỉ cần được báo
cáo với Chính phủ hay các bộ ngành là đủ, hoặc công khai thì sẽ làm lộ bí mật kinh doanh. Đây là những lập
luận quá lỗi thời và không phù hợp với xu hướng minh bạch tài chính khi Việt Nam là thành viên của WTO. 19
Sélectionné et édité par Phan Huu Nghi – Faculté des Banques et des Finances - ESEN
Mỗi đối tượng có những mục tiêu riêng khi sử dụng quyền được biết của mình từ báo cáo tài chính.
Công khai báo cáo tài chính trong hệ thống các ngân hàng thương mại và công ty cổ phần giúp các doanh
nghiệp này luôn chịu sự giám sát của các nhà đầu tư.
Ngoài ý nghĩa nữa là người dân và các nhóm lợi ích - như của người tiêu dùng - có thể tham gia góp ý chính
sách cho Chính phủ, công khai kết quả tài chính đã được kiểm toán đối với các DNNN còn có mục đích chính
là để người dân trực tiếp giám sát tiền thuế của mình được sử dụng hiệu quả ra sao.
Đó là chưa kể còn nhiều đối tượng khác mong muốn việc công khai tài chính để xem trên thực tế Chính phủ có
thực hiện một sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế khác hay không. Các khoản trợ cấp bất hợp lý và
những chính sách ưu đãi nếu có sẽ được phát hiện từ việc công khai này.
Chúng ta vì thế mong chờ Nhà nước cần sớm triển khai một đạo luật bắt buộc các DNNN phải công bố báo cáo
tài chính trên các phương tiện thông tin đại chúng. Điều này còn là công cụ thiết thực nhằm triển khai có hiệu
quả Luật phòng chống tham nhũng, và cũng để người dân kiểm chứng tính hợp lý và hợp pháp của việc các
DNNN có khả năng móc túi dân thông qua các chiến dịch tăng giá hay thu phí vô tội vạ vì những lý do mà
người dân không thể kiểm chứng được.
Cải cách hệ thống tài chính: Cuộc toàn cầu hoá ti]p theo?
VNECONOMY cập nhật: 14/10/2006
Giai đoạn toàn cầu hoá sGp tới đây sẽ là toàn cầu hAa về các hệ thống tài chính. ĐA là quan điểm nêu ra trong
bài viết của tác giả Frederic Mishkin trên tờ Financial Times số ra ngày 9/10 vừa qua. VnEconomy xin giới
thiệu tới các bạn bản dFch bài viết đáng chú L này.
Không thể giữ bí mật tài chính mãi được nữa! Những gì mà thế giới
Thế giới ngày nay đang trải qua giai đoạn th] hai của toàn cầu hoá. Liệu các nhà
lãnh đạo chính trị và kinh tế sẽ tiếp tục đưa thế giới bước vào giai đoạn tiếp theo đang trải qua hiện nay
thực chất là giai đoạn
của toàn cầu hoá, cải thiện hệ thống tài chính tại các nước đang phát triển, hay
toàn cầu hóa thứ hai về sẽ chấm d]t quá trình này? các dòng chảy thương
mại và vốn ở thời kỳ
Toàn cầu hóa trong lĩnh vực thương mại trong nửa thế kỷ qua đã đưa hàng tỷ người hiện đại.
thoát khỏi tình trạng nghèo khổ. Từ những năm 1960, nền kinh tế thế giới đã đạt tốc
độ tăng trưởng cao hơn bao giờ hết. Thu nhập đầu người tăng lên trong khi tỷ lệ đói
nghèo giảm xuống nhanh chóng ở những quốc gia biết tận dụng những lợi ích của toàn cầu hóa, trở thành các
nước hướng ra xuất khẩu. Chỉ riêng ở Ấn Độ và Trung Quốc, toàn cầu hóa đã đưa hơn 1 tỷ người thoát khỏi tình trạng đói nghèo.
Trong khi đó, những nước chưa tận dụng được những lợi ích của toàn cầu hóa, chẳng hạn các nước ở khu vực
tiểu sa mạc Sahara ở châu Phi, phải gánh chịu hậu quả là khoảng cách tương đối giữa họ và các nước biết tận
dụng toàn cầu hóa tăng nhanh.
Mặt khác, thu nhập bình quân đầu người của các nước này còn giảm xuống một cách tuyệt đối. Năm 1960, thu
nhập bình quân đầu người của Somalia cao hơn so với Hàn Quốc là 10%. 45 năm sau, thu nhập bình quân đầu
người của Somalia sụt giảm trong khi người dân Hàn Quốc được hưởng nhiều lợi ích từ quá trình tăng trưởng
kinh tế năng động của nước mình.
Kết quả là, hiện nay, thu nhập bình quân đầu người của người Somalia chỉ bằng chưa đầy 1/10 thu nhập bình
quân đầu người của Hàn Quốc.
Toàn cầu hóa không phải là một quá trình tất yếu đồng thời cũng không phải là một quá trình không thể đảo
ngược. Những gì mà thế giới đang trải qua hiện nay thực chất là giai đoạn toàn cầu hóa thứ hai về các dòng
chảy thương mại và vốn ở thời kỳ hiện đại. Giai đoạn toàn cầu hóa đầu tiên bắt đầu vào năm 1870 và kết thúc
cùng với sự bùng nổ của chiến tranh thế giới lần thứ nhất, phá vỡ các dòng chảy vốn và thương mại quốc tế 20