


















Preview text:
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG VIỆC HỖ TRỢ CÁC
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG VIỆC ỨNG PHÓ VỚI COVID-19
Giảng viên giảng dạy: Đào Thế Sơn, Lê Mai Trang NHÓM 4 - 2219MAEC0111 2022
Trường Đại học Thương Mại NHÓM 4 - 2219MAEC0111
GV: Đào Thế Sơn, Lê Mai Trang
Danh sách thành viên nhóm 4 STT
Mã sinh viên Họ tên Lớp HC 121D300148 Vi Hoàng Ngọc Nhi K57LQ2 221D300505 Dương Thị Phương K57LQ2 321D300149 Vũ Thị Thu Phương K57LQ2 421D300150 Vi Văn Quang K57LQ2 521D300028 Phạm Văn Quyến K57LQ2 621D300151 Nguyễn Thị Diễm Quỳnh K57LQ2 721D300153 Vũ Quang Thái (NT) K57LQ2 821D300154 Đỗ Thị Hồng Thắm K57LQ2 921D300031 Nguyễn Đức Thắng K57LQ2 LỜI MỞ ĐẦU
Chào thầy cô và các bạn! Chúng ta có thể thấy được trong 2 năm vừa qua Covid-
19 đã lấy đi của ta rất nhiều điều, làm đảo lộn cuộc sống, sức khỏe yếu đi, gây mất cân
bằng nền kinh tế... Cho đến nay, mặc dù dịch bệnh COVID-19 đã diễn biến tích cực hơn
nhưng không thể phủ nhận một điều là nó đã khiến nền kinh tế nói chung và các doanh
nghiệp nói riêng chịu ảnh hưởng nặng nề kéo theo tốc độ tăng trưởng kinh tế rơi xuống
mức thấp nhất trong hơn 10 năm qua.
Xuất phát từ thực tế đó, nhóm chúng em đã chọn đề tài “Phân tích tác động của
chính sách tiền tệ trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam trong ứng phó với
đại dịch Covid-19”. Với mong muốn đóng góp một nghiên cứu kĩ lưỡng để từ đó giúp
mọi người nắm chắc kiến thức cũng như hiểu hơn về những tác động của chính sách tiền tệ của chính phủ.
Trường Đại học Thương Mại 1 NHÓM 4 - 2219MAEC0111
GV: Đào Thế Sơn, Lê Mai Trang MỤC LỤC
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT....................................................................................................3
1.Khái niệm, phân loại, mục tiêu của CSTT...............................................................3
1.1. Định nghĩa...........................................................................................................3
1.2. Phân loại..............................................................................................................3
1.3. Mục tiêu...............................................................................................................3
2. Công cụ của CSTT....................................................................................................4
3. Cơ chế tác động của CSTT.......................................................................................5
3.1. Chính sách tiền tệ thu hẹp....................................................................................5
3.2 Chính sách tiền tệ mở rộng...................................................................................6
II. TÁC ĐỘNG CỦA COVID-19 ĐẾN CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM.............7
1. Tác động tích cực......................................................................................................8
2. Tác động tiêu cực......................................................................................................8
III. NHỮNG CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN CSTT CỦA CHÍNH PHỦ ĐỂ HỖ TRỢ
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM........................................................................................9
1. Tính cấp thiết............................................................................................................9
2. Chính sách tiền tệ Việt Nam...................................................................................10
3. So sánh với thế giới.................................................................................................11
3.1. Chính sách tiền tệ của một số nước để ứng phó với đại dịch trong năm 2020 và
2021..........................................................................................................................11
3.2. Một số gói cứu trợ nhằm vực dậy năm 2020 của các quốc gia..........................12
IV. ĐÁNH GIÁ................................................................................................................13
1. Hiệu quả................................................................................................................... 13
2. Hạn chế....................................................................................................................14
3. Kết luận...................................................................................................................15
Trường Đại học Thương Mại 2 NHÓM 4 - 2219MAEC0111
GV: Đào Thế Sơn, Lê Mai Trang I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.Khái niệm, phân loại, mục tiêu của CSTT 1.1. Định nghĩa
Chính sách tiền tệ (money policy) là các chính sách định hướng, quyết định và
hành động của NHTW (ngân hàng trung ương) để kiểm soát cung tiền trong nền kinh tế
nhằm đạt được những mục tiêu nhất định về kiểm soát lạm phát, ổn định tài chính, tỷ lệ
thất nghiệp, tăng trưởng kinh tế được đặt ra trong từng thời kỳ.
Theo điều 3, luật số 46/2010/QH12 - Luật NHNN năm 2010 đã viết: “CSTT quốc
gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao
gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết
định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện
mục tiêu đề ra”. (Quốc hội, 2010; Trần Việt Anh & Phan Thị Linh Chi, 2021) 1.2. Phân loại
CSTT được chia ra làm 2 loại:
CSTT mở rộng CSTT linh hoạt là chính sách mà Ngân hàng Trung ương (NHTW)
mở rộng lượng tiền trên mức trung bình cho nền kinh tế, hạ lãi suất, làm tăng tổng
cầu và tạo việc làm cho người lao động.
CSTT thắt chặt hay CSTT thu hẹp, là chính sách NHTW tác động để giảm bớt mức
cung tiền, qua đó làm lãi suất trên thị trường tăng lên, thu hẹp tổng cầu, làm mức giá chung giảm xuống. 1.3. Mục tiêu Ổn định giá cả:
Ổn định giá cả hay kiểm soát lạm phát là mục tiêu hàng đầu và là mục tiêu dài hạn
của CSTT. Các NHTW thường lượng hóa mục tiêu này bằng tốc độ tăng của chỉ số giá cả
tiêu dùng xã hội. Việc công bố công khai chỉ tiêu này là cam kết của NHTW nhằm ổn
định giá trị tiền tệ về mặt dài hạn. Do những biện pháp về CSTT tác động đến nền kinh tế
có tính chất trung và dài hạn, hơn nữa khó có thể dự đoán chính xác kết quả sẽ xảy ra vào
thời điểm nào trong tương lai, vì vậy sẽ là không khả thi đối với NHTW trong việc theo
đuổi để kiểm soát giá cả trong ngắn hạn.
Ổn định tỷ giá hối đoái:
Trong điều kiện mở cửa kinh tế, các luồng hàng hoá và tiền vốn vào ra một quốc
gia gắn liền với việc chuyển đổi qua lại giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Việc ngăn
ngừa những biến động mạnh, bất thường trong tỷ giá hối đoái sẽ giúp cho các hoạt động
kinh tế đối ngoại được hiệu quả hơn nhờ dự đoán được chính xác về mặt khối lượng giá
trị. Thêm vào đó, tỷ giá hối đoái còn ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của hàng hoá
trong nước với nước ngoài về mặt giá cả.
Ổn định lãi suất:
Trường Đại học Thương Mại 3 NHÓM 4 - 2219MAEC0111
GV: Đào Thế Sơn, Lê Mai Trang
Lãi suất là một biến số kinh tế vĩ mô hết sức quan trọng trong nền kinh tế do nó
ảnh hưởng tới quyết định chi tiêu của các doanh nghiệp và hộ gia đình. Những biến động
bất thường trong lãi suất sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp và cá nhân trong việc dự
tính chi tiêu hay lập kế hoạch kinh doanh. Do đó ổn định lãi suất cũng là một mục tiêu
quan trọng mà các NHTW hướng tới nhằm góp phần ổn định môi trường kinh tế vĩ mô.
Ổn định thị trường tài chính:
Thị trường tài chính được xem là nơi tạo ra nguồn vốn cho phát triển kinh tế. Góp
phần quan trọng trong việc điều hoà vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu vốn, giúp nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn trong nền kinh tế. Với vai trò như vậy, sự ổn định của thị trường tài
chính có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế các quốc gia. NHTW với khả năng tác
động tới khối lượng tín dụng và lãi suất có nhiệm vụ đem lại sự ổn định cho thị trường tài chính. Tăng trưởng kinh tế:
Do CSTT có thể ảnh hưởng tới của cải và chi tiêu của xã hội nên có thể sử dụng nó
làm đòn bẩy kích thích tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế phải được hiểu cả về khối
lượng và chất lượng. CSTT phải đảm bảo sự tăng lên của GDP thực tế, tức là tỷ lệ tăng
trưởng có được sau khi trừ đi tỷ lệ tăng giá cùng thời kỳ. Chất lượng tăng trưởng được
biểu hiện ở một cơ cấu kinh tế cân đối và khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng hoá trong
nước tăng lên, tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định là căn cứ để ổn định tiền tệ trong nước,
cải thiện tình trạng cán cân thanh toán quốc tế và khẳng định vị trí của nền kinh tế trên thị trường quốc tế
Giảm tỷ lệ thất nghiệp:
Đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ không có nghĩa là tỷ lệ thất nghiệp bằng 0 mà ở
mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Mỗi quốc gia cần xác định được tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
một cách chính xác để đạt được mục tiêu này. Bên cạnh đó, cố gắng giảm tỷ lệ thất
nghiệp tự nhiên cũng được coi là mục tiêu của CSTT.
2. Công cụ của CSTT
- Nghiệp vụ thị trường mở (OMO – Open Marketing Operation)
NHTW có thể sử dụng nghiệp vụ thị trường mở để tác động lên cơ sở tiền của nền
kinh tế, từ đó là thay đổi mức cung tiền. Nghiệp vụ thị trường là nghiệp vụ mua hoặc bán
các giấy tờ có giá ngắn hạn (gọi chung là trái phiếu) của NHTW. Hoạt động thị trường
mở là công cụ quan trọng nhất của CSTT. Nghiệp vụ này là nhân tố quyết định đối với
những thay đổi trong lượng tiền cơ sở. Với hoạt động của thị trường mở, NHTW đã chủ
động điều tiết được khối lượng tiền trong lưu thông mà không gây xáo trộn ngân hàng
thương mại. Tuy nhiên, công cụ này sẽ không phát huy tác dụng của nó nếu như thị
trường trái phiếu không phát triển
Trường Đại học Thương Mại 4 NHÓM 4 - 2219MAEC0111
GV: Đào Thế Sơn, Lê Mai Trang
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc (Reserve requirements)
Là tỷ lệ dự trữ tối thiểu mà các NHTM phải duy trì theo quy định của NHTM. Dự
trữ bắt buộc là công cụ nhằm đảm bảo thanh khoản cho NHTM, đồng thời là công cụ để
NHTW tác động đến khối lượng tiền của nền kinh tế thông qua số nhân tiền tệ. Khi tỷ lệ
dự trữ bắt buộc tăng các ngân hàng phải dự trữ nhiều hơn, do đó cho vay ít hơn từ mỗi
đơn vị tiền tệ mà các ngân hàng nhận được dưới dạng tiền gửi. Kết quả là, tỷ lệ dự trữ bắt
buộc của các ngân hàng tăng lên thì độ lớn của số nhân là giảm. Khi đó với cùng một
lượng tiền cơ sở ban đầu,nếu số nhân tiền giảm thì lượng cung tiền giảm. Như vậy để tăng
cung tiền thì NHTW không nhất thiết phải phát hành thêm tiền mà có thể giảm tỷ lệ dự
trữ bắt buộc, ngược lại để giảm mức cung tiền thì tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
- Lãi suất chiết khấu (discount rate)
Lãi suất chiết khấu là lãi suất mà NHTW áp dụng khi cho các NHTM vay tiền.
Việc vay tiền của NHTM từ NHTW được gọi là vay chiết khấu. Khi không đủ dự trữ bắt
buộc, NHTM phải vay tiền của NHTW để đảm bảo qua trình lưu thông tiền tệ được diễn
ra thông suốt. Tác động của lãi suất chiết khấu đến cung tiền được thực hiện đồng thời
qua cả lượng tiền cơ sở MB và số nhân tiền tệ mM. Khi NHTW tăng lãi suất chiết khấu,
các NHTM phải trả giá cao hơn cho các khoản vay từ NHTW, NHTM vay NHTW ít hơn
và tăng dự trữ bổ sung. Khi đó tỷ lệ dự trữ thực tế của các NHTM tăng làm hạn chế khả
năng tạo tiền của các NHTM (số nhân tiền tệ mM giảm) và do đó cung tiền MS giảm.
Ngoài ra NHTW có thể sử dụng các công cụ khác để điều tiết mức cung tiền như hạn mức
tín dụng, các quy định về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu...
3. Cơ chế tác động của CSTT
3.1. Chính sách tiền tệ thu hẹp
Giả định rằng nền kinh tế tăng trưởng nóng, lạm phát cao. Mục tiêu điều chỉnh của
chính sách là kiềm chế lạm phát, giảm tăng trưởng nóng. Chính sách mà Chính phủ có thể
sử dụng là CSTT thu hẹp. Khi đó cung tiền giảm, lãi suất cân bằng tăng dẫn đến giảm cầu
đầu tư (I), do vậy tổng cầu chi tiêu dự kiến (AE) giảm. Điều này sẽ dẫn đến làm sản lượng
(GDP thực) và mức giá chung (P). CSTT thắt chặt cùng làm giảm cầu tiêu dùng của hộ
gia đình (C) và xuất khẩu ròng (NX).
Ta có thể minh họa tác động của giảm cung tiền đến cầu đầu tư trên Hình 3.1.1.
Ban đầu thị trường tiền tệ cân bằng tại E1 là giao điểm của đường cung tiền MS1 với
đường cầu tiền (LP). Tại E1, chúng ta có mức lãi suất cân bằng là r1 và mức đầu tư tương
ứng là I1. Khi Chính phủ giảm cung Tiền sẽ khiến đường cung tiền dịch chuyển sang trái
từ đường MS1 sang MS2 với đường cầu tiền LP. Tại E2 lãi suất cân bằng là r2. Khi lãi
suất cân bằng tăng từ r1 lên r2, mức cầu đầu tư trong nền kinh tế giảm từ I1 về I2
Trường Đại học Thương Mại 5 NHÓM 4 - 2219MAEC0111
GV: Đào Thế Sơn, Lê Mai Trang
Hình 3.1.1 Tác động của chính sách tiền tệ thu hẹp đến cầu đầu tư
Hình 3.1.2 minh họa tác động của sự thay đổi cầu đầu tư đến tổng chi tiêu dự kiến
và do đó tác động đến tổng cầu, sản lượng cân bằng và mức giá chung.
Như vậy, chính sách tiền tệ thu hẹp có tác động làm giảm sản lượng qua đó kiềm chế tăng
trưởng nóng và giảm mức giá chung (giảm lạm phát). Do đó, khi nền kinh tế có lạm phát
cao, Chính phủ cần sử dụng CSTT thu hẹp nhằm giảm tổng cầu và hạ thấp lạm phát.
Hình 3.1.2 Tác động của chính sách tiền tệ thu hẹp
3.2 Chính sách tiền tệ mở rộng
Giả định rằng nền kinh tế đang trong thời kỳ suy thoái, sản lượng thấp và thất
nghiệp cao. Mục tiêu điều chỉnh của chính sách là thúc đẩy tăng trưởng sản lượng, giảm
thất nghiệp. Chính sách có thể sử dụng là chính sách tiền tệ mở rộng. Khi đó cung tiền
tăng, lãi suất cân bằng giảm dẫn đến tăng đầu tư (I) và tổng chỉ tiêu dự kiến (AE) tăng.
Điều này sẽ làm tăng sản lượng (GDP thực) và mức giá chung (P). Ngoài ra, lãi suất giảm
cũng làm tăng tiêu dùng và xuất khẩu ròng.
Ta có thể minh họa tác động của giảm cung tiền đến đầu tư trên Hình 3.2.1. Ban đầu thị
trường tiền tệ cân bằng tại E1 là giao điểm của đường cung tiền MS1 với đường cầu tiền
Trường Đại học Thương Mại 6 NHÓM 4 - 2219MAEC0111
GV: Đào Thế Sơn, Lê Mai Trang
(LP). Tại E1, chúng ta có mức lãi suất cân bằng là r1 và mức đầu tư tương ứng là I1. Khi
Chính phủ tăng cung tiền sẽ khiến đường cung tiền dịch chuyển sang phải từ đường MS1
sang đường MS2. Thị trường tiền tệ đạt cân bằng mới tại điểm E2 là giao điểm của đường
MS2 với đường cầu tiền (LP). Tại E2, lãi suất cân bằng là r2. Khi lãi suất cân bằng giảm
từ r1 xuống r2, mức cầu đầu tư trong nền kinh tế tăng từ I1 lên I2. Hì
nh 3.2.1 Tác động của chính sách tiền tệ mở rộng đến cầu đầu tư
Hình 3.2.2 minh họa tác động của sự thay đổi cầu đầu tư đến tổng chỉ tiêu dự kiến
và qua ảnh hưởng đến tổng cầu, sản lượng cân bằng và mức giá chung.
Như vậy, khi nền kinh tế có suy thoái, mức sản lượng dưới mức sản lượng tiềm
năng, thất nghiệp cao thì Chính phủ cần sử dụng CSTT mở rộng nhằm gia tăng tổng cầu,
giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Hình 3.2.2 Tác động của chính sách tiền tệ mở rộng
II. TÁC ĐỘNG CỦA COVID-19 ĐẾN CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Covid 19 bùng phát tại nhiều quốc gia, đã cho thấy rõ tác động của nó với nền kinh
tế, thậm chí có những tác động gián tiếp chưa thể đo đếm ngay được đối với nền kinh tế
Việt Nam trên nhiều lĩnh vực.
Trường Đại học Thương Mại 7 NHÓM 4 - 2219MAEC0111
GV: Đào Thế Sơn, Lê Mai Trang
1. Tác động tích cực
Trước đại dịch, câu chuyện phát triển kinh tế online đã được bàn luận và nhìn thấy
trước. Giãn cách xã hội quá dài sẽ khiến cho người dân, các lực lượng cung cầu quen dần
và hình thành tập quán mới khi tham gia nền kinh tế online. Đó là tiềm năng phát triển
cho các doanh nghiệp kinh doanh online.
Trong hoạt động doanh nghiệp, do có thời gian quá dài bắt buộc làm việc online tại
nhà sẽ giúp các giao tiếp online trở thành thói quen, sử dụng các cuộc họp online thay thế
cho các cuộc họp truyền thống, giúp các hoạt động trở nên thuận tiện, giảm chi phí và an
toàn. Quá trình chuyển đổi số đã từng bước được triển khai.
Đại dịch đã cho thấy khả năng chống chịu kiên cường đang trở thành một năng lực
cạnh tranh cốt lõi của nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Một số doanh
nghiệp “tương thích” với Covid thì lại phát triển mạnh, như doanh nghiệp công nghệ,
doanh nghiệp sản xuất y tế, doanh nghiệp cung cấp sản phẩm thiết yếu.
Doanh nghiệp cũng đã thức tỉnh và ngộ ra được nhiều điều qua đại dịch. Doanh
nghiệp phải suy ngẫm lại chiến lược, phải tái cấu trúc, đào tạo lại nguồn lao động, chú
trọng nhiều hơn đến thị trường nội địa, xây dựng các ngành công nghiệp hỗ trợ chuỗi
cung ứng Việt. Có nhiều kinh nghiệm phòng ngừa rủi ro hơn trong kinh doanh. Đó là
những bài học, những trải nghiệm và là động lực vô giá từ covid.
2. Tác động tiêu cực
Theo kết quả khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
phối hợp với Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (WB) năm 2020, 87,2% doanh nghiệp cho
biết, họ chịu ảnh hưởng ở mức “phần lớn” hoặc “hoàn toàn tiêu cực”. Chỉ 11% doanh
nghiệp cho rằng họ “không bị ảnh hưởng gì” và gần 2% ghi nhận tác động “hoàn toàn tích
cực” hoặc “phần lớn tích cực”.
Các doanh nghiệp Việt Nam đã phải chịu những tác động nặng nề của đại dịch
Covid với nhiều cấp độ khác nhau và với nhiều hệ lụy. Cả khu vực doanh nghiệp tư nhân
trong nước và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (doanh nghiệp FDI) đều bị ảnh
hưởng nặng nề. Trong số các nhóm doanh nghiệp, đối tượng chịu nhiều ảnh hưởng nhất
chính là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, các doanh nghiệp trẻ chưa đầy 3 năm hoạt động.
Do tác động của Covid-19, năm 2020 là năm mà mức tăng trưởng GDP của nước
ta ở mức thấp nhất, chưa bằng một nửa so với vài năm trước đây, và đây cũng là năm mà
số lượng các doanh nghiệp rút khỏi thị trường đạt mức kỷ lục vượt ngưỡng 100.000
doanh nghiệp. Dịch Covid-19 đã ảnh hưởng tới việc tiếp cận khách hàng, tiếp đến là bị
ảnh hưởng về dòng tiền và nhân công của doanh nghiệp. Chuỗi cung ứng của nhiều doanh
nghiệp đã bị gián đoạn. Một số doanh nghiệp còn bị ảnh hưởng tới các vấn đề khác, từ
giảm đơn hàng, giảm sản lượng, phải trì hoãn, giãn tiến độ đầu tư thậm chí huỷ dự án
đang hoặc sẽ thực hiện. Các doanh nghiệp cũng bị phát sinh thêm chi phí phòng ngừa
dịch Covid-19. Không ít doanh nghiệp gặp khó khăn do chuyên gia nước ngoài không thể
Trường Đại học Thương Mại 8 NHÓM 4 - 2219MAEC0111
GV: Đào Thế Sơn, Lê Mai Trang
sang Việt Nam làm việc. Nhiều doanh nghiệp cho hay, họ bị gián đoạn, ngưng trệ hoạt
động, thậm chí dừng hoạt động do tình hình dịch và đứng trước bờ vực phá sản bởi thị
trường giảm cầu đột ngột, dẫn tới giảm doanh thu cũng như vấp phải những rủi ro về thu
hồi nợ, mất khả năng thanh toán.
Theo kết quả điều tra khảo sát do VCCI thực hiện tháng 9/2021, có tới 93,9%
doanh nghiệp cho biết tác động của dịch ở mức độ “hoàn toàn tiêu cực” và “phần lớn là
tiêu cực”, tăng so với con số 87,2% của khảo sát năm 2020.
Về lao động, trung bình có 90,8% doanh nghiệp đã giảm quy mô lao động trong
thời kỳ diễn ra dịch bệnh. Nói cách khác, cứ khoảng 10 doanh nghiệp thì có xấp xỉ 9
doanh nghiệp chấp nhận cho người lao động thôi việc do hoạt động sản xuất kinh doanh
kém khả quan trong thời kỳ gian dịch bệnh bùng phát.
Về chuỗi giá trị, đa số các doanh nghiệp đều gặp các vấn đề liên quan đến chuỗi
giá trị. Đại dịch khiến khoảng 61,8% doanh nghiệp khó tiếp cận khách hàng trong nước và quốc tế.
Bên cạnh đó, dịch bệnh gây đình đốn nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh khiến
việc quản lý tài sản, dòng tiền trở thành một thách thức lớn.Việc triển khai các biện pháp
giãn cách xã hội đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức lại mô hình làm việc và duy trì tình
trạng làm việc từ xa, gặp nhiều khó khăn trong quản lý nhân sự trong thời kỳ dịch bệnh.
Đại dịch kéo dài khiến doanh thu của các doanh nghiệp sụt giảm nghiêm trọng, sụt
giảm nghiêm trọng giá trị của các chuỗi vận tải, logistics, xuất khẩu,…Các doanh nghiệp
hàng không bị đóng băng gần như mọi hoạt động, kéo theo hơn 2 triệu lao động ngành
này bị mất việc làm hoặc cắt giảm mạnh lượng công việc. Thiệt hại kinh tế mỗi ngày do
giãn cách, cách ly là rất lớn. Nếu các doanh nghiệp bị dừng hoạt động quá lâu, không
tránh khỏi làn sóng phá sản doanh nghiệp sẽ xuất hiện tại Việt Nam. Đáng quan ngại, với
các doanh nghiệp FDI, nếu bị thiệt hại quá nhiều do dừng sản xuất, nhiều doanh nghiệp sẽ
buộc phải rút khỏi thị trường. Trường hợp đó sẽ dẫn tới đình đốn ngành công nghiệp sản
xuất của Việt Nam kéo theo đó là giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sẽ sụt giảm
đáng kể, từ đó ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước.
III. NHỮNG CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN CSTT CỦA CHÍNH PHỦ ĐỂ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 1. Tính cấp thiết
Ngay khi dịch bệnh bùng phát, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc quyết liệt, cùng
với sự đồng lòng, đoàn kết của toàn dân, toàn quân trong công tác phòng, chống dịch.
Chính phủ đã ban hành hàng loạt chính sách, trong đó CSTT đã khẳng định được vai trò
lưu thông “dòng máu” trong nền kinh tế, hỗ trợ DN vượt qua khó khăn, ổn định sản
xuất.Mục tiêu ưu tiên hàng đầu của CSTT trong bối cảnh Covid: Duy trì hoạt động của
doanh nghiệp, hạn chế tối đa tình trạng phá sản; Duy trì việc làm cho người lao động, hạn
chế tình trạng thất nghiệp, mất thu nhập; Đảm bảo hệ thống ngân hàng – huyết mạch của
Trường Đại học Thương Mại 9 NHÓM 4 - 2219MAEC0111
GV: Đào Thế Sơn, Lê Mai Trang
nền kinh tế - duy trì được trạng thái ổn định, vận hành tốt, đủ năng lực vực dậy nền kinh tế sau dịch bệnh.
Trong bối cảnh này, CSTT có thể hỗ trợ khu vực sản xuất, kinh doanh thông qua
việc Ngân hàng nhà nước(NHNN) hỗ trợ các NHTM cơ cấu lại các khoản nợ hiện hành
cho các khách hàng (giảm lãi suất đối với các khoản nợ hiện hành, đảo nợ..); miễn giảm
lãi trong thời kỳ doanh nghiệp không có doanh thu.
2. Chính sách tiền tệ Việt Nam
Bám sát các chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, ngay từ đầu năm 2020, NHNN đã chủ
động, quyết liệt, chỉ đạo hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) triển khai đồng bộ, hiệu quả
các giải pháp điều hành CSTT, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa (CSTK) và các
chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời triển
khai hàng loạt các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, đồng hành với doanh nghiệp.
Thứ nhất, đảm bảo thanh khoản thông suốt trên thị trường tiền tệ, tạo điều
kiện để TCTD tiếp tục giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ TCTD đẩy mạnh tín dụng đáp
ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn của nền kinh tế.
NHNN mua lượng lớn ngoại tệ bổ sung Dự trữ ngoại hối Nhà nước, đưa tiền đồng
ra thị trường, qua đó thanh khoản hệ thống TCTD dồi dào, đồng thời, hàng ngày NHNN
chào mua giấy tờ có giá trên thị trường mở nhằm phát tín hiệu sẵn sàng hỗ trợ thanh
khoản, ổn định thị trường tiền tệ. Nhờ đó, lãi suất liên ngân hàng giảm xuống và duy trì ở
mức rất thấp trong lịch sử, giảm chi phí vốn đầu vào cho TCTD, qua đó tạo điều kiện
thuận lợi để TCTD giảm lãi suất cho vay.
Thứ hai, duy trì lãi suất điều hành ở mức thấp, tạo điều kiện và định hướng
để mặt bằng lãi suất cho vay của TCTD giảm.
Ngay khi dịch bệnh bùng phát trong năm 2020, NHNN đã 3 lần giảm lãi suất điều
hành với mức giảm 1,5 - 2%/năm, là một trong những ngân hàng trung ương (NHTW)
giảm lãi suất điều hành mạnh nhất khu vực. Trong năm 2021, NHNN duy trì các mức lãi
suất thấp này, kết hợp điều hành thanh khoản dồi dào trên thị trường tiền tệ. Kết quả là,
đến cuối tháng 11/2021, lãi suất huy động và cho vay VND bình quân của TCTD giảm
tương ứng khoảng 0,51%/năm và 0,81%/năm so với cuối năm 2020 sau khi đã giảm
khoảng 1%/năm trong năm 2020. Lãi suất cho vay bình quân đối với các lĩnh vực ưu tiên
theo chủ trương của Chính phủ là 4,3%/năm (thấp hơn mức trần quy định là 4,5%/năm).
Thứ ba, đảm bảo cung ứng vốn tín dụng đầy đủ và kịp thời cho các nhu cầu
sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế, linh hoạt điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín
dụng đối với các TCTD, hướng tăng trưởng tín dụng gắn với chất lượng.
NHNN điều hành tăng trưởng tín dụng trên cơ sở chỉ tiêu định hướng từ đầu năm,
và linh hoạt điều chỉnh để phù hợp với diễn biến phức tạp, khó lường của dịch Covid-19.
Theo đó, NHNN điều chỉnh tăng chỉ tiêu tín dụng cho TCTD có năng lực tài chính, quản
trị điều hành, có khả năng mở rộng tín dụng an toàn, lành mạnh, để kịp thời hỗ trợ nền
kinh tế. Đồng thời, NHNN chỉ đạo TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, tập
Trường Đại học Thương Mại 10 NHÓM 4 - 2219MAEC0111
GV: Đào Thế Sơn, Lê Mai Trang
trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào
các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường quản lý rủi ro đối với tín dụng tiêu dùng; tạo điều
kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hạn chế tín dụng đen.
Trên cơ sở đó, tín dụng tăng ngay từ đầu năm và cao hơn năm 2020, kịp thời đáp
ứng nhu cầu của nền kinh tế. Đến ngày 30/12/2021, tín dụng tăng 13,47% so với cuối năm
2020, tăng 13,79% so với cùng kỳ năm 2020 (cùng kỳ năm 2020 tăng 11,85% so với cuối
năm 2019 và tăng 11,93% so với cùng kỳ năm 2019). Cơ cấu tín dụng chuyển dịch tích
cực, tập trung cho các lĩnh vực sản xuất kinh doanh; 4/5 lĩnh vực ưu tiên có mức tăng
trưởng tín dụng cao hơn mức tăng cùng kỳ năm 20201, hỗ trợ tích cực quá trình tái cơ cấu
ngành nông nghiệp, phát triển thủy sản, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa,
doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tăng trưởng tín dụng
các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán trong tầm kiểm soát của NHNN.
Thứ tư, ổn định thị trường ngoại tệ.
NHNN điều hành tỷ giá linh hoạt, bám sát cung cầu thị trường, các cân đối vĩ mô,
tiền tệ và mục tiêu CSTT. Trong khi xu hướng rút vốn khỏi các nước mới nổi và đang
phát triển khiến đồng tiền của nhiều nước trong khu vực mất giá khá lớn so với USD
(Baht Thái giảm 9,7%, Ringgit Malaysia giảm 2,5%, Đô-la Singapore giảm 1%) thì tỷ giá
USD/VND tiếp tục được duy trì ổn định. Đến cuối tháng 12/2021, tỷ giá trung tâm
USD/VND chỉ tăng 0,06% so với cuối năm 2020. Thanh khoản ngoại tệ trên thị trường
thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của người dân, doanh nghiệp đều được đáp ứng đầy đủ, kịp thời.
Kết quả điều hành CSTT cùng với các động thái hỗ trợ chủ động, kịp thời trên đây
thể hiện sự đồng hành, sẻ chia với nền kinh tế của hệ thống ngân hàng trong bối cảnh khó
khăn chung của đại dịch Covid-19, khi bản thân hệ thống ngân hàng cũng phải đối mặt
với nhiều rủi ro do đại dịch gây ra như khả năng trả nợ của doanh nghiệp, cá nhân và hộ
gia đình suy giảm, tiềm ẩn rủi ro gia tăng nợ xấu, chi phí trích lập dự phòng rủi ro gia
tăng. Với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, ngành Ngân hàng vừa đảm bảo cung cấp
vốn đủ và kịp thời phục vụ nhu cầu phục hồi kinh tế, vừa đảm bảo hoạt động của chính hệ
thống ngân hàng an toàn, ổn định, bền vững.
3. So sánh với thế giới
3.1. Chính sách tiền tệ của một số nước để ứng phó với đại dịch trong năm 2020 và 2021 Nước Chính sách tiền tệ
Mỹ NHTW giảm lãi suất liên bang 1% và lãi suất chiết khấu 1.5%
NHTW bơm 2000 tỷ USD thanh khoản vào thị trường qua việc mua
trái phiếu của Chính phủ và của các doanh nghiệp
Trường Đại học Thương Mại 11 NHÓM 4 - 2219MAEC0111
GV: Đào Thế Sơn, Lê Mai Trang
NHTW thay đổi các quy định để tăng tính thanh khoản cho thị
trường, nới lỏng dự trữ bắt buộc của các ngân hàng Trung
NHTW cắt giảm lãi suất 1 năm và 5 năm Quốc
NHTW bơm 650 tỷ USD thanh khoản, mở rộng vay 254 tỷ USD cho
các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp
Cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng Nhật
NHTW giảm lãi suất xuống 0% Bản
NHTW mua trái phiếu doanh nghiệp trị giá 1000 tỷ USD
NHTW mua trái phiếu chính phủ không giới hạn
Anh NHTW cắt giảm lãi suất từ 0.75% xuống 0.1% trong tháng 3/2020
NHTW mua và mở rộng danh mục trái phiếu lên đến 567 tỷ USD
NHTW đưa ra các chương trình cho vay và mua tài sản bổ sung cho
các doanh nghiệp vừa và nhỏ
NHTW thay đổi quy định và cho phép các ngân hàng sử dụng dự trữ,
tăng tiền dự trữ của các ngân hàng để chống lại cú sốc tài chính toàn cầu
Ngày 9/4/2020 NHTW thông báo sẽ cho chính phủ vay trực tiếp khi cần thiết
3.2. Một số gói cứu trợ nhằm vực dậy năm 2020 của các quốc gia
Một số gói cứu trợ nhằm vực dậy năm 2020 của các quốc gia vừa đưa ra cũng tốn kém
chưa từng thấy Để kéo người dân và doanh nghiệp không bị chìm sâu trước làn sóng Covid-19
- Gói cứu trợ tại Mỹ có giá trị kỉ lục 2.200 tỷ đô la. Tiền mặt hỗ trợ sẽ được chuyển
thẳng tới các cá nhân và doanh nghiệp Mỹ. Cụ thể, cá nhân với thu nhập ít hơn
75000 USD sẽ nhận được tấm séc 1200 USD; cặp vợ chồng nào có tổng thu nhập ít
hơn 150000 USD sẽ nhận về 2400 USD, cứ mỗi đứa con thì nhận thêm 500 USD.
Mỗi gia đình 4 người sẽ được chính phủ cấp 3400 USD
- Canada cũng chọn hình thức hỗ trợ tiền mặt. trong vòng 4 tháng, bất kì công dân
nào từ 15 tuổi trở lên bị sa thải hoặc là không được đi làm do covid-19 sẽ nhận
được 2000$ Canada mỗi tháng, tức khoảng 1400$ Mỹ
- EU thì thống nhất bật đèn xanh cho chương trình cứu trợ dịch bệnh 540 tỷ Euro,
trong đó 100 tỷ cho chương trình bảo hiểm thất nghiệp, 200 tỷ khác để cứu các
công ty, phần còn lại sẽ phân bổ cho các nước thành viên để khác phục hậu quả từ đại dịch
Các gói cứu trợ chỉ mang tính tạm thời, nó đóng vai trò như máy trợ thở giảm tổn
thương lên nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp.
Trường Đại học Thương Mại 12 NHÓM 4 - 2219MAEC0111
GV: Đào Thế Sơn, Lê Mai Trang
Nhìn chung, để giảm bớt những tác động tiêu cực của dịch Covid-19 trong giai đoạn
vừa qua, tất cả các quốc gia đều liên tục cắt giảm lãi suất cũng như tung ra những gói hỗ
trợ khổng lồ nhằm vực dậy nền kinh tế.
Với việc áp dụng chính sách: Lãi suất vay hợp lý, tập trung nguồn lực giảm lãi suất
huy động và lãi suất cho vay thì VIỆT NAM là một trong những nước có mức giảm lãi
suất điều hành mạnh nhất trong khu vực, tổng mức giảm là 1,5 - 2%/năm (Philippines
giảm 2%; Thái Lan giảm 0,75%, Malaysia giảm 1,25%, Indonesia giảm 1,25%; Ấn Độ
giảm 1,15%; Trung Quốc giảm 0,3%.)
Và theo đánh giá của WB (Ngân hàng Thế giới) thì Chính phủ Việt Nam đã chủ động
kiểm soát mọi tình hình nên nền kinh tế Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp vẫn
đứng vững trước cú sốc bên ngoài. WB nhận định, với dư địa chính sách trong tay, Việt
Nam đang ở vị thế vững vàng để vượt qua khủng hoảng về y tế và kinh tế đang diễn ra.
Việt Nam cũng đang có vị thế vững chắc để hưởng lợi từ các hiệp định thương mại tự do
với mức tăng trưởng dự báo sẽ lên đến 7,5% trong năm 2021 và quanh mức 6,5% năm
2022 nhờ sức cầu bên ngoài được cải thiện, hỗ trợ doanh nghiệp, ngành dịch vụ được
củng cố và sản xuất nông nghiệp dần được khôi phục. IV. ĐÁNH GIÁ 1. Hiệu quả
Điều hành CSTT hiệu quả, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô:
Nhìn lại giai đoạn 2019- 2020, NHNN đã điều hành CSTT hiệu quả nhờ sự kiên
định, chủ động, thận trọng và linh hoạt, góp phần kiểm soát lạm phát mức dưới 4% theo
đúng mục tiêu của Quốc hội, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ doanh nghiệp, tăng
trưởng kinh tế, làm ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối.
NHNN đã điều hành tín dụng theo phương châm mở rộng kết hợp với an
toàn, hiệu quả, phù hợp chủ trương từng bước giảm tỷ lệ vốn đầu tư tín dụng ngân
hàng, đổi mới mô hình và nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế:
Các giải pháp, chính sách tín dụng của NHNN đi đúng hướng, bảo đảm an toàn,
cung ứng đầy đủ vốn cho doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung, phù hợp mục
tiêu kiểm soát lạm phát. Cơ cấu tín dụng chuyển dịch theo hướng tích cực, tập trung chủ
yếu các lĩnh vực như sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.Hoạt động thanh toán có
nhiều bước tiến vượt bậc cả về chất, lượng với nhiều dịch vụ thanh toán,sản phẩm mới,
tiện ích và hiện đại dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin. Công nghệ thanh toán có bước
phát triển mang tính chất đột phá. Thanh toán không dùng tiền mặt được đẩy mạnh, các
sản phẩm dịch vụ ngân hàng số, hoạt động chuyển đổi số phát triển mạnh mẽ.
Công tác cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu được thực hiện
nghiêm túc, từng bước hiệu quả, bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng, tăng
cường các công tác thanh tra, phòng chống rửa tiền, giám sát để nâng cao tính minh bạch.
Trường Đại học Thương Mại 13 NHÓM 4 - 2219MAEC0111
GV: Đào Thế Sơn, Lê Mai Trang
Kiểm soát cung tiền ở mức hợp lý, mà nhất là tăng trưởng tín dụng nhằm
kiềm chế lạm phát, hỗ trợ doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế:
Chính sách tín dụng điều chỉnh phù hợp với diễn biến kinh tế làm góp phần kiềm
chế lạm phát, hỗ trợ doanh nghiệp. NHNN có những điều chỉnh rất linh hoạt lãi suất trong
điều hành CSTT khi xuất hiện một vài diễn biến mới của tình hình, lãi suất bám sát diễn
biến chỉ số giá, hỗ trợ thêm doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế khi còn nhiều khó khăn
và củng cố niềm tin của xã hội đối với VND, mặt bằng lãi suất huy động , cho vay đã giảm mạnh.
Thực hiện các biện pháp bình ổn thị trường tiền tệ, tình trạng đô la hóa, vàng
hóa đã được kiểm soát:
NHNN cũng đã rất nỗ lực trong công tác quản lý và điều tiết tiền tệ thông qua việc
điều hành công cụ CSTT theo cách linh hoạt, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với công tác
quản lý ngoại hối, từng bước gỡ bỏ các nút thắt của thị trường, bảo đảm sự ổn định của thị
trường tiền tệ. Sự chủ động, linh hoạt trong công tác điều hành của NHNN trong thời gian
qua truyền dẫn chính sách vào thực tế một cách hiệu quả, cơ bản đã thực hiện được mục
tiêu đề ra, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
Thâm hụt cán cân thương mại đã thu hẹp mạnh, khu vực tài chính nói riêng đã bắt
đầu ổn định trở lại, tỷ giá, lãi suất và giá vàng diễn biến ổn định, thanh khoản của hệ
thống được cải thiện và đi dần vào ổn định. 2. Hạn chế
Mặt bằng lãi suất quá cao, có phần chưa được hợp lý:
Huy động vốn NHTM khó khăn, thanh khoản trong hệ thống ngân hàng thường
căng thẳng, nhưng về tốc độ tăng dư nợ của các NHTM vẫn cao. Có thể lý giải bởi các
nguyên nhân như: dịch vụ ngân hàng ngoài hoạt động tín dụng chưa được mở rộng và
phát triển tốt, thu lãi từ hoạt động tín dụng vẫn là nguồn thu chủ yếu của các NHTM, cơ
chế chính sách và môi trường kinh doanh nói chung lại tạo động lực và có dư địa để các
ngân hàng tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ: huy động vốn với lãi suất cao; lãi suất cho vay không bị khống chế.
Thị trường liên ngân hàng chưa được tổ chức và kiểm soát tốt:
Trong những năm trước đây, khi mà lạm phát có xu hướng tăng cao, NHNN vẫn
điều hành CSTT theo hướng tiếp tục giữ nguyên mức lãi suất điều hành của NHNN, chỉ
tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc với VND và ngoại tệ nhằm hạn chế gia tăng tín dụng, hút tiền từ
lưu thông. Kỷ luật thị trường chưa được nghiêm minh, hoạt động ngân hàng còn thiếu
minh bạch Thị trường chứng khoán phụ thuộc nhiều vào dòng vốn tài trợ từ hệ thống
ngân hàng và hiện nay đang suy giảm mạnh
Về cơ bản khi đánh giá về tính minh bạch của các chính sách hỗ trợ, các
doanh nghiệp đều cho rằng các chính sách là minh bach, tuy nhiên cá biệt có một số chính sách như:
Trường Đại học Thương Mại 14 NHÓM 4 - 2219MAEC0111
GV: Đào Thế Sơn, Lê Mai Trang
Cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xét duyệt hồ sơ vay vốn; Cơ cấu lại
thời hạn trả nợ và các khoản nợ; Tạm dừng đóng BHXH, kinh phí công đoàn; Giảm các
hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý tại doanh nghiệp vẫn có tỷ lệ nhất định (khoảng
15%) doanh nghiệp là không minh bạch.
Trong các lý do doanh nghiệp không nhận được các hỗ trợ thì có tới 54,67% các
doanh nghiệp cho rằng các doanh nghiệp không đáp ứng được điều kiện để nhận được hỗ
trợ; có ới 25,95% doanh nghiệp không biết đến các chính sách hỗ trợ, có 14,88% doanh
nghiệp cho rằng quy trình, thủ tục hỗ trợ còn quá phức tạp nên các doanh nghiệp không
muốn tiếp cận các hỗ trợ. Tỷ lệ các doanh nghiệp có quy mô lớn nhận được hỗ trợ từ
Chính phủ là lớn hơn nhiều so với các doanh nghiệp có quy mô vừa, nhỏ và siêu nhỏ với
34.04% doanh nghiệp. Tuy nhiên lý do không nhân được hỗ trợ của các doanh nghiệp lớn
chủ yếu đến từ việc không đáp ứng được điều kiện nhận hỗ trợ (68,97%) chứ không phải
do không có thông tin về chính sách 3. Kết luận
COVID-19 tác động lên mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, ảnh hưởng tiêu cực
đến tăng trưởng kinh tế, hoạt động thương mại, lao động, việc làm và thu nhập của người
lao động. Đứng trước cú sốc này, Việt Nam đã nhanh chóng thực hiện hệ giải pháp (các
giải pháp mạnh sáng tạo), trước hết là để hạn chế sự lây lan của dịch bệnh, sau đó là để
phát triển kinh tế. Các giải pháp đã chứng tỏ thành công bước đầu khi khống chế được
dịch bệnh, không để lây lan trong cộng đồng và phát triển hoạt động phát triển kinh tế - xã
hội. Do vậy, việc duy trì các giải pháp chính sách để hỗ trợ quá trình phục hồi kinh tế là
cần thiết nhưng không thể chủ quan với áp lực lạm phát, đòi hỏi công tác phối hợp chính
sách phải thật chặt chẽ, nhịp nhàng về liều lượng, cách thức triển khai, nhất là CSTT và CSTK.
Kinh tế trong nước năm 2021 đối mặt với những khó khăn chưa từng có do tác
động nghiêm trọng của đại dịch COVID-19 lên đời sống nhân dân và sản xuất, kinh
doanh, lưu thông hàng hóa, dịch vụ. Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước đã kịp thời
đưa ra các quyết sách hỗ trợ nền kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam với sứ mệnh điều hành chính sách tiền tệ, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ
mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế đã chỉ đạo toàn ngành ngân hàng triển khai nhiều giải pháp
căn cơ để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân, duy trì vốn cho sản xuất, góp
phần thực hiện chính sách an sinh xã hội. HẾT
Trường Đại học Thương Mại 15 NHÓM 4 - 2219MAEC0111
GV: Đào Thế Sơn, Lê Mai Trang
Trường Đại học Thương Mại 16 NHÓM 4 - 2219MAEC0111
GV: Đào Thế Sơn, Lê Mai Trang Link tham khảo:
Tham khảo giáo trình Kinh tế Vĩ mô ĐH Thương Mại và Đại học quốc gia Hà Nội
https://www.jica.go.jp/vietnam/vietnamese/office/topics/c8h0vm00009crmm6-att/ 210305_01_vn.pdf
https://thitruongtaichinhtiente.vn/chinh-sach-tien-te-va-chinh-sach-tai-khoa-cua-viet-nam-
truoc-tac-dong-cua-dich-covid-19-38629.html
https://www.youtube.com/watch?v=ln0-FOBtVKA
https://thitruongtaichinhtiente.vn/chinh-sach-tien-te-va-chinh-sach-tai-khoa-cua-viet-nam-
truoc-tac-dong-cua-dich-covid-19-38629.html
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/
V8hhp4dK31Gf/content/dieu-hanh-chinh-sach-tien-te-va-hoat-dong-ngan-hang-giup-
kiem-soat-lam-phat-on-dinh-kinh-te-vi-mo-gop-phan-dua-dat-nuoc-vuot-qua-kho-khan- cua-dai-dich
https://tapchinganhang.gov.vn/chinh-sach-tai-khoa-va-chinh-sach-tien-te-cua-cac-nuoc-
tren-the-gioi-nham-ung-pho-voi-dai-dich-covid.htm
https://suckhoedoisong.vn/dich-covid-19-tan-pha-nang-ne-den-suc-khoe-doanh-nghiep-
169210926141257221.htm?fbclid=IwAR2NqN7OvNuXc0497-
fKpJGdzFPmJUz8CES58Zw7OGabrFSMM2lSxFkN0NM
https://dangkykinhdoanh.gov.vn/vn/tin-tuc/599/5326/bao-cao-tac-dong-cua-dich-covid-
19-doi-voi-doanh-nghiep-viet-nam.aspx
https://doanhnhansaigon.vn/doanh-nhan-viet/nhung-tac-dong-tich-cuc-tu-covid-19- 1106565.html?
gidzl=p94k493HBmp4YoSIbSSe3CUB9HsCooKCY8Pv58lBS0pQsdb0tCnm2zpQVHM FcdqDquzmGJLbT3aecz4b3W
https://vietnamdaily.trithuccuocsong.vn/doanh-nghiep/covid-19-anh-huong-the-nao-den-
cac-doanh-nghiep-viet-nam-87504.html
Trường Đại học Thương Mại 17 NHÓM 4 - 2219MAEC0111
GV: Đào Thế Sơn, Lê Mai Trang
Trường Đại học Thương Mại 18