-
Thông tin
-
Quiz
Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức và liên hệ với lối sống của sinh viên ngày nay | Bài tiểu luận môn triết học mác - lênin
Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức và liên hệ với lối sống của sinh viên ngày nay | Tiểu luận môn triết học mác - lênin được siêu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuận bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đón xem!
Triết học Mác - Lenin( LLNL 1105) 512 tài liệu
Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức và liên hệ với lối sống của sinh viên ngày nay | Bài tiểu luận môn triết học mác - lênin
Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức và liên hệ với lối sống của sinh viên ngày nay | Tiểu luận môn triết học mác - lênin được siêu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuận bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đón xem!
Môn: Triết học Mác - Lenin( LLNL 1105) 512 tài liệu
Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:









Tài liệu khác của Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Preview text:
lOMoAR cPSD| 23022540
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA: LUẬT BÀI TIỂU LUẬN
Học phần: Triết học Mác- Lênin Đề tài:
Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức và liên
hệ với lối sống của sinh viên ngày nay.
HỌ VÀ TÊN: NGUYỄN NGỌC ĐẠT MÃ SINH VIÊN: 11221247 LỚP: LUẬT KINH TẾ 64B
LỚP HỌC PHẦN: LLNL1105(122)_Triết học Mác- Lênin
GIẢNG VIÊN: NGUYỄN THỊ LÊ THƯ lOMoAR cPSD| 23022540 MỤC LỤC I) Mở đầu II) Vật chất III) Ý thức
IV) Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 1) Khái niệm
2) Phân tích về mối liên hệ giữa vật chất và ý thức
V) Liên hệ với lối sống của thanh niên ngày nay
1) Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong xây dựng lối sống tích cực cho sinh viên 2) Liên hệ thực tiễn Tài liệu tham khảo I) Mở đầu
Triết học là hệ thống quan điểm lý luận chung nhất của con người về thế giới; về tự
nhiên xã hội và tư duy; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó. Theo Ph.
Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là mối
quan hệ giữa tư duy và tồn tại”. Trong suốt chiều dài tư tưởng triết học nhân loại từ xưa
đến nay, việc tìm hiểu về tư duy và tồn tại đã nảy sinh ra rất nhiều trường phái triết học,
được phân ra làm hai trường phái lớn: Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Chủ nghĩa duy vật là một trường phái triết học, một thế giới quan, một hình thức của
chủ nghĩa triết học nhất nguyên cho rằng vật chất là chất cơ bản trong tự nhiên, và tất
cả mọi thứ, bao gồm cả trạng thái tinh thần và ý thức, là kết quả của sự tương tác vật
chất. Theo chủ nghĩa duy vật triết học, tâm trí và ý thức là sản phẩm phụ của các quá
trình vật chất. Trong khi chủ nghĩa duy tâm là trường phái triết học khẳng định rằng lOMoAR cPSD| 23022540
mọi thứ đều tồn tại bên trong tinh thần và thuộc về ý thức. Đây là một cách tiếp cận tới
hiểu biết về sự tồn tại. Sự đối lập này đã kéo dài cùng với sự phát triển hơn hai thiên
niên kỉ của triết học mà đến nay chúng ta vẫn chưa có câu trả lời.
Vật chất có trước hay ý thức có trước? Ý thức quyết định vật chất hay ngược lại?
Những câu hỏi này đã kéo dài từ sự hình thành từ thuở sơ khai của con người, dù vậy
nhưng đến nay vân chưa hề có lời giải. Nhưng khi lí giải về mối quan hệ giữa vật chất
và ý thức, chủ nghĩa duy vật biến chứng cho rằng vật chất có trước ý thức, là nguồn gốc
của ý thức. Nhưng ý thức vẫn có khả năng tác động ngược lại vào vật chất thông qua sự chuyển động. II) Vật chất 1) Khái niệm
Lê-nin: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,
phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Trong từng giai đoạn phát triển của chủ nghĩa duy vật, vật chất được định nghĩa theo
từng quan niệm khác nhau:
Cổ đại: Vật chất bằng một hoặc một số chất, vật chất là nguyên tử
VD: Theo Thales : Vật chất là nước
Theo Anaximenes: Vật chất là lửa
Theo Democritus: Vật chất là các nguyên tử
Cận đại: Vật chất là nguyên tử (đã được chứng minh)
Vật chất là lượng chất chứa trong vật và bằng khối lượng
Khái niệm về vật chất đã thay đổi theo thời gian để đáp ứng với những khám phá
khoa học mới. 2) Phương thức tồn tại Thông qua vận động
Theo quan niệm của Engels: Vận động không chỉ thuần túy là sự thay đổi vị trí
trong không gian mà là “mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ”, vận
động “là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất”
nên thông qua vận động mà các dạng cụ thể của vật chất biểu hiện sự tồn tại cụ thể
của mình; vận động của vật chất là tự thân vận động; và, sự tồn tại của vật chất luôn
gắn liền với vật chất.
Căn cứ vào thế giới vật chất chia vận động thành năm hình thức cơ bản: Cơ học,
vật lí, hóa học, sinh học và xã hội theo thứ tự tăng dần tương ứng với trình độ kết cấu
vật chất. Các hình thức vận động khác nhau về chất song chúng không tồn tại biệt lập
mà có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó: hình thức vận động cao xuất hiện
trên cơ sở các hình thức vận động thấp và bao hàm trong nó những hình thức vận lOMoAR cPSD| 23022540
động thấp hơn. Trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể có nhiều hình thức vận
động khác nhau song bản thân nó bao giờ cũng được đặc trưng bởi hình thức vận
động cao nhất mà nó có.
Đặc biệt “đứng im” là một hình thức vận động đặc biệt 3) Hình thức tồn tại
Phương thức tồn tại của vật chất qua không gian và thời gian. Mọi dạng cụ thể của
vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một quảng tính (chiều cao, chiều rộng,
chiều dài) nhất định và tồn tại trong các mối tương quan nhất định (trước hay sau, trên
hay dưới, bên phải hay bên trái, …) với những dạng vật chất khác. Những hình thức tồn
tại như vậy được gọi là không gian. Mặt khác, sự tồn tại của sự vật còn được thể hiện ở
quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyển hóa, ... Những hình thức tồn tại
như vậy được gọi là thời gian.
Không gian và thời gian gắn bó mật thiết với nhau và gắn liền với vật chất, là
phương thức tồn tại của vật chất. Không có một dạng vật chất nào tồn tại ở bên ngoài
không gian và thời gian. Ngược lại, cũng không thể có thời gian và không gian nào ở ngoài vật chất.
Là hình thức tồn tại của vật chất, không gian và thời gian tồn tại khách quan, bị vật
chất quy định; trong đó, không gian có ba chiều: chiều cao, chiều rộng, chiều dài; thời
gian có một chiều: chiều từ quá khứ đến tương lai. III) Ý thức
Theo triết học Mác- Lê-nin: Ý thức là một phạm trù được quyết định với phạm trù
vật chất, theo đó ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người
và có sự cải biến và sáng tạo. Ý thức có mối quan hệ biện chứng với vật chất. 1) Nguồn gốc
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật, ý thức được xác định gồm có hai nguồn gốc:
nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội. a) Nguồn gốc tự nhiên
Sự hình thành ý thức từ con người đối với thế giới khách quan là do có sự tác động
của thế giới khách quan tới bộ óc của con người tạo ra khả năng về sự hình thành. Hoạt
động của bộ óc con người sẽ dần dần giúp cho con người hình thành các mối quan hệ
giữa con người thế giới khác quan; từ đó chính những sự vật, sự việc xuất phát từ thực
tiến sẽ tạo ra cho con người những sự sáng tạo, năng động. Những mối quan hệ
xoay quanh giữa con người với nhau trong thế giới khách quan cũng sẽ tạo nên và tác
động sâu sắc đến suy nghĩ của con người. Trong mối quan hệ này thì thế giới khách
quan sẽ thông qua hoạt động của các giác quan đã tác động đến bộ óc của con người,
hình thành nên quá trình phản ánh. Sự phản ánh của con người đối với toàn bộ các sự
vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. b) Nguồn gốc xã hội
Lao động là quá trình con người sử dụng về công cụ tác động với giới tự nhiên để
thay đổi tự nhiên phù hợp với nhu cầu con người. Trong quá trình lao động thì con
người có sự tác động tới thế giới khách quan để bộc lộ những kết cấu, thuộc tính, quy
luật vận động, theo đó biểu hiện ra những hiện tượng nhất định để con người quan sát
được. Những hiện tượng mà con người quan sát được đó được thể hiện qua hoạt động lOMoAR cPSD| 23022540
của các giác quan, có sự tác động vào bộ não con người; và thông qua bộ não để tạo ra
khả năng hình thành những tri thức và ý thức.
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức.
Không có ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thể hiện. Nhờ ngôn ngữ con người đã
không chỉ giao tiếp, trao đổi mà còn khái quát, tổng kết đúc kết thực tiễn, truyền đạt
kinh nghiệm, truyền đạt tư tưởng từ thế hệ này sang thế hệ khác. 2) Khái niệm
Bản chất của ý thức là phản ánh hiện thực khách quan một cách sáng tạo. Karl
Marx: “ Ý thức là cái vật chất được di chuyển vào đầu óc con người và cải biến trong đó”
Lenin: “ Ý thức là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan”
IV) Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 1) Khái niệm
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng mà trong đó vật
chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức và quyết định ý thức
nhưng không thụ động mà có thể tác động trở lại vật chất qua hoạt động của con người.
Theo những lý luận sơ bộ về vật chất và ý thức, ta có thể khẳng định, giữa vật chất
và ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau. 2) Phân tích về mối quan hệ giữa vật
chất và ý thức a) Vật chất quyết định ý thức
Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc ý thức. Chủ nghĩa duy vật biện chứng
khẳng định rằng: Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất là nguồn gốc
của ý thức, quyết định ý thức. Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức
cao (con người), là sự phản ánh của thế giới vật chất, là hình ảnh mang tính chủ quan
của thế giới vật chất. Nhưng ý thức là ý thức của con người, không tách rời con người,
nhưng sự ra đời của con người cũng có giới hạn còn thế giới vật chất thì tồn tại vĩnh
viễn, vô hạn. Không thể có ý thức trước khi có con người hay ý thức nằm ngoài con
người, độc lập với con người. Phải có thế giới xung quanh là tự nhiên và xã hội bên
ngoài con người mới tạo được ý thức. Vì vậy, mọi sự biến đổi của ý thức và chính sự
vận động của giới vật chất đã sản sinh ra con người, từ đó gián tiếp quyết định nguồn gốc của ý thức.
Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức. Dưới bất kỳ hình thức nào, ý
thức đều là phản ánh hiện thực khách quan. Nội dung của ý thức là kết quả của sự
phản ánh hiện thực khách quan trong đầu óc con người. Cho nên có thể nói, nội dung
của ý thức phụ thuộc vào vật chất mà ý thức phản ánh. Và sự phát triển của hoạt động
thực tiễn cả về bề rộng và chiều sâu là động lực mạnh mẽ nhất quyết định tính phong
phú và độ sâu sắc của nội dung của tư duy, ý thức con người qua các thế hệ, qua các
thời đại từ mông muội tới văn minh, hiện đại.
Thứ ba, vật chất quyết định đến bản chất của ý thức. Chính các hoạt động vật
chất trong thực tiễn có tính cải biến thế giới con người – là cơ sở để hình thành, phát
triển ý thức. Từ đây, ý thức mới sử dụng hai thuộc tính cơ bản trong bản chất của
mình là phản ánh và sáng tạo để tiếp tục thực hiện việc nâng cao đời sống con người. lOMoAR cPSD| 23022540
Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức. Mọi sự tồn tại,
phát triển của ý thức đều gắn liền với sự biến đổi của vật chất. Vật chất thay đổi thì ý
thức cũng phải thay đổi theo. Vật chất luôn vận động và biến đổi nên con người cũng
ngày càng phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần, thì dĩ nhiên ý thức cũng phát triển cả
về nội dung và hình thức phản ánh. Con người nguyên thủy chỉ biết săn bắn, hái
lượm, nhưng với sự phát triển của sản xuất, tức là sự vận động của vật chất thì tư duy
và ý thức con người cũng ngày càng được cải thiện, đời sống tinh thần ngày càng
phong phú, tức là ý thức đã được nâng cao. Hoạt động nhận thức của con người bao
giờ cũng hướng đến mục tiêu để biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu cuộc sống, hơn
nữa, cuộc sống tinh thần của con người xét đến cùng bị chi phối và phụ thuộc vào việc
thỏa mãn nhu cầu vật chất và vào những điều kiện vật chất hiện có. b) Ý thức có tính
độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Thứ nhất, ý thức có tính độc lập tương đối. Mặc dù ý thức là sự phản ánh thế
giới vật chất trong đầu óc con người, do vật chất sinh ra, nhưng một khi đã ra đời thì ý
thức có đời sống riêng của nó, có quy luật vận động và phát triển riêng, ý thức đã
không còn lệ thuộc một cách máy móc vào vật chất nữa mà còn tác động trở lại thế
giới vật chất. Biểu hiện cụ thể của điều này là một khi ý thức đã phản ánh một dạng
thực thể nào đấy (biểu hiện sự tồn tại của vật chất), và thực thể ấy biến mất hoặc thay
đổi dưới các quy luật khách quan hoặc chủ quan, thì ý thức của não bộ về thực thể ấy
cũng không hề thay đổi, trừ khi não bộ một lần nữa phản ánh lại thực tế về tình trạng
hiện tại của thực thể đó. Cho nên, ý thức có tính độc lập tương đối.
Thứ hai, ý thức có thể tác động trở lại vật chất. Thông qua quá trình nhận thức,
con người hiểu được sơ bộ các mặt vấn đề của vật chất, và với sự sáng tạo của ý thức,
con người có thể đưa ra những sáng kiến thích hợp để cải tạo và sửa đổi vấn đề đó
thông qua các hoạt động thực tiễn. Nhờ hoạt động thực tiễn, ý thức có thể làm biến
đổi những điều kiện, hoàn cảnh vật chất để phục vụ cho cuộc sống con người. Vì vậy,
ý thức có thể tác động gián tiếp trở lại vật chất thông qua các hoạt động thực tiễn của con người.
Thứ ba, ý thức không chỉ tác động trở lại vật chất, mà nó còn đóng vai trò
quyết định trong hành động của con người. Ý thức không trực tiếp tạo ra hay làm thay
đổi thế giới mà nó trang bị cho con người tri thức về hiện tượng khách quan để con
người xác định mục tiêu, kế hoạch, hành động nên làm. Sự tác động trở lại của ý thức
đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu cực. Nếu con người nhận
thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách mạng, có nghị lực, có ý chí thì hành
động của con người phù hợp với các quy luật khách quan, con người có năng lực vượt
qua những thách thức trong quá trình thực hiện mục đích của mình, thế giới được cải
tạo – đó là sự tác động tích cực của ý thức. Còn nếu ý thức của con người phản ánh
không đúng hiện thực khách quan, bản chất, quy luật khách quan thì ngay từ đầu,
hướng hành động của con người đã đi ngược lại các quy luật khách quan, hành động
ấy sẽ có tác dụng tiêu cực đổi với hoạt động thực tiễn, đối với hiện thực khách quan.
Như vậy, bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, ý thức có thế quyết định
hành động của con người, hoạt động thực tiễn của con người đúng hay sai, thành công
hay thất bại, hiệu quả hay không hiệu quả.
Thứ tư, vai trò tác động trở lại của ý thức ngày càng trở nên quan trọng trong
đời sống xã hội phát triển nhanh chóng như hiện nay. Chỉ cần một tri thức đúng đắn
được nhận thức trong một ngành, thì đa ngành sẽ nhận lợi ích, và cuối cùng con người lOMoAR cPSD| 23022540
sẽ hưởng lợi. Và ngược lại, một bước ý thức sai lệch, siêu hình, duy ý chí về vật chất
sẽ dẫn đến sự phá hủy một hệ thống được con người gây dựng nên từ trước đến nay,
nhưng điều này rất khó có khả năng xảy ra, bởi vì thời hiện đại, con người không hề ý
thức tự thân nữa mà có sự phối hợp giữa các cá thể khác, hình thành một đội hình siêu
ý thức. Bởi tri thức càng được tích lũy, con người ngày càng đi sâu vào bản chất sự
vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn, hiện nay, tri thức khoa học (ý thức con người về
sự khách quan của các lĩnh vực) đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trở thành
kim chỉ nam cho những tiến bộ vượt bậc tiếp theo của con người.
Bên cạnh đó, vai trò của ý thức còn thể hiện ở vai trò của tri thức, trí tuệ, tình
cảm và ý chí. Không có sự thúc đẩy của tình cảm, ý chí, hoạt động thực tiễn sẽ diễn ra
một cách chậm chạp, thậm chí không thể diễn ra được. Nhờ ý chí và tình cảm, ý thức
quy định tốc độ và bản sắc của hoạt động thực tiễn. Tinh thần, dũng cảm, dám nghĩ
dám làm, lòng nhiệt tình, chí quyết tâm, tình yêu, niềm say mê với công việc, khả
năng sáng tạo và vượt qua khó khăn nhằm đạt tới mục tiêu xác định đều có ảnh hưởng
to lớn đến hoạt động thực tiễn làm cho nó diễn ra nhanh hay chậm. Nó không những
là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn mà còn là động lực của thực tiễn. Chính vì vậy
phải biết kết hợp giữa tri thức, trí tuệ, khoa học với ý chí, tình cảm. Bởi tri thức càng
được tích lũy, con người ngày càng đi sâu vào bản chất sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn.
Mặc dù vậy, ý thức lại dựa trên sự chủ quan trong việc thừa nhận và tôn trọng
tính khách quan của vật chất, của các quy luật tự nhiên và xã hội. Nếu như thế giới vật
chất – với những thuộc tính và quy luật vốn có của nó – tồn tại khách quan, không
phụ thuộc vào ý thức con người thì trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất
phát từ thực tế khách quan, lấy thực thể khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của
mình. Chính vì vậy, Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, không được lấy ý muốn chủ
quan của mình làm chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến
lược và sách lược cách mạng. Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan, nếu lấy ý chí áp
đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý
chí. Không chỉ có thế, khi vai trò chỉ đạo của ý thức phạm sai lầm thì tinh thần, dũng
cảm, lòng nhiệt tình, chí quyết tâm cũng làm cho hoạt động thực tiễn thất bại một cách nhanh chóng.
Tóm lại, mặc dù ý thức có tính sáng tạo và năng động to lớn, nhưng nó không
thể vượt quá quy định của những vật chất đã được xác định, mà nó phải dựa vào năng
lực chủ quan của chủ thể hoạt động và điều kiện khách quan của tự nhiên mà hoạt động.
V) Liên hệ với lối sống của thanh niên ngày nay
1) Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong xây dựng lối sống tích cực cho sinh viên
Theo quan điểm duy vật biện chứng vật chất quyết định ý thức cho nên trong
nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phải xuất phát từ thực tế khách quan đầu tiên
bản thân mỗi người cần phải xác định cho mình điều kiện khách quan làm ảnh hưởng
đến lối sống công việc học tập của bản thân. Hiện nay sinh viên đang có lối sống theo
hai xu hướng đó là tích cực và tiêu cực. lOMoAR cPSD| 23022540
Ý thức tác động trở lại vật chất nên cần phát huy tính năng động chủ quan.
Luôn biết cách nghiên cứu trước, học hỏi trước. Vì sẽ không có ai hướng dẫn hay chỉ
cho bạn cách học mà bạn phải tự định hướng cho mình
Sinh viên là lớp trí thức trẻ được kế thừa những tri thức khoa học tiên tiến
hiện đại, được đào tạo chuyên nghiệp và có thể sử dụng chuyên môn đó để khai thác.
“Triết học và các ngành khoa học nhân văn khác giúp hình thành nhân cách của sinh
viên, giúp họ trở thành những người sáng tạo có suy nghĩ và có trách nhiệm với cuộc
sống của mình”. Sinh viện nói riêng luôn được coi là vấn đề đạo hiếu định hướng cho
sự phát triển của đất nước cũng như đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước.
Ví dụ: vật chất quyết định ý thức mà cụ thể hơn đó là tiền đã làm cho một bộ
phận sinh viên chạy theo lối sống vật chất “Sùng bái đồng tiền, làm tất cả để đạt được
mục đích của mình bất chấp thủ đoạn; coi những vấn đề tiêu cực nảy sinh trong cuộc
sống là tất yếu không những không thể thiếu mà còn rất quan trọng và hữu ích trong
việc đạt mục đích cá nhân” Mỗi người cần đặc biệt chú ý tôn trọng tính khách quan và
hành động theo quy luật khách quan như tuân thủ thời gian biểu, tham gia đầy đủ các
buổi học đồng thời tuân thủ theo hướng dẫn của giảng viên, ngoài ra cần tuân thủ các
quy định, nội quy của trường. Ý thức tác động trở lại vật chất nên cần phát huy tính
năng động chủ quan. Luôn biết cách nghiên cứu trước, học hỏi trước. Vì sẽ không có
ai hướng dẫn hay chỉ cho bạn cách học mà bạn phải tự định hướng cho mình. 2) Liên hệ thực tiễn
Trước hết là cách định nghĩa và tiếp cận trong nghiên cứu về lối sống nói
chung theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, lối sống là toàn bộ những hình thức hoạt
động sống của con người trong một xã hội nhất định được xem xét thống nhất với các
điều kiện kinh tế –xã hội nhất định Trong Di chúc của mình, Hồ Chí Minh căn dặn
Đảng và nhân dân ta: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan
trọng và rất cần thiết”. Là sinh viên năm nhất tôi tự nhận thức được rằng việc có lối
sống đúng đắn, tích cực là một điều rất cần thiết cho thế hệ trẻ là thanh niên nói chung
và sinh viên nói riêng. Lối sống tích cực thể hiện ở việc kế thừa và phát huy truyền
thống tốt đẹp của ông cha ta loại bỏ yếu tố lạc hậu như lười biếng, vô kỷ luật… một
lòng trung thành, yêu nước luôn khát khao cống hiến giá trị xây dựng nước nhà. Bên
cạnh đó cần phải tự biết làm giàu vốn kiến thức tích cực tham gia vào các phong trào
thi đua, sôi nổi trong các hoạt động do trường tổ chức. Xây dựng tinh thần trách
nhiệm có tính kỷ luật, tính tập thể nghĩa là trong một tập thể cần biết tôn trọng, ưu tiên
lợi ích chung có ý thức giữ gìn, đoàn kết tuyệt đối không gây mâu thuẫn chia bè kéo phái trong nội bộ.
Ngoài ra thì thực hiện tuyên truyền những lối sống tích cực cho mọi người
ca ngợi những tấm gương người tố việc tốt, phê pháp và loại bỏ những hành vi tiêu
cực, những tấm gương xấu. Vì thế là một sinh viên cần phải biết cách rèn luyện bản
thân lối sống tích cực, chủ động, sáng tạo cùng tinh thần hăng say và nhiệt huyết
không chỉ để nâng cao giá trị cho bản thân mà còn là xây dựng tiếp nối làm giàu đất
nước. Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự nghiệp rất khó và phức tạp, có thể
coi nó như một công cuộc kháng chiến trường kỳ của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
Những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới đòi hỏi Đảng và nhà nước ta phải
kiên trì, kiên định, luôn nâng cao trình độ, văn hoá, lý luận để thích ứng kịp thời với lOMoAR cPSD| 23022540
tình hình thực tế biến đổi không ngừng. Phải biết đánh giá đúng tình hình, xem xét,
cân nhắc kỹ hoàn cảnh cụ thể, từ đó đi tới những quyết định tối ưu. Đồng thời phải có
tầm nhìn xa trong rộng, biết giải quyết một cách khoa học các nhiệm vụ trước mắt và
lâu dài. Có như thế mới tạo điều kiện cho nền kinh tế Việt Nam cất cánh, để từ đó
nâng cao hơn nữa vị trí Việt Nam trên chiến trường quốc tế, góp phần xứng đáng vào
công cuộc đổi mới kinh tế đất nước. Tài liệu tham khảo 1)
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Giáo trình Triết học Mác - Lênin (Dành cho
bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị) Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật. 2)
Văn hóa và lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và
hội nhập quốc tế một số vấn đề lý thuyết và cách tiếp cận
1. LS. Nguyễn Minh Hải: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, phương pháp luận.
2. PGS.TS Phạm Hồng Tung: văn hóa và lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối
cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế một số vấn đề lý thuyết và cách tiếp cận.
3. PGS.TS Phạm Văn Đức: Giáo trình Triết học Mác-Lênin.
4. TS. Lê Thị Chiên: Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau theo di chúc Hồ Chí Minh.