-
Thông tin
-
Quiz
Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận chung và liên hệ với thực tiễn đổi mới ở Việt Nam | Tiểu luận môn triết học mác - lênin
Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận chung và liên hệ với thực tiễn đổi mới ở Việt Nam | Tiểu luận môn triết học mác - lênin được siêu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuận bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đón xem!
Triết học Mác - Lenin( LLNL 1105) 512 tài liệu
Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận chung và liên hệ với thực tiễn đổi mới ở Việt Nam | Tiểu luận môn triết học mác - lênin
Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận chung và liên hệ với thực tiễn đổi mới ở Việt Nam | Tiểu luận môn triết học mác - lênin được siêu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuận bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đón xem!
Môn: Triết học Mác - Lenin( LLNL 1105) 512 tài liệu
Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:















Tài liệu khác của Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Preview text:
lOMoAR cPSD| 23022540
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
VIỆN QUẢN TRỊ KINH DOANH TIỂU LUẬN
TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN
Đề tài 4: Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối
quan hệ giữa vật chất và ý thức từ đó rút ra ý nghĩa
phương pháp luận chung và liên hệ với thực tiễn đổi mới ở Việt Nam. Họ tên sinh viên : Quách Hải Hà Mã sinh viên : 11201230 Lớp : Triết 3 Khóa : 62
Giáo viên hướng dẫn : TS. Phạm Văn Sinh
Hà Nội 12/2020 lOMoAR cPSD| 23022540 LỜI NÓI ĐẦU
Trong thế giới rộng lớn xung quanh chúng ta, có vô vàn sự vật, hiện tượng
phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, dù phong phú và đa dạng đến đâu thì chúng
cũng đều được quy về hai lĩnh vực: vật chất và ý thức. Từ khi triết học ra đời đến
nay, đã có rất nhiều quan điểm triết học xoay quanh vấn đề về mối quan hệ giữa
vật chất và ý thức, nhưng chỉ có quan điểm triết học Mác - Lênin là đúng và đầy
đủ đó là: vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất quyết định sự ra
đời của ý thức, đồng thời ý thức tác động trở lại vật chất.
Hiện nay, Nhà nước ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và đang có những bước tiến
đáng kể, đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận trên nhiều lĩnh vực. Mục tiêu
của Đảng và Nhà nước ta là làm sao để cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng dân chủ văn minh. Bởi vậy, Đảng và Chính phủ luôn đặt nhiệm vụ xây
dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển kinh tế lên hành đầu. Tuy nhiên, làm thế nào
để thực hiện tốt nhiệm vụ đó thì Đảng ta đã chỉ ra rằng phải lấy chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt
động. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải dựa trên lập trường, quan điểm của
chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như tư tưởng mà Bác Hồ đã vạch ra để áp dụng vào
thực tế hoàn cảnh xã hội đất nước hiện nay, tìm ra đường lối đúng đắn, phương
châm phù hợp để phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Khi làm bài tiểu luận này, với tư cách là một sinh viên, một công dân của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, em muốn tìm hiểu kĩ hơn về
Triết học Mác-Lênin, cụ thể đó là mối quan hệ biện chứng giữa vật chất với ý
thức để qua đó thấy được ý nghĩa phương pháp luận và cách vận dụng Triết
học vào thực tiễn cuộc sống cũng như đường lối, chủ trương của Đảng trong
công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Bài viết này của em mặc dù đã rất cố
gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, vậy nên em mong thầy góp
ý và sửa chữa để những bài tiểu luận tiếp theo của em sẽ tiến bộ hơn. Em xin chân thành cảm ơn! lOMoAR cPSD| 23022540
Sau đây, em xin trình bày hiểu biết của mình về quan niệm duy vật biện
chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp
luận chung và liên hệ với thực tiễn đổi mới ở Việt Nam.
Bài tiểu luận của em bao gồm 2 phần trả lời: I.
Trình bày và phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ
giữavật chất và ý thức và ý nghĩa phương pháp luận chung. II.
Liên hệ thực tiễn đổi mới ở Việt Nam. NỘI DUNG
I. TRÌNH BÀY VÀ PHÂN TÍCH QUAN NIỆM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MỐI
QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHUNG. 1. Định nghĩa
a.Vật chất: -
Khái niệm: Với tư cách là một phạm trù triết học, khái niệm vật
chấtdùng để chỉ thực tại khách quan; được đem lại cho con người trong cảm giác;
được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh lại; và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. -
Như vậy theo định nghĩa của Lê – nin về vật chất cho thấy vật chất
làcái có trước, “cảm giác”- ý thức là cái có sau. Vật chất có phạm vi tồn tại là
không có giới hạn, là sự tồn tại tuyệt đối. Hay nói cách khác, vật chất vô cùng
vô tận với vô vàn những hình thức tồn tại cụ thể khác nhau. Mà về nguyên tắc
thì con người chỉ có thể tiến dần tới việc nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, chính
xác hơn về thực tại khách quan. lOMoAR cPSD| 23022540 -
Trên thế giới này, không có gì khác ngoài các quá trình vật chất
khôngngừng vận động và biểu hiện sự tồn tại của nó trong không gian và thời
gian. Vật chất tồn tại bằng cách vận động và thông qua vận động để thể hiện sự
tồn tại của mình. Không gian và thời gian là hình thức tồn tại của vật chất, là
thuộc tính chung vốn có của các dạng vật chất cụ thể. b. Ý thức: -
Khái niệm: Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất riêng có của
ócngười về hiện thực khách quan trên cơ sở thực tiễn xã hội – lịch sử. -
Phạm trù ý thức thuộc về đời sống tinh thần của con người, là cái
ảo, làcái chủ quan. Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin thì ý thức chỉ
sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc của con người. -
Ý thức bao gồm rất nhiều yếu tố trong đó có 3 yếu tố quan trọng
nhấtlà: tri thức, tình cảm, ý chí ở con người. Mà trong 3 yếu tố đó yếu tố tri thức
là yếu tố cơ bản nhất, đóng vai trò là phương thức tồn tại của ý thức. -
Nguồn gốc của ý thức: o
Nguồn gốc tự nhiên: Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, nguồn gốc tự nhiên của ý thức bao gồm 2 yếu tố không thể tách rời là bộ
óc của con người và sự tác động của thế giới bên ngoài lên bộ óc của con người. o
Nguồn gốc xã hội: Điều kiện quan trọng nhất và trực tiếp ảnh hưởng
đến sự ra đời của ý thức bên cạnh nguồn gốc tự nhiên phải kể đến đó là những
tiền đề, nguồn gốc xã hội: lao động và ngôn ngữ.
- Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là quá
trình phản ánh tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo thế giới khách quan và bộ
não người thông qua hoạt động thực tiễn.
Chính vì vậy, không thể xem xét hai phạm trù này tách rời, cứng nhắc,
càng không thể coi ý thức là cái có trước, cái sinh ra và quyết định sự tồn tại,
phát triển của thế giới vật chất.
2. Lý luận chung về mối quan hệ vật chất và ý thức
Theo quan điểm triết học Mác – Lê-nin, vật chất và ý thức có mối quan hệ
tác động qua lại biện chứng với nhau thông qua hoạt động thực tiễn, trong đó vật
chất giữ vai trò quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất. lOMoAR cPSD| 23022540
a. Vật chất quyết định ý thức
Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được thể hiện trên mấy khía cạnh sau:
- Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức.
Vật chất “sinh” ra ý thức, vì ý thức xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện của
con người cách đây từ ba đến bảy triệu năm, mà con người là kết quả của một
quá trình phát triển, tiến hóa lâu dài, phức tạp của giới tự nhiên, của thế giới vật
chất. Con người do giới tự nhiên, vật chất sinh ra, cho nên lẽ tất nhiên, ý thức -
một thuộc tính của bộ phận con người – cũng do giới tự nhiên, vật chất sinh ra.
Các thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại đã chứng minh được rằng, giới tự
nhiên có trước con người; vật chất là cái có trước, còn ý thức là cái có sau; vật
chất là tính thứ nhất, còn ý thức là tính thứ hai. Vật chất tồn tại khách quan, độc
lập với ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức. Bộ óc người là một dạng vật chất
có tổ chức cao nhất, là cơ quan phản ánh để hình thành ý thức. Ý thức tồn tại phụ
thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh hiện thực
khách quan. Sự vận động của thế giới vật chất là yếu tố quyết định sự ra đời của
cái vật chất có tư duy là bộ óc người.
- Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức.
Ý thức dưới bất kỳ hình thức nào, suy cho cùng, đều là phản ánh hiện thực
khách quan. Ý thức mà trong nội dung của nó chẳng qua là kết quả của sự phản
ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người. Hay nói cách khác, có thế
giới hiện thực vận động, phát triển theo những quy luật khách quan của nó, được
phản ánh vào ý thức mới có nội dung của ý thức.
Thế giới khách quan, mà trước hết và chủ yếu là hoạt động thực tiễn có
tính xã hội - lịch sử của loài người là yếu tố quyết định nội dung mà ý thức phản
ảnh. “Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức”.
Ý thức chỉ là hình ảnh của thế giới khách quan. Sự phát triển của hoạt động thực
tiễn cả về bề rộng và chiều sâu là động lực mạnh mẽ nhất quyết định tính phong
phú và độ sâu sắc của nội dung của tư duy, ý thức con người qua các thế hệ, qua
các thời đại từ mông muội tới văn minh, hiện đại.
- Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức. lOMoAR cPSD| 23022540
Phản ánh và sáng tạo là hai thuộc tính không tách rời trong bản chất của ý
thức. Nhưng sự phản ánh của con người không phải là “soi gương”, “chụp ảnh”
hoặc là “phản ánh tâm lý như con vật mà là phản ánh tích cực, tự giác, sáng tạo
thông qua thực tiễn. Khác với chủ nghĩa duy vật cũ, xem xét thế giới vật chất như
là những sự vật, hiện tượng cảm tính, chủ nghĩa duy vật biện chứng xem xét thế
giới vật chất là thế giới của con người hoạt động thực tiễn. Chính thực tiễn là
hoạt động vật chất có tính cải biến thế giới của con người - là cơ sở để hình thành,
phát triển ý thức, trong đó ý thức của con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo, phản
ánh để sáng tạo và sáng tạo trong phản ánh.
- Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức.
Mọi sự tồn tại, phát triển của ý thức đều gắn liền với quá trình biến đổi
của vật chất, vật chất thay đổi thì sớm hay muộn, ý thức cũng phải thay đổi theo.
Con người - một sinh vật có tính xã hội ngày càng phát triển cả thể chất và tinh
thần, thì dĩ nhiên ý thức một hình thức phản ánh của óc người cũng phát triển cả
về nội dung và hình thức phản ánh của nó. Đời sống xã hội ngày càng văn minh
và khoa học ngày càng phát triển dã chứng minh điều đó.
Loài người nguyên thuỷ sống bầy đàn dựa vào sản vật của thiên nhiên thì
tư duy của họ cũng đơn sơ, giản dị như cuộc sống của họ. Cùng với mỗi bước
phát triển của sản xuất, tư duy, ý thức của con người cũng ngày càng mở rộng,
đời sống tinh thần của con người ngày càng phong phú. Con người không chỉ ý
thức được hiện tại, mà còn ý thức được cả những vấn đề trong quá khứ và dự
kiến được cả trong tương lai, trên cơ sở khái quát ngày càng sâu sắc bản chất,
quy luật vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy của họ. Sự vận động,
biến đổi không ngừng của thế giới vật chất , của thực tiễn là yếu tố quyết định sự
vận động, biến đổi của tư duy, ý thức của con người. Khi sản xuất xã hội xuất
hiện chế độ tư hữu, ý thức chính trị, pháp quyền cũng dần thay thế cho ý thức
quần cư, cộng đồng thời nguyên thuỷ. Trong nền sản xuất tưbản, tính chất xã hội
hoá của sản xuất phát triển là cơ sở đề ý thức xã hội chủ nghĩa ra đời, mà đỉnh
cao của nó là sự hình thành và phát triển không ngừng lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin. lOMoAR cPSD| 23022540
Trong đời sống xã hội, vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được
biểu hiện ở vai trò của kinh tế đối với chính trị, đời sống vật chất đối với đời sống
tinh thần, tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội. Trong xã hội, sự phát triển của kinh
tế xét đến cùng quy định sự phát triển của văn hóa; đời sống vật chất thay đổi thì
sớm muộn đời sống tinh thần cũng thay đổi theo.
Vật chất và ý thức là hai hiện tượng đối lập nhau-về bản chất, nhưng về
mặt nhận thức luận, cần quán triệt sâu sắc tư tưởng biện chứng của V.I. Lênin,
rằng “sự đối lập giữa vật chất và ý thức chi có ý nghĩa tuyệt đối trong những
phạm vi hết sức hạn chế: trong trường hợp này chỉ giới hạn trong vấn đề nhận
thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì có trước và cái gì là cái có sau? Ngoài giới
hạn đó, thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó là tương đối”. Ở đây,
tính tương đối của sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể hiện qua mối quan hệ
giữa thực thể vật chất đặc biệt - bộ óc người và thuộc tính của chính nó.
b. Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Điều này được thể hiện trên những khía cạnh sau: -
Thứ nhất, tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ, ý thức
là sự phản ánh thế giới vật chất vào trong dầu óc con người, do vật chất sinh ra,
nhưng khi đã ra đời thì ý thức có “đời sống” riêng, có quy luật vận động, phát
triển riêng, không lệ thuộc một cách máy móc vào vật chất. Ý thức một khi ra
đời thì có tính độc lập tương đối, tác động trở lại thế giới vật chất. Ý thức cóthể
thay đổi nhanh, chậm, đi song hành so với hiện thực, nhưng nhìn chung nó
thường thay đổi chậm so với sự biến đổi của thế giới vật chất. -
Thứ hai, Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua
hoạt động thực tiễn của con người. Nhờ họat động thực tiễn, ý thức có thể làm
biến đổi những điều kiện, hoàn cảnh vật chất, thậm chí còn tạo ra “thiên nhiên
thứ họi” phục vụ cho cuộc sống của con người. Còn tự bản thân ý thức thì không
thể biến đổi được hiện thực. Con người dựa trên những tri thức về thế giới khách
quan, hiểu biết những quy luật khách quan, từ đó đề ra mục tiêu, phương hướng,
biện pháp và ý chí quyết tâm để thực hiện thắng lợi mục tiêu đã xác định. Đặc
biệt là ý thức tiến bộ, cách mạng một khi thâm nhập vào quần chúng nhân dân -
lực lượng vật chất xã hội, thì có vai trò rất to lớn. “Vũ khí của sự phê phán cố lOMoAR cPSD| 23022540
nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có
thể bị đánh đổi bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực
lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng.” -
Thứ ba, vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động, hành
động của con người, nó có thể quyết định làm cho hoạt động của con người đúng
hay sai, thành công hay thất bại. Khi phản ánh đúng hiện thực, ý thức có thể dự
báo, tiên đoán một cách chính xác cho hiện thực, có thể hình thành nên những lý
luận định hướng đúng đắn và những lý luận này được đưa vào quần chúng sẽ
góp phần động viên, cổ vũ, khai thác mọi tiềm năng sáng tạo, từ đó sức mạnh vật
chất được nhân lên gấp bội. Ngược lại, ý thức có thể tác động tiêu cực khi nó
phản ánh sai lạc, xuyên tạc hiện thực. -
Thứ tư, xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to
lớn, nhất là trong thời đại ngày nay, thời đại thông tin, kinh tế tri thức, thời đại
của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, khi mà tri thức khoa học
đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vai trò
của tri thức khoa học, của tư tưởng chính trị, tư tưởng nhân văn là hết sức quan trọng.
Tính năng động, sáng tạo của ý thức mặc dù rất to lớn, nhưng nó không
thể vượt quá tính quy định của những tiền đề vật chất đã xác định, phải dựa vào
các điều kiện khách quan và năng lực chủ quan của các chủ thể hoạt động. Nếu
quên điều đó chúng ta sẽ lại rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa chủ quan, duy tâm,
duy ý chí, phiêu lưu và tất nhiên không tránh khỏi thất bại trong hoạt động thực tiễn.
3. Ý nghĩa phương pháp luận
Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong triết học Mác - Lênin, rút ra
nguyên tắc phương pháp luận là tôn trọng tính khách quan kết hợp phát huy tính
năng động chủ quan. Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, mọi chủ trương,
đường lối, kế hoạch, mục tiêu, chúng ta đều phải xuất phát từthực tế khách quan,
từ những điều kiện, tiền đề vật chất hiện có. Phải tôn trọng và hành động theo
qui luật khách quan, nếu không làm như vậy, chúng ta sẽ phải gánh chịu những
hậu quả tai hại khôn. Nhận thức sự vật hiện tượng phải chân thực, đúng đắn, lOMoAR cPSD| 23022540
trách tô hồng hoặc bôi đen đối tượng, không được gán cho đối tượng cái mà nó
không có. Văn kiện Đại hội XII chủ trương phải nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh
đúng sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật. Nhận thức, cải tạo sự vật hiện
tượng, nhìn chung, phải xuất từ chính bản thân sự vật hiện tượng đó với những
thuộc tính, mối liên hệ bên trong vốn có của nó. Cần phải tránh chủ nghĩa chủ
quan, bệnh chủ quan duy ý chí; chủ nghĩa duy vật tầm thường, chủ nghĩa thực
dụng, chủ nghĩa khách quan.
Phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố
con người , chống tư tưởng, thái độ thụ động, ỷ lại, ngồi chờ, bảo thủ, trì trệ,
thiểu tính sáng tạo; phải coi trọng vai trò của ý thức, coi trọng công tác tư tưởng
và giáo dục tư tưởng, coi trọng giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, phải giáo dục và nâng cao trình độ tri thức khoa
học, củng cố, bồi dưỡng nhiệt tình, ý chí cách mạng cho cán bộ, đảng viên và
nhân dân nói chung, nhất là trong điều kiện nền văn minh trí tuệ, kinh tế tri thức,
toàn cầu hoả hiện nay; coi trọng việc giữ gìn, rèn luyện phẩm chất đạo đức cho
cán bộ, đảng viên, bảo đảm sự thống nhất giữa nhiệt tình cách mạng và tri thức khoa học.
Để thực hiện nguyên tắc tôn trọng tính khách quan kết hợp phát huy tính
năng động chủ quan, chúng ta còn phải nhận thức và giải quyết đúng đắn các
quan hệ lợi ích, phải biết kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích
xã hội; phải có động cơ trong sáng, thái độ thật sự khách quan, khoa học, không
vụ lợi trong nhận thức và hành động của mình.
II. LIÊN HỆ THỰC TIỄN ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM 1. Những điều nước ta
đã và đang vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin
trong sự nghiệp đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Hơn 170 năm qua kể từ khi Tuyên ngôn của Ðảng Cộng sản ra đời, dù trải
qua những bước thăng trầm của lịch sử và chịu sự công kích, chống phá từ nhiều
kẻ thù tư tưởng khác nhau, chủ nghĩa Mác vẫn đứng vững và có sức sống mãnh
liệt bởi đó là một học thuyết khoa học, nhân văn, phát triển và giải phóng con
người, học thuyết luôn được bổ sung, hoàn thiện bởi những người mác-xít chân lOMoAR cPSD| 23022540
chính; và do đó, chúng ta có học thuyết Mác - Lê-nin tiếp tục là nền tảng tư tưởng
cốt lõi để tư duy và định hình đường lối phát triển thích ứng với mọi sự thay đổi,
phù hợp với mọi bối cảnh và điều kiện mới.
Trước thời kì đổi mới, khi cơ sở vật chất con chưa có chúng ta nôn nóng
muôn đốt cháy giai đoạn nên đã phải trả giá. Ở thời kì này chúng ta phát triển
quan hệ sản xuất đi trước lực lượng sản xuất mà không nhìn thấy vai trò quyết
định của lực lượng sản xuất. Sau giải phóng đất nước ta là một đất nước nông
nghiệp với số dân tham gia vào ngành này tới hơn 90%. Nhưng chúng ta vẫn
xây dựng các nhà máy công nghiệp trong khi để nhanh chóng trở thành nước
công nghiệp hoá trong khi lực lượng sản xuất chưa phát triển, thêm vào đó là sự
phân công không hợp lý về quản lý nhà nước và của xã hội, quyền lực quá tập
trung vào Đảng, và Nhà nước quản lý quá nhiều các mặt của đời sống xã hội,
thực hiện quá cứng nhắc làm cho toàn xã hội thiếu sức sống, thiếu năng động
và sáng tạo,. Các giám đốc thời kì này chỉ đến ngồi chơi xơi nước và cuối tháng
lĩnh lương, các nông dân và công nhân làm đúng giờ quy định nhưng hiệu quả
không cao... Ở đây chúng ta đã xem nhẹ thực tế phức tạp khách quan của thời
kì quá độ, chưa nhận thức đầy đủ rằng thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa là
quá trình lịch sử lâu dài và phải trải qua nhiều chặng đường.
Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã
hội đã nhận định: “Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có nhiều cố
gắng nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối, xác định đúng mục tiêu và phương
hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng Đảng đã sai phạm sai lầm chủ quan duy ý trí, vi
phạm qui luật khách quan: Nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ ngay
nền kinh tế nhiều thành phần; đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp
nặng; duy trì cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, có nhiều chủ trương sai
trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương”.
Trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2001 – 2010 của Đảng
ta đã khẳng định: con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và
có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự
vừa có những bước nhảy vọt. Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi
khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và lOMoAR cPSD| 23022540
công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và
phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, bảo đảm cho khoa
học và công nghệ thật sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và động lực chủ
yếu trong phát triển kinh tế – xã hội, khắc phục nguy cơ tụt hậu về khoa học và
công nghệ. Trong thời đại cách mạng thông tin hiện nay, chúng ta không có sự
lựa chọn nào khác là phải tiếp cận nhanh chóng với tri thức và công nghệ mới
của thời đại để từng bước phát triển kinh tế trí thức. Phát huy nguồn lực trí tuệ
và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, coi phát triển giáo dục và đào tạo là
nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bởi nhân tố
con người đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển lực lượng sản xuất.
Thực tế của gần 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới vừa qua đã chứng
minh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã đạt
được những thành tựu quan trọng, đánh dấu giai đoạn phát triển mới của sự
nghiệp xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Quốc hội
đã nỗ lực đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động. Hệ thống pháp
luật tiếp tục được hoàn thiện; hoạt động giám sát của Quốc hội tập trung vào giải
quyết những vấn đề bức thiết, quan trọng của đất nước, được các tầng lớp nhân
dân và xã hội quan tâm. Chính phủ và các bộ, ngành tập trung quản lý, điều hành
vi mô và năng động giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng. Đảng và Nhà nước
ngày càng quan tâm sâu sắc hơn, kịp thời hơn những vấn đề, những khó khăn của
nhân dân nảy sinh trong cuộc sống và quá trình lao động, sản xuất. Nhiều chủ
trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp được thể chế trong Hiến pháp,
pháp luật và được triển khai nghiêm túc trong thực tế đã đạt được những kết quả
quan trọng. Phát huy những thành quả đạt được, thời gian tới cần tiếp tục đổi mới
mô hình tổ chức, hình thức, phương thức hoạt động của cơ quan nhà nước ở
Trung ương và địa phương nhằm hướng tới một bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu
quả, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của các lĩnh vực xã hội.
90 năm qua, Ðảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, đã lãnh đạo đưa con thuyền cách mạng Việt Nam đi từ thắng
lợi này đến thắng lợi khác, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã lOMoAR cPSD| 23022540
hội chủ nghĩa. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong gần 35 năm qua,
một lần nữa, khẳng định sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê-nin
của Ðảng ta trong công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển, xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội của Việt Nam và do chính con người Việt Nam thực hiện.
2. Phát huy vai trò của tính năng động chủ quan và chống chủ quan duy ý chí
Bên cạnh một số chính sách, biện pháp nhằm đưa đất nước ta vững bước
trên con đường xã hội chủ nghĩa và đạt được những thành tựu to lớn như đã trình
bày ở trên, ta không thể không kể đến vai trò thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội tiến nhanh và xa hơn đó là tính năng động, chủ quan, đó là khối đại
đoàn kết toàn dân và đó còn là ý chí, nhiệt tình, quyết tâm thực hiện cho được xã
hội xã hội chủ nghĩa trên đất nước Việt Nam.
Bản thân sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là một nhiệm vụ mới mẻ,
khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy cao độ vai trò của nhân tố chủ quan,
của tính năng động chủ quan. Đó chính là những phát minh vĩ đại, những đường
lối chính sách đứng đắn có tính chất quyết thắng của toàn thể dân tộc Việt Nam.
Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp sáng tạo vĩ đại của đông
đảo quần chúng. Không có ý chí, hoài bão lớn, nghị lực lớn thì không thể thực
hiện được những nhiệm vụ trọng đại, khó khăn phức tạp chưa từng có trong lịch
sử dân tộc. Vấn đề là ở chỗ mọi nhiệt tình và ý chí cách mạng hiện nay phải gắn
liền với chi thức, hiểu biết, đặt trên cơ sở khoa học, sự phát triển tiềm lực trí tuệ của cả dân tộc.
Không có khoa học, không có sự phát triển mạnh mẽ nguồn lực trí tuệ thì
không thể dẫn dắt xã hội đi tới văn minh, hiện đại. Do đó, phải quy tụ mọi tài
năng của công dân, tập hợp trí tuệ và phát huy sức mạnh trí tuệ của cả dân tộc.
Đây phải đứng ở đỉnh cao và là chỗ kết tinh tài năng ý chí chỉ đạo, bản lĩnh giai
cấp và dân tộc, biểu hiện tinh thần thời đại.
Bước vào thế kỷ XXI, chúng ta tin chắc vào thắng lợi của sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, tin chắc chủ nghĩa xã hội nhất định
thành công, nhất định tiếp tục đi theo con đường đã chọn, dù một thế kỷ hay lâu
hơn nữa cũng không nao núng. Đó phải chăng là sự khẳng định một ý chí lớn, lOMoAR cPSD| 23022540
một niềm tin Với ý chí “quyết tâm đưa nước ta thoát khỏi nghèo làn, lạc hậu”,
thhì không thể chậm chễ trong công nghiệp hoá, hiện đại hhoá đất nước, để nhanh
chóng thu hẹp khoảng cách giữa nước ta với các nước phát triển.
Trong khi đề cao vai trò của nhân tố chủ quan, của ý chí, nhiệt tình, cách
mạng cũng cần phải phân biệt với tư tưởng chủ quan duy ý chí. Chủ nghĩa duy
vật biện chứng cho rằng tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội nhưng ý thức xã
hội lại có tác động ngược lại đến tồn tại xã hội, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát
triển của xã hội. Khi con người xuất phát ý muốn chủ quan, lấy ý chí áp đặt cho
thực tế thì nó sẽ trở thành một vận cản đối với sự nghiệp cách mạng. Vì vậy,
trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mà trước mắt là sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, chúng ta không thể tiến hành theo quan niệm cũ, cách làm cũ
(trước 1986). Mà mọi đường lối, kế hoạch đều phải dựa vào tình hình thực tế,
những điều kiện và khả năng thực tế, tôn trọng quy luật khách quan.
Nêu cao, bồi dưỡng ý chí cách mạng và phê phán tư tưởng chủ quan duy
ý chí là hai mặt của một vấn đề. Nêu cao ý chí cách mạng là khuyến khích tinh
thần dám nghĩ, dám làm, dám tạo ra những bước đột phá có tính cách mạng để
phát triển chứ không phải là kích thích những hành động chủ quan nóng vội, bất
chấp quy luật khách quan. Phê phán tư tưởng chủ quan duy ý chí là nhằm hướng
tới sự tỉnh táo khoa học và tính thực tiễn trong mọi mặt hoạt động chứ không
phải là làm nhụt ý chí cách mạng. III. KẾT LUẬN
Qua việc nghiên cứu đề tài trên, chúng ta đã tìm hiểu một cách sâu sắc hơn
về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức, đó là mối quan hệ biện chứng tác động
qua lại lẫn nhau. Khẳng định vật chất luôn mang tính thứ nhất, tính quyết định,
ý thức luôn mang tính thứ hai, bị chi phối, bị quyết định. Song, ý thức lại có tác
động trở lại vô cùng quan trọng đối với vật chất. Nó có thể làm cho vật chất phát
triển, biến đổi theo nhu cầu, ý muốn, nhưng đồng thời nó cũng có thể làm cho
vật chất không phát triển, bị kìm hãm. Qua đó, chúng ta có thể rút ra bài học hết
sức cần thiết cho sự nghiệp cách mạng lớn lao của Đảng và nhân dân ta – Sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội đó là: Chúng ta chỉ có thể tiến lên chủ nghĩa
xã hội nếu như: Mọi đường lối, chính sách, phương hướng mục tiêu đề ra, hoạch lOMoAR cPSD| 23022540
định ra phải được xuất phát từ thực tế điều kiện nước nhà. Thứ hai chúng ta phải
phát huy cao độ vai trò tích cực của ý thức hay chính là vai trò năng động chủ
quan của con người. Xây dựng hệ động lực tinh thần mạnh mẽ cổ vũ lớn lao cho
sự nghiệp cách mạng vĩ đaịo của toàn Đảng và nhân dân ta. Đó chính là “xây
dựng khối đại đoàn kết dân tộc”, đó là “khơi dậy lòng yêu nước, ý chí quật cường,
phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo làm
lạc hậu”. Đồng thời, chúng ta cũng cần tránh tư tưởng chủ quan duy ý chí, nóng
vội trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Một điều hết sức quan trọng đó
là làm sao để vừa xây dựng nền kinh tế có sự tham gia của các thành phần kinh
tư bản lại vừa tránh được nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Đây cũng là
một vấn đề cấp thiết mà Đảng và nhà nước ta cần có phương hướng đi sao cho phù hợp.
Gần đây có một số ý kiến cho rằng: Mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ
bản trở thành một nước công nghiệp của Đảng ta là chủ quan duy ý chí, là nóng
vội, không tuân theo chủ nghĩa Mác – Lê nin, rằng nước ta chưa đủ điều kiện để
có thể đề ra một mục tiêu không tưởng như vậy. Đứng trước tình hình này, Đảng
và nhà nước ta cần có biện pháp, bước đi như thế nào? lOMoAR cPSD| 23022540
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình triết học Mác – Lênin sử dụng trong các trường đại học hệkhông
chuyên lý luận chính trị 2019, NXB Bộ Giáo Dục Đào Tạo
2. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. NXB
Sựthật, Hà Nội, năm 1991
3. Chủ nghĩa Lênin và công cuộc đổi mới trong sự nghiệp xây dựng CNXH
ởnước ta (NXB Thông tin lý luận, năm 1995) 4. Tạp chí Cộng sản các số 5, 6, 8, 22 - 2001
5. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 9 - NXB Chính trị quốc gia,năm 2001 6. V.I. Lê-nin: Toàn tập