













Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA DU LỊCH TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MAC-LENIN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC.
Họ và Tên: Nguyễn Như Huỳnh MSSV: 2256181025 Lớp: QTDL&LH K13 CLC MỤC LỤC I. LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài...............................................................................................1
2. Tài liệu...............................................................................................................1
3. Mục đích và nhiệm vụ.......................................................................................1
4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................1 II. NỘI DUNG CHÍNH
1. Lý luận chung về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức..................2
1.1. Vật chất........................................................................................................2
1.1.1. Định nghĩa vật chất.................................................................................2
1.1.2. Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất........................................4
1.1.3. Tính thống nhất vật chất của thế giới......................................................5
1.2. Ý thức...........................................................................................................5
1.2.1. Kết cấu và nguồn gốc của ý thức............................................................5
1.2.3. Bản chất của ý thức.................................................................................6
1.3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.............................................................6
2. Ý nghĩa phương pháp luận...............................................................................7
3. Liên hệ thực tiễn................................................................................................8
3.1 Nhận thức.......................................................................................................8
3.2 Thực hiên........................................................................................................8
III. TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................10 LỜI MỞ ĐẦU 1) Lý do chọn đề tài
Như chúng ta thấy triết học Mác – Lênin trang bị cho con người hệ thống các khái
niệm, phạm trù, quy luật làm công cụ nhận thức khoa học, giúp con người phát triển tư
duy khoa học, đó là tư duy ở cấp độ phạm trù, quy luật.Những nguyên lý và quy luật cơ
bản của phép biện chứng duy vật, của chủ nghĩa duy vật lịch sử nói riêng và của triết học
Mác – Lênin nói chung là sự phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ
phổ biến nhất của hiện thực khách quan. Trong Triết học Mác - Lênin có đề cập đến quan
niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và
ý thức. Ta thấy rằng vật chất và ý thức tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau, tác
động lẫn nhau thông qua hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ đó thì vật chất giữ vai trò
quyết định đối với ý thức. Tiếp đến, trong thực tiễn đời sống sinh viên hiện nay thì khi sinh
viên vận dụng một cách hiệu quả mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức sẽ giúp
cho bản thân mỗi người có thêm nhiều kiến thức, sự hiểu biết đa dạng, phẩm chất tốt, có
định hướng nghề nghiệp hiệu quả, lựa chọn ngành học một cách hợp lý từ đó hoàn thiện
bản thân hơn nữa khiến bản thân trở thành những người có ích cho gia đình và xã hội. Từ
quá trình học tập, mỗi người sẽ áp dụng được những kiến thức lý thuyết vào trong hoạt
động thực tiễn cuộc sống, cống hiến sức lực, tư duy của bản thân khiến cho đất nước ngày
càng giàu mạnh và phát triển. Xuất phát từ ý nghĩa và mục đích như trên, là cơ sở để em
chọn đề tài: “Phân tích quan điểm của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng
giữa vật chất và ý thức. Liên hệ và rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân.Do thời gian
có hạn và kiến thức của bản thân còn hạn chế cho nên bài viết sẽ không tránh khỏi nhiều
thiếu sót. Kính mong sự góp ý của thầy. Em xin chân thành cảm ơn. 2) Tài liệu
- Giáo trình Triết học Mác – Lênin : Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý
luận chính trị. – H. : Chính trị Quốc gia. 2021
3) Mục đích và nhiệm vụ
- Mục đích: Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã nghiên cứu, phân tích quá trình vận dụng
mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức.Từ đó đề ra những phương hướng nhằm
vận dụng có hiệu quả hơn nữa quan điểm của triết học Mac -Lenin vào trong các vấn đề thực tiễn. - Nhiệm vụ:
+ Trình bày các khái niệm cơ bản về vật chất và ý thức.
+ Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
+ Trình bày ý nghĩa của phương pháp luận.
+ Liên hệ thực tiễn và rút ra bài học kinh nghiêm cho bản thân.
4) Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đồng thời
dựa trên những nguyên lý cơ bản của triết học Mác – Lenin 1
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: tổng hợp những ý kiến, quan điểm qua
giáo trình, sách báo, phương tiện internet
- Phương pháp phân tích và tổng kết: cho phép nghiên cứu và xem xét lại thành quả
trong quá khứ và rút ra bài học cho tương lai II) NỘI DUNG CHÍNH
1. Lý luận chung về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức 1.1. Vật chất
1.1.1. Định nghĩa vật chất
a. Quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất
Trước Mác, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về vật
chất. Sau đây là một số quan niệm điển hình:
Vật chất được định nghĩa đầu tiên là một vật thể cụ thể, hữu hình nhất định đang tồn
tại ở thế giới bên ngoài. Quan điểm này được hình thành từ nhận thức trực quan sinh động,
cảm tính. Vào thời kỳ cổ đại, ở Hy Lạp nói riêng và các nước phương tây nói chung, các
nhà triết học đã đồng nhất vật chất nói chung với các dạng cụ thể. Nhà triết gia, nhà toán
học người Hy Lạp Talet đã cho rằng vật chất là nước, nước chính là yếu tố đầu tiên, là
nguyên bản của mọi sự vật xuất hiện trong thế giới này. Mọi sự vật đều sinh ra và bắt
nguồn từ nước, biến đổi không ngừng nghỉ và ngay cả khi chết đi thì lại phân hủy thành
nước, chỉ có nước là tồn tại mãi mãi. Trái với ý kiến của Talet, Heraclitus lại cho rằng lửa
là nguồn gốc của mọi sự vật. Ông cho rằng “Mọi cái biến đổi thành lửa và lửa biến thành
mọi cái tựa như trao đổi vàng thành hàng hóa và hàng hóa thành vàng”. Với quan niệm
này, Heraclitus đã thể hiện rõ những tư tưởng đầu tiên vô cùng sâu sắc về sự thống nhất
vật chất của thế giới.
Trong khi đó, vào thời kỳ cổ đại ở phương Đông, quan niệm về vật chất lại được thể
hiện qua một số trường phái triết học Ấn Độ và Trung Hoa. Điển hình trong số đó là
trường phái Lokayata của Ấn Độ cho rằng tất cả mọi sự vật được tạo ra bởi sự kết hợp của
bốn yếu tố: Đất - Nước - Lửa - Khí bởi bốn yếu tố này có khả năng tự tồn tại và phát triển
trong thế giới và đây cũng là cơ sở để hình thành các sự vật khác. Bên cạnh đó, thuyết Ngũ
hành của Trung Hoa còn cho rằng năm yếu tố Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là khởi nguyên
để cấu thành nên mọi vật. Trong đó, Kim đại diện cho tính chất trắng, khô, cay, ở phía Tây.
Mộc tượng trưng cho tính chất xanh, chua, ở phía Đông. Thủy tượng trưng cho tính chất
đen, mặn, ở phía Bắc. Hỏa tượng trưng cho tính chất đỏ, đắng, ở phía Nam. Thổ tương
trưng cho tính chất vàng, ngọt, ở giữa. Năm yếu tố này không tồn tại độc lập mà tác động
lẫn nhau để tạo nên mọi sự biến đổi của tự nhiên. Tuy quan điểm này chưa đầy đủ và còn
tồn động những hạn chế nhất định nhưng đây cũng là một bước tiến lớn trong quá trình
nhận thức về vật chất, để nhằm lý giải về vật chất và cấu tạo của vũ trụ.
Nhưng trên tất cả, định nghĩa về vật chất của hai nhà triết học Hy Lạp cổ Lờxíp và
Đêmôcrít là một bước tiến quan trọng cho sự phát triển về phạm trù vật chất. Hai nhà triết
học đã định nghĩa nguyên tử là căn nguyên của mọi vật. Theo họ, nguyên tử là những hạt
nhỏ nhất, không thể phân chia, không khác nhau về chất, tồn tại vĩnh viễn và sự phong phú
của chúng về hình dạng, tư thế, trật tự sắp xếp quy định tính muôn vẻ của vạn vật. Theo
thuyết nguyên tử thì vật chất theo nghĩa bao quát nhất, chung nhất không đồng nghĩa với 2
những vật thể mà con người có thể cảm nhận được một cách trực tiếp, mà là một lớp các
phần tử hữu hình nằm sâu trong mỗi sự vật. Quan niệm này là một bước tiến
lớn trong quá trình tìm kiếm một định nghĩa đúng đắn về vật chất mà còn có ý nghĩa như
một dự báo khoa học tài tình của con người về cấu trúc của thế giới vật chất nói chung.
b. Định nghĩa về vật chất của Lênin
Trong tác phẩm ‘‘Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán’’, Lênin đã
định nghĩa về phạm trù vật chất như sau: "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ
thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng
ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác".
Trong định nghĩa này, Lênin phân biệt hai vấn đề quan trọng. Trước hết là phân biệt
vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các quan niệm của khoa học tự nhiên về cấu
tạo và những thuộc tính cụ thể của các đối tượng các dạng vật chất khác nhau. Vật chất với
tư cách là phạm trù triết học dùng chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra,
không mất đi ; còn các đối tượng, các dạng vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều có
giới hạn, có sinh ra và mất đi để chuyển hóa thành cái khác. Vì vậy, không thể quy vật chất
nói chung về vật thể, không thể đồng nhất vật chất nói chung với những dạng cụ thể của
vật chất như các nhà duy vật trong lịch sử cổ đại, cận đại đã làm.
Thứ hai là trong nhận thức luận, đặc trưng quan trọng nhất để nhận biết vật chất chính
là thuộc tính khách quan. Khách quan, theo Lênin là "cái đang tồn tại độc lập với loài
người và với cảm giác của con người". Về mặt nhận thức luận thì khái niệm vật chất
không có nghĩa gì khác hơn : "thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức con người và
được ý thức con người phản ánh". Như vậy, định nghĩa vật chất của Lênin bao gồm những nội dung cơ bản:
- Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức, bất
kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được.
- Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hoặc trực tiếp tác
động lên giác quan của con người.
- Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất.
Với những nội dung cơ bản như trên định nghĩa của Lênin có nhiều ý nghĩa to lớn. Khi
khẳng định vật chất là "thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác",
"tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác", Lênin đã thừa nhận rằng, trong nhận thức luận, vật
chất là tính thứ nhất, là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức. Và khi khẳng định vật
chất là cái "được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh", Lênin muốn nhấn
mạnh rằng bằng những phương thức nhận thức khác nhau (chép lại, chụp lại, phản ánh...)
con người có thể nhận thức được thế giới vật chất. Như vậy, định nghĩa vật chất của Lênin
đã bác bỏ quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, bác bỏ thuyết không thể biết, đã khắc phục
được những hạn chế trong các quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất.
Đồng thời, định nghĩa vật chất của Lênin còn có ý nghĩa định hướng đối với khoa học cụ
thể trong việc tìm kiếm các dạng hoặc các hình thức mới của vật thể trong thế giới Khi
nhận thức các hiện tượng thuộc đời sống xã hội, định nghĩa vật chất của V.I. Lênin đã cho
phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội. Từ đó giúp các nhà khoa học có cơ
sở lý luận để giải thích những nguyên nhân cuối cùng của các biến cố xã hội, những
nguyên nhân thuộc về sự vận động của phương thức sản xuất; trên cơ sở ấy, người ta có
thể tìm ra các phương án tối ưu để hoạt động thúc đẩy xã hội phát triển. 3
1.1.2. Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất a. Vận động
Vận động là phương thức tồn tại của vật chất,điều đó có nghĩa là vật chất tồn tại bằng
cách vận động, thông qua vận động mà các dạng vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình.
Như vậy, bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng ở trong trạng thái vận động.
Các hình thức vận động cơ bản của vật chất
Ph.Ăngghen đã rút ra năm hình thức vận động cơ bản của vật chất là:
- Vận động cơ học là sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian. (ví dụ: vận động
viên đang chạy trên đường)
- Vận động vật lý là sự vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động điện tử, …(ví
dụ: vận động của dòng electron, của các ion dương, các điện tử quay chung quanh hạt nhân)
- Vận động hóa học là sự vận động của các nguyên tử, các quá trình hóa hợp và
phân giải các chất. (ví dụ: hiện tượng muối hóa tan trong nước)
- Vận động sinh học là sự trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường. (ví dụ: hiện tượng quang hợp ở thực vật)
- Vận động xã hội là sự thay đổi, thay thế các quá trình xã hội của các hình thái kinh tế -
xã hội. (ví dụ: Xã hội phong kiến vận động, phát triển lên xã hội tư bản chủ nghĩa)
Mỗi loại hình thức vận động đều tồn tại trong mối liên hệ biện chứng với nhau và cùng có
chung chức năng để vận hành và phát triển mọi sự vật của thế giới. b. Đứng im
Ngoài ra, quá trình vận động còn bao hàm trong nó hiện tượng đứng im. Theo
quan điểm của triết học Mác - Lênin thì đứng im là một trạng thái đặc biệt của vận động
đó là sự vận động trong trạng thái cân bằng, tức là những tính chất của vật chất chưa có sự
biến đổi về cơ bản. Đứng im chỉ là hiện tượng tương đối và tạm thời. Theo Ph. Ăng-ghen
thì "mọi sự cân bằng chỉ là tương đối và tạm thời".
c. Không gian và thời gian Khái niệm
Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính
chung vốn có của các dạng vật chất cụ thể. Khái niệm không gian dùng để chỉ quảng tính
của sự vật, còn khái niệm thời gian dùng để chỉ quá trình biến đổi của sự vật.
Không gian và thời gian là những hình thức cơ bản của vật chất đang vận động và gắn
liền với vật chất. Lênin cho rằng: “Trong thế giới, không có gì ngoài vật chất đang vận
động và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian”.
Tuy nhiên, sau này, những phát minh trong toán học, trong vật lý học đã bác bỏ quan niệm
trên và khẳng định thuộc tính không gian không phải lúc nào và ở đâu cũng đồng nhất, bất
biến, tuyệt đối, mà trái lại, không gian có sự biến đổi phụ thuộc vào vật chất vận động.
Chủ nghĩa duy vật khẳng định: không gian và thời gian cùng tồn tại khách quan, gắn
liền với vật chất vận động. Không gian có 3 chiều, còn thời gian có một chiều luôn vận
động từ quá khứ đến tương lai. Tính chất 4
Hai yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất của vật chất. Theo chủ nghĩa Marx -
Lenin thì không có một dạng vật chất nào tồn tại ở bên ngoài không gian và thời gian. Mặt
khác, không thể có thời gian và không gian nào ở ngoài vật chất.
Cụ thể. tính khách quan của cặp hình thức này được thể hiện ở việc không gian và thời
gian là thuộc tính của vật chất tồn tại gắn liền với nhau và gắn liền với vật chất. Vì vật chất
tồn tại khách quan, do đó không gian và thời gian là thuộc tính của nó nên cũng tồn tại
khách quan. Ngoài ra, không gian và thời gian mang một tính vĩnh cửu vô tận thể hiện ở
việc không gian và thời gian không có tận cùng về một phía nào, xét cả về quá khứ lẫn
tương lai, cũng như mọi phương vị. Không gian luôn có ba chiều (chiều dài, chiều rộng,
chiều cao), còn thời gian chỉ có một chiều (từ quá khứ tới tương lai). Không gian và thời
gian là một thực thể thống nhất không-thời gian và có số chiều là 4 (3+1)
1.1.3. Tính thống nhất vật chất của thế giới
Những dạng biểu hiện của thế giới vật chất đều phản ánh bản chất của thế giới và
thống nhất với nhau. Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định bản chất của thế giới là vật
chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất. Theo quan điểm đó:
- Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất; thế giới vật chất là cái có trước,
tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người.
- Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn, không sinh ra, không mất đi.
- Mọi tồn tại của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với nhau, biểu
hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, có
nguồn gốc vật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những qui luật khách
quan, phổ biến của thế giới vật chất. Trong thế giới vật chất không có gì khác ngoài những
quá trình vật chất đang biến đổi và chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau.
Nó không chỉ định hướng cho con người giải thích về tính đa dạng của thế giới mà còn
tạo điều kiện cho con người tiếp tục nhận thức về tính đa dạng ấy để thực hiện quá trình
cải tạo hợp qui luật cũng như vận dụng tính đa dạng vào trong thực tiễn cuộc sống. 1.2. Ý thức
1.2.1. Kết cấu và nguồn gốc của ý thức
Định nghĩa theo phạm vi thì ý thức chỉ toàn bộ đời sống tinh thần, tâm lý của
con người được tạo thành từ nhiều yếu tố, trong đó có 2 yếu tố cơ bản nhất là tình
cảm và tri thức.Định nghĩa theo bản chất thì ý thức là toàn bộ sự phản ánh năng động sáng
tạo của con người đối với thế giới khách quan.
Ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp gồm tri thức, tình
cảm, ý chí, trong đó tri thức là quan trọng nhất. Theo Mác “Tri thức là phương thức tồn tại
của ý thức”. Tri thức là yếu tố căn bản nhất phân biệt tâm lý của con người với tâm lý
động vật, nhờ vào tri thức mà con người có thể cải tạo tự nhiên xã hội.
Nguồn gốc của ý thức bao gồm nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội. - Nguồn gốc tự nhiên
Ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khi
xuất hiện con người và bộ óc. Khoa học chứng minh rằng, thế giới vật chất nói
chung và trái đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người,
rằng hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh bộ não
người. Không thể tách rời ý thức ra khỏi bộ não vì ý thức là chức năng bộ não, bộ não là
khí quản của ý thức. Sự phụ thuộc ý thức vào hoạt động bộ não thể hiện khi bộ não bị tổn
thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn. 5 - Nguồn gốc xã hội
Sự ra đời của ý thức gắn liền với sự phát triển của bộ óc con người dưới ảnh
hưởng của lao động và giao tiếp xã hội. Lao động của con người là nguồn gốc vật
chất có tính xã hội nhằm cải tạo tự nhiên, thoả mãn nhu cầu và phục vụ mục đích
bản thân con người, từ đó mà xã hội loài người mới hình thành và phát triển. Lao
động là phương thức tồn tại cơ bản đầu tiên của con người, kết nối con người với
nhau trong mối quan hệ khách quan, tất yếu; dần dần mối quan hệ này sản sinh nhu cầu
trao đổi kinh nghiệm và tổ chức lao động. Và kết quả là ngôn ngữ ra đời.
Ngôn ngữ được coi là cái vỏ vật chất của tư duy, với sự xuất hiện của ngôn
ngữ, tư tưởng con người có khả năng biểu hiện thành hiện thực trực tiếp, trở thành
tín hiệu vật chất tác động dưới giác quan của con người và gây ra cảm giác. Nhờ có nó mà
con người có thể giao tiếp, trao đổi, truyền đạt kinh nghiệm cho nhau, thông qua đó mà ý
thức cá nhân trở thành ý thức xã hội, và ngược lại. Chính nhờ trừu tượng hóa và khái quát
hóa mà con người có thể đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng, đồng thời tổng kết
hoạt động của mình trong toàn bộ quá trình phát triển lịch sử.
1.2.3. Bản chất của ý thức
Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức, có thể thấy rõ ý thức có bản tính
phản ánh, sáng tạo và bản tính xã hội.
Bản tính phản ánh thể hiện về thế giới thông tin bên ngoài, là biểu thị nội
dung được từ vật gây tác động và được truyền đi trong quá trình phản ánh. Bản
tính của nó quy định mặt khách quan của ý thức, tức là phải lấy khách quan làm
tiền để bị nó quy định nội dung phản ánh là thế giới khách quan. Ý thức ngay từ
đầu đã gắn liền với lao động, trở thành một mặt tất yếu của quá trình hoạt động
sáng tạo, cải tạo xã hội.
Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó không chụp lại một cách thụ
động nguyên xi hiện thực khách quan mà có cải biến, quá trình thu nhập thông tin
gắn liền với quá trình xử lý thông tin. Tính sáng tạo còn thể hiện ở khả năng gián
tiếp khái quát thế giới khách quan ở quá trình chủ động, tác động vào thể giới đó.
Phản ánh và sáng tạo có quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời, không có
phản ánh thì không có sáng tạo, bởi vì phản ánh là điểm xuất phát và nền tảng của
sáng tạo. Nghĩa là, mối quan hệ biện chứng giữa thu nhận và xử lý thông tin là sự
thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan của ý thức.
Ý thức chỉ được nảy sinh trong lao động, hoạt động cải tạo thế giới của con
người. Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội. Ý thức trước
hết là nhận thức của con người về xã hội và hoàn cảnh và những gì đang diễn ra ở thế giới
khách quan về mối liên hệ giữa người và người. Vì thế mà ý thức xã hội hình thành và bị
chi phối bởi tồn tại xã hội và các quy luật của tồn tại xã hội đó. Ý thức của mỗi cá nhân
mang trong nó ý thức xã hội. Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản
ánh trong sáng tạo. Sự thống nhất đó thể hiện ở tính năng động chủ quan của ý thức, ở
quan hệ giữa nhân tố vật chất và nhân tố ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới quan của con người.
1.3. Mối quan hệ của vật chất và ý thức
- Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng mà trong đó
vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức và quyết định
ý thức nhưng không thụ động mà có thể tác động trở lại vật chất qua hoạt động của con người. 6
- Vật chất và ý thức có quan hệ hai chiều tác động qua lại lẫn nhau. Mối quan hệ
giữa vật chất và ý thức được thể hiện qua nhận thức và thực tiễn như sau:
Thứ nhất: vật chất có vai trò quyết định ý thức
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau vì
+ Vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức: Ý thức gắn liền với bộ óc người, tuy
nhiên thì loài người mới chỉ xuất hiện cách đây 3 đến 7 triệu năm, mà con người là kết quả
của một quá trình phát triển, tiến hóa lâu dài phức tạp của giới
tự nhiên, của thế giới vật chất. Con người do giới tự nhiên, vật chất sinh ra, cho
nên ý thức – một thuộc tính của con người – cũng là do giới tự nhiên, vật chất sinh ra
+ Vật chất quyết định nội dung của ý thức: Dưới bất cứ tình huống nào, ý thức đều là phản
ánh hiện thực khách quan. Ý thức mà trong nội dung của nó chẳng qua là kết quả của sự
phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người. Hay nói cách khác, có thế giới
hiện thực vận động, phát triển theo những quy luật khách quan của nó, được phản ánh vào
ý thức mới có nội dung của ý thức
+ Vật chất quyết định bản chất của ý thức: Thực tiễn là hoạt động vật chất có tính cải biến
thế giới của con người – là cơ sở để hình thành, phát triển ý thức, trong đó ý thức của con
người vừa phản ánh, vừa sáng tạo, phản ảnh để sáng tạo và sáng tạo trong phản ánh
+ Vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức: Mọi sự tồn tại, phát triển của ý
thức đều gắn liền với quá trình biến đổi của vật chất; vật chất thay đổi thì sớm hay muộn,
ý thức cũng phải thay đổi theo.
Thứ hai: Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
- Tính độc lập tương đối của ý thức: ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào trong đầu
óc con người, do vật chất sinh ra, nhưng khi đã ra đời thì ý thức có “đời sống” riêng, có
quy luật vận động, phát triển riêng, không lệ thuộc một cách máy móc vào vật chất
- Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực tiễn của con
người: nhờ hoạt động thực tiễn, ý thức có thể làm biến đổi những điều kiện, hoàn cảnh vật
chất, thậm chí còn tạo ra “thiên nhiên thứ hai” phục vụ cho cuộc sống của con người. còn
tự bản thân ý thức thì không thể biến đổi được hiện thực.
- Vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ chỉ đạo hoạt động, hành động của con người:
khi phản ánh đúng hiện thực, ý thức có thể dự báo, tiên đoán một cách chính xác cho hiện
thực, có thể hình thành những định hướng đúng đắn.
- Xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất là trong thời đại của công nghệ thông tin.
2) Ý nghĩa phương pháp luận
Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong triết học Mác - Lênin, rút ra nguyên tắc
phương pháp luận là tôn trọng tính khách quan kết hợp phát huy tính năng động chủ quan.
Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, mọi chủ trương, đường lối, kế hoạch, mục tiêu,
chúng ta đều phải xuất phát từ thực tế khách quan, từ những điều kiện, tiền đề vật chất
hiện có. Trong quá trình nhận thức, học tập, nghiên cứu, con người phải bắt đầu từ việc
quan sát, xem xét, phân tích đối tượng vật chất. Qua việc tác động vào chúng, ta sẽ bắt đối
tượng vật chất phải bộc những thuộc tính,quy luật của nó. Khi đó, ta sẽ thu nhận được tri
thức. Cần luôn nỗ lực loại bỏ bệnh chủ quan, duy ý chí trong cuộc sống; tránh xa thói quen
chỉ căn cứ vào nhu cầu,ước muốn, niềm tin của mình để hành động mà không nghiên cứu,
đánh giá đầy đủ tình hình các đối tượng vật chất. 7
Phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người.
Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải luôn chủ động, phát huy hết trí
thông minh, khả năng suy nghĩ của mình. Phải luôn tìm tòi, sáng tạo ra cái mới trên cơ sở
tích lũy, kế thừa những cái cũ phù hợp. Có như vậy, con người mới ngày càng tài năng, xã
hội ngày phát triển. Tuyệt đối không được thụ động, trông chờ, ỷ lại trong mọi tình huống.
Điều ngày cũng đồng nghĩa với việc tránh sa vào lười suy nghĩ, lười lao động.
Để thực hiện nguyên tắc tôn trọng tính khách quan kết hợp phát huy tính năng động chủ
quan, chúng ta còn phải nhận thức và giải quyết đúng đắn các quan hệ lợi ích, phải biết kết
hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội; phải có động cơ trong sáng, thái
độ thật sự khách quan, khoa học, không vụ lợi trong nhận thức và hành động của mình. 3) Liên hệ thực tiễn 3.1 Nhận thức
Như chúng ta thấy hiện nay một bộ phận không nhỏ sinh viên Việt Nam chưa tích cực
học tập nghiên cứu: Việc chưa tích cực học tập, nghiên cứu là thuộc về ý thức. Câu này
muốn nói đến ý thức, tinh thần, tư duy của các bạn sinh viên. Cái gì bên ngoài sinh viên
chính là thực tại khách quan nó tác động đến học, nó làm cho một bộ phận không nhỏ sinh
viên chưa tích cực học. Trước hết, nếu nói sinh viên tích cực học tập thì trước khi đến lớp
thì các sinh viên phải nghiên cứu, phải hiểu bài ở nhà bằng cách đọc giáo trình, bài giảng
chưa đủ thì sinh viên phải lên thư viện đọc rất nhiều tài liệu tham khảo liên quan tới nội
dung của bài đó. Và trước khi lên lớp, về cơ bản sinh viên phải tự trang bị kiến thức cho
bản thân. Chỉ có trong quá trình học và đọc trong tài liệu, trong giáo trình đó có nhiều
điểm hoặc một số điểm mà sinh viên chưa hiểu thì các bạn sinh viên lưu nó lại và lên lớp
chủ yếu là trao đổi những vấn đề đó. Thầy cô đâu phải là người trang bị kiến thức mà sinh
viên mới là người tự trang bị kiến thức.Thầy cô giảng bài chỉ là tư vấn, định hướng, gợi
mở mà thôi đâu phải là trang bị kiến thức. Chuyển từ quá trình dạy học, lấy người dạy làm
trung tâm sang lấy người học làm trung tâm. Vậy thì trước khi lên lớp thì bản thân sinh
viên phải nghiên cứu tài liệu tỉ mỉ, nội dung như thế nào, kết cấu ra sao, ngày hôm đó có
bao nhiêu vấn đề thì sinh viên phải học, phải đọc trước. Chỉ còn một số vấn đề các bạn
sinh viên chưa rõ thì nên trao đổi những vấn đề đó mà thôi.
Bản thân em thấy rằng những yếu tố bên ngoài thực tiễn khách quan làm cho sinh viên
chưa tích cực học tập, nghiên cứu như yếu tố cơ sở vật chất chưa thực sự tốt; hệ thống thư
viện chưa thực sự hiện đại và cập nhật. Muốn học tập tốt, nghiên cứu tốt thì người thầy,
người cô phải có phương pháp,chuyên môn đủ, phải rất tâm huyết với nghề và thầy cô dạy
chuyên môn, chuyên ngành phải là những người khơi mở tư duy, phải gợi ra động lực để
sinh viên đam mê chiếm lĩnh tri thức. 3.2 Thực hiện -Trong học tập:
+ Trước hết, vật chất có vai trò quyết định ý thức. Như vậy, bản thân mỗi chúng ta cần
phải hiểu rõ được những yếu tố khách quan ảnh hướng đến việc phát triển học tập và công
việc. Chỉ khi nhận thức rõ được nền tảng, cơ sở và xuất phát điểm của những việc trên thì
họ mới có thể tiến xa và sâu hơn trên chính con đường học vấn của mình. Tự vạch ra
những mục tiêu học tập cũng như những thời khóa biểu trong từng ngày, từng tuần, từng
tháng, từng năm là một trong những cách em đã dùng để thúc đẩy bản thân mình luôn cố
gắng học và tập trung hoàn thành những nhiệm vụ đã được giao. Mặt khác, mỗi người cần
phải đặc biệt chú ý tôn trọng tính khách quan và hành động theo các quy luật mang tính
khách quan. Một số việc làm mà bản thân em - một sinh viên tại trường Đại Học 8
KHXH & NV có thể làm là: đi học đúng giờ, học và làm bài tập về nhà đầy đủ, tích cực và
hăng hái trong việc xây dựng bài...
+ Thứ hai, ý thức tác động trở lại vật chất nên cần phải tiếp tục tính năng động chủ quan
tức là phải phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo đang ẩn sâu trong ý thức.Như
chúng ta đã biết, trong kết cấu của ý thức thì tri thức là yếu tố quan trọng nhất. Tri thức là
phương thức vận động và tồn tại của ý thức. Do đó, em luôn cố gắng không ngừng nghỉ
trong việc tích cực học tập, tìm hiểu và khai thác vấn đề, khi học bài không quá phụ thuộc
vào giảng viên mà thay vào đó suy nghĩ những ý tưởng độc đáo, mới lạ, thể hiện được cá
tính cũng như suy nghĩ của cá nhân mình. Trong những buổi làm việc nhóm để hoàn thành
do các thầy cô giao, em luôn chủ động trong việc tìm kiếm những kiến thức từ nhiều
nguồn khác nhau. Đó có thể là những tri thức quý báu được các thầy cô đã giảng trên lớp
hay những kiến thức chúng ta tích lũy từ thư viện, từ sách báo hay các nguồn tham khảo
trên mạng. Tuy nhiên, những tri thức tiếp thu từ những nguồn đó là chưa đủ, xã hội luôn
đòi hỏi mỗi người phải có một vốn kỹ năng sống dày dặn. Muốn làm được như vậy thì
chúng ta cần tham gia vào các hoạt dộng tình nguyện ngoài trời hay tìm kiếm một công
việc làm thêm phù hợp để hiểu được giá trị của đồng tiền.
+ Thứ ba, từ ý nghĩa phương pháp luận được rút ra từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức,
chúng ta cần phải chống lại bệnh chủ quan duy ý chí cũng như bệnh bảo thủ trì trệ. Cụ thể
là cần tiếp thu có chọn lọc những ý kiến mới, việc hôm nay không nên để ngày mai, không
chủ quan trước mọi tình huống, phải biết lắng nghe và tiếp thu sự góp ý của người khác để
bổ sung kiến thức cho chính mình, từ đó có thể phát triển bản thân ngày một tốt đẹp hơn.
Ví dụ như sau một bài thuyết trình thì phải nán lại lắng nghe ý kiến chỉnh sửa của cả lớp
và giảng viên hay khi làm bài hoặc họp nhóm cần phải sử dụng sự sáng tạo, đột phá, cải
tiến cãi cũ nhưng cũng không nên quá cầu toàn. Ngoài ra, chúng ta cũng không nên ý lại
vào những cá nhân khác, không nên có thái độ tiêu cực, thủ động mà phải tự mình học tập.
- Trong đời sống sinh hoạt
+ Trong vấn đề cải thiện sức khỏe, em đã tích cực áp dụng vai trò của vật chất đối với ý
thức: vật chất quyết định ý thức. Từ trước đến nay sức khỏe luôn đóng trò quan trọng
trong đời sống con người. Có sức khỏe là có tinh thần, năng lượng tràn đầy trong công
việc và cuộc sống, đối mặt với những áp lực họ có thể dễ dàng vượt qua, công việc hay
cuộc sống đối với họ là một niềm vui, một mục tiêu cần phấn đấu. Khi mất đi sức khỏe,
chúng ta phải tốn biết bao nhiêu vàng bạc của cải tích cóp để chi cho cái giường bệnh đắt
giá, chi trả cho thuốc men, thậm chí đánh đổi bằng cả thời gian quý giá của cuộc đời, của
người thân. Hiểu được điều này, em luôn cố gắng giữ thói quen sinh hoạt và ăn uống điều
độ điển hình như việc đi ngủ sớm và ngủ đủ giấc. Việc đi ngủ và ngủ đủ giấc sớm chính là
vật chất ảnh hưởng tích cực đến ý thức là sức khỏe tinh thần hay thái độ của con người
trong học tập và làm việc. Chỉ khi ngủ đủ giấc thì em mới có thể giữ được thái độ tích cực
và giữ được lửa trong từng công việc mà mình làm. Ngoài ra, em còn có rèn luyện cho
mình thói quen đọc sách, thiền và tập thể dục để duy trì sức khỏe thể chất.
+ Trong việc cải thiện các mối quan hệ, em luôn giữ thái độ tốt đẹp với tất cả mọi người
xung quanh cùng với việc đi kết bạn và mở rộng các mối quan hệ. Đó không chỉ là các
mối quan hệ với các bạn bè đồng trang lứa mà còn là với các thầy cô nỏi riêng và với các
thế hệ đi trước. Việc kết bạn sẽ giúp em có thể học được nhiều điều từ họ; từ đó em có thể
phát triển bản thân. Lợi ích của các mối quan hệ xã hội tốt đẹp có nâng cao sức khỏe về
mặt tinh thần rất nhiều, từ đó trực tiếp ảnh hưởng tới sức khỏe về mặt thể chất. Những mối 9
quan hệ với bạn bè, thầy cô, gia đình là vật chất sẽ giúp chúng ta giải tỏa được áp lực,
khiến cho tinh thần là ý thức của chúng ta ngày càng được cải thiện. KẾT LUẬN
Qua việc tìm hiểu và phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật
chất và ý thức, từ đó xây dựng ý nghĩa phương pháp luận chung và liên hệ với thực tiễn,
chúng ta thấy rằng thế giới về bản chất là vật chất, vật chất thì tồn tại khách quan có trước
và quyết định ý thức, còn ý nghĩa thì chính là cái có sau và là sự phản ánh vật chất, cũng là
hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Trong hoạt động thực tiễn thì nhân tố vật chất
là cơ sở quy định các nhân tố tinh thần chỉ có thể phát huy tác dụng nếu nó bảo đảm sự
thống nhất gắn bó với các nhân tố vật chất. Do vậy, để phát huy hiệu quả hoạt động học
tập của bản thân thì em phải xuất phát từ thực tế khách quan, phải phản ánh đúng thế giới
khách quan không thêm bớt và từ những kiến thức áp dụng vào thực tế cuộc sống cũng
như trải nghiệm để bản thân mình hoạt động học tập dễ dàng, đóng góp công sức học tập
cho sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước. 10 III) TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Triết học Mác – Lênin : Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính
trị. – H. : Chính trị Quốc gia. 2021
2. C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994. 11 12