TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
BÀI THẢO LUẬN
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC CUNG
TIỀN SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC CUNG TIỀN ĐẾN TỔNG
CẦU. PHÂN TÍCH SỰ THAY ĐỔI MỨC CUNG TIỀN CỦA VIỆT
NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY CHO BIẾT SỰ THAY
ĐỔI ĐÓ ẢNH HƯỚNG THẾ NÀO ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Ở VIỆT NAM.
Bộ môn : Kinh tế vĩ mô
Mã lớp HP : 241_MAEC0111_06
Nhóm : 04
Giảng viên giảng dạy : Ts. Nguyễn Thị Thu Hiền
Hà Nội, tháng 10 năm 2024
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
STT Họ và tên Nhiệm vụ Mức độ
hoàn thành Ghi chú
1 Nguyễn Khánh Linh Nội dung 2.3.1
Hoàn thành
nhiệm vụ
được giao
Nhóm trưởng
2 Nguyễn Ngọc Linh Nội dung 1.1 + 1.2
Hoàn thành
nhiệm vụ
được giao
3 Phạm Ngọc Linh Nội dung 2.1 + Thuyết trình
Hoàn thành
nhiệm vụ
được giao
4 Vũ Phương Linh Mở đầu + kết luận + Word
Hoàn thành
nhiệm vụ
được giao
5 Đỗ Thị Xuân Mai Nội dung 2.2.4 + PPT
Hoàn thành
nhiệm vụ
được giao
6 Phạm Ban Mai Nội dung 2.2.3 + PPT
Hoàn thành
nhiệm vụ
được giao
7 Vũ Thiện Minh Nội dung 2.3.2
Hoàn thành
nhiệm vụ
được giao
8 Phạm Đỗ Hoàng Nam Nội dung 2.2.2
Hoàn thành
nhiệm vụ
được giao
9 Pham Thanh Ngân Nội dung 2.2.1 + Thuyết
trình
Hoàn thành
nhiệm vụ
được giao
10 Bùi Hưng Nguyên Nội dung 1.3
Hoàn thành
nhiệm vụ
được giao
2
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN CUỘC HỌP
( Lần 1)
Học phần: Kinh tế vĩ mô
Giảng viên: Nguyễn Thị Thu Hiền
Lớp HP: 241_MAEC0111_06
Nhóm: 04
I. Thời gian và địa điểm
Địa điểm: Google Meet
Thời gian: 8h30 ngày 1 tháng 10 năm 2024
II. Số thành viên tham gia: 10/10
III. Nội dung thảo luận:
-Tìm hiểu, nghiên cứu tìm ra hướng giải quyết cho đề tài thảo luận, lập đề
cương cho đề tài.
-Nhóm trưởng phân chia công việc.
IV. Đánh giá chung kết quả cuộc họp: Các thành viên đều nhiệt tình trong quá trình
thảo luận và nhiệm vụ do nhóm trưởng giao.
Hà Nội, Ngày 1 tháng 10 năm 2024
Nhóm trưởng
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Khánh Linh
3
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN CUỘC HỌP
( Lần 2)
Học phần: Kinh tế vĩ mô
Giảng viên: Nguyễn Thị Thu Hiền
Lớp HP: 241_MAEC0111_06
Nhóm: 04
I. Thời gian và địa điểm
Địa điểm: Google Meet
Thời gian: 8h30 ngày 15 tháng 10 năm 2024
II. Số thành viên tham gia: 10/10
III. Nội dung thảo luận:
Họp để tổng hợp nội dung, các thành viên đưa ra nhận xét, thống nhất chỉnh
sửa.
IV. Đánh giá chung kết quả cuộc họp:
Các thành viên đều nhiệt tình trong quá trình thảo luận nhiệm vụ do nhóm
trưởng giao.
Hà Nội, Ngày 15 tháng 10 năm 2024
Nhóm trưởng
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Khánh Linh
4
MỤC LỤC
A - MỞ ĐẦU............................................................................................................................6
B – NỘI DUNG........................................................................................................................7
CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ THUYẾT.........................................................................................7
1.1 Khái niệm và đo lường lượng cung tiền..........................................................................7
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức cung tiền....................................................................7
1.3 Ảnh hưởng của sự thay đổi mức cung tiền đến tổng cầu trong nền kinh tế...................8
1.3.1. Ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư....................................................................8
1.3.2. Ảnh hưởng đến chi tiêu tiêu dùng...............................................................8
1.3.3. Ảnh hưởng đến xuất khẩu ròng..................................................................9
CHƯƠNG II - THỰC TRẠNG CUNG TIỀN Ở VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA SỰ THAY
ĐỔI MỨC CUNG TIỀN ĐẾN NỀN KINH TẾ........................................................................10
2.1. Khái quát về cung tiền và chính sách và chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2021 –
2023...................................................................................................................................10
2.1.1. Cung tiền....................................................................................................10
2.1.2. Chính sách tiền tệ......................................................................................13
2.2. Đánh giá tác động của sự thay đổi cung tiền đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.......27
2.2.1 Tác động đến tốc độ tăng trưởng GDP.......................................................27
2.2.2. Tác động đến lạm phát...............................................................................28
2.2.3 Tác động đến thị trường tiền tệ lãi suất.....................................................29
2.2.4. Tác động đến tỷ giá và thị trường ngoại hối.............................................30
2.3. Một số nhận xét và đánh giá về điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam........................32
2.3.1. Những thành tựu nổi bật trong điều hành CSTT.....................................32
2.3.2. Một số tồn tại, khó khăn............................................................................35
C - KẾT LUẬN......................................................................................................................37
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................38
5
A - MỞ ĐẦU
Việt Nam trong những năm gần đây đã chứng kiến những biến động đáng kể về
mức cung tiền. Cung tiền được xem một trong những công cụ quan trọng nhất của
chính sách tiền tệ. Mức cung tiền tệ và sự biến động của nó là một trong những yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến tình trạng tài chính của một quốc gia, tác động mạnh đến
hoạt động sản xuất, tiêu dùng, thương mại đầu tư. Mức cung tiền tệ ảnh hưởng đến
mức độ lạm phát, sức mua, xuất khẩu, nhập khẩu, giá trị tiền tệ cũng như lãi suất, ảnh
hưởng trực tiếp đến việc phát triển kinh tế..Sự điều chỉnh hợp lý mức cung tiền không
chỉ ảnh hưởng đến lạm phát, lãi suất còn tác động trực tiếp đến tổng cầu tăng
trưởng kinh tế. Trong thời gian làm bài thảo luận nhóm 4 chúng em còn nhiêu thiếu
sót, mong cô giúp đỡ và góp ý cho chúng em ạ.
6
B – NỘI DUNG
CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Khái niệm và đo lường lượng cung tiền
Khái niệm: tổng lượng tiền trong lưu thông trong nền kinh tế, bao gồm: tiền
trong dân giữ, tiền trong hệ thống ngân hàng và tiền của cơ quan doanh nghiệp. Những
hình thức tiền này được quy định và được phép lưu thông trên thị trường theo quy định
của Nhà nước.
Cung tiền đo lường tổng số tiền trong nền kinh tế tại một thời điểm cụ thế. Dựa
vào mức độ thanh khoản của các loại tiền hiện có trong nền kinh tế, cung tiền được
phân thành Mo, M,, Mz và Mz.
Cung tiền mặt (Mo): Bao gồm toàn bộ giá trị của lượng tiền giấy và tiền kim
loại đang lưu hành trong nền kinh tế. Đây là loại tiền có khả năng thanh khoản
cao nhất (còn gọi là tính thanh khoản hay tính lỏng cao).
Cung tiền giao dịch (M1): Bao gồm tiền mặt (Mo) và tiền gửi (D) trong tài
khoản tại các NHTM.
M1 = Mo+ D
Loại tiền này được ghi sổ hoặc được viết séc để thanh toán. Tiền M1 cũng có
khả năng thanh toán cao nhưng mức độ sẵn sàng cho thanh toán vẫn kém hơn so với
tiền mặt. M1 là một trong những đại lượng đo lường cung tiền chủ yếu của nhiều quốc
gia.
Cung tiền rộng (M2): Bao gồm tổng lượng tiền giao dịch M, và các khoản gửi
tiết kiệm có kỳ hạn (D,) tại các NHTM.
M2 = M1 + Dt
Loại tiền gửi có kỳ hạn này có tính chuyển đổi kém hơn so với tiền gửi trong tài
khoản ngân hàng, nhưng vẫn có khả năng chuyển sang tiền mặt mà không gặp nhiêu
khó khăn, nên nó cũng được coi là có khả năng thanh toán.
Cung tiền tài chính (M3): Bao gồm tiền rộng M2 cộng với các loại tài sản tài
chính khác như cổ phiếu, trái phiếu, giấy xác nhận tài sản hữu hình có giá trị,
các chấp nhận thanh toán của ngân hàng...
M3 = Mz + Các loại tài sản tài chính khác
Tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới hiện nay mức cung tiền được đo
lường là khối lượng tiền M. Do đó, cung tiền bao gồm tổng lượng tiền mặt trong lưu
thông (Mo) và các khoản tiền gửi trong tài khoản giao dịch tại các NHTM (D). Ký
hiệu cung tiền là MS, thì: MS = Mo+ D
7
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức cung tiền
Có 3 yếu tố chính ảnh hưởng tới mức cung tiền:
Chính sách tiền tệ: Ngân hàng Trung ương đóng vai trò quan trọng trong việc
kiểm soát cung tiền thông qua các công cụ chính sách tiền tệ như hoạt động thị trườn
mở, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái cấp vốn.
Nghiệp vụ thị trường mở: các hoạt động mua bán tài sản tài chính như c
phiếu, trái phiếu, tiền tệ hàng hóa trên các sàn giao dịch. Những hoạt động này
thể ảnh hưởng đến cung tiền thông qua các tác động lên lượng tiền mặt, tạo ra hoặc
phá hủy tài sản tài chính, từ đó làm tăng hoặc giảm cung tiền.
Lãi suất chiết khấu: là lãi suất mà ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng tính khi mua
lại hoặc chiết khấu một tài khoản công nợ hoặc giấy nợ từ một bên thứ ba trước khi nó
đáo hạn. Lãi suất chiết khấu thể ảnh hưởng đến cung tiền như quyết định vay
cho vay, hoạt động tài chính của doanh nghiệp, lưu thông tiền tệ, đầu tư và tiêu dùng.
1.3 Ảnh hưởng của sự thay đổi mức cung tiền đến tổng cầu trong nền kinh tế.
1.3.1. Ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư
Lãi suất: Khi ngân hàng trung ương tăng cung tiền, lãi suất thường giảm. Lãi
suất thấp n làm giảm chi phí vay mượn cho các doanh nghiệp. Điều này khuyến
khích các doanh nghiệp đầu vào sở hạ tầng, máy móc, công nghệ mới, từ đó
tăng cường năng lực sản xuất. Ngược lại, nếu cung tiền giảm, lãi suất thể tăng, làm
cho việc vay vốn trở nên đắt đỏ hơn. Doanh nghiệp thể trì hoãn hoặc giảm quy
đầu tư, dẫn đến giảm tổng cầu.
Tâm thị trường: Mức cung tiền cao thể tạo ra tâm lạc quan trong thị
trường, khuyến khích các doanh nghiệp đầu nhiều hơn. Ngược lại, nếu cung tiền
giảm, tâm lý tiêu cực có thể dẫn đến việc doanh nghiệp trì hoãn hoặc cắt giảm đầu tư.
Tín dụng và khả năng tiếp cận vốn: Khi cung tiền tăng, các ngân hàng có nhiều
vốn hơn để cho vay, dẫn đến việc dễ dàng hơn trong việc tiếp cận tín dụng cho các
doanh nghiệp. Điều này có thể thúc đẩy đầu tư. Nếu cung tiền giảm, khả năng tiếp cận
tín dụng có thể bị hạn chế, làm giảm chi tiêu đầu tư.
1.3.2. Ảnh hưởng đến chi tiêu tiêu dùng
Thu nhập khả dụng: Khi cung tiền tăng, người tiêu dùng thể nhận được
nhiều tiền hơn thông qua tăng lương, thưởng, hoặc tín dụng dễ dàng hơn. Điều này làm
tăng thu nhập khả dụng khuyến khích chi tiêu tiêu dùng. Ngược lại, nếu cung tiền
giảm, thu nhập khả dụng có thể giảm, dẫn đến việc người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu.
8
Tâm tiêu dùng: Mức cung tiền cao thể tạo ra cảm giác an toàn tài chính
cho người tiêu dùng, khuyến khích họ chi tiêu nhiều n. Họ thể cảm thấy tự tin
hơn trong việc mua sắm lớn, như nhà cửa, xe cộ, và các sản phẩm tiêu dùng khác.
Nếu cung tiền giảm, người tiêu dùng có thể trở nên thận trọng hơn, dẫn đến việc giảm
chi tiêu và tiết kiệm nhiều hơn.
Tín dụng tiêu dùng: Khi cung tiền tăng, các ngân hàng thể dễ dàng cung cấp
tín dụng tiêu dùng, cho phép người tiêu dùng vay tiền để mua sắm. Điều này thể
làm tăng chi tiêu tiêu dùng. Ngược lại, nếu cung tiền giảm, tín dụng tiêu dùng có thể bị
hạn chế, làm giảm khả năng chi tiêu của người tiêu dùng.
Thị trường cổ phiếu: Các quyết định của ngân hàng trung ương về việc điều
chỉnh cung tiền như giảm lãi suất stác động trực tiếp đến thị trường cổ phiếu. Thông
thường các chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ thúc đẩy thị trường cổ phiếu.
Khi mức cung tiền tăng giúp các nhà đầu nhiều tiền hơn, khả năng họ
sẽ tìm kiếm lợi nhuận từ những tài sản rủi ro, bao gồm cổ phiếu. Điều này thể dẫn
đến sự gia tăng của giá cổ phiếu và ngược lại.
1.3.3. Ảnh hưởng đến xuất khẩu ròng
Tỷ giá hối đoái: Khi cung tiền tăng, có thể dẫn đến việc đồng nội tệ giảm giá so
với các đồng tiền khác. Điều này làm cho hàng hóa xuất khẩu trở nên rẻ hơn đối với
các nước khác, từ đó có thể làm tăng xuất khẩu.
Ngược lại, nếu cung tiền giảm, đồng nội tệ thể tăng giá, làm giảm khả năng cạnh
tranh của hàng hóa xuất khẩu.
Nhu cầu toàn cầu: Sự thay đổi trong cung tiền cũng thể ảnh hưởng đến nhu
cầu toàn cầu. Nếu nền kinh tế trong nước phát triển nhờ vào mức cung tiền cao, điều
này có thể dẫn đến việc tăng nhu cầu nhập khẩu, ảnh hưởng đến xuất khẩu ròng.
Chính sách thương mại:
Sự thay đổi mức cung tiền thể ảnh hưởng đến chính sách thương mại của một quốc
gia. Nếu cung tiền tăng nền kinh tế phát triển, chính phủ thể khả năng đầu
vào các chính sách thương mại thuận lợi, từ đó thúc đẩy xuất khẩu.
9
CHƯƠNG II - THỰC TRẠNG CUNG TIỀN Ở VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA SỰ THAY ĐỔI MỨC CUNG TIỀN ĐẾN NỀN KINH TẾ.
2.1. Khái quát về cung tiền và chính sách và chính sách tiền tệ của Việt Nam giai
đoạn 2021 – 2023.
2.1.1. Cung tiền
Cung tiền (M2) tại Việt Nam đã những biến động đáng kể trong giai đoạn 2021-
2023, phản ánh sự điều chỉnh chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(NHNN) trong bối cảnh kinh tế chịu ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, phục hồi
kinh tế, và các yếu tố toàn cầu như lạm phát và căng thẳng địa chính trị.
Phân tích chi tiết theo từng giai đoạn
Năm 2021: Cung tiền M2 có mức tăng trưởng ổn định trong nửa đầu năm. Tuy
nhiên, sang nửa cuối năm, tốc độ tăng trưởng có phần chững lại. Mức cung tiền (M2)
tăng khoảng 10.7% do NHNN hạ lãi suất, bơm tiền vào nền kinh tế nhằm duy trì thanh
khoản và kích cầu.
Chỉ tiêu
Đơn
vị
tính
Tháng
1/2021
Tháng
2/2021
Tháng
3/2021
Tháng
4/2021
Tháng
5/2021
Tháng
6/2021
Tháng
7/2021
Tháng
8/2021
Tháng
9/2021
Tháng
10/2021
Tháng
11/2021
Tháng
12/2021
Cung
tiền M2
Tỷ
VNĐ
12,202,
217
12,228,
211
12,349,
750
12,465,0
12
12,558,
573
12,647,
703
12,692,
256
12,757,
648
12,879,
090
12,907,
567
13,040,
842
13,402,
097
10
(MoM)
Tăng
trưởng
Cung
tiền M2
(YoY)
% 0.76 0.97 1.97 2.92 3.7 4.43 4.8 5.34 6.34 6.58 7.68 10.66
-Quý I/2021: Tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định, dao động trong khoảng
0.76% - 1.97%. Điều này cho thấy nền kinh tế đang duy trì một mức độ ổn
định nhất định.
-Quý II/2021: Tốc độ tăng trưởngxu hướng tăng lên, đạt mức cao nhất là
4.43% vào tháng 7. Điều này thể do các yếu tố kích thích kinh tế hoặc
nhu cầu vốn tăng cao trong giai đoạn này.
-Quý III IV/2021: Tốc độ tăng trưởng tiếp tục duy trì mức cao, cho
thấy sự mở rộng mạnh mẽ của cung tiền. Điều này thể do các chính
sách hỗ trợ kinh tế sau đại dịch COVID-19, cũng như sự phục hồi của các
hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhận định: Sự tăng trưởng ổn định và mạnh mẽ của cung tiền M2 trong năm 2021 cho
thấy một số điểm đáng chú ý:
Chính sách tiền tệ nới lỏng: Ngân hàng Nhà nước thể đã áp dụng các chính
sách tiền tệ nới lỏng để hỗ trợ phục hồi kinh tế sau đại dịch, dẫn đến việc tăng
cung tiền.
Nhu cầu vốn tăng cao: Sự phục hồi của nền kinh tế các hoạt động sản xuất
kinh doanh đã dẫn đến nhu cầu vốnng cao, kéo theo sự tăng trưởng của cung
tiền.
Lạm phát: Việc tăng cung tiền quá nhanh thể gây áp lực lên lạm phát. Tuy
nhiên, mức độ lạm phát thực tế trong năm 2021 cần được theo dõi chặt chẽ để
đánh giá tác động của việc tăng cung tiền.
Năm 2022: Tốc độ tăng trưởng của cung tiền M2 sự biến động khá lớn,
mức tăng trưởng cung tiền chỉ tăng vỏn vẹn 6.2%. Đây một mức tăng trưởng
thấp hơn so với những năm trước đó, do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN)
thận trọng hơn trong việc mở rộng cung tiền nhằm kiểm soát lạm phát trong bối
cảnh áp lực tăng giá toàn cầu phục hồi kinh tế sau đại dịch . Việc tăng trưởng
cung tiền thấp hơn cũng là kết quả của chính sách tiền tệ thắt chặt hơn, với các biện
pháp điều chỉnh lãi suất và kiểm soát tín dụng để duy trì sự ổn định của nền kinh tế
và kiểm soát giá cả.
11
Chỉ tiêu
Đơn
vị
tính
Tháng
1/2022
Tháng
2/2022
Tháng
3/2022
Tháng
4/2022
Tháng
5/2022
Tháng
6/2022
Tháng
7/2022
Tháng
8/2022
Tháng
9/2022
Tháng
10/2022
Tháng
11/2022
Tháng
12/2022
Cung
tiền M2
(MoM)
Tỷ
VNĐ
13,748,
740
13,644,
750
13,864,
061
13,871,
751
13,848,
264
13,908,
338
13,828,
044
13,761,
019
13,832,
397
13,815,
145
13,878,
503
14,226,
792
Tăng
trưởng
Cung
tiền M2
(YoY)
% 2.59 1.81 3.45 3.5 3.33 3.78 3.18 2.68 3.21 03.08 3.55 6.15
-Quý I/2022: Tốc độ tăng trưởng khá ổn định, dao động từ 2.59% đến 3.45%.
Điều này cho thấy nền kinh tế đang duy trì một mức độ ổn định nhất định.
-Quý II/2022: Tốc độ tăng trưởng xu hướng tăng nhẹ, đạt mức cao nhất
3.78% vào tháng 7. Điều này có thể là do các yếu tố kích thích kinh tế hoặc nhu
cầu vốn tăng cao trong giai đoạn này.
-Quý III IV/2022: Tốc độ tăng trưởng tiếp tục duy trì mức khá cao, cho
thấy sự mở rộng của cung tiền. Điều này có thể là do các chính sách hỗ trợ kinh
tế, cũng như sự phục hồi của các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhận định: Sự tăng trưởng ổn định của cung tiền M2 trong năm 2022 cho thấy một
số điểm đáng chú ý:
Chính sách tiền tệ vẫn được duy trì nới lỏng: Mặc sự điều chỉnh, nhưng
nhìn chung chính sách tiền tệ vẫn tiếp tục hướng tới hỗ trợ phục hồi kinh tế và tạo
điều kiện cho tăng trưởng tín dụng.
Nhu cầu vốn ổn định: Nền kinh tế đã những dấu hiệu phục hồi sau đại dịch,
dẫn đến nhu cầu vốn của các doanh nghiệp và hộ gia đình vẫn ở mức cao.
Áp lực lạm phát: Việc tăng cung tiền liên tục thể gây áp lực lên lạm phát. Tuy
nhiên, mức độ lạm phát thực tế trong năm 2022 cần được theo dõi chặt chẽ để
đánh giá tác động của việc tăng cung tiền.
Năm 2023: Tốc độ tăng trưởng của cung tiền M2 xu hướng tăng trở lại gần
mức 12.5%. Đặc biệt, cung tiền Việt Nam đã tăng vọt trong những tháng cuối năm
cùng với chính sách thúc đẩy tín dụng của NHNN. Số liệu cho thấy, chỉ trong quí cuối
năm 2023, cung tiền tăng hơn 800.000 tỉ đồng, gần bằng cả chín tháng đầu năm cộng
lại, tăng 15% so với đầu năm 2023.
12
Chỉ
tiêu
Đơn
vị
tính
Tháng
1/2023
Tháng
2/2023
Tháng
3/2023
Tháng
4/2023
Tháng
5/2023
Tháng
6/2023
Tháng
7/2023
Tháng
8/2023
Tháng
9/2023
Tháng
10/2023
Tháng
11/2023
Tháng
12/2023
Cung
tiền M2
(MoM)
Tỷ
VNĐ
14,339,
502
14,272
,184
14,415,
021
14,470,
593
14,517,8
32
14,754,
221
14,640,
943
14,801,
154
15,026,
012
15,074,
263
15,354,
119
15,998,
956
Tăng
trưởng
Cung
tiền M2
(YoY)
% 0.79 0.32 1.32 1.71 02.05 3.71 2.91 04.04 5.62 5.96 7.92 12.46
-Quý I/2023: Tốc độ ng trưởng khá ổn định, dao động từ 0.79% đến
1.71%. Điều này cho thấy nền kinh tế đang duy trì một mức độ ổn định nhất
định.
-Quý II/2023: Tốc độ tăng trưởngxu hướng tăng lên, đạt mức cao nhất là
3.71% vào tháng 6. Điều này thể do các yếu tố kích thích kinh tế hoặc
nhu cầu vốn tăng cao trong giai đoạn này.
-Quý III và IV/2023: Tốc độ tăng trưởng tiếp tục duy trì ở mức khá cao, đặc
biệt trong quý IV, tốc độ tăng trưởng đạt mức cao nhất trong năm
12.46%. Điều này cho thấy sự mở rộng mạnh mẽ của cung tiền trong giai
đoạn cuối năm.
Kết luận: Dựa trên biểu đồ, chúng ta thể thấy rằng cung tiền M2 Việt
Nam liên tục tăng trong suốt giai đoạn từ năm 2021 đến 2023. Điều này cho thấy
lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế ngày càng ng. Mặc xu hướng tăng
chung, nhưng tốc độ tăng trưởng của cung tiền M2 lại không đồng đều qua các tháng.
những thời điểm tăng trưởng mạnh, nhưng cũng những thời điểm tăng trưởng
chậm lại hoặc thậm chí có sự điều chỉnh giảm nhẹ.
2.1.2. Chính sách tiền tệ
2.1.2.1. Năm 2021
CSTT hoạt động ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp, người dân vượt
qua đại dịch Covid-19.
Bám sát các chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, ngay từ đầu năm, NHNN đã chủ
động, quyết liệt, chỉ đạo hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) triển khai đồng bộ, hiệu
quả các giải pháp điều hành CSTT, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa (CSTK)
các chính sách khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế mô, đồng
thời triển khai hàng loạt các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, đồng hành với doanh
13
nghiệp người dân; phù hợp với đặc thù tính chất cấp bách của tình hình trong
nước, cụ thể như sau:
Thứ nhất, đảm bảo thanh khoản thông suốt trên thị trường tiền tệ, tạo điều kiện
để TCTD tiếp tục giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ TCTD đẩy mạnh tín dụng đáp ứng đầy
đủ, kịp thời nhu cầu vốn của nền kinh tế.
NHNN mua lượng lớn ngoại tệ bổ sung Dự trữ ngoại hối Nhà nước, đưa tiền
đồng ra thị trường, qua đó thanh khoản hệ thống TCTD dồi dào, đồng thời, hàng ngày
NHNN chào mua giấy tờ giá trên thị trường mở nhằm phát tín hiệu sẵn sàng hỗ trợ
thanh khoản, ổn định thị trường tiền tệ. Nhờ đó, lãi suất liên ngân hàng giảm xuống
duy trì mức rất thấp trong lịch sử, giảm chi phí vốn đầu vào cho TCTD, qua đó tạo
điều kiện thuận lợi để TCTD giảm lãi suất cho vay.
Thứ hai, duy trì lãi suất điều hành mức thấp, tạo điều kiện định hướng để
mặt bằng lãi suất cho vay của TCTD giảm.
Ngay khi dịch bệnh bùng phát trong năm 2020, NHNN đã 3 lần giảm lãi suất
điều hành với mức giảm 1,5 - 2%/năm, một trong những ngân hàng trung ương
(NHTW) giảm lãi suất điều hành mạnh nhất khu vực. Trong năm 2021, NHNN duy trì
các mức lãi suất thấp này, kết hợp điều hành thanh khoản dồi dào trên thị trường tiền
tệ. Kết quả là, đến cuối tháng 11/2021, lãi suất huy động cho vay VND bình quân
của TCTD giảm tương ứng khoảng 0,51%/năm 0,81%/năm so với cuối năm 2020
sau khi đã giảm khoảng 1%/năm trong năm 2020. Lãi suất cho vay bình quân đối với
các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ 4,3%/năm (thấp hơn mức trần
quy định là 4,5%/năm).
Thứ ba, đảm bảo cung ứng vốn tín dụng đầy đủ và kịp thời cho các nhu cầu sản
xuất, kinh doanh của nền kinh tế, linh hoạt điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối
với các TCTD, hướng tăng trưởng tín dụng gắn với chất lượng.
NHNN điều hành tăng trưởng tín dụng trên sở chỉ tiêu định hướng từ đầu
năm, linh hoạt điều chỉnh để phù hợp với diễn biến phức tạp, khó lường của dịch
Covid-19. Theo đó, NHNN điều chỉnh tăng chỉ tiêu tín dụng cho TCTD có năng lực tài
chính, quản trị điều hành, khả năng mở rộng tín dụng an toàn, lành mạnh, để kịp
thời hỗ trợ nền kinh tế. Đồng thời, NHNN chỉ đạo TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn,
hiệu quả, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; kiểm soát chặt
chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường quản lý rủi ro đối với tín dụng
tiêu dùng; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng
ngân hàng, góp phần hạn chế tín dụng đen.
14
Trên sở đó, tín dụng tăng ngay từ đầu năm cao hơn năm 2020, kịp thời
đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Đến ngày 30/12/2021, tín dụng tăng 13,47% so với
cuối năm 2020, tăng 13,79% so với cùng kỳ năm 2020 (cùng kỳ m 2020 tăng
11,85% so với cuối năm 2019 tăng 11,93% so với cùng kỳ năm 2019). cấu tín
dụng chuyển dịch tích cực, tập trung cho các lĩnh vực sản xuất kinh doanh; 4/5 lĩnh
vực ưu tiên có mức tăng trưởng tín dụng cao hơn mức tăng cùng kỳ năm 20201, hỗ trợ
tích cực quá trình tái cấu ngành nông nghiệp, phát triển thủy sản, công nghiệp hỗ
trợ, doanh nghiệp nhỏ vừa (DNNVV), doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp ứng
dụng công nghệ cao. Tăng trưởng tín dụng các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động
sản, chứng khoán trong tầm kiểm soát của NHNN.
Thứ tư, ổn định thị trường ngoại tệ. NHNN điều hành tỷ giá linh hoạt, bám sát
cung cầu thị trường, các cân đối vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu CSTT. Trong khi xu hướng
rút vốn khỏi các nước mới nổi và đang phát triển khiến đồng tiền của nhiều nước trong
khu vực mất giá khá lớn so với USD (Baht Thái giảm 9,7%, Ringgit Malaysia giảm
2,5%, Đô-la Singapore giảm 1%) thì tỷ giá USD/VND tiếp tục được duy trì ổn định.
Đến cuối tháng 12/2021, tỷ giá trung tâm USD/VND chỉ tăng 0,06% so với cuối năm
2020. Thanh khoản ngoại tệ trên thị trường thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp
của người dân, doanh nghiệp đều được đáp ứng đầy đủ, kịp thời.
Thứ năm, triển khai nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ khách hàng bị ảnh
hưởng bởi dịch Covid-19.
Kết quả điều hành CSTT cùng với các động thái hỗ trợ chủ động, kịp thời trên
đây thể hiện sự đồng hành, sẻ chia với nền kinh tế của hệ thống ngân hàng trong bối
cảnh khó khăn chung của đại dịch Covid-19, khi bản thân hệ thống ngân hàng cũng
phải đối mặt với nhiều rủi ro do đại dịch gây ra như khả năng trả nợ của doanh nghiệp,
nhân hộ gia đình suy giảm, tiềm ẩn rủi ro gia tăng nợ xấu, chi phí trích lập dự
phòng rủi ro gia tăng. Với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, ngành Ngân hàng vừa
đảm bảo cung cấp vốn đủ kịp thời phục vụ nhu cầu phục hồi kinh tế, vừa đảm bảo
hoạt động của chính hệ thống ngân hàng an toàn, ổn định, bền vững.
2.1.2.2. Năm 2022
Trong bối cảnh thế giới năm 2022 đối mặt với nhiều rủi ro bất định, kinh tế
Việt Nam vẫn đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Ổn định kinh tế tiếp tục
15
được củng cố; lạm phát được kiểm soát trong mục tiêu 4%, tăng trưởng kinh tế cả năm
dự kiến ở mức khoảng 8%.
Ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định thị trường tiền tệ đã góp phần cải thiện xếp hạng
tín nhiệm quốc gia của Việt Nam, giúp Việt Nam tiếp tục điểm đến hấp dẫn của
dòng vốn đầu tư quốc tế. Đáng chú ý, bất chấp môi trường toàn cầutrong nước đầy
thách thức, Việt Nam vẫn một trong những nền kinh tế tăng trưởng cao nhất trong
khu vực. Điều này nhờ những nỗ lực to lớn của Chính phủ Việt Nam. Đặc biệt,
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho đến nay đã điều hành linh hoạt các chính sách tiền
tệ và tỷ giá để vượt qua các “cơn gió ngược” bên ngoài và trong nước.
Bảo đảm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu
Có thể thấy, 2022một năm đầy sóng gió đối với nền kinh tế toàn cầu; là năm
mà kinh tế thế giới và trong nước khó khăn hơn rất nhiều so với đánh giá, dự báo trước
đó. Diễn biến của đại dịch Covid-19 phức tạp, xung đột Nga - Ukraine những hệ
quả như gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, giá cả các hàng hóa nguyên vật liệung
cao, làm tăng áp lực lạm phát toàn cầu. Để kiềm chế lạm phát và bảo vệ sự ổn định tài
chính, các ngân hàng trung ương trên thế giới đã tăng tốc thắt chặt chính sách tiền tệ
thông qua tăng lãi suất, nhất việc Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ (Fed) tăng lãi suất
mạnh đã dẫn đến sự tăng giá mạnh của đồng USD so với nhiều loại tiền tệ khác.
Điều này đã tạo ra những áp lực lớn lên tỷ giá, lãi suất các đồng tiền, nhất là các
nền kinh tế nhỏ độ mở lớn như Việt Nam. Đồng thời, cũng đặt Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam vào thế khó, vừa phải cố gắng hỗ trợ phục hồi kinh tế sau đại dịch, vừa
buộc phải giải quyết lạm phát chi phí đẩy do các sự kiện sốc bên ngoài gây ra...
Trong bối cảnh đó, việc điều hành “room” tín dụng, thắt chặt chính sách tiền tệ, và nới
rộng biên độ giao dịch tỷ giá hằng ngày của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được
đánh giá rất kịp thời, góp phần làm giảm lạm phát, duy trì ổn định phục hồi kinh
tế.
Một điểm sáng trong nỗ lực giữ ổn định kinh tế mô, kiềm chế lạm phát năm
2022 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế trong nước
ghi nhận, điều hành linh hoạt tỷ giá. Nổi bật, việc nới biên độ tỷ giá đã phần nào
tạo ra không gian rộng lớn hơn để các doanh nghiệp, nhà đầu nước ngoài người
dân lựa chọn cách thức tỷ giá cân bằng trên sở cung cầu thị trường. Đến thời điểm
gần kết thúc năm 2022, tỷ giá USD trung tâm tăng không nhiều so với đầu năm, chỉ
khoảng 2,4%.
Nhưng tỷ giá USD tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
đã tăng hơn 7%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại đã tăng khoảng 9%. Sự chênh
lệch mặt bằng tỷ giá hiện tại so với đầu m theo đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến các
16
doanh nghiệp hoạt động kinh doanh liên quan đến ngoại tệ. Tuy nhiên, động thái
này cũng nằm trong diễn biến chung của các đồng tiền trên thế giới so với USD
thực tế đồng VND đang mất giá ít hơn. “Sự linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam trong việc áp dụng chính sách tiền tệ ngoại hối đã làm chậm quá trình giảm
giá của VND.
Từ đầu năm đến nay, VND vẫn đồng tiền hiệu suất cao nhất so với các
đồng tiền khác trong khu vực. Điều này đã góp phần làm giảm lạm phát nhập khẩu
một trong những yếu tố giúp lạm phátViệt Nam được kiểm soát tốt cho đến nay”,
Tổng Giám đốc Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam, Chủ tịch Nhóm Công tác
Ngân hàng (BWG - thuộc Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam VBF) - Michelle Wee
đã nhận định về công tác điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam như vậy.
Cùng với tỷ giá, chính sách lãi suất, tín dụng linh hoạt trong bối cảnh nhiều
thách thức cũng là kết quả đáng ghi nhận. Việc tăng lãi suất đã góp phần kiểm soát lạm
phát, ổn định nguồn vốn cho hệ thống ngân hàng và hỗ trợ ổn định tỷ giá.
Hỗ trợ phục hồi, tăng trưởng kinh tế
Năm 2022, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã kiểm soát chặt chẽ tín dụng cho
những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, yêu cầu các tổ chức tín dụng bảo đảm an toàn hoạt
động. Bảo đảm đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho người dân, doanh nghiệp, nhất là đối
với các lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ. Đáng chú ý, sau một thời gian dài
kiên định với chỉ tiêung trưởng tín dụng 14%, thời điểm khi chỉ còn ba tuần nữa sẽ
kết thúc năm 2022, khi nhận thấy tác động của tình hình thế giới đối với Việt Nam dịu
bớt, nhiều chỉ tiêu đã cho thấy những dấu hiệu rất tích cực,... Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam đã quyết định nới chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng thêm từ 1,5 - 2% cho
toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Điều này đã tạo địa khá lớn để các ngân hàng thương mại khả năng mở
rộng tín dụng cho những doanh nghiệp, đối tượng, lĩnh vực cần thiết trong nền kinh tế.
Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng thường xuyên chỉ đạo hệ thống các tổ
chức tín dụng tích cực tham gia vào các chính sách phục hồi kinh tế của Chính phủ,
nhất gói hỗ trợ lãi suất thuộc Chương trình phục hồi phát triển kinh tế-xã hội,
chuyển đổi số ngành ngân hàng, tài trợ chống biến đổi khí hậu,...
2.1.2.3. Năm 2023
Điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong năm 2023, một
mặt tiếp tục hỗ trợ phục hồi, tăng trưởng kinh tế, nhưng mặt khác không chủ quan với
lạm phát trong bối cảnh áp lực lạm phát toàn cầu, mức lãi suất của Cục Dữ trữ Liên
bang Hoa Kỳ (Fed) còn tiếp tục neo cao kéo dài đến hết m 2023. vậy, độ trễ
17
của tác động lạm phát nhập khẩu đối với Việt Nam còn lớn, nên điều hành chính sách
tiền tệ không thể chủ quan với các rủi ro này.
Để đảm bảo sự ổn định kinh tế mô, hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế thì tín
dụng, lãi suất, tỷ giá, các giải pháp, công cụ chính sách tiền tệ khác sẽ được Ngân hàng
Nhà nước điều hành rất đồng bộ, linh hoạt nhưng không xa rời mục tiêu kiểm soát lạm
phát, trên tinh thần thấm nhuần quan điểm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.
Mục tiêu quan trọng nhất của điều hành chính sách tiền tệ năm 2023 ổn định
kinh tế mô, kiểm soát lạm phát, còn cách thức, công cụ điều hành thì rất linh hoạt,
tùy từng thời điểm thị trường để tùy ứng biến. Điều hành chính sách tiền tệ của
Ngân hàng Nhà nước trong năm 2023, một mặt tiếp tục hỗ trợ phục hồi, tăng trưởng
kinh tế, nhưng mặt khác không chủ quan với lạm phát trong bối cảnh áp lực lạm phát
toàn cầu, mức lãi suất của Cục Dữ trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed) còn tiếp tục neo cao và
kéo dài đến hết năm 2023. Vì vậy, độ trễ của tác động lạm phát nhập khẩu đối với Việt
Nam còn lớn, nên điều hành chính sách tiền tệ không thể chủ quan với các rủi ro này.
2.2. Đánh giá tác động của sự thay đổi cung tiền đến tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam.
2.2.1 Tác động đến tốc độ tăng trưởng GDP
Dựa vào biểu đồ cung tiền ta có thể thấy :
Năm 2021: Chính phủ NHNN đã áp dụng biện pháp nới lỏng tiền tệ để hỗ
trợ nền kinh tế trong bối cảnh các hoạt động kinh doanh ngừng trệ. Bao gồm việc giảm
lãi suất tăng cung tiền. Q1-Q2/2021: Cung tiền tăng mạnh để hỗ trợ doanh nghiệp
người dân bị ảnh hưởng bởi COVID-19. Tuy nhiên, GDP vẫn tăng trưởng chậm do
các biện pháp phong tỏa nghiêm ngặt cthể GDP tăng 4,48%. Tuy nhiên, tăng trưởng
vẫn còn thấp so với tiềm năng do ảnh hưởng của dịch bệnh kéo i. Đặc biệt trong
quý III/2021 nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề do các biện pháp giãn cách xã hội, tăng
trưởng GDP của Việt Nam chỉ đạt 2,58%, thấp nhất trong nhiều năm. Q4/2021: Sau
khi tình hình dịch bệnh dần được kiểm soát và các biện pháp phong tỏa được nới lỏng,
nền kinh tế dấu hiệu phục hồi. Cung tiền tiếp tục được duy trì mức cao, hỗ trợ
phục hồi sản xuất tiêu dùng. GDP tăng trưởng 5,22% trong quý này, cho thấy hiệu
quả của các chính sách nới lỏng tiền tệ hỗ trợ tài khóa trong giai đoạn hậu đại dịch.
Năm 2021 một m đầy khó khăn, trong đó việc mở rộng cung tiền đã giúp tránh
được một cuộc suy thoái sâu hơn. Tuy nhiên, tác động của cung tiền không đủ mạnh
để giúp nền kinh tế tăng trưởng bền vững khi các yếu tố khác như giãn cách xã hội
chuỗi cung ứng bị đứt gãy là các rào cản lớn.
Năm 2022: Mặc dù mức tăng trưởng cung tiền năm 2022 thấp hơn so với những
năm trước đó, vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thanh khoản cho các
doanh nghiệp và người dân sau giai đoạn ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19. Nhờ vào
18
sự nới lỏng điều tiết hợp chính sách tiền tệ, GDP của Việt Nam tăng trưởng
mạnh mẽ. Q1/2022: GDP tăng 5,05%. Cung tiền được duy trì mức cao nhằm hỗ
trợ các hoạt động sản xuất tiêu dùng trong nước. Nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu
khôi phục sản xuất sau giai đoạn phong tỏa, và nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng đều
đặn. Q2/2022: Tăng trưởng GDP đạt mức cao 7,83%, nhờ sự phục hồi mạnh mẽ của
nhiều ngành kinh tế như sản xuất công nghiệp, thương mại dịch vụ. Sự mở rộng
cung tiền giúp giảm lãi suất, thúc đẩy đầu tiêu dùng. Đặc biệt tới Q3/2022 GDP
tăng trưởng đột phá, đạt 13,67%, mức cao nhất trong nhiều năm qua. Nhưng tới
Q4/2022 Tốc độ tăng trưởng GDP chậm lại, đạt 5,92%, do nền kinh tế đã dần ổn định
hơn sau các đợt phục hồi mạnh mẽ trước đó. Tóm lại, năm 2022 giai đoạn phục hồi
kinh tế mạnh mẽ, cung tiền đã đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tăng
trưởng. Tuy nhiên, việc mở rộng cung tiền kết hợp với các chính sách tài khóa, đặc
biệt là đầu công, mớiyếu tố chính giúp đạt được mức tăng trưởng ấn tượng trong
năm này.
Năm 2023: Trong năm 2023, mức cung tiền của Việt Nam đã những biến
động đáng kể tác động trực tiếp đến tăng trưởng GDP của nền kinh tế. Theo thống
kê, GDP của 4 quý nhìn chung có sự tăng trưởng nhẹ lần lượt là 3,32%, 4,14% ,5,33%
6%. Tổng GDP của Việt Nam đã tăng 5,05% trong năm 2023, thấp hơn so với mục
tiêu đề ra 6,5% nhưng vẫn cao hơn nhiều so với nhiều nước trong khu vực trên
thế giới. Mặc mức tăng GDP không đạt mục tiêu kỳ vọng, nhưng nhiều lĩnh vực
như nông nghiệp, thương mại dịch vụ vẫn duy trì được mức tăng trưởng ổn định,
nhờ vào sự hỗ trợ từ chính sách tiền tệ. Ngành nông nghiệp đã mức tăng trưởng
3,83%, trong khi khu vực dịch vụ ng trưởng 6,82%. Tuy nhiên, ngành công nghiệp
vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức, khiến mức tăng trưởng chỉ đạt 3,74%. Nhìn
chung, sự điều chỉnh cung tiền trong năm 2023 đã tác động tích cực đến các lĩnh
vực trong nền kinh tế, góp phầno sự phục hồi phát triển. Tuy nhiên, việc duy trì
tăng trưởng bền vững trong thời gian tới sẽ cần tiếp tục điều chỉnh chính sách tiền tệ
một cách linh hoạt và hiệu quả hơn.
2.2.2. Tác động đến lạm phát
Năm 2021: Mức cung tiền M2 của Việt Nam tăng khoảng 10.7%, sự gia tăng
này tác động đáng kể đến lạm phát trong bối cảnh nền kinh tế đối phó với đại dịch
Covid-19. Mặc cung tiền tăng, lạm phát trong năm 2021 được kiểm soát mức
tương đối thấp, với chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chỉng khoảng 1.84%, thấp hơn nhiều
so với các năm trước mục tiêu của chính phủ dưới 4%. Sự ổn định của lạm phát
trong năm 2021 có thể được lý giải bởi nhiều yếu tố:
19
Chi tiêu tiêu dùng thấp: Đại dịch đã làm giảm chi tiêu của hộ gia đìnhdoanh
nghiệp, từ đó kéo theo sức cầu yếu .
Cung cầu hàng hóa: Việc kiểm soát tốt nguồn cung hàng hóa thực phẩm đã
góp phần giữ giá cả ổn định .
Chính sách tiền tệ linh hoạt: NHNN đã các biện pháp kịp thời để duy trì s
ổn định của thị trường tài chính, giúp tránh những sốc từ tăng trưởng cung
tiền .
Năm 2022: Lạm phát bắt đầu tăng lên do ảnh hưởng của sự phục hồi kinh tế
những sốc từ chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt giá năng lượng lương thực
tăng cao. Việc cung tiền tăng có thể làm tăng chi phí sản xuất, dẫn đến việc các doanh
nghiệp phải điều chỉnh giá bán sản phẩm. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã
áp dụng các biện pháp điều chỉnh lãi suất và kiểm soát tín dụng để giảm thiểu tác động
tiêu cực từ mức cung tiền tăng. Việc điều tiết này giúp duy trì mức lạm phát mức
3.15%, thấp hơn so với mục tiêu Chính phủ đề ra dưới 4% nhưng vẫn gây lo
ngại cho nền kinh tế.
Năm 2023: Trước sức ép lớn của lạm phát giá cả hàng hóa toàn cầu tăng
cao, cung tiền tăng, NHNN đã sử dụng các công cụ như điều chỉnh lãi suất để kiểm
soát lạm phát, Viê t Nam đã đạt được kết quả tích cực trong kiểm soát lạm phát. . Tính
chung cả năm, lạm phát bình quân tăng 3,25% so với năm 2022, dưới ngưỡng mục tiêu
Quốc hội đặt ra và năm thứ 9 liên tiếp Việt Nam kiểm soát lạm phát thành công
dưới ngưỡng 4%, góp phần đảm bảo ổn định kinh tế mô, đảm bảo các cân đối lớn
của nền kinh tế. Tuy nhiên, NHNN vẫn thận trọng trong việc điều chỉnh cung tiền để
tránh gây áp lực lạm phát trong bối cảnh nền kinh tế đang phải đối mặt với các thách
thức từ bên ngoài.
2.2.3 Tác động đến thị trường tiền tệ lãi suất
Tiền tệ: Khi giá cả tăng, doanh nghiệp cần tăng sản xuất để đáp ứng nhu cầu
của thị trường. Để làm điều này, họ phải tăng chi phí lương cho công nhân. Điều
này thúc đẩy doanh nghiệp tìm cách vay tiền để đối phó với chi phí tăng. Tăng cung
cấp tiền như vậy có thể làm gia tăng lượng tiền trong nền kinh tế.
Biến động giá thể ảnh hưởng đến tâm của người tiêu dùng. Khi giá cả
tăng, người tiêu dùng thể tăng cường mua sắm tiêu tiền nhiều hơn để tránh sự
gia tăng tiếp theo của giá. Điều này cũng thể gây tăng cung tiền thông qua việc mở
thêm các khoản vay.
Năm 2021: Tổng phương tiện thanh toán (M2) tăng khoảng 14% so với năm
trước, đạt khoảng 12 triệu tỷ đồng.
20

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG BÀI THẢO LUẬN
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC CUNG
TIỀN VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC CUNG TIỀN ĐẾN TỔNG
CẦU. PHÂN TÍCH SỰ THAY ĐỔI MỨC CUNG TIỀN CỦA VIỆT
NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY VÀ CHO BIẾT SỰ THAY
ĐỔI ĐÓ ẢNH HƯỚNG THẾ NÀO ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM.
Bộ môn : Kinh tế vĩ mô Mã lớp HP : 241_MAEC0111_06 Nhóm : 04
Giảng viên giảng dạy
: Ts. Nguyễn Thị Thu Hiền
Hà Nội, tháng 10 năm 2024
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ STT Họ và tên Nhiệm vụ Mức độ hoàn thành Ghi chú Hoàn thành 1 Nguyễn Khánh Linh Nội dung 2.3.1 nhiệm vụ Nhóm trưởng được giao Hoàn thành 2 Nguyễn Ngọc Linh Nội dung 1.1 + 1.2 nhiệm vụ được giao Hoàn thành 3 Phạm Ngọc Linh
Nội dung 2.1 + Thuyết trình nhiệm vụ được giao Hoàn thành 4 Vũ Phương Linh
Mở đầu + kết luận + Word nhiệm vụ được giao Hoàn thành 5 Đỗ Thị Xuân Mai Nội dung 2.2.4 + PPT nhiệm vụ được giao Hoàn thành 6 Phạm Ban Mai Nội dung 2.2.3 + PPT nhiệm vụ được giao Hoàn thành 7 Vũ Thiện Minh Nội dung 2.3.2 nhiệm vụ được giao Hoàn thành 8 Phạm Đỗ Hoàng Nam Nội dung 2.2.2 nhiệm vụ được giao Hoàn thành 9 Pham Thanh Ngân Nội dung 2.2.1 + Thuyết nhiệm vụ trình được giao Hoàn thành 10 Bùi Hưng Nguyên Nội dung 1.3 nhiệm vụ được giao 2
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN CUỘC HỌP ( Lần 1)
Học phần: Kinh tế vĩ mô
Giảng viên: Nguyễn Thị Thu Hiền
Lớp HP: 241_MAEC0111_06 Nhóm: 04
I. Thời gian và địa điểm Địa điểm: Google Meet
Thời gian: 8h30 ngày 1 tháng 10 năm 2024
II. Số thành viên tham gia: 10/10
III. Nội dung thảo luận:
-Tìm hiểu, nghiên cứu và tìm ra hướng giải quyết cho đề tài thảo luận, lập đề cương cho đề tài.
-Nhóm trưởng phân chia công việc.
IV. Đánh giá chung kết quả cuộc họp: Các thành viên đều nhiệt tình trong quá trình
thảo luận và nhiệm vụ do nhóm trưởng giao.
Hà Nội, Ngày 1 tháng 10 năm 2024 Nhóm trưởng
(Ký và ghi rõ họ tên) Nguyễn Khánh Linh 3
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN CUỘC HỌP ( Lần 2)
Học phần: Kinh tế vĩ mô
Giảng viên: Nguyễn Thị Thu Hiền
Lớp HP: 241_MAEC0111_06 Nhóm: 04
I. Thời gian và địa điểm Địa điểm: Google Meet
Thời gian: 8h30 ngày 15 tháng 10 năm 2024
II. Số thành viên tham gia: 10/10
III. Nội dung thảo luận:
Họp để tổng hợp nội dung, các thành viên đưa ra nhận xét, thống nhất và chỉnh sửa.
IV. Đánh giá chung kết quả cuộc họp:
Các thành viên đều nhiệt tình trong quá trình thảo luận và nhiệm vụ do nhóm trưởng giao.
Hà Nội, Ngày 15 tháng 10 năm 2024 Nhóm trưởng
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Khánh Linh 4 MỤC LỤC
A - MỞ ĐẦU
............................................................................................................................6
B – NỘI DUNG........................................................................................................................7
CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ THUYẾT.........................................................................................7 1.1
Khái niệm và đo lường lượng cung tiền..........................................................................7 1.2
Các yếu tố ảnh hưởng đến mức cung tiền....................................................................7 1.3
Ảnh hưởng của sự thay đổi mức cung tiền đến tổng cầu trong nền kinh tế...................8
1.3.1. Ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư....................................................................8
1.3.2. Ảnh hưởng đến chi tiêu tiêu dùng...............................................................8
1.3.3. Ảnh hưởng đến xuất khẩu ròng..................................................................9
CHƯƠNG II - THỰC TRẠNG CUNG TIỀN Ở VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA SỰ THAY
ĐỔI MỨC CUNG TIỀN ĐẾN NỀN KINH TẾ.
.......................................................................10
2.1. Khái quát về cung tiền và chính sách và chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2021 –
2023.
..................................................................................................................................10
2.1.1. Cung tiền....................................................................................................10
2.1.2. Chính sách tiền tệ......................................................................................13
2.2. Đánh giá tác động của sự thay đổi cung tiền đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.......27
2.2.1 Tác động đến tốc độ tăng trưởng GDP.......................................................27
2.2.2. Tác động đến lạm phát...............................................................................28
2.2.3 Tác động đến thị trường tiền tệ lãi suất.....................................................29
2.2.4. Tác động đến tỷ giá và thị trường ngoại hối.............................................30
2.3. Một số nhận xét và đánh giá về điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam........................32
2.3.1. Những thành tựu nổi bật trong điều hành CSTT.....................................32
2.3.2. Một số tồn tại, khó khăn............................................................................35
C - KẾT LUẬN......................................................................................................................37
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................38 5 A - MỞ ĐẦU
Việt Nam trong những năm gần đây đã chứng kiến những biến động đáng kể về
mức cung tiền. Cung tiền được xem là một trong những công cụ quan trọng nhất của
chính sách tiền tệ. Mức cung tiền tệ và sự biến động của nó là một trong những yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến tình trạng tài chính của một quốc gia, tác động mạnh đến
hoạt động sản xuất, tiêu dùng, thương mại và đầu tư. Mức cung tiền tệ ảnh hưởng đến
mức độ lạm phát, sức mua, xuất khẩu, nhập khẩu, giá trị tiền tệ cũng như lãi suất, ảnh
hưởng trực tiếp đến việc phát triển kinh tế..Sự điều chỉnh hợp lý mức cung tiền không
chỉ ảnh hưởng đến lạm phát, lãi suất mà còn tác động trực tiếp đến tổng cầu và tăng
trưởng kinh tế. Trong thời gian làm bài thảo luận nhóm 4 chúng em còn nhiêu thiếu
sót, mong cô giúp đỡ và góp ý cho chúng em ạ. 6 B – NỘI DUNG
CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Khái niệm và đo lường lượng cung tiền
Khái niệm: là tổng lượng tiền trong lưu thông trong nền kinh tế, bao gồm: tiền
trong dân giữ, tiền trong hệ thống ngân hàng và tiền của cơ quan doanh nghiệp. Những
hình thức tiền này được quy định và được phép lưu thông trên thị trường theo quy định của Nhà nước.
Cung tiền đo lường tổng số tiền trong nền kinh tế tại một thời điểm cụ thế. Dựa
vào mức độ thanh khoản của các loại tiền hiện có trong nền kinh tế, cung tiền được
phân thành Mo, M,, Mz và Mz.
Cung tiền mặt (Mo): Bao gồm toàn bộ giá trị của lượng tiền giấy và tiền kim
loại đang lưu hành trong nền kinh tế. Đây là loại tiền có khả năng thanh khoản
cao nhất (còn gọi là tính thanh khoản hay tính lỏng cao).
Cung tiền giao dịch (M1): Bao gồm tiền mặt (Mo) và tiền gửi (D) trong tài khoản tại các NHTM. M1 = Mo+ D
Loại tiền này được ghi sổ hoặc được viết séc để thanh toán. Tiền M1 cũng có
khả năng thanh toán cao nhưng mức độ sẵn sàng cho thanh toán vẫn kém hơn so với
tiền mặt. M1 là một trong những đại lượng đo lường cung tiền chủ yếu của nhiều quốc gia.
Cung tiền rộng (M2): Bao gồm tổng lượng tiền giao dịch M, và các khoản gửi
tiết kiệm có kỳ hạn (D,) tại các NHTM. M2 = M1 + Dt
Loại tiền gửi có kỳ hạn này có tính chuyển đổi kém hơn so với tiền gửi trong tài
khoản ngân hàng, nhưng vẫn có khả năng chuyển sang tiền mặt mà không gặp nhiêu
khó khăn, nên nó cũng được coi là có khả năng thanh toán.
Cung tiền tài chính (M3): Bao gồm tiền rộng M2 cộng với các loại tài sản tài
chính khác như cổ phiếu, trái phiếu, giấy xác nhận tài sản hữu hình có giá trị,
các chấp nhận thanh toán của ngân hàng...
M3 = Mz + Các loại tài sản tài chính khác
Tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới hiện nay mức cung tiền được đo
lường là khối lượng tiền M. Do đó, cung tiền bao gồm tổng lượng tiền mặt trong lưu
thông (Mo) và các khoản tiền gửi trong tài khoản giao dịch tại các NHTM (D). Ký
hiệu cung tiền là MS, thì: MS = Mo+ D 7
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức cung tiền
Có 3 yếu tố chính ảnh hưởng tới mức cung tiền:
Chính sách tiền tệ: Ngân hàng Trung ương đóng vai trò quan trọng trong việc
kiểm soát cung tiền thông qua các công cụ chính sách tiền tệ như hoạt động thị trườn
mở, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái cấp vốn.
Nghiệp vụ thị trường mở: là các hoạt động mua bán tài sản tài chính như cổ
phiếu, trái phiếu, tiền tệ và hàng hóa trên các sàn giao dịch. Những hoạt động này có
thể ảnh hưởng đến cung tiền thông qua các tác động lên lượng tiền mặt, tạo ra hoặc
phá hủy tài sản tài chính, từ đó làm tăng hoặc giảm cung tiền.
Lãi suất chiết khấu: là lãi suất mà ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng tính khi mua
lại hoặc chiết khấu một tài khoản công nợ hoặc giấy nợ từ một bên thứ ba trước khi nó
đáo hạn. Lãi suất chiết khấu có thể ảnh hưởng đến cung tiền như quyết định vay và
cho vay, hoạt động tài chính của doanh nghiệp, lưu thông tiền tệ, đầu tư và tiêu dùng.
1.3 Ảnh hưởng của sự thay đổi mức cung tiền đến tổng cầu trong nền kinh tế.
1.3.1. Ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư
Lãi suất: Khi ngân hàng trung ương tăng cung tiền, lãi suất thường giảm. Lãi
suất thấp hơn làm giảm chi phí vay mượn cho các doanh nghiệp. Điều này khuyến
khích các doanh nghiệp đầu tư vào cơ sở hạ tầng, máy móc, và công nghệ mới, từ đó
tăng cường năng lực sản xuất. Ngược lại, nếu cung tiền giảm, lãi suất có thể tăng, làm
cho việc vay vốn trở nên đắt đỏ hơn. Doanh nghiệp có thể trì hoãn hoặc giảm quy mô
đầu tư, dẫn đến giảm tổng cầu.
Tâm lý thị trường: Mức cung tiền cao có thể tạo ra tâm lý lạc quan trong thị
trường, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn. Ngược lại, nếu cung tiền
giảm, tâm lý tiêu cực có thể dẫn đến việc doanh nghiệp trì hoãn hoặc cắt giảm đầu tư.
Tín dụng và khả năng tiếp cận vốn: Khi cung tiền tăng, các ngân hàng có nhiều
vốn hơn để cho vay, dẫn đến việc dễ dàng hơn trong việc tiếp cận tín dụng cho các
doanh nghiệp. Điều này có thể thúc đẩy đầu tư. Nếu cung tiền giảm, khả năng tiếp cận
tín dụng có thể bị hạn chế, làm giảm chi tiêu đầu tư.
1.3.2. Ảnh hưởng đến chi tiêu tiêu dùng
Thu nhập khả dụng: Khi cung tiền tăng, người tiêu dùng có thể nhận được
nhiều tiền hơn thông qua tăng lương, thưởng, hoặc tín dụng dễ dàng hơn. Điều này làm
tăng thu nhập khả dụng và khuyến khích chi tiêu tiêu dùng. Ngược lại, nếu cung tiền
giảm, thu nhập khả dụng có thể giảm, dẫn đến việc người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu. 8
Tâm lý tiêu dùng: Mức cung tiền cao có thể tạo ra cảm giác an toàn tài chính
cho người tiêu dùng, khuyến khích họ chi tiêu nhiều hơn. Họ có thể cảm thấy tự tin
hơn trong việc mua sắm lớn, như nhà cửa, xe cộ, và các sản phẩm tiêu dùng khác.
Nếu cung tiền giảm, người tiêu dùng có thể trở nên thận trọng hơn, dẫn đến việc giảm
chi tiêu và tiết kiệm nhiều hơn.
Tín dụng tiêu dùng: Khi cung tiền tăng, các ngân hàng có thể dễ dàng cung cấp
tín dụng tiêu dùng, cho phép người tiêu dùng vay tiền để mua sắm. Điều này có thể
làm tăng chi tiêu tiêu dùng. Ngược lại, nếu cung tiền giảm, tín dụng tiêu dùng có thể bị
hạn chế, làm giảm khả năng chi tiêu của người tiêu dùng.
Thị trường cổ phiếu: Các quyết định của ngân hàng trung ương về việc điều
chỉnh cung tiền như giảm lãi suất sẽ tác động trực tiếp đến thị trường cổ phiếu. Thông
thường các chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ thúc đẩy thị trường cổ phiếu.
Khi mức cung tiền tăng giúp các nhà đầu tư có nhiều tiền hơn, có khả năng họ
sẽ tìm kiếm lợi nhuận từ những tài sản rủi ro, bao gồm cổ phiếu. Điều này có thể dẫn
đến sự gia tăng của giá cổ phiếu và ngược lại.
1.3.3. Ảnh hưởng đến xuất khẩu ròng
Tỷ giá hối đoái: Khi cung tiền tăng, có thể dẫn đến việc đồng nội tệ giảm giá so
với các đồng tiền khác. Điều này làm cho hàng hóa xuất khẩu trở nên rẻ hơn đối với
các nước khác, từ đó có thể làm tăng xuất khẩu.
Ngược lại, nếu cung tiền giảm, đồng nội tệ có thể tăng giá, làm giảm khả năng cạnh
tranh của hàng hóa xuất khẩu.
Nhu cầu toàn cầu: Sự thay đổi trong cung tiền cũng có thể ảnh hưởng đến nhu
cầu toàn cầu. Nếu nền kinh tế trong nước phát triển nhờ vào mức cung tiền cao, điều
này có thể dẫn đến việc tăng nhu cầu nhập khẩu, ảnh hưởng đến xuất khẩu ròng. Chính sách thương mại:
Sự thay đổi mức cung tiền có thể ảnh hưởng đến chính sách thương mại của một quốc
gia. Nếu cung tiền tăng và nền kinh tế phát triển, chính phủ có thể có khả năng đầu tư
vào các chính sách thương mại thuận lợi, từ đó thúc đẩy xuất khẩu. 9
CHƯƠNG II - THỰC TRẠNG CUNG TIỀN Ở VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA SỰ THAY ĐỔI MỨC CUNG TIỀN ĐẾN NỀN KINH TẾ.

2.1. Khái quát về cung tiền và chính sách và chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2021 – 2023.
2.1.1. Cung tiền
Cung tiền (M2) tại Việt Nam đã có những biến động đáng kể trong giai đoạn 2021-
2023, phản ánh sự điều chỉnh chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(NHNN) trong bối cảnh kinh tế chịu ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, phục hồi
kinh tế, và các yếu tố toàn cầu như lạm phát và căng thẳng địa chính trị.
Phân tích chi tiết theo từng giai đoạn
Năm 2021: Cung tiền M2 có mức tăng trưởng ổn định trong nửa đầu năm. Tuy
nhiên, sang nửa cuối năm, tốc độ tăng trưởng có phần chững lại. Mức cung tiền (M2)
tăng khoảng 10.7% do NHNN hạ lãi suất, bơm tiền vào nền kinh tế nhằm duy trì thanh khoản và kích cầu. Đơn vị Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Chỉ tiêu tính 1/2021 2/2021 3/2021 4/2021 5/2021 6/2021 7/2021 8/2021
9/2021 10/2021 11/2021 12/2021 Cung Tỷ
12,202, 12,228, 12,349, 12,465,0 12,558, 12,647, 12,692, 12,757, 12,879, 12,907, 13,040, 13,402, tiền M2 VNĐ 217 211 750 12 573 703 256 648 090 567 842 097 10 (MoM) Tăng % 0.76 0.97 1.97 2.92 3.7 4.43 4.8 5.34 6.34 6.58 7.68 10.66 trưởng Cung tiền M2 (YoY)
-Quý I/2021: Tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định, dao động trong khoảng
0.76% - 1.97%. Điều này cho thấy nền kinh tế đang duy trì một mức độ ổn định nhất định.
-Quý II/2021: Tốc độ tăng trưởng có xu hướng tăng lên, đạt mức cao nhất là
4.43% vào tháng 7. Điều này có thể là do các yếu tố kích thích kinh tế hoặc
nhu cầu vốn tăng cao trong giai đoạn này.
-Quý III và IV/2021: Tốc độ tăng trưởng tiếp tục duy trì ở mức cao, cho
thấy sự mở rộng mạnh mẽ của cung tiền. Điều này có thể là do các chính
sách hỗ trợ kinh tế sau đại dịch COVID-19, cũng như sự phục hồi của các
hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhận định: Sự tăng trưởng ổn định và mạnh mẽ của cung tiền M2 trong năm 2021 cho
thấy một số điểm đáng chú ý:
Chính sách tiền tệ nới lỏng: Ngân hàng Nhà nước có thể đã áp dụng các chính
sách tiền tệ nới lỏng để hỗ trợ phục hồi kinh tế sau đại dịch, dẫn đến việc tăng cung tiền.
Nhu cầu vốn tăng cao: Sự phục hồi của nền kinh tế và các hoạt động sản xuất
kinh doanh đã dẫn đến nhu cầu vốn tăng cao, kéo theo sự tăng trưởng của cung tiền.
Lạm phát: Việc tăng cung tiền quá nhanh có thể gây áp lực lên lạm phát. Tuy
nhiên, mức độ lạm phát thực tế trong năm 2021 cần được theo dõi chặt chẽ để
đánh giá tác động của việc tăng cung tiền.
Năm 2022: Tốc độ tăng trưởng của cung tiền M2 có sự biến động khá lớn,
mức tăng trưởng cung tiền chỉ tăng vỏn vẹn 6.2%. Đây là một mức tăng trưởng
thấp hơn so với những năm trước đó, do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN)
thận trọng hơn trong việc mở rộng cung tiền nhằm kiểm soát lạm phát trong bối
cảnh áp lực tăng giá toàn cầu và phục hồi kinh tế sau đại dịch . Việc tăng trưởng
cung tiền thấp hơn cũng là kết quả của chính sách tiền tệ thắt chặt hơn, với các biện
pháp điều chỉnh lãi suất và kiểm soát tín dụng để duy trì sự ổn định của nền kinh tế và kiểm soát giá cả. 11 Đơn vị
Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Chỉ tiêu tính
1/2022 2/2022 3/2022 4/2022 5/2022 6/2022 7/2022 8/2022 9/2022 10/2022 11/2022 12/2022 Cung Tỷ
13,748, 13,644, 13,864, 13,871, 13,848, 13,908, 13,828, 13,761, 13,832, 13,815, 13,878, 14,226, tiền M2 VNĐ 740 750 061 751 264 338 044 019 397 145 503 792 (MoM) Tăng % 2.59 1.81 3.45 3.5 3.33 3.78 3.18 2.68 3.21 03.08 3.55 6.15 trưởng Cung tiền M2 (YoY)
-Quý I/2022: Tốc độ tăng trưởng khá ổn định, dao động từ 2.59% đến 3.45%.
Điều này cho thấy nền kinh tế đang duy trì một mức độ ổn định nhất định.
-Quý II/2022: Tốc độ tăng trưởng có xu hướng tăng nhẹ, đạt mức cao nhất là
3.78% vào tháng 7. Điều này có thể là do các yếu tố kích thích kinh tế hoặc nhu
cầu vốn tăng cao trong giai đoạn này.
-Quý III và IV/2022: Tốc độ tăng trưởng tiếp tục duy trì ở mức khá cao, cho
thấy sự mở rộng của cung tiền. Điều này có thể là do các chính sách hỗ trợ kinh
tế, cũng như sự phục hồi của các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhận định: Sự tăng trưởng ổn định của cung tiền M2 trong năm 2022 cho thấy một số điểm đáng chú ý:
Chính sách tiền tệ vẫn được duy trì nới lỏng: Mặc dù có sự điều chỉnh, nhưng
nhìn chung chính sách tiền tệ vẫn tiếp tục hướng tới hỗ trợ phục hồi kinh tế và tạo
điều kiện cho tăng trưởng tín dụng.
Nhu cầu vốn ổn định: Nền kinh tế đã có những dấu hiệu phục hồi sau đại dịch,
dẫn đến nhu cầu vốn của các doanh nghiệp và hộ gia đình vẫn ở mức cao.
Áp lực lạm phát: Việc tăng cung tiền liên tục có thể gây áp lực lên lạm phát. Tuy
nhiên, mức độ lạm phát thực tế trong năm 2022 cần được theo dõi chặt chẽ để
đánh giá tác động của việc tăng cung tiền.
Năm 2023: Tốc độ tăng trưởng của cung tiền M2 có xu hướng tăng trở lại gần
mức 12.5%. Đặc biệt, cung tiền ở Việt Nam đã tăng vọt trong những tháng cuối năm
cùng với chính sách thúc đẩy tín dụng của NHNN. Số liệu cho thấy, chỉ trong quí cuối
năm 2023, cung tiền tăng hơn 800.000 tỉ đồng, gần bằng cả chín tháng đầu năm cộng
lại, tăng 15% so với đầu năm 2023. 12 Đơn Chỉ vị
Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng tiêu
tính 1/2023 2/2023 3/2023 4/2023 5/2023 6/2023 7/2023
8/2023 9/2023 10/2023 11/2023 12/2023 Cung Tỷ
14,339, 14,272 14,415, 14,470, 14,517,8 14,754, 14,640, 14,801, 15,026, 15,074, 15,354, 15,998, tiền M2 VNĐ 502 ,184 021 593 32 221 943 154 012 263 119 956 (MoM) Tăng % 0.79 0.32 1.32 1.71 02.05 3.71 2.91 04.04 5.62 5.96 7.92 12.46 trưởng Cung tiền M2 (YoY)
-Quý I/2023: Tốc độ tăng trưởng khá ổn định, dao động từ 0.79% đến
1.71%. Điều này cho thấy nền kinh tế đang duy trì một mức độ ổn định nhất định.
-Quý II/2023: Tốc độ tăng trưởng có xu hướng tăng lên, đạt mức cao nhất là
3.71% vào tháng 6. Điều này có thể là do các yếu tố kích thích kinh tế hoặc
nhu cầu vốn tăng cao trong giai đoạn này.
-Quý III và IV/2023: Tốc độ tăng trưởng tiếp tục duy trì ở mức khá cao, đặc
biệt là trong quý IV, tốc độ tăng trưởng đạt mức cao nhất trong năm là
12.46%. Điều này cho thấy sự mở rộng mạnh mẽ của cung tiền trong giai đoạn cuối năm.
Kết luận: Dựa trên biểu đồ, chúng ta có thể thấy rõ rằng cung tiền M2 ở Việt
Nam liên tục tăng trong suốt giai đoạn từ năm 2021 đến 2023. Điều này cho thấy
lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế ngày càng tăng. Mặc dù có xu hướng tăng
chung, nhưng tốc độ tăng trưởng của cung tiền M2 lại không đồng đều qua các tháng.
Có những thời điểm tăng trưởng mạnh, nhưng cũng có những thời điểm tăng trưởng
chậm lại hoặc thậm chí có sự điều chỉnh giảm nhẹ.
2.1.2. Chính sách tiền tệ
2.1.2.1. Năm 2021
CSTT và hoạt động ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp, người dân vượt qua đại dịch Covid-19.
Bám sát các chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, ngay từ đầu năm, NHNN đã chủ
động, quyết liệt, chỉ đạo hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) triển khai đồng bộ, hiệu
quả các giải pháp điều hành CSTT, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa (CSTK)
và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng
thời triển khai hàng loạt các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, đồng hành với doanh 13
nghiệp và người dân; phù hợp với đặc thù và tính chất cấp bách của tình hình trong nước, cụ thể như sau:
Thứ nhất, đảm bảo thanh khoản thông suốt trên thị trường tiền tệ, tạo điều kiện
để TCTD tiếp tục giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ TCTD đẩy mạnh tín dụng đáp ứng đầy
đủ, kịp thời nhu cầu vốn của nền kinh tế.
NHNN mua lượng lớn ngoại tệ bổ sung Dự trữ ngoại hối Nhà nước, đưa tiền
đồng ra thị trường, qua đó thanh khoản hệ thống TCTD dồi dào, đồng thời, hàng ngày
NHNN chào mua giấy tờ có giá trên thị trường mở nhằm phát tín hiệu sẵn sàng hỗ trợ
thanh khoản, ổn định thị trường tiền tệ. Nhờ đó, lãi suất liên ngân hàng giảm xuống và
duy trì ở mức rất thấp trong lịch sử, giảm chi phí vốn đầu vào cho TCTD, qua đó tạo
điều kiện thuận lợi để TCTD giảm lãi suất cho vay.
Thứ hai, duy trì lãi suất điều hành ở mức thấp, tạo điều kiện và định hướng để
mặt bằng lãi suất cho vay của TCTD giảm.
Ngay khi dịch bệnh bùng phát trong năm 2020, NHNN đã 3 lần giảm lãi suất
điều hành với mức giảm 1,5 - 2%/năm, là một trong những ngân hàng trung ương
(NHTW) giảm lãi suất điều hành mạnh nhất khu vực. Trong năm 2021, NHNN duy trì
các mức lãi suất thấp này, kết hợp điều hành thanh khoản dồi dào trên thị trường tiền
tệ. Kết quả là, đến cuối tháng 11/2021, lãi suất huy động và cho vay VND bình quân
của TCTD giảm tương ứng khoảng 0,51%/năm và 0,81%/năm so với cuối năm 2020
sau khi đã giảm khoảng 1%/năm trong năm 2020. Lãi suất cho vay bình quân đối với
các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ là 4,3%/năm (thấp hơn mức trần quy định là 4,5%/năm).
Thứ ba, đảm bảo cung ứng vốn tín dụng đầy đủ và kịp thời cho các nhu cầu sản
xuất, kinh doanh của nền kinh tế, linh hoạt điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối
với các TCTD, hướng tăng trưởng tín dụng gắn với chất lượng.
NHNN điều hành tăng trưởng tín dụng trên cơ sở chỉ tiêu định hướng từ đầu
năm, và linh hoạt điều chỉnh để phù hợp với diễn biến phức tạp, khó lường của dịch
Covid-19. Theo đó, NHNN điều chỉnh tăng chỉ tiêu tín dụng cho TCTD có năng lực tài
chính, quản trị điều hành, có khả năng mở rộng tín dụng an toàn, lành mạnh, để kịp
thời hỗ trợ nền kinh tế. Đồng thời, NHNN chỉ đạo TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn,
hiệu quả, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; kiểm soát chặt
chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường quản lý rủi ro đối với tín dụng
tiêu dùng; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng
ngân hàng, góp phần hạn chế tín dụng đen. 14
Trên cơ sở đó, tín dụng tăng ngay từ đầu năm và cao hơn năm 2020, kịp thời
đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Đến ngày 30/12/2021, tín dụng tăng 13,47% so với
cuối năm 2020, tăng 13,79% so với cùng kỳ năm 2020 (cùng kỳ năm 2020 tăng
11,85% so với cuối năm 2019 và tăng 11,93% so với cùng kỳ năm 2019). Cơ cấu tín
dụng chuyển dịch tích cực, tập trung cho các lĩnh vực sản xuất kinh doanh; 4/5 lĩnh
vực ưu tiên có mức tăng trưởng tín dụng cao hơn mức tăng cùng kỳ năm 20201, hỗ trợ
tích cực quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phát triển thủy sản, công nghiệp hỗ
trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp ứng
dụng công nghệ cao. Tăng trưởng tín dụng các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động
sản, chứng khoán trong tầm kiểm soát của NHNN.
Thứ tư, ổn định thị trường ngoại tệ. NHNN điều hành tỷ giá linh hoạt, bám sát
cung cầu thị trường, các cân đối vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu CSTT. Trong khi xu hướng
rút vốn khỏi các nước mới nổi và đang phát triển khiến đồng tiền của nhiều nước trong
khu vực mất giá khá lớn so với USD (Baht Thái giảm 9,7%, Ringgit Malaysia giảm
2,5%, Đô-la Singapore giảm 1%) thì tỷ giá USD/VND tiếp tục được duy trì ổn định.
Đến cuối tháng 12/2021, tỷ giá trung tâm USD/VND chỉ tăng 0,06% so với cuối năm
2020. Thanh khoản ngoại tệ trên thị trường thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp
của người dân, doanh nghiệp đều được đáp ứng đầy đủ, kịp thời.
Thứ năm, triển khai nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ khách hàng bị ảnh
hưởng bởi dịch Covid-19.
Kết quả điều hành CSTT cùng với các động thái hỗ trợ chủ động, kịp thời trên
đây thể hiện sự đồng hành, sẻ chia với nền kinh tế của hệ thống ngân hàng trong bối
cảnh khó khăn chung của đại dịch Covid-19, khi bản thân hệ thống ngân hàng cũng
phải đối mặt với nhiều rủi ro do đại dịch gây ra như khả năng trả nợ của doanh nghiệp,
cá nhân và hộ gia đình suy giảm, tiềm ẩn rủi ro gia tăng nợ xấu, chi phí trích lập dự
phòng rủi ro gia tăng. Với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, ngành Ngân hàng vừa
đảm bảo cung cấp vốn đủ và kịp thời phục vụ nhu cầu phục hồi kinh tế, vừa đảm bảo
hoạt động của chính hệ thống ngân hàng an toàn, ổn định, bền vững.
2.1.2.2. Năm 2022
Trong bối cảnh thế giới năm 2022 đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, kinh tế
Việt Nam vẫn đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục 15
được củng cố; lạm phát được kiểm soát trong mục tiêu 4%, tăng trưởng kinh tế cả năm
dự kiến ở mức khoảng 8%.
Ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định thị trường tiền tệ đã góp phần cải thiện xếp hạng
tín nhiệm quốc gia của Việt Nam, giúp Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của
dòng vốn đầu tư quốc tế. Đáng chú ý, bất chấp môi trường toàn cầu và trong nước đầy
thách thức, Việt Nam vẫn là một trong những nền kinh tế tăng trưởng cao nhất trong
khu vực. Điều này là nhờ những nỗ lực to lớn của Chính phủ Việt Nam. Đặc biệt,
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho đến nay đã điều hành linh hoạt các chính sách tiền
tệ và tỷ giá để vượt qua các “cơn gió ngược” bên ngoài và trong nước.
Bảo đảm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu
Có thể thấy, 2022 là một năm đầy sóng gió đối với nền kinh tế toàn cầu; là năm
mà kinh tế thế giới và trong nước khó khăn hơn rất nhiều so với đánh giá, dự báo trước
đó. Diễn biến của đại dịch Covid-19 phức tạp, xung đột Nga - Ukraine và những hệ
quả như gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, giá cả các hàng hóa nguyên vật liệu tăng
cao, làm tăng áp lực lạm phát toàn cầu. Để kiềm chế lạm phát và bảo vệ sự ổn định tài
chính, các ngân hàng trung ương trên thế giới đã tăng tốc thắt chặt chính sách tiền tệ
thông qua tăng lãi suất, nhất là việc Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ (Fed) tăng lãi suất
mạnh đã dẫn đến sự tăng giá mạnh của đồng USD so với nhiều loại tiền tệ khác.
Điều này đã tạo ra những áp lực lớn lên tỷ giá, lãi suất các đồng tiền, nhất là các
nền kinh tế nhỏ có độ mở lớn như Việt Nam. Đồng thời, cũng đặt Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam vào thế khó, vừa phải cố gắng hỗ trợ phục hồi kinh tế sau đại dịch, vừa
buộc phải giải quyết lạm phát chi phí đẩy do các sự kiện và cú sốc bên ngoài gây ra...
Trong bối cảnh đó, việc điều hành “room” tín dụng, thắt chặt chính sách tiền tệ, và nới
rộng biên độ giao dịch tỷ giá hằng ngày của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được
đánh giá là rất kịp thời, góp phần làm giảm lạm phát, duy trì ổn định và phục hồi kinh tế.
Một điểm sáng trong nỗ lực giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát năm
2022 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế và trong nước
ghi nhận, là điều hành linh hoạt tỷ giá. Nổi bật, là việc nới biên độ tỷ giá đã phần nào
tạo ra không gian rộng lớn hơn để các doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài và người
dân lựa chọn cách thức tỷ giá cân bằng trên cơ sở cung cầu thị trường. Đến thời điểm
gần kết thúc năm 2022, tỷ giá USD trung tâm tăng không nhiều so với đầu năm, chỉ khoảng 2,4%.
Nhưng tỷ giá USD tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
đã tăng hơn 7%, và tỷ giá tại các ngân hàng thương mại đã tăng khoảng 9%. Sự chênh
lệch mặt bằng tỷ giá hiện tại so với đầu năm theo đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến các 16
doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh liên quan đến ngoại tệ. Tuy nhiên, động thái
này cũng nằm trong diễn biến chung của các đồng tiền trên thế giới so với USD và
thực tế đồng VND đang mất giá ít hơn. “Sự linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam trong việc áp dụng chính sách tiền tệ và ngoại hối đã làm chậm quá trình giảm giá của VND.
Từ đầu năm đến nay, VND vẫn là đồng tiền có hiệu suất cao nhất so với các
đồng tiền khác trong khu vực. Điều này đã góp phần làm giảm lạm phát nhập khẩu và
là một trong những yếu tố giúp lạm phát ở Việt Nam được kiểm soát tốt cho đến nay”,
Tổng Giám đốc Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam, Chủ tịch Nhóm Công tác
Ngân hàng (BWG - thuộc Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam VBF) - bà Michelle Wee
đã nhận định về công tác điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam như vậy.
Cùng với tỷ giá, chính sách lãi suất, tín dụng linh hoạt trong bối cảnh nhiều
thách thức cũng là kết quả đáng ghi nhận. Việc tăng lãi suất đã góp phần kiểm soát lạm
phát, ổn định nguồn vốn cho hệ thống ngân hàng và hỗ trợ ổn định tỷ giá.
Hỗ trợ phục hồi, tăng trưởng kinh tế
Năm 2022, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã kiểm soát chặt chẽ tín dụng cho
những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, yêu cầu các tổ chức tín dụng bảo đảm an toàn hoạt
động. Bảo đảm đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho người dân, doanh nghiệp, nhất là đối
với các lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ. Đáng chú ý, sau một thời gian dài
kiên định với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 14%, thời điểm khi chỉ còn ba tuần nữa sẽ
kết thúc năm 2022, khi nhận thấy tác động của tình hình thế giới đối với Việt Nam dịu
bớt, nhiều chỉ tiêu vĩ mô đã cho thấy những dấu hiệu rất tích cực,... Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam đã quyết định nới chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng thêm từ 1,5 - 2% cho
toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Điều này đã tạo dư địa khá lớn để các ngân hàng thương mại có khả năng mở
rộng tín dụng cho những doanh nghiệp, đối tượng, lĩnh vực cần thiết trong nền kinh tế.
Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng thường xuyên chỉ đạo hệ thống các tổ
chức tín dụng tích cực tham gia vào các chính sách phục hồi kinh tế của Chính phủ,
nhất là gói hỗ trợ lãi suất thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội,
chuyển đổi số ngành ngân hàng, tài trợ chống biến đổi khí hậu,...
2.1.2.3. Năm 2023
Điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong năm 2023, một
mặt tiếp tục hỗ trợ phục hồi, tăng trưởng kinh tế, nhưng mặt khác không chủ quan với
lạm phát trong bối cảnh áp lực lạm phát toàn cầu, mức lãi suất của Cục Dữ trữ Liên
bang Hoa Kỳ (Fed) còn tiếp tục neo cao và kéo dài đến hết năm 2023. Vì vậy, độ trễ 17
của tác động lạm phát nhập khẩu đối với Việt Nam còn lớn, nên điều hành chính sách
tiền tệ không thể chủ quan với các rủi ro này.
Để đảm bảo sự ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế thì tín
dụng, lãi suất, tỷ giá, các giải pháp, công cụ chính sách tiền tệ khác sẽ được Ngân hàng
Nhà nước điều hành rất đồng bộ, linh hoạt nhưng không xa rời mục tiêu kiểm soát lạm
phát, trên tinh thần thấm nhuần quan điểm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.
Mục tiêu quan trọng nhất của điều hành chính sách tiền tệ năm 2023 là ổn định
kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, còn cách thức, công cụ điều hành thì rất linh hoạt,
tùy từng thời điểm thị trường để tùy cơ ứng biến. Điều hành chính sách tiền tệ của
Ngân hàng Nhà nước trong năm 2023, một mặt tiếp tục hỗ trợ phục hồi, tăng trưởng
kinh tế, nhưng mặt khác không chủ quan với lạm phát trong bối cảnh áp lực lạm phát
toàn cầu, mức lãi suất của Cục Dữ trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed) còn tiếp tục neo cao và
kéo dài đến hết năm 2023. Vì vậy, độ trễ của tác động lạm phát nhập khẩu đối với Việt
Nam còn lớn, nên điều hành chính sách tiền tệ không thể chủ quan với các rủi ro này.
2.2. Đánh giá tác động của sự thay đổi cung tiền đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
2.2.1 Tác động đến tốc độ tăng trưởng GDP
Dựa vào biểu đồ cung tiền ta có thể thấy :
Năm 2021: Chính phủ và NHNN đã áp dụng biện pháp nới lỏng tiền tệ để hỗ
trợ nền kinh tế trong bối cảnh các hoạt động kinh doanh ngừng trệ. Bao gồm việc giảm
lãi suất và tăng cung tiền. Q1-Q2/2021: Cung tiền tăng mạnh để hỗ trợ doanh nghiệp
và người dân bị ảnh hưởng bởi COVID-19. Tuy nhiên, GDP vẫn tăng trưởng chậm do
các biện pháp phong tỏa nghiêm ngặt cụ thể GDP tăng 4,48%. Tuy nhiên, tăng trưởng
vẫn còn thấp so với tiềm năng do ảnh hưởng của dịch bệnh kéo dài. Đặc biệt là trong
quý III/2021 nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề do các biện pháp giãn cách xã hội, tăng
trưởng GDP của Việt Nam chỉ đạt 2,58%, thấp nhất trong nhiều năm. Q4/2021: Sau
khi tình hình dịch bệnh dần được kiểm soát và các biện pháp phong tỏa được nới lỏng,
nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi. Cung tiền tiếp tục được duy trì ở mức cao, hỗ trợ
phục hồi sản xuất và tiêu dùng. GDP tăng trưởng 5,22% trong quý này, cho thấy hiệu
quả của các chính sách nới lỏng tiền tệ và hỗ trợ tài khóa trong giai đoạn hậu đại dịch.
Năm 2021 là một năm đầy khó khăn, trong đó việc mở rộng cung tiền đã giúp tránh
được một cuộc suy thoái sâu hơn. Tuy nhiên, tác động của cung tiền không đủ mạnh
để giúp nền kinh tế tăng trưởng bền vững khi các yếu tố khác như giãn cách xã hội và
chuỗi cung ứng bị đứt gãy là các rào cản lớn.
Năm 2022: Mặc dù mức tăng trưởng cung tiền năm 2022 thấp hơn so với những
năm trước đó, nó vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thanh khoản cho các
doanh nghiệp và người dân sau giai đoạn ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19. Nhờ vào 18
sự nới lỏng và điều tiết hợp lý chính sách tiền tệ, GDP của Việt Nam tăng trưởng
mạnh mẽ. Ở Q1/2022: GDP tăng 5,05%. Cung tiền được duy trì ở mức cao nhằm hỗ
trợ các hoạt động sản xuất và tiêu dùng trong nước. Nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu
khôi phục sản xuất sau giai đoạn phong tỏa, và nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng đều
đặn. Q2/2022: Tăng trưởng GDP đạt mức cao 7,83%, nhờ sự phục hồi mạnh mẽ của
nhiều ngành kinh tế như sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Sự mở rộng
cung tiền giúp giảm lãi suất, thúc đẩy đầu tư và tiêu dùng. Đặc biệt tới Q3/2022 GDP
tăng trưởng đột phá, đạt 13,67%, mức cao nhất trong nhiều năm qua. Nhưng tới
Q4/2022 Tốc độ tăng trưởng GDP chậm lại, đạt 5,92%, do nền kinh tế đã dần ổn định
hơn sau các đợt phục hồi mạnh mẽ trước đó. Tóm lại, năm 2022 là giai đoạn phục hồi
kinh tế mạnh mẽ, và cung tiền đã đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tăng
trưởng. Tuy nhiên, việc mở rộng cung tiền kết hợp với các chính sách tài khóa, đặc
biệt là đầu tư công, mới là yếu tố chính giúp đạt được mức tăng trưởng ấn tượng trong năm này.
Năm 2023: Trong năm 2023, mức cung tiền của Việt Nam đã có những biến
động đáng kể và tác động trực tiếp đến tăng trưởng GDP của nền kinh tế. Theo thống
kê, GDP của 4 quý nhìn chung có sự tăng trưởng nhẹ lần lượt là 3,32%, 4,14% ,5,33%
và 6%. Tổng GDP của Việt Nam đã tăng 5,05% trong năm 2023, thấp hơn so với mục
tiêu đề ra là 6,5% nhưng vẫn cao hơn nhiều so với nhiều nước trong khu vực và trên
thế giới. Mặc dù mức tăng GDP không đạt mục tiêu kỳ vọng, nhưng nhiều lĩnh vực
như nông nghiệp, thương mại và dịch vụ vẫn duy trì được mức tăng trưởng ổn định,
nhờ vào sự hỗ trợ từ chính sách tiền tệ. Ngành nông nghiệp đã có mức tăng trưởng
3,83%, trong khi khu vực dịch vụ tăng trưởng 6,82%. Tuy nhiên, ngành công nghiệp
vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức, khiến mức tăng trưởng chỉ đạt 3,74%. Nhìn
chung, sự điều chỉnh cung tiền trong năm 2023 đã có tác động tích cực đến các lĩnh
vực trong nền kinh tế, góp phần vào sự phục hồi và phát triển. Tuy nhiên, việc duy trì
tăng trưởng bền vững trong thời gian tới sẽ cần tiếp tục điều chỉnh chính sách tiền tệ
một cách linh hoạt và hiệu quả hơn.
2.2.2. Tác động đến lạm phát
Năm 2021: Mức cung tiền M2 của Việt Nam tăng khoảng 10.7%, sự gia tăng
này có tác động đáng kể đến lạm phát trong bối cảnh nền kinh tế đối phó với đại dịch
Covid-19. Mặc dù cung tiền tăng, lạm phát trong năm 2021 được kiểm soát ở mức
tương đối thấp, với chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chỉ tăng khoảng 1.84%, thấp hơn nhiều
so với các năm trước và mục tiêu của chính phủ là dưới 4%. Sự ổn định của lạm phát
trong năm 2021 có thể được lý giải bởi nhiều yếu tố: 19
Chi tiêu tiêu dùng thấp: Đại dịch đã làm giảm chi tiêu của hộ gia đình và doanh
nghiệp, từ đó kéo theo sức cầu yếu .
Cung cầu hàng hóa: Việc kiểm soát tốt nguồn cung hàng hóa và thực phẩm đã
góp phần giữ giá cả ổn định .
Chính sách tiền tệ linh hoạt: NHNN đã có các biện pháp kịp thời để duy trì sự
ổn định của thị trường tài chính, giúp tránh những cú sốc từ tăng trưởng cung tiền .
Năm 2022: Lạm phát bắt đầu tăng lên do ảnh hưởng của sự phục hồi kinh tế và
những cú sốc từ chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt là giá năng lượng và lương thực
tăng cao. Việc cung tiền tăng có thể làm tăng chi phí sản xuất, dẫn đến việc các doanh
nghiệp phải điều chỉnh giá bán sản phẩm. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã
áp dụng các biện pháp điều chỉnh lãi suất và kiểm soát tín dụng để giảm thiểu tác động
tiêu cực từ mức cung tiền tăng. Việc điều tiết này giúp duy trì mức lạm phát ở mức
3.15%, thấp hơn so với mục tiêu mà Chính phủ đề ra là dưới 4% nhưng vẫn gây lo ngại cho nền kinh tế.
Năm 2023: Trước sức ép lớn của lạm phát và giá cả hàng hóa toàn cầu tăng
cao, cung tiền tăng, NHNN đã sử dụng các công cụ như điều chỉnh lãi suất để kiểm
soát lạm phát, Viê •t Nam đã đạt được kết quả tích cực trong kiểm soát lạm phát. . Tính
chung cả năm, lạm phát bình quân tăng 3,25% so với năm 2022, dưới ngưỡng mục tiêu
mà Quốc hội đặt ra và là năm thứ 9 liên tiếp Việt Nam kiểm soát lạm phát thành công
dưới ngưỡng 4%, góp phần đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn
của nền kinh tế. Tuy nhiên, NHNN vẫn thận trọng trong việc điều chỉnh cung tiền để
tránh gây áp lực lạm phát trong bối cảnh nền kinh tế đang phải đối mặt với các thách thức từ bên ngoài.
2.2.3 Tác động đến thị trường tiền tệ lãi suất
Tiền tệ: Khi giá cả tăng, doanh nghiệp cần tăng sản xuất để đáp ứng nhu cầu
của thị trường. Để làm điều này, họ phải tăng chi phí và lương cho công nhân. Điều
này thúc đẩy doanh nghiệp tìm cách vay tiền để đối phó với chi phí tăng. Tăng cung
cấp tiền như vậy có thể làm gia tăng lượng tiền trong nền kinh tế.
Biến động giá có thể ảnh hưởng đến tâm lý của người tiêu dùng. Khi giá cả
tăng, người tiêu dùng có thể tăng cường mua sắm và tiêu tiền nhiều hơn để tránh sự
gia tăng tiếp theo của giá. Điều này cũng có thể gây tăng cung tiền thông qua việc mở thêm các khoản vay.
Năm 2021: Tổng phương tiện thanh toán (M2) tăng khoảng 14% so với năm
trước, đạt khoảng 12 triệu tỷ đồng. 20