-
Thông tin
-
Quiz
Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Liên hệ với đời sống sinh viên hiện nay | Bài tập lớn môn triết học mác - lênin
Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Liên hệ với đời sống sinh viên hiện nay | Tiểu luận môn triết học mác - lênin được siêu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuận bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đón xem!
Triết học Mác - Lenin( LLNL 1105) 512 tài liệu
Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Liên hệ với đời sống sinh viên hiện nay | Bài tập lớn môn triết học mác - lênin
Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Liên hệ với đời sống sinh viên hiện nay | Tiểu luận môn triết học mác - lênin được siêu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuận bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đón xem!
Môn: Triết học Mác - Lenin( LLNL 1105) 512 tài liệu
Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:















Tài liệu khác của Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Preview text:
lOMoAR cPSD| 23022540 lOMoAR cPSD| 23022540 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ..................................................................... 2
PHẦN I: Quan iểm triết học mác lênin về mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức ............................................. 4
1.1 Quan iểm về vật chất .................................................. 4
1.2 Quan iểm về ý thức ....................................................... 6
1.3 Quan iểm triết học mác lênin về mối quan hệ biến ... 8
chứng giữa vật chất và ý thức PHẦN II : Liên hệ thực
tiễn với ời sống sinh viên .............................................. 8
hiện nay ............................................................................ 12
KẾT LUẬN ...................................................................... 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................... 15 LỜI MỞ ĐẦU
Mục tiêu cách mạng lớn nhất và quan trọng nhất của Đảng và Nhà nước ta
hiện nay là tiến lên chủ nghĩa xã hội, vì chỉ thực hiện và ược mục tiêu quan
trọng này thì chúng ta mới có thể xây dựng một nước Việt Nam mà theo Chủ
tịch Hồ Chí Minh là : “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng , dân chủ , văn
minh”. Cũng chỉ khi xây dựng xã hội chủ nghĩa thành công thì chúng ta mới có
thể làm thỏa mãn mong muốn không chỉ của Người mà của tất cả nhân dân Việt
Nam là: “làm sao cho dân ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng ược học
hành,….”. Vậy chúng ta phải làm thế nào ể ạt ược mục tiêu ó? Theo thực tế hiện 2 lOMoAR cPSD| 23022540
nay, với con ường i lên xã hội chủ nghĩa bỏ qua chế ộ tư bản chủ nghĩa, ại hội
lần thứ VI ã khẳng ịnh: Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh chính
là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hoạt ộng của Đảng. tức là, chúng ta
phải sử dụng quan iểm, lập trường và các phương pháp chủ nghĩa Mác-Lênin ể
rút ra kinh nghiệm của ảng ta, phân tích một cách úng ắn những ặc iểm của nước
ta ể có thể xác ịnh ường lối, chính sách của Cách mạng xã hội sao cho phù hợp
nhất với tình hình nước ta.
Với tư cách là một sinh viên ại học, ồng thời là một công dân nước cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam em muốn cùng mọi người tìm hiểu kỹ hơn về
triết học Mác-Lênin phần chủ nghĩa duy vật biện chứng vật chất về ý thức . Cụ
thể hơn là ề tài “Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Liên hệ với ời
sống sinh viên hiện nay” . Em muốn góp một phần công sức nhỏ bé của mình
vào sự nghiệp cách mạng lớn lao của toàn Đảng, toàn dân. Đó là mọi sách lược,
chiến lược Cách mạng chúng ta phải ưa ra xuất phát từ thực tế khách quan, phát
huy ược tính năng ộng chủ quan và ồng thời chống chủ quan duy ý chí. Điều
này sẽ ược lý giải rõ hơn trong phần nội dung của ề tài.
Do thời gian và kiến thức của bản thân còn hạn chế nên bài viết của em
sẽ không thể tránh khỏi thiếu sót, em kính mong sự góp ý của cô giáo cùng toàn thể bạn ọc!
Em xin chân thành cảm ơn! 3 lOMoAR cPSD| 23022540
PHẦN I : Quan iểm triết học Mác-Lênin về mối
quan hệ giữa vật chất và ý thức
1.1 Quan niệm về vật chất.
Vật chất theo ịnh nghĩa của Vladimir Ilyich Lenin là “… vật chất là phạm
trù triết học dùng ể chỉ thực tại khách quan ược em lại cho con người trong
cảm giác, ược cảm giác của chúng ta chép lại , chụp lại, phản ánh và tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác” . Định nghĩa vật chất nêu trên của Lênin là kết
quả của việc tổng kết từ những thành tựu tự nhiên và khoa học, phê phán những
quan niệm duy tâm, và siêu hình về phạm trù vật chất. Định nghĩa vật chất của
Lênin ã bác bỏ quan iểm duy tâm về phạm trù vật chất với sự phát hiện vật chất
có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức , là nguồn gốc khách
quan của cảm giác. Định nghĩa này khắc phục tính chất siêu hình, máy móc
trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật trước Mác. Từ ịnh nghĩa trên
ta có thể nhận thấy những nội dung ược ề cập như sau : Cần phân biệt
vật chất là một phạm trù triết học với bản chất là sự vật hiện tượng cụ thể của
thế giới vật chất. Với tư cách là một phạm trù triết học, , vật chất không phải là 4 lOMoAR cPSD| 23022540
sự sáng tạo tùy tiện của tư duy con người, mà trái lại, là kết quả của sự khái
quát, trừu tượng hóa những thuộc tính ,những mối liên hệ vốn có của sự vật,
hiện tượng nên nó phản ánh cái chung, cái vô tận, không sinh ra, không mất i.
Từ ó mà trong quá trình xem xét ta cần tránh sự nhận ịnh và chất với bản chất
của các sự vật hiện tượng có sự phát sinh, phát triển, thay ổi là một.
“ Thứ nhất vật chất là thực tại khách quan- cái tồn tệ bên ngoài ý thức
và không lệ thuộc vào ý thức”. Tính trìu tượng của vật chất bắt nguồn từ hiện
thực khách quan do ó mà nó không tồn tại ngoài ý thức của con người và không
tách rời khỏi hiện thực cụ thể của nó, nó chính là những gì tồn tại xung quanh
con người. Sự ối lập giữa vật chất và ý thức tồn tại ở sự tuyệt ối, nếu tuyệt ối
hóa tính trừu tượng của vật chất, thì theo ó vật chất cũng biến mất và rơi vào
quan iểm duy tâm, nhưng nếu tuyệt ối hóa tính hiện thực, cụ thể của vật chất nó
sẽ thành vật thể. Từ ó ta có thể nhận thấy ược, mọi sự vật, hiện tượng từ nhỏ
nhất ến cái lớn nhất, từ ơn giản nhất ến phức tạp nhất, dù là sản phẩm của tự
nhiên hay xã hội, ều tồn tại khách quan và ộc lập với ý thức của con người, ều
thuộc phạm trù vật chất và ều là các dạng cụ thể của vật chất. Xã hội loài người
cũng là một dạng tồn tại ặc biệt của vật chất. Đây là thuộc tính cơ bản (thậm
chí ược cho là duy nhất) của vật chất, là tiêu chuẩn ể phân biệt những thứ là vật
chất với những thứ ngoài vật chất.
“ Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác ộng vào giác quan của con người
thì em lại cho con người cảm giác” . Trái với những quan iểm duy tâm về sự
tồn tại của vật chất, quan iểm của triết học mác lênin cho rằng vật chất chính là
sự hiện thực khách quan, từ ó mà khẳng ịnh sự tồn tại của vật chất, thông qua
sự lệ thuộc ý thức vào vật chất, sự phụ thuộc ó chính là do sự tác ộng trực tiếp
của vật chất ến các giác quan của con người. Tuy không phải tất cả các vật chất
ều có thể tác ộng ến những giác quan ó, nhưng thông qua các thiết bị khoa học
kỹ thuật do chính con người tạo ra mà ta có thể nhận thức ược những cảm giác 5 lOMoAR cPSD| 23022540
mà vật chất mang lại. Chỉ cần nó là những thứ khách quan, tồn tại ộc lập với ý
thức của con người thì nó vẫn là vật chất.
“ Thứ ba , vật chất là cái mà chẳng qua ý thức là sự phản ánh của
nó”. Thông qua những tác ộng của vật chất vào các giác quan của con người,
mà từ ó con người có sự phản ánh các ặc iểm ,tính chất của các sự vật. Khi ứng
trên lập trường quan iểm duy tâm mà cho rằng ý thức là cái có trước, ó là iều
bất khả thi, bởi sự tồn tại của vật chất là khách quan trong thế giới tự nhiên,
cùng với ó là sự ộc lập với ý thức con người, nên không thể nào ta hình thành ý
thức trước khi chưa có sự tác ộng của vật chất vào các giác quan con người.
Thực tế cũng ã chứng minh iều này, ta không thể có những kiến thức và sự hình
dung về một vật chất nếu chưa có sự tiếp xúc với nó từ trước. Trong triết
học khi bàn về phạm trù “vật chất” thì luôn gắn liền với việc phải bền về phạm
trù liên quan ến sự tồn tại của nó. Đó là phạm trù vận ộng không gian và thời
gian. Vận ộng theo quan iểm của Mác-Lênin thì : vận ộng ược hiểu theo nghĩa
chung nhất, là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cũ hữu của vật
chất thì bao gồm tất cả mọi sự thay ổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ kể
từ vị trí ơn giản ến tư duy. “Vật chất” là vô tận, vô hạn, không sinh ra, không
mất i và vận ộng là một thuộc tính không thể tách rời vật chất cho nên bản thân
sự vận ộng không thể mất i hoặc sáng tạo ra. Vì vậy một khi chúng ta nhận thức
ược hình thức vận ộng của vật chất thì sẽ nhận thức ược bản thân vật chất. Lênin
nhận xét rằng: “Trong thế giới không có gì ngoài vật chất ang vận ộng và vật
chất ang vận ộng không thể vận ộng ở âu ngoài không gian và thời gian”.
1.2 Quan iểm về ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng ịnh : Ý thức của con người là sản
phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử-xã hội. Vì vậy, ể hiểu úng
nguồn gốc của ý thức cần phải xem xét nó trên cả 2 mặt: tự nhiên và xã hội.
Một là, nguồn gốc tự nhiên của ý thức: não người về hiện tượng khách quan 6 lOMoAR cPSD| 23022540
trong ó não người là một dạng vật chất có tổ chức cao nhất. Hoạt ộng của ý thức
chỉ xảy ra trên cơ sở hoạt ộng của não người. Nếu não người bị tổn thương một
phần hay toàn bộ thì hoạt ộng của ý thức cũng bị ảnh hưởng theo. Chỉ có con
người mới có ý thức, ộng vật bậc cao cũng không thể có ý thức ược. Sự phản
ánh của thế giới khách quen bằng ý thức của con người là hình thức phản ánh
cao nhất, hình thức ặc biệt chỉ có ở con người trên cơ sở phản ánh tâm lý ngày
càng phát triển hoàn thiện hơn. Các sự vật hiện tượng tác ộng lên giác quan của
con người và truyền những tác ộng ó lên trung ương thần kinh- ó là bộ óc của
con người do ó con người có một hình ảnh về các sự vật ó.
Hai là, nguồn gốc xã hội của ý thức là lao ộng và ngôn ngữ. Nhờ có quá
trình lao ộng mà vượng người trở thành người và xuất hiện não người. Trong
quá trình lao ộng, con người buộc giới tự nhiên biến ổi tức là buộc giới tự nhiên
bộc lộ bản chất ặc trưng của nó bên ngoài ể con người có thể phát hiện. Trong
quá trình lao ộng các cơ quan cảm giác khác nhau của con người càng trở nên
hoàn thiện hơn và do ó có khả năng phản ánh thế giới khách quan ngày càng trở
nên chính xác hơn. Chính trong quá trình lao ộng mà ngôn ngữ dần ược hình
thành. Ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư duy. Nhờ
ngôn ngữ mà con người ngày càng bớt lệ thuộc vào tự nhiên. Ngôn ngữ là
phương tiện ể giao tiếp, nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể truyền ạt trực
tiếp kinh nghiệm từ người này sang người khác; từ thế hệ này sang thế hệ khác
và như vậy, không những làm cho ý thức ngày càng phát triển mà nhờ có ngôn
ngữ con người ngày càng có thể i sâu khám phá thế giới quan. Vì vậy, nguồn
gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội là hai iều kiện cần và ủ cho sự ra ời của ý
thức. Nếu thiếu một trong hai iều kiện ó thì không thể có ý thức.
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng thì bản chất của ý thức là hình ảnh chủ
quan của thế giới khách quan. Đây là hình ảnh tinh thần chứ không phải hình
ảnh vật lý. Ý thức là cái khách quan làm tiền ề. Nội dung của ý thức là do thế
giới quan quy ịnh. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan có ý
nghĩa, ý thức là sự phản ánh sáng tạo tích cực của thế giới quan. Ý thức là sự 7 lOMoAR cPSD| 23022540
thống nhất của khách quan và chủ quan. Phản ánh ý thức là sự sáng tạo do nhu
cầu thực tiễn quy ịnh. C-Mác nói: “ ý thức là cái vật chất ược di chuyển vào não
người và ược cải biến trong ó”. Ý thức là hình thức phản ánh có mục ích và vì
thế có chọn lọc, có khả năng chỉ ra bản chất và quy luật của sự vật từ ó giúp cho
chủ thể hoạt ộng và có thể dự oán ược tương lai phát triển của chúng nhờ có ý
thức mà con người có thể tạo ra dưới trạng hình ảnh của tinh thần mà các sự vật,
hiện tượng không tồn tại trong thực tế. Ý thức ra ời trong quá trình con người
hoạt ộng cải tạo thế giới, cho nên quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào
bộ óc con người là quá trình năng ộng sáng tạo ở 3 mặt: Một là, trao ổi thông
tin giữa chủ thể và ối tượng phản ánh, sự trao ổi thông tin này mang tính chất
hay chiều có ịnh hướng có chọn lọc các thông tin cần thiết. Hai là, mô hình hóa
các ối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần. Đây là quá trình sáng
tạo lại hiện thực của ý thức theo nghĩa: mã hóa các ối tượng vật chất thành các
ý tưởng tinh thần phi vật chất. Ba là, chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực
khách quan, tức là quá trình thực hiện hóa tư tưởng thông qua quan niệm thực
tiễn, biến cái quan niệm thành cái thực tại, biến các ý tưởng phi vật chất trong
tư duy thành các vật chất ngoài hiện tượng. Ý thức còn mang tính lịch sử- xã
hội vì ngay từ ầu ý thức mang bản tính xã hội, nó mang tính lịch sự vì nó là sự
phản ánh và nội dung của sự phản ánh ó là do thế giới khách quan quy ịnh mà
thế giới vật chất ó luôn nằm trong quá trình vận ộng biến ổi về phát triển không
ngừng. Vì vậy, ta khẳng ịnh rằng: Ý thức là toàn bộ những hoạt ộng tinh thần
của con người, là hình thức phản ánh và là hình thức phản ánh cao nhất của thế
giới vật chất, phản ánh mang tính tích cực và sáng tạo.
1.3 Quan iểm triết học Mác-Lênin về mối quan hệ biến
chứng giữa vật chất và ý thức
Mối quan hệ vật chất và ý thức ược coi là “ vấn ề cơ bản nhất của mọi
triết học ặc biệt là triết học hiện ại” (C. Mác và Ph. Ăngghen : Toàn tập, NXB 8 lOMoAR cPSD| 23022540
CTQG, HN, 1995, Trang 403). Tùy theo lập trường về thế giới quan khác nhau
mà mỗi khi giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức có hình thành các
ường lối khác nhau. tuy nhiên, nắm vững phép biện chứng duy vật và luôn theo
sát kịp thời khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên , các nhà
kinh iển của chủ nghĩa Mác-Lênin ã nêu những quan iểm khoa học, khái quát
úng ắn về mặt triết học hay lĩnh vực lớn nhất của thế giới là vật chất, ý thức và
mối quan hệ giữa chúng.
Theo quan iểm của triết học Mác-Lênin: “vật chất và ý thức của mối
quan hệ biện chứng, về trong ó vật chất quyết ịnh ý thức, còn ý thức tác ộng tích
cực trở lại vật chất”.
1.3.1 Vật chất quyết ịnh ý thức:
Vai trò quyết ịnh của vật chất tới ý thức ược thể hiện:
Một là, vật chất quyết ịnh nói ến lúc nào ó nguồn gốc của ý thức.
Con người do giới tự nhiên, vật chất sinh ra, cho nên theo lẽ tự nhiên thì ý thức-
một thuộc tính của con người-cũng là do giới tự nhiên sinh ra. Các thành tựu
của khảo tự nhiên ã chứng minh rằng, giới tự nhiên có chứa con người và vật
chất là cái có trước, ý thức là cái có sau. Vật chất tồn tại khách quan, ộc lập với
ý thức và có nguồn gốc của ý thức. Ý thức con người tồn tại dựa vào vật chất-
bộ não con người trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan. Sự vận ộng
của vật chất là yếu tố quyết ịnh sự ra ời của vật chất có tư duy là não bộ.
Hai là , vật chất quyết ịnh nội dung của ý thức.
Ý thức dưới bất kỳ hình thức nào cũng ều phản ánh hiện thực khách
quan. Ý thức về nội dung của nó chẳng qua là sự kết hợp của sự phản ánh của
hiện thực khách quan vào ầu óc con người. Sự phát triển của hoạt ộng thực tiễn
cả về bề rộng và chiều sâu là ộng lực mạnh mẽ quyết ịnh tính phong phú và ộ
sâu sắc của tư duy và ý thức con người.
Ba là, vật chất quyết ịnh bản chất của ý thức . 9 lOMoAR cPSD| 23022540
Khác với chủ nghĩa duy vật cũ, xem xét thế giới vật chất là những sự
vật , hiện tượng cảm tính, chủ nghĩa duy vật biện chứng xem xét thế giới vật
chất là thế giới con người với các hoạt ộng thực tiễn. Chính thực tiễn là hoạt
ộng vật chất có tính cải biến thế giới của con người- là cơ sở ể hình thành, phát triển ý thức.
Bốn là, vật chất quyết ịnh sự vận ộng, phát triển của ý thức.
Con người-sinh vật có tính xã hội ngày càng phát triển thì dĩ nhiên ý thức-một
hình thức phản ánh bộ não cũng phát triển về nội dung và hình thức phản ánh
của nó. Xã hội ngày càng văn minh, khoa học ngày càng phát triển thì ý thức
cũng phát triển theo. Biểu hiện thực tế nhất ó chính là sự phản ánh của kinh tế
chính trị, ời sống vật chất ối với ời sống văn hóa, tinh thần của con người . Sự
phát triển của kinh tế quy ịnh sự phát triển của văn hóa, ời sống vật chất thay ổi
thì sớm muộn ời sống tinh thần cũng thay ổi theo.
1.3.2 Ý thức có tính ộc lập tương ối và tác ộng trở lại vật chất.
Thứ nhất, tuy ý thức là hình thức phản ánh thế giới vật chất vào trong bộ
não con người nhưng ý thức có “ ời sống” riêng, có quy luật vận ộng, phát triển riêng.
Thứ hai, sự tác ộng của ý thức ối với vật chất phải thông qua hoạt ộng thực
tiễn của con người, còn tự bản thân ý thức thì không thể biến ổi ược hiện thực.
Con người dựa trên tri thức về thế giới vật chất ể phát minh, ề ra các phương
hướng, biện pháp ể thực hiện thắng lợi các mục tiêu ã xác ịnh. Thứ ba, ý
thức có thể chỉ ạo hoạt ộng của con người, quyết ịnh hoạt ộng của con người
úng hay sai, thành công hay thất bại. Khi phản ánh úng hiện thực, nó có thể giúp
hình thành nên những lý luận, ịnh hướng úng ắn, góp phần khai thác tiềm năng
con người, từ ó sức mạnh vật chất sẽ ược tăng lên gấp bội. Ngược lại, ý thức có
thể tác ộng tiêu cực khi nó phản ánh sai lệch hiện thực 10 lOMoAR cPSD| 23022540
Thứ tư, xã hội ngày càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng lớn.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện ại hóa hiện tại thì vai trò của tri thức khoa
học, tư tưởng chính trị, tư tưởng nhân văn lại càng vô cùng quan trọng
1.3.3. Ý nghĩa phương pháp luận chung
Trước hết, từ vai trò quyết ịnh của vật chất ối với ý thức, cần rút ra nguyên
tắc khách quan- ây là nguyên tắc quan trọng hàng ầu trong nhận thức và hoạt
ộng của con người. Nguyên tắc khách quan yêu cầu: Thứ nhất, khi xem xét,
nhận thức thực sự phải xuất phát từ chính sự vật, phải phản ánh sự vật trung
thành như nó vốn có, phải tôn trọng sự thật, không ược lấy ý chí chủ quan áp ặt
cho sự vật. Những yêu cầu này không phức tạp, không khó thực hiện nhưng
trong thực tế nó lại rất hay bị con người vi phạm ở những mức ộ khác nhau, do
ó mà không ạt ược những nhận thức úng ắn về sự vật hoặc không có ược những
chủ trương hoạt ộng thực tiễn phù hợp. Thứ hai, trong nhận thức và hoạt ộng
thực tiễn phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành ộng theo quy luật khách
quan. Mọi mục ích hành ộng, kế hoạch, chủ trương, biện pháp hành ộng của con
người phải dựa trên việc phân tích cặn kẽ, thấu áo hoàn cảnh thực tế khách quan,
các chủ trương chính sách của con người phản ánh ược nhu cầu ể chín muồi của
iều kiện thực tế, có như vậy những chủ trương, chính sách mới có thể thực hiện
thành công. Mặt khác, các quy luật tự nhiên, xã hội, tư duy tồn tại khách quan,
không phụ thuộc vào ý thức, thực tế chứng tỏ rằng nếu làm trái quy luật, con
người sẽ phải hứng chịu hậu quả. Do ó, phải nhận thức các quy luật, hành ộng phù hợp với quy luật.
Kế ến phải phát huy tính năng ộng chủ quan của ý thức: ý thức, tư tưởng,
với tính năng ộng sáng tạo của nó có vai trò to lớn do ó cần phát huy yếu tố tích
cực của ý thức, cũng có nghĩa là phát huy vai trò của nhân tố con người trong
hoạt ộng cải tạo hiện thực. Cần nâng cao không ngừng khả năng nhận thức và
vận dụng quy luật của con người. Muốn vậy òi hỏi con người phải tích cực học
tập làm chủ tri thức khoa học, vận dụng các tri thức trong hoạt ộng thực tiễn của 11 lOMoAR cPSD| 23022540
mình. Cần tự giác rèn luyện nhân sinh quan cách mạng, tiến bộ ể góp phần thúc
ẩy sự phát triển theo hướng tích cực, tiến bộ của xã hội.
Cuối cùng là khắc phục bệnh trì trệ, thụ ộng, chủ quan duy ý chí: trong
sự vận ộng a dạng của xã hội, xuất hiện những xu hướng khắc phục và loại trừ
. Xu hướng thứ nhất là xu hướng bảo thủ, trì trệ, thụ ộng, ỷ lại, trông chờ vào
sự biến ổi của hiện thực, không tích cực và tự giác biến ổi hiện thực ấy . Xu
hướng thứ hai là xu hướng chủ quan duy ý chí, không cân cứ vào thực tế khách
quan ể hành ộng mà lệ lấy ý muốn chủ quan, lấy tình cảm, nguyện vọng cá nhân
làm iểm xuất phát cho chủ trương, chính sách. Cả hai xu hướng này xét về bản
chất ều là chủ nghĩa duy tâm trong nhận thức và hành ộng, ều cản trở sự vận
ộng hiện thực và ều cần khắc phục trong hoạt ộng của con người.
Phần II : Liên hệ thực tiễn với ời sống sinh viên hiện nay
Để giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong cuộc
sống của bản thân sinh viên hiện nay thì bản thân mỗi người phải có một kế
hoạch cụ thể, có mục tiêu hành ộng và ể hoàn thành ược nó thì phải nhìn nhận
vấn ề một cách bao quát, i từ thực tế ến khách quan. Ví dụ, việc ịnh hướng nghề
nghiệp phải xuất phát từ thực tế xã hội, từ năng lực và sở thích, niềm am mê của
mỗi cá nhân. Có như thế, sinh viên mới có thể phát huy ược tối a năng lực của
bản thân. Trong môi trường Đại học này có quản lý chặt chẽ của nhà trường và
tổ chức oàn thể như: hội sinh viên, oàn thanh niên,… do ó dễ dàng thống nhất
hành ộng theo những mục tiêu chung. Hơn nữa sinh viên là lớp người có khả
năng tiếp thu cái mới, nhạy bén với những biến ộng của tình hình kinh tế xã hội.
Cuộc sống ở môi trường ại học nảy sinh ở sinh viên những nhu cầu tìm hiểu,
mở rộng kiến thức, nhu cầu học tập, tìm tòi, sáng tạo,.. ngày càng phát triển theo
ịnh hướng nghề nghiệp trong quá trình học. Về cơ sở lý thuyết, chủ ngữ
duy vật biện chứng khẳng ịnh vai trò quyết ịnh của vật chất với ý thức ồng thời 12 lOMoAR cPSD| 23022540
vạch rõ sự tác ộng ngược trở lại vật chất thông qua hoạt ộng thực tiễn của con
người. Nói tới vai trò của ý thức là nói tới vai trò của con người vì ý thức là ý
thức của con người. Bản thân ý thức không thể thay ổi ược gì trong hiện thực.
Ý thức muốn tác ộng trở lại phải bằng lực lượng vật chất, nghĩa là phải ược con
người hoạt ộng trong thực tế. iều này cho thấy ý thức có vai trò quan trọng trong
học tập của sinh viên. Thực tế cho thấy ý thức của sinh viên thường theo 2 xu hướng:
Xu hướng tích cực: khi ứng trước những khó khăn, thử thách chông gai
thì bằng sự thông minh sáng tạo về nghị lực, nhiều sinh viên biết tận dụng mọi
cơ hội, khả năng ể vượt qua những thử thách. Họ thành công không chỉ trong
lĩnh vực học tập ,nghiên cứu khoa học mà còn tham gia tích cực vào các phong
trào Đoàn ,Đội ; các hoạt ộng văn thể mỹ.
Xu hướng tiêu cực: một số sinh viên có thái ộ thờ ơ, chán nản. Họ không
có mục tiêu trong cuộc sống, mặc kệ mọi thứ xung quanh ,chạy theo lợi ích của
cá nhân, giả dối, gian lận trong thi cử. Họ nhận ược kết quả không tốt trong học
tập, ít các mối quan hệ xã hội. Thậm chí, nhiều trường hợp còn bị buộc thôi học
hoặc phải nghỉ học vì không theo kịp kiến thức.
Vậy nên, hiện nay xã hội ang quan tâm ến sự nghiệp giáo dục nói chung
và tới giáo dục sinh viên nói riêng. Để có thái ộ sống tích cực, sinh viên cần tự
giác trong học tập, tìm tòi nghiên cứu, sáng tạo. sinh viên phải có ược những
phương pháp tiếp thu tri thức thời ại, rồi vận dụng những tri thức ó vào thực tế
góp phần xây dựng xã hội ngày càng văn minh, giàu ẹp sánh vai với các cường
quốc trong châu lục và thế giới theo úng lời căn dặn của chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bên cạnh ó, sinh viên cần tích cực tham gia vào các hoạt ộng xã hội, phát triển
kỹ năng mềm. Việc phát triển bản thân sẽ giúp cho sinh viên có năng lực chuyên
môn tốt hơn khi ra trường và áp ứng nhu cầu của thị trường về chuyên môn nghiệp vụ.
Liên hệ bản thân em – một sinh viên nghành Khoa học quản lí thì một
tiết học em sẽ dành thời gian ể chuẩn bị bài trước ở nhà ể chủ ộng nắm bắt kiến 13 lOMoAR cPSD| 23022540
thức khi nghe thầy cô giáo giảng bài. Trong quá trình học có câu hỏi mà bản
thân em còn vướng mắc , em sẽ trao ổi với thầy cô giáo và bạn bè. Nắm bài tốt
hơn em lại kết quả tốt cho kỳ thi cũng như kiến thức sau này vào công việc khi
ra trường. Trước mỗi kì học em luôn ặt ra mục tiêu rõ ràng cho bản thân ở
từng môn học ể từ ó có kế hoạch học tập rõ ràng . Quá trình hoạt ộng học tập
của em tại Đại học chính là vật chất ang hoạt ộng còn ý thức trong quá trình
hoạt ộng học tập của sinh viên là sản phẩm của bộ óc con người-sản phẩm từ bộ
óc tư duy của em và là sự phản ánh tự giác, tích cực của em, là hiện tượng học
tập và quá trình hiện thực của thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan của thế
giới khách quan. Đồng thời việc phát huy tính năng ộng, sáng tạo của ý thức
trong việc triển khai hoạt ộng học tập từ thực tế khách quan sẽ giúp cho quá
trình ịnh hướng nghề nghiệp của em dễ dàng, kiến thức dễ nhớ, hiệu quả hơn và
em lại thành tích học tập tốt về chuyên ngành Khoa học quản lí của em. Hoàn
cảnh khách quan có nhiều cơ hội cũng như thử thách, nhận thức về nó, áp dụng
và phát triển tri thức ể cải tạo nó là những iều em cần làm và chắc chắn sẽ làm. KẾT LUẬN
Có thể thấy thế giới có vật chất là cái tồn tại khách quan, không phụ thuộc
vào ý thức. Ý thức là hình ảnh phản ánh thực tại khách quan . Tuy nhiên hiện
thực qua phản ánh của ý thức ầy tích cực và sáng tạo bởi quá trình tái tạo hiện
thực của ý thức là quá trình có mục ích, có ịnh hướng. Bên cạnh ó giữa vật chất
và ý thức luôn có sự tác ộng qua lại lẫn nhau. quá trình nghiên cứu vật chất, ý
thức và mối liên hệ giữa chúng ưa ra những bài học về quá trình xem xét, nhìn
nhận sự vật cũng như tư tưởng úng ắn cần ược duy trì ể phát triển bản thân, phát
triển xã hội theo hướng tích cực và tiến bộ. Điều này càng góp phần làm sáng
tỏ tính thực tiễn của ề bài “Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
Liên hệ với ời sống sinh viên hiện nay” ối với thực tế ời sống. 14 lOMoAR cPSD| 23022540
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.
PGS.TS Phạm Văn Đức (chủ biên): Giáo trình Triết học Mác-Lênin, Nxb.
Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021 2.
C. Mác và Ph. Ăngghen, 1995, Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội , 2002 ,tr 580 3.
PGS.TS. Bùi Thị Thanh Hương - PGS. TS. Nguyễn Minh Hoàn (Đồng
chủ biên), 2018, Giáo trình Triết học Mác-Lênin, Nhà xuất bản khoa học xã hội 15