















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ
------------------------------------------- BỘ MÔN: KINH TẾ HỌC BÀI THẢO LUẬN
Đề tài: Phân tích các yếu tố tác động đến mức cung tiền tệ và ảnh hưởng của sự biến
động mức cung tiền tệ đến tổng cầu (tổng chi tiêu dự kiến). Hãy phân tích sự thay đổi
mức cung tiền của Việt Nam trong những năm gần đây và cho biết sự thay đổi này tác
động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. NHÓM 4
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: Th.S GV Nguyễn Thị Thu Hiền
LỚP HỌC PHẦN: 2320MAEC0111 HÀ NỘI, 2023 1 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................................4 PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ
THUYẾT...........................................................................................5
I. Các yếu tố ảnh hưởng đến cung tiền tệ.............................................................................5
1.1 Khái niệm mức cung tiền MS........................................................................................5
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức cung tiền......................................................................5
II. Ảnh hưởng của mức cung đến tổng cầu..........................................................................7
2.1 Khái niệm tổng cầu........................................................................................................7
2.2 Ảnh hưởng của mức cung tiền tệ đến tổng cầu..............................................................7 PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ
THUYẾT...........................................................................................9
I. Mức cung tiền tệ của Việt Nam trong những năm gần đây..............................................9
II. Tác động của các cung tiền tệ đến nền kinh tế Việt Nam.............................................12
PHẦN 3: KẾT LUẬN........................................................................................................14
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................................15 2
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 4 STT TÊN MSV LHC NV 31 Nguyễn Đức Hảo 22D16075 K58F1 Phần 1 32 Nguyễn Thu Hằng 22D160082 K58F1 Trình bày word 33 Ngô Thị Thúy Hiền 22D160085 K58F1 Trình bày PP 34 Vũ Thu Hiền 22D160086 K58F1 Thư ký 35 Nguyễn Minh Hiếu 22D160088 K58F1 Phần 1 (Nhóm trưởng) 36 Nguyễn Nhật Hoa 22D160091 K58F4 Phần 2 37 Đỗ Thị Như Hoàng 22D160093 K58F1 Trình bày PP 38 Dương Văn Hòa 22D160096 K58F4 Phần 3 39 Phùng Thị Hồng 22D160097 K58F1 Phần 2 3 LỜI MỞ ĐẦU
Mức cung tiền tệ và sự biến động của nó là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng
đến tình trạng tài chính của một quốc gia, tác động mạnh đến hoạt động sản xuất, tiêu
dùng, thương mại và đầu tư. Mức cung tiền tệ ảnh hưởng đến mức độ lạm phát, sức mua,
xuất khẩu, nhập khẩu, giá trị tiền tệ cũng như lãi suất, ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát
triển kinh tế của một quốc gia. Trong vài năm qua, Việt Nam đã có sự tăng trưởng vượt
trội trong mức cung tiền tệ được thể hiện qua việc tăng trưởng sản xuất, tiêu dùng và đầu
tư. Từ năm 2015 đến 2019, mức cung tiền tăng từ khoảng 8,88% lên 17,16% và giảm
xuống còn khoảng 12% vào năm 2020. Sự thay đổi này ảnh hưởng trực tiếp đến tình
trạng tài chính của Việt Nam, sức mua và tiêu dùng của người dân đồng thời cũng thể
hiện tác động đến hoạt động kinh tế của quốc gia. Mức cung tiền tăng đồng thời với các
biện pháp hỗ trợ phát triển sản xuất và đầu tư của Chính phủ nhằm tăng sản xuất, tiêu
dùng và xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2015-2019. Tuy nhiên, điều này đồng
nghĩa với tình trạng lạm phát giữ nguyên, giá cả tăng cao, năng lực cạnh tranh giảm sút
và sức mua bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Còn với ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, mức
cung tiền áp đảo chính sách tiền tệ của Chính phủ sẽ giúp tăng trưởng kinh tế, nhưng có
thể sẽ gây ra lạm phát và việc tăng trưởng không bền vững. Chính sách tiền tệ phù hợp có
thể giúp kiểm soát được tình trạng lạm phát và giúp tăng trưởng kinh tế bền vững và ổn
định hơn. Trong năm 2020, việc giảm mức cung tiền tệ của Việt Nam trong bối cảnh đại
dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam. Một số doanh nghiệp bị gián đoạn
hoạt động, tăng thêm những áp lực đối với việc xử lý nợ xấu, chỉ số tài chính giảm đáng
kể. Tuy nhiên, Chính phủ đã có các biện pháp hỗ trợ kinh tế cả về mặt tiền tệ và hỗ trợ
vay vốn để duy trì hoạt động sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp đóng vai trò
quan trọng trong việc duy trì tình trạng tài chính của quốc gia.
Tóm lại, mức cung tiền tệ đóng vai trò quan trọng trong tình hình kinh tế của một quốc
gia và phản ánh trực tiếp tình trạng tài chính của nó. Vì thế, cần phải đưa ra các chính
sách tiền tệ hợp lý để đảm bảo sự ổn định kinh tế, kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh
tế bền vững của Việt Nam. 4
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT I.
Các yếu tố ảnh hưởng đến mức cung tiền tệ
1.1. Khái niệm mức cung tiền (MS)
Mức cung tiền (hay còn gọi là cung ứng tiền tệ hoặc cung tiền) là một khái
niệm kinh tế vĩ mô, để chỉ lượng cung cấp tiền tệ trong nền kinh tế nhằm đáp ứng
nhu cầu mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản, ...của các cá nhân (hộ gia đình) và doanh
nghiệp (không kể các tổ chức tín dụng).
Mức cung tiền là tổng là tổng số tiền có khả năng thanh toán nhanh và dễ
dàng. Nó bao gồm tiền mặt đang lưu hành và các khoản tiền gửi không kỳ hạn tại
các ngân hàng thương mại. Ta có H = M0 + R Trong đó:
H : tiền cơ sở (tiền do ngân hàng TW phát hành) M0 : tiền mặt lưu hành
R : tiền dự trữ trong các ngân hàng
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức cung tiền
*Thứ nhất là ảnh hưởng từ hoạt động của ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, một tổ chức
môi giới tài chính. Hoạt động của nó cũng như hoạt động của các tổ chức môi giới
tài chính khác như quỹ tín dụng, công ty bảo hiểm vv, ...là nhận số tiền của người
gửi này (cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, …) và đem số tiền đó cho người
khác vay để sinh lợi. Ngân hàng thương mại cũng được coi là tổ chức tài chính
trung gian, đứng ra thu thập các khoản tiền tiết kiệm của dân cư, những người muốn
để dành một phần giá trị thu nhập cho tiêu dùng tương lai, cũng như thu nhập các
khoản tiền nhàn rỗi khác trong xã hội, và đem khoản tiền này cho những người cần
vay để chi tiêu cho hiện tại. Ngân hàng thu lợi nhuận trên cơ sở lãi suất cho vay lớn hơn lãi suất tiền gửi.
Sự phát triển của hệ thống ngân hàng đã cho phép mỗi ngân hàng riêng biệt
không cần phải lưu trữ đầy đủ mọi giá trị các khoản tiền vào, ra một ngày của ngân
hàng. Thông qua một hệ thống thanh toán của ngân hàng nhà nước mà ở đó mỗi
Ngân hàng thương mại đều có 1 tài khoản của mình, công việc thanh toán bù trừ
được tiến hành và cuối ngày chỉ cần thanh toán khoản chênh lệch giữa toàn bộ số
tiền gửi và rút ra trên tạo tài khoản của ngân hàng thương mại mở tại hệ thống thanh
toán. Điều này mở ra khả năng hạ thấp mức dự trữ của NHTM, tăng tốc độ thanh
toán, đẩy nhanh các hoạt động giao dịch, sự thanh toán ngân hàng không chỉ diễn ra
trong một nước. Mối quan hệ giữa ngân hàng nước này làm chị nhánh cho ngân
hàng nước khác, với công nghệ ngân hàng hiện đại như hệ thống máy tính,… đã
làm cho quá trình thanh toán quốc tế diễn ra nhanh chóng thuận lợi và bớt rủi ro.
Quá trình tạo ra tiền là sự mở rộng nhiều lần số tiền gửi được thực hiện bởi hệ
thống các ngân hàng thương mại.
Mỗi ngân hàng sẽ nhận được một khoản tiền gửi, bắt buộc phải để lại dự trữ
theo một tỉ lệ % nào đó ( ví dụ 10% số tiền gửi) như Ngân hàng Trung ương quy
định. Số tiền dự trữ này dùng để đảm bảo khả năng ổn định cho việc chi trả thường 5
xuyên của Ngân hàng thương mại và yêu cầu quản lý tiền tệ của Ngân hàng trung
ương. Tùy theo loại tiền gửi và quy mô của chúng mà Ngân hàng trung ương quy
định những tỉ lệ dự trữ bắt buộc khác nhau. Một phần tiền dự trữ được dự trữ tại
ngân hàng dưới dạng tiền mặt, còn một phần được gửi vào tài khoản của mình tại Ngân hàng trung ương.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ là: rb= Rb/ D Trong đó:
rb : tỉ lệ dự trữ bắt buộc
Rb : dự trữ (tiền) bắt buộc D : tiền gửi
Một khoản tiền gửi mới đưa vào hệ thống ngân hàng sẽ tạo thêm một khoản
dự trữ mới ,và cho phép tạo một lượng tối đa khoản cho vay mới. Những khoản cho
vay được đưa trở lại hệ thống ngân hàng, lại trở thành những khoản tiền gửi mới ( D) bằng 1/rb.
*Thứ hai là ảnh hưởng từ ngân hàng trung ương:
Chức năng của Ngân hàng trung ương:
- Ngân hàng của các ngân hàng thương mại: Ngân hàng trung ương giữ khoản
dự trữ cho các ngân hàng thương mại, thực hiện tiến trình thanh toán cho các ngân
hàng thương mại và hoạt động như người cho vay của phương sách cuối cùng đối
với các ngân hàng thương mại trong trường hợp khẩn cấp
- Ngân hàng chính phủ: Ngân hàng trung ương giữ các tài khoản cho chính
phủ, nhận tiền gửi và cho vay đối với kho bạc nhà nước, hỗ trợ chính sách tài khóa
của chính phủ bằng việc mua bán tín phiếu của chính phủ.
- Kiểm soát mức cung tiền tệ để thực hiện chính sách tiền tệ nhằm ổn định và phát triển kinh tế.
- Hỗ trợ, giám sát và điều tiết hoạt động của ngân hàng thương mại.
- Thực thi chính sách tiền tệ
- Ngân hàng trung ương điều chỉnh mức cung tiền và các tỷ lệ lãi suất bằng
nhiều công cụ khác nhau, nhằm tác động vào lượng tiền mạnh (H) và số nhân tiền tệ.
Các công cụ quản lý tiền tệ thường dùng của Ngân hàng trung ương gồm:
+ Hoạt động thị trường mở:
Muốn tăng mức cung tiền ngân hàng trung ương mua trái phiếu ở thị trường
mở. Kết quả là họ đã đưa thêm vào thị trường một lượng tiền cơ sở bằng cách tăng
dự trữ của các ngân hàng thương mại, dẫn đến tăng khả năng cho vay, tăng mức tiền
gửi nhờ số nhân tiền tệ. Kết quả cuối cùng là mức cung tiền đã tăng gấp bội so với
số tiền mua tín phiếu của ngân hàng trung ương. Để có kết quả ngược lại, ngân hàng
trung ương sẽ bán trái phiếu của chính phủ.
+ Quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc:
Ngân hàng trung ương là cơ quan duy nhất được phép ra quyết định về tỷ lệ dự
trữ bắt buộc đối với ngân hàng thương mại. Tỷ lệ dự trữ càng thấp, số nhân tiền gửi càng 6
lớn là điều kiện thuận lợi để mở rộng tín dụng, tăng nhanh mức cung tiền. + Lãi suất chiết khấu:
Lãi suất chiết khấu là lãi suất quy định của Ngân hàng trung ương khi họ cho
Ngân hàng thương mại vay tiền. Khi lãi suất chiết khấu thấp hơn lãi suất thị trường và
điều kiện cho vay thuận lợi, sẽ là tín hiệu khuyến khích các Ngân hàng thương mại vay
tiền để tăng dự trữ và mở rộng cho vay, dẫn đến mức cung tiền sẽ tăng lên.
Tóm lại, Ngân hàng trung ương có nhiều khả năng thực tế để ấn định mức cung
tiền theo dự kiến, có thể tăng hoặc giảm bớt nó bằng các công cụ điều tiết của mình, chủ
động thực hiện chính sách tiền tệ đã hoạch định. II.
Ảnh hưởng của mức cung tiền tệ đến tổng cầu II.1. Khái niệm tổng cầu
Tổng cầu là tổng khối lượng hàng hóa và dịch vụ (tổng sản phẩm quốc dân) mà
các tác nhân trong nền kinh tế sẽ sử dụng tương ứng với mức giá cả, thu nhập và các biến
số kinh tế khác đã cho. Tổng cầu phụ thuộc vào giá cả,thu nhập của công chúng,vào dự
đoán của các hãng kinh doanh về tình hình kinh tế cũng như các biếnchính sách khác như
thuế, chi tiêu của chính phủ,khối lượng tiền tệ và lãi suất.
Tổng cầu bao gồm 4 bộ phận cấu thành :
+ Chi tiêu tiêu dùng (C): Tổng cầu về hàng tiêu dùng và dịch vụ
+ Chi tiêu đầu tư (I): Các khoản chi tiêu cho các nhu cầu đầu tư của các doanh
nghiệp và các đơn vị kinh tế bao gồm đầu tư vốn cố định và đầu tư vốn lưu động ,xưởng,
máy móc và những đầu vào khác của sản xuất
+ Chi tiêu của chính phủ (G) :Bao gồm các khoản mục chi mua hàng hóa và dịch vụ của chính phủ
+ Xuất khẩu ròng(NX): chi tiêu của nước ngoài ròng về hàng hóa dịch vụ trong nước
2.2.Ảnh hưởng của mức cung tiền đến tổng cầu
Khái niệm: Cung tiền tệ (Money Supply) là tổng lượng tiền trong lưu thông trong nền
kinh tế. Cung tiền bao gồm: tiền trong dân giữ, tiền trong hệ thống ngân hàng và tiền của cơ quan doanh nghiệp.
Cung tiền có các hình thức: tiền mặt, tiền xu, tiền gửi ngân hàng, séc được phép lưu hành
trên thị trường theo quy định Nhà nước.
Cung tiền có tác động tới mọi mặt của nền kinh tế quốc dân. Khi cung tiền tăng lên sẽ
giúp giảm lãi suất trên thị trường. Do vậy, khuyến khích cho vay cá nhân và tổ chức, tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng phát triển kinh doanh. Từ đó, nhu cầu tiêu dùng
tăng và kinh tế cũng tăng. Tuy nhiên, nếu không kiểm soát tốt, khiến tổng cầu tăng vượt
có thể dẫn đến lạm phát và gây ảnh hưởng tiêu cực cho nền kinh tế.
Sự tác động của tiền tệ tới hoạt động kinh tế được thể hiện thông qua sự tác động
tới các bộ phận của tổng cầu bao gồm những tác động tới chi tiêu đầu tư, chi tiêu tiêu
dùng và buôn bán quốc tế.
Đầu tiên là chi tiêu đầu tư:
- Sự thay đổi của MS đối với I thông qua chi phí đầu tư
Việc thu hẹp mức cung tiền tệ của NHTW sẽ đẩy lãi suất tăng lên, chi phí tài trợ 7
cho các hoạt động đầu tư có thể tăng lên dẫn tới giảm lượng đầu tư, AD suy giảm làm
giảm sản lượng và giá cả. Ngược lại khi NHTW mở rộng tiền tệ, lãi suất cân bằng của thị
trường giảm đi, chi phí đầu tư rẻ hơn có thể mở rộng đầu tư, tổng cầu tăng làm tăng sản
lượng và giá cả. Tuy nhiên lãi suất không thể đại diện đầy đủ cho chi phí đầu tư nên
những tác động này có thể không rõ ràng.
- Sự sẵn có của các nguồn vốn
Khi chính sách tiền tệ là thắt chặt, mức cung tiền giảm, mặc dù lãi suất có thể
thay đổi rất ít nhưng khả năng cho vay của các ngân hàng có thể giảm (rD tăng).
Việc hạn chế tín dụng của các ngân hàng thương mại làm cho chi tiêu đầu tư
giảm xuống dẫn tới AD giảm. Khi NHTW mở rộng tiền tệ có thể làm tăng khả năng cho
vay của các ngân hàng thương mại, làm cho chi tiêu đầu tư tăng lên. Tuy nhiên khả năng
cho vay của các ngân hàng thương mại được mở rộng không đồng nghĩa với việc nguồn
vốn này sẽ được tận dụng ngay, nó còn tùy thuộc vào khả năng hấp thụ vốn của nền kinh
tế. Việc hạn chế khả năng cho vay của hệ thống ngân hàng có tác dụng tốt hay không còn
tùy thuộc giới hạn của việc kiểm soát vốn quốc tế.
Ngoài ra, sự thay đổi của cung tiền tệ có tác dụng đến giá cổ phiếu, khi dân
chúng giữ nhiều tiền hơn họ muốn chẳng hạn, chi tiêu vào thị trường cổ phiếu có thể tăng
lên làm tăng giá cổ phiếu; giá trị ròng của các hãng tăng lên có nghĩa là những người cho
vay sẽ được đảm bảo nhiều hơn cho các khoản vay của mình, như vậy khuyến khích cho
vay để tài trợ cho chi tiêu đầu tư, tổng cầu tăng thúc đẩy sự gia tăng sản lượng và giá cả.
Thứ hai là Chi tiêu tiêu dùng:
- Ảnh hưởng đối với lãi suất
Do chi tiêu tiêu dùng hàng lâu bền thường được tài trợ một phần bằng đi vay, do
vậy lãi suất thấp hơn sẽ khuyến khích người tiêu dùng tăng chi tiêu tiêu dùng lâu bền.
Cũng tương tự như đối với ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư, sự ảnh hưởng của lãi
suất đến chi tiêu tiêu dùng lâu bền có thể là nhỏ.
- Ảnh hưởng đến thị trường cổ phiếu
Chi tiêu tiêu dùng cho hàng hóa lâu bền và dịch vụ của dân cư phụ thuộc rất lớn
vào thu nhập cả đời của họ chứ không phải chỉ là thu nhập hiện tại. Khi giá cổ phiếu tăng
lên, giá trị tài sản tài chính tăng lên làm thu nhập cả đời của người tiêu dùng và tiêu dùng sẽ tăng.
Cơ chế tác động này như sau: Khi giá cổ phiếu tăng, giá trị các tài sản tài chính tăng,
người tiêu dùng có khả năng tài chính đảm bảo hơn sẽ
đánh giá những khó khăn tài chính
ít xảy ra hơn. Việc chi tiêu về hàng hóa lâu bền của người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi
những khó khăn tài chính có thể xảy ra trong tương lai. Khi những khó khăn này xảy ra,
họ sẽ phải bán các tài sản của mình để tăng thêm tiền mặt, việc bán các tài sản tài chính
như cổ phiếu sẽ thuận lợi cho việc bán các hàng hoá tiêu dùng lâu bền như vật dụng tiêu
dùng, phương tiện đi lại, nhà ở… Do vậy giá cổ phiếu tăng có thể khuyến khích người
tiêu dùng chi tiêu nhiều hơn cho hàng tiêu dùng lâu bền. Và cuối cùng là ảnh hưởng tới
xuất khẩu ròng: Trong bối cảnh nền kinh tế mở của các quốc gia và việc áp dụng chế độ
tỷ giá thả nổi, sự ảnh hưởng này thông qua tác động vào tỷ giá hối đoái. Khi lãi suất trong
nước giảm (lạm phát chưa thay đổi) tiền gửi bằng nội tệ sẽ kém hấp dẫn hơn so với tiền
gửi ngoại tệ, kết quả là nhu cầu về ngoại tệ cao hơn so với nội tệ làm cho giá đồng nội tệ 8
giảm so với ngoại tệ và làm cho hàng nội địa rẻ hơn so với hàng ngoại, xuất khẩu ròng
tăng lên và vì vậy tổng cầu tăng lên.
Như vậy: Sự thay đổi của mức cung tiền tệ có tác động tới các hoạt động kinh tế
thông qua các tác động tới những bộ phận của tổng cầu như chi tiêu đầu tư, chi tiêu tiêu
dùng, xuất khẩu ròng. Tuy nhiên sự tác động này mạnh hay yếu còn tuỳ thuộc vào sự
phản ứng của nền kinh tế. Nếu nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển và linh hoạt thì
chính sách tiền tệ có hiệu quả lớn hơn. Trong trường hợp nền kinh tế trì trệ, các nguồn tài
chính được tạo ra có thể không được tận dụng đầy đủ và chính sách tiền tệ ít có hiệu lực hơn.
PHẦN 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN
I. Mức cung tiền tệ trong những năm gần đây.
- Trong giai đoạn 2000 - 2020, cung tiền của Việt Nam tăng trưởng ổn định, trung
bình năm cả giai đoạn này đạt 24%/năm; trong đó, năm cao nhất là năm 2000 với
56,2% và năm thấp nhất là năm 2011 với 12,1%. Lượng tiền M2 trong lưu thông
trung bình cả giai đoạn chiếm 114,2% GDP/năm. Năm có tỷ trọng cung tiền/GDP
thấp nhất là năm 2000 với 50,5% và năm có tỷ trọng lớn nhất là năm 2020 với
182,5%. Thời điểm quy mô GDP lớn nhất đạt 271,2 tỷ USD, năm 2020, cung tiền
có tỷ trọng bằng 182,52% GDP, cao hơn mức trung bình cả giai đoạn. Quy mô
GDP năm 2017 chỉ đạt 223,8 tỷ USD nhưng tăng trưởng cung tiền giảm nhẹ so với năm 2 9 01
6, chỉ đạt 15,0% so với 18,4% năm 2016.
- Theo số liệu mới nhất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tổng phương tiện thanh toán
hay cung tiền M2 đang có tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng phương tiện thanh toán tính đến ngày
21/12/2022 tăng 3,85% so với cuối năm 2021. Con số trên chưa bằng một nửa mức tăng
trưởng cùng thời điểm năm 2021 (8,31%). Cung tiền tăng chậm được giới chuyên môn
đánh giá là một trong những nguyên nhân chính khiến thanh khoản của nhiều doanh
nghiệp và hệ thống ngân hàng bị ảnh hưởng, lãi suất bật tăng mạnh vào cuối quý III và
đầu quý IV. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tổng phương tiện thanh toán
tại thời điểm cuối năm 2021 là 13.402.097 tỷ đồng. Lượng tiền cung ứng trong lưu thông
được bơm vào từ 20/9/2022 đến 21/12/2022 ước khoảng 182.270 tỷ đồng. Cũng theo
Tổng cục Thống kê, tốc độ tăng huy động chậm hơn nhiều tăng trưởng tín dụng. Cập nhật
đến 21/12, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 5,99% (cùng thời điểm năm 2021
tăng 7,73%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 12,87% (cùng thời điểm năm 2021
tăng 12,53%). Trong báo cáo triển vọng mới đây, CTCP Chứng khoán KB Việt Nam
(KBSV) cho biết, năm 2022, tăng trưởng cung tiền M2 đạt mức thấp kỷ lục ước tính đạt
6-7%, so với mức bình quân 14% cho giai đoạn 2012- 2021 và là một trong những
nguyên nhân quan trọng khiến thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam lao dốc. Theo
đó, việc M2 tăng ở mức thấp kỷ lục trong năm 2022 khiến điều kiện thanh khoản thị 10
trường, hệ thống ngân hàng và cả nền kinh tế căng thẳng, đẩy mặt bằng lãi suất lên nền
cao phần nào khiến chỉ số VN-Index diễn biến tiêu cực.
- Nhìn lại giai đoạn 2006 - 2007, 2009, 2016 -2017, 2020 – 2021, TTCK Việt Nam đều
có xu hướng tăng trưởng mạnh đi kèm với cung tiền M2 tăng cao (lớn hơn 14%). Ngược
lại, ở các giai đoạn 2011, 2018, và 2022, TTCK Việt Nam đều có xu hướng điều chỉnh đi
kèm cùng tiền M2 tăng trưởng thấp (thấp hơn 12,5%) trước các yếu tố bất lợi bên trong
và bên ngoài. Theo KBSV, cung tiền sụt giảm do hai nguyên nhân.
+ Thứ nhất là chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), khi tỷ giá và
thị trường ngoại tệ bị chịu áp lực do cân đối cung cầu ngoại tệ và thị trường quốc tế có
diễn biến bất lợi đã gây áp lực lên thị trường trong nước, buộc NHNN phải bán ngoại tệ
khi cần thiết để ổn định thị trường.
+ Thứ hai, chi tiêu giải ngân đầu tư công của Chính phủ ở mức thấp. Theo Bộ Tài
chính, ước tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công của cả nước 11 tháng năm 2022 mới đạt
52,43% kế hoạch. Trong khi đó, tiền của Kho bạc Nhà nước (KBNN) để tại NHNN và hệ
thống ngân hàng ước đạt hơn 900.000 tỷ đồng chưa được đẩy vào lưu thông. Cụ thể, tiền
gửi của KBNN ở NHNN là khoảng 600.000 tỷ đồng và hệ thống ngân hàng là 300.000 tỷ đồng.
- Trong năm 2023, nếu như các kênh dẫn vốn cho nền kinh tế được tháo gỡ, đặc biệt là
đầu tư công được đẩy mạnh, niềm tin của các nhà đầu tư và doanh nghiệp được khôi phục
trở lại thì đương nhiên, vòng quay của tiền sẽ nhanh hơn và lượng cung tiền sẽ nhiều hơn.
Người dân cũng gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn. Dự báo lượng cung tiền và vòng quay
đồng tiền trong năm 2023 sẽ tốt hơn năm 2022. KBSV cho biết, các yếu tố được sẽ góp 11
phần cải thiện cung tiền, giúp hỗ trợ thanh khoản tiền VNĐ hệ thống trong năm 2023 bao gồm:
+ NHNN thực hiện lại nghiệp vụ mua USD, trong bối cảnh nguồn cung ngoại tệ
tốt đến từ thặng dư thương mại, kiều hối và FDI, vay nợ ròng nước ngoài, qua đó giúp
tăng dự trữ ngoại hối và bơm 1 lượng tiền VND vào hệ thống các ngân hàng;
+ Kỳ vọng giải ngân đầu tư công đạt trên 80% kế hoạch năm;
+ Tăng trưởng tín dụng ở mức cao khi nhu cầu vay vốn là luôn hiện hữu dù mặt
bằng lãi suất đã ở mức tương đối cao ngay cả so với thời điểm trước dịch, đặc biệt là
trong bối cảnh thị trường TPDN đang gặp nhiều khó khăn sau vụ việc Tân Hoàng Minh,
Vạn Thịnh Phát và Nghị định 65 mới được ban hành cuối tháng 9 khiến áp lực kênh dẫn
vốn của hệ thống ngân hàng càng tăng thêm.
- Chứng khoán Rồng Việt cũng kỳ vọng tốc độ tăng trưởng cung tiền sẽ tốt hơn trong năm 2023 nhờ vào:
+ Giải ngân đầu tư công tiếp tục được đẩy mạnh.
+ Lạm phát toàn cầu hạ nhiệt và chính sách bớt diều hâu của Fed với mục tiêu lãi suất
sẽ tạo dư địa để NHNN vận hành chính sách tiền tệ linh hoạt hơn theo hướng ổn
định vĩ mô và hỗ trợ kinh tế tăng trưởng.
+ NHNN mua vào ngoại tệ bổ sung cho dự trữ ngoại hối vốn đã sụt giảm nhanh
chóng trong năm 2022, gián tiếp cung tiền đồng ra thị trường.
II. Tác động của các cung tiền tệ đến nền kinh tế Việt Nam.
● Khái niệm: Cung tiền tệ (Money Supply) là tổng lượng tiền trong lưu thông
trong nền kinh tế. Cung tiền bao gồm: tiền trong dân giữ, tiền trong hệ thống ngân
hàng và tiền của cơ quan doanh nghiệp.
Cung tiền có các hình thức: tiền mặt, tiền xu, tiền gửi ngân hàng, séc được
phép lưu hành trên thị trường theo quy định Nhà nước.
Sự phân bổ của cung tiền trong nền kinh tế
Tiền tệ được phân bổ đến ngân hàng từ nơi phát hành trước khi tiêu thụ ra thị trường
Tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt, được NHTW – cơ quan độc quyền
phát hành tiền tệ ban hành. Tương tự như hàng hóa, tiền tệ được phân bổ từ
nơi phát hành đến các đại lý, nhà bán lẻ và đến tay người tiêu dùng. Do đó, 12
tiền tệ từ NHTW qua các Ngân hàng Trung ương của Nhà nước sau đó mới
tiếp tục phân bổ đến tay các doanh nghiệp và người dân.
Cung tiền có tác động tới mọi mặt của nền kinh tế quốc dân. Khi cung tiền
tăng lên sẽ giúp giảm lãi suất trên thị trường. Do vậy, khuyến khích cho vay
cá nhân và tổ chức, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng phát triển
kinh doanh. Từ đó, nhu cầu tiêu dùng tăng và kinh tế cũng tăng. Tuy nhiên,
nếu không kiểm soát tốt, khiến tổng cầu tăng vượt có thể dẫn đến lạm phát
và gây ảnh hưởng tiêu cực cho nền kinh tế.
Các chuyên gia đã chỉ ra rằng, lạm phát, tỷ giá và cung tiền có vai trò rất lớn
đối với kinh tế - xã hội. Là chính sách của Chính phủ nhằm ổn định nền kinh
tế bằng cách kiểm soát tỉ lệ lãi suất và nguồn cung tiền, chính sách tiền tệ
chủ yếu tập trung vào ổn định tiền tệ (kiểm soát lạm phát); tăng trưởng kinh
tế; tạo việc làm và cân bằng cán cân thanh toán. Chính sách tiền tệ sử dụng
các công cụ có tác động nhanh chóng trong việc kiểm soát lượng tiền cung
ứng, từ đó tác động đến lạm phát.
Thực tế, khi cung tiền tăng lên sẽ giúp giảm thiểu lãi suất. Do vậy, hiện
tượng vay nhiều hơn so với gửi xuất hiện. Từ đó, nhu cầu tiêu dùng tăng và
kinh tế cũng tăng. Tuy nhiên, nếu không kiểm soát tốt để tổng cầu tăng vượt
mức sẽ dẫn đến lạm phát và gây bất lợi cho nền kinh tế.
Trong trường hợp cung tiền giảm dẫn đến lãi suất tăng, kinh tế kìm hãm và lạm phát giảm.
Như vậy có thể thấy, cung tiền và lạm phát tác động qua lại với nhau. Cung
tiền tăng lạm phát tăng, cung tiền giảm, lạm phát giảm.
Sau đây là một số cơ sở thực tiễn của tác động của các cung tiền tệ đến nền kinh tế Việt Nam:
Quy đổi giá trị: Việc quy đổi giá trị các loại tiền tệ khác nhau có thể ảnh
hưởng đến giá cả và tỷ giá hối đoái của đồng tiền Việt Nam. Ví dụ, khi đồng
USD tăng giá trị so với đồng tiền Việt Nam, tỷ giá hối đoái giữa USD và
VND sẽ tăng, làm giảm giá trị của đồng VND so với các loại tiền tệ khác và
tác động đến giá cả của hàng hóa và dịch vụ.
Nguồn vốn đầu tư: Các cung tiền tệ khác nhau có thể tác động đến nguồn
vốn đầu tư của Việt Nam. Ví dụ, khi đồng USD tăng giá trị, các nhà đầu tư
sẽ có xu hướng chuyển tiền sang đồng USD để đầu tư, gây ra áp lực giảm
nguồn vốn đầu tư trong đồng tiền Việt Nam.
Thanh toán thương mại quốc tế: Đồng tiền của các quốc gia khác nhau được
sử dụng trong thanh toán thương mại quốc tế, và việc tăng giảm giá trị của
các đồng tiền này có thể ảnh hưởng đến việc xuất nhập khẩu của Việt Nam. 13
Ví dụ, khi đồng USD giảm giá trị, việc xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam
sang Mỹ sẽ trở nên đắt hơn, trong khi việc nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ vào Việt Nam sẽ rẻ hơn.
Tác động đến lãi suất: Tỷ giá hối đoái cũng có thể tác động đến lãi suất, và
lãi suất lại ảnh hưởng đến việc đầu tư và tiêu dùng trong nền kinh tế Việt
Nam. Ví dụ, khi đồng USD tăng giá trị, Ngân hàng Nhà nước có thể tăng lãi
suất để hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài chuyển đổi sang đồng tiền VND. Tuy
nhiên, điều này có thể làm giảm tiêu thụ và đầu tư trong nền kinh tế Việt
Nam, do vậy tác động của các cung tiền tệ đến lãi suất có thể là một yếu tố
quan trọng trong việc quản lý nền kinh tế của Việt Nam.
Điều chỉnh chính sách tiền tệ: Nếu giá trị của đồng tiền Việt Nam suy giảm
đáng kể, Ngân hàng Nhà nước có thể sử dụng chính sách tiền tệ để duy trì ổn
định tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, việc điều chỉnh chính sách tiền tệ có thể ảnh
hưởng đến nền kinh tế Việt Nam vì nó có thể làm giảm khả năng cạnh tranh
của các sản phẩm và dịch vụ của Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Tác động đến nguồn cung dịch vụ tài chính: Các cung tiền tệ khác nhau cũng
có thể tác động đến nguồn cung dịch vụ tài chính cho nền kinh tế Việt Nam.
Ví dụ, khi đồng USD tăng giá trị, các tổ chức tài chính nước ngoài có thể có
xu hướng tăng cung cấp dịch vụ tài chính cho Việt Nam, nhưng đồng thời
cũng có thể yêu cầu lãi suất cao hơn và các điều kiện khác để bảo vệ chính
họ khỏi rủi ro tiền tệ.
Tóm lại, các cung tiền tệ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam
và có thể tác động đến nhiều khía cạnh khác nhau của nền kinh tế. Do đó,
việc quản lý tỷ giá hối đoái và các chính sách tiền tệ liên quan là một yếu tố
quan trọng trong việc duy trì ổn định và phát triển kinh tế của Việt Nam. PHẦN 3: KẾT LUẬN
Với những phân tích ở trên về sự tác động của các yếu tố đến mức cung tiền tệ
và ảnh hưởng của sự biến động mức cung tiền đến tổng cầu chúng ta có thể
thấy được vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng của mức cung tiền, tổng cầu
đối với sự phát triển của nền kinh tế nước ta. Để từ đó nhà nước có thể đưa ra
được những chính sách phù hợp trong mỗi hoàn cảnh cụ thể giúp nền kinh tế
định hướng đúng, luôn ổn định và tăng trưởng qua mỗi giai đoạn.
Trong bối cảnh quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng và sự phát triển không
ngừng nghỉ của nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng thì sự cần thiết của
những chính sách vĩ mô đối với mức cung tiền càng được khẳng định hơn nữa và chắc
chắn rằng trong thời gian tới mức cung tiền tệ của Việt Nam sẽ đóng góp một vai trò rất 14
quan trọng việc phát triển đất nước và từng bước giúp đất nước ta nâng cao được vị thế
của mình trong mắt bạn bè quốc tế về nhiều mặt.
Trong những năm gần đây, mức cung tiền của Việt Nam đã tăng đáng kể, điều này có thể
có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Khi có nhiều tiền trong nền
kinh tế, các doanh nghiệp và cá nhân sẽ có nhiều tiền để đầu tư và chi tiêu, đồng thời tăng
khả năng vay vốn để phát triển hoạt động kinh doanh. Điều này có thể dẫn đến tăng sản
xuất, năng suất, thu nhập và tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, sự tăng trưởng nhanh chóng của cung tiền cũng có thể gây ra một số tác động
tiêu cực. Sự gia tăng mạnh mẽ của dư nợ tín dụng có thể dẫn đến tình trạng nợ xấu, khi
các khoản nợ không được trả đúng hạn hoặc các khoản nợ không có khả năng trả vốn và
lãi. Ngoài ra, sự tăng trưởng mạnh mẽ của cung tiền cũng có thể gây ra lạm phát, khi giá
cả tăng cao do người tiêu dùng có nhiều tiền hơn để chi tiêu.
Để đảm bảo rằng sự tăng trưởng cung tiền không gây ra những tác động tiêu cực đến nền
kinh tế, các biện pháp kiểm soát tốc độ tăng trưởng của các khoản vay, tăng cường giám
sát, đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm của các tổ chức tín dụng đang được thực hiện.
Tóm lại, sự thay đổi mức cung tiền của Việt Nam trong những năm gần đây có thể có tác
động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, nhưng cần được quản lý một cách
cân đối để tránh những tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Việc đảm bảo tính minh bạch
và trách nhiệm của các tổ chức tín dụng cũng rất quan trọng để đảm bảo rằng tăng trưởng
cung tiền được điều chỉnh một cách hiệu quả và bền vững.
Trong quá trình làm bài thảo luận, những thiếu sót là không thể tránh khỏi do chúng em
còn thiếu kinh nghiệm. Vì thế nhóm em rất mong nhận được sự góp ý và đóng góp ý kiến
từ cô và các bạn trong lớp để bài thảo luận được hoàn thiện và khoa học hơn. Chúng em
xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô và các bạn. Và chúc cho các buổi thảo luận của lớp
chúng ta được thành công, mang lại những bài học, kinh nghiệm bổ ích cho chúng em sau này. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Phần 1: Giáo trình Kinh tế Vĩ mô 1 Đại học Thương Mại
https://www.dnse.com.vn/hoc/cung-tien-la-gi-nhung-yeu-to-tac-dong-den-cung-tien
https://xemtailieu.net/tai-lieu/phan-tich-cac-yeu-to-tac-dong-den-muc-cung-tien-te-va-
anh-huong-cua-su-bien-dong-muc-cung-tien-den-tong-cau-tong-chi-tieu-du-kien-va-su-
thay-doi-muc-cung-tien-cua-viet-nam-trong-nhung-nam-gan-day-va-tac-dong-den-muc- 1899792.html Phần 2: 15
1,https://cafef.vn/ky-vong-cung-tien-tang-tro-lai-trong-nam-2023- 20230123085856343.chn
https://vnbusiness.vn/tien-te/nam-2023-tang-truong-cung-tien-se-hoi-phuc-1090273.html
2, https://xemtailieu.net/tai-lieu/phan-tich-cac-yeu-to-tac-dong-den-muc-cung-tien-te-va-
anh-huong-cua-su-bien-dong-muc-cung-tien-den-tong-cau-tong-chi-tieu-du-kien-va-su-
thay-doi-muc-cung-tien-cua-viet-nam-trong-nhung-nam-gan-day-va-tac-dong-den-muc- 1899792.html
https://mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiet-tin? dDocName=MOFUCM118099 Phần 3:
1, https://thitruongtaichinhtiente.vn/chinh-sach-tien-te-voi-kiem-soat-lam-phat-on-dinh-
kinh-te-vi-mo-o-viet-nam-44049.html
2, https://www.dnse.com.vn/hoc/cung-tien-la-gi-nhung-yeu-to-tac-dong-den-cung-tien 16