



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING
----------------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN KINH TẾ VĨ MÔ
Đề tài: Dựa trên các lý thuyết về ngân sách nhà nước và
thâm hụt ngân sách, hãy phân tích về tình hình thâm hụt
ngân sách và chi tiêu cho đầu tư công của Việt Nam trong
3 năm gần đây. Đánh giá tác động của thâm hụt ngân sách
và đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Nhóm: 9
Lớp học phần: 2307MAEC0111
Người hướng dẫn: Vũ Thị Thanh Huyền Hà Nội – 2023 1 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................4
1. Lý do chọn đề tài..............................................................................................4
2. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................4
3. Phạm vi nghiên cứu..........................................................................................4
4. Mục đích nghiên cứu........................................................................................4
5. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................4
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VẤN ĐỀ THẢO LUẬN...........................................5
1. Ngân sách nhà nước.......................................................................................5
1.1. Khái niệm ngân sách nhà nước..............................................................5
1.2. Nội dung ngân sách nhà nước...................................................................5
1.3. Trạng thái ngân sách nhà nước................................................................5
2. Thâm hụt ngân sách nhà nước......................................................................5
2.1. Khái niệm thâm hụt ngân sách nhà nước..............................................5
2.2. Phân loại thâm hụt ngân sách nhà nước...............................................5
2.3. Tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế................6
2.4. Các biện pháp giảm thâm hụt ngân sách...............................................6
3. Chi tiêu cho đầu tư công................................................................................7
3.1. Khái niệm đầu tư công............................................................................7
3.2. Các khoản mục đầu tư công...................................................................7
3.3. Vai trò của đầu tư công...........................................................................8
II. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ CHI TIÊU
CHO ĐẦU TƯ CÔNG CỦA VIỆT NAM TRONG 3 NĂM GẦN ĐÂY (2020-
2022)..........................................................................................................................9
1. Tình hình thâm hụt ngân sách nhà nước trong 3 năm gần đây...................9
1.1. Tình hình thu chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2020-2022..................9
1.2. Tình hình thâm hụt ngân sách nhà nước giai đoạn 2020-2022............11
1.3. Các biện pháp giảm thâm hụt ngân sách...............................................12
2. Tình hình chi tiêu cho đầu tư công của Việt Nam trong 3 năm gần đây. .13
2.1. Tình hình đầu tư công trong 3 năm gần đây.........................................13
2.2. Những thách thức của đầu tư công và giải pháp......................................15 2
III. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ ĐẦU TƯ
CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM.....................................17
1. Tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế....................17
1.1. Tác động tích cực.....................................................................................17
1.2. Tác động tiêu cực.....................................................................................17
2. Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế..................................18
2.1. Tác động đến tổng cầu và tổng cung......................................................18
2.2. Tác động đến cơ cấu nền kinh tế............................................................18
2.3. Tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế.......................................19
IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TÀI
KHÓA VÀ ĐẦU TƯ CÔNG ĐỂ THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
TRONG GIAI ĐOẠN TIẾP THEO.....................................................................20
LỜI KẾT LUẬN....................................................................................................21
LỜI CẢM ƠN........................................................................................................22
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................23 3 LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo lý thuyết kinh tế học, tăng trưởng, lạm phát, cán cân thanh toán, thất
nghiệp là những yếu tố kinh tế vĩ mô đáng quan tâm, ảnh hưởng tới cân đối vĩ mô
của nền kinh tế, trong đó thâm hụt ngân sách là một trong những yếu tố được quan
tâm hàng đầu trong hoạt động thu chi ngân sách của bất kì một quốc gia. Bởi cân
bằng ngân sách là để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
Sau đại dịch Covid-19, chiến tranh giữa Nga –Ukraine,… những bất ổn về kinh
tế – chính trị trên thế giới đang diễn tiến ngày càng phức tạp đã tác động trực tiếp
đến tình hình thu ngân sách của nhiều quốc gia. Đó chính là những vấn đề như
thâm hụt ngân sách, nợ công. Vấn đề này đang diễn ra ở nhiều quốc gia trên thế
giới và trở thành những mối lo ngại lớn của nền kinh tế các nước. Từ những vấn đề
thực tiễn đó nhóm em xin tìm hiểu về đề tài: “Dựa trên các lý thuyết về ngân sách
và thâm hụt ngân sách, hãy phân tích về tình hình thâm hụt ngân sách và chi tiêu
cho đầu tư công của Việt Nam trong 3 năm gần đây. Đánh giá tác động của thâm
hụt ngân sách và đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam”.
2. Đối tượng nghiên cứu
- Tình hình thâm hụt ngân sách và chi tiêu cho đầu tư công của Việt Nam trong 3 năm gần đây.
- Tác động của thâm hụt ngân sách và đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. 3. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian
Trên phạm vi cả nước Việt Nam.
Trên lĩnh vực kinh tế. - Phạm vi thời gian 3 năm từ năm 2020-2022
4. Mục đích nghiên cứu
- Phân tích thực trạng, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế đó của thâm hụt
ngân sách và chi tiêu cho đầu tư công tại Việt Nam.
- Giải pháp để giải quyết, khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách và đầu tư công của Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp thu thập thông tin, phân tích và đánh giá.
- Sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu. 4
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VẤN ĐỀ THẢO LUẬN 1. Ngân sách nhà nước
1.1.Khái niệm ngân sách nhà nước
Khoản 14 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước 2015 quy định cụ thể về ngân sách
nhà nước như sau: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà
nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
1.2. Nội dung ngân sách nhà nước
Khoản 1 Điều 6 Luật Ngân sách nhà nước 2015 nêu rõ, ngân sách nhà nước
bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, trong đó:
- Ngân sách trung ương: là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp
trung ương hưởng và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của
cấp trung ương (theo quy định tại khoản 15 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước 2015).
- Ngân sách địa phương: là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp
địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương
và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương (theo
quy định tại khoản 13 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước 2015).
1.3. Trạng thái ngân sách nhà nước
Gọi 𝐵 là hiệu số giữa thu và chi ngân sách, ta có: B = T – G B = y.T – G
- Khi 𝐵 = 0 hay 𝑇 = 𝐺, ta có ngân sách cân bằng;
- Khi 𝐵 > 0 hay 𝑇 > 𝐺, ta có thặng dư ngân sách;
- Khi 𝐵 < 0 hay 𝑇 < 𝐺, ta có thâm hụt ngân sách.
2. Thâm hụt ngân sách nhà nước
2.1.Khái niệm thâm hụt ngân sách nhà nước
Thâm hụt ngân sách trong kinh tế học vĩ mô và kinh tế học công cộng là tình
trạng các khoản chi của ngân sách nhà nước (ngân sách chính phủ) lớn hơn các
khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách.
2.2.Phân loại thâm hụt ngân sách nhà nước
Các lý thuyết tài chính hiện đại cho rằng, ngân sách nhà nước không nhất thiết
phải cân bằng theo tháng, theo năm. Vấn đề là phải quản lý các nguồn thu và chi
sao cho ngân sách không thâm hụt quá lớn và kéo dài. Tuy vậy, trong nhiều nước
đặc biệt là các nước đang phát triển, các chính phủ vẫn theo đuổi một chính sách
tài khóa thận trọng, trong đó chi ngân sách phải nằm trong khuôn khổ các nguồn
thu ngân sách. Có ba loại thâm hụt ngân sách:
- Thứ nhất là thâm hụt ngân sách thực tế: Là thâm hụt khi số chi thực tế vượt số
thu thực tế trong một thời kỳ nhất định.
- Thứ hai là thâm hụt ngân sách cơ cấu: Là thâm hụt tính toán trong trường hợp
nền kinh tế hoạt động ở mức sản lượng tiềm năng. 5
- Thứ ba là thâm hụt ngân sách chu kỳ: Là thâm hụt ngân sách bị động do tình
trạng của chu kỳ kinh doanh, bằng hiệu số của thâm hụt thực tế và thâm hụt cơ cấu.
Trong ba loại thâm hụt trên, thâm hụt cơ cấu phản ánh kết quả của hoạt động chủ
quan của chính sách tài khóa như: định ra thuế suất, phúc lợi, bảo hiểm... Vì vậy,
để đánh giá kết quả của chính sách tài khóa, người ta sử dụng thâm hụt này.
2.3.Tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế
Khi Chính phủ lựa chọn mục tiêu giữ cho nền kinh tế luôn đạt mức sản lượng
tiềm năng và đảm bảo ngân sách luôn cân bằng, Chính phủ sẽ áp dụng các chính
sách tài khóa khác nhau. Có hai loại chính sách tài khóa là cùng chiều và ngược
chiều. Khi nền kinh tế suy thoái, việc sử dụng chính sách tài khóa cùng chiều với
mục tiêu giữ cho ngân sách cân bằng sẽ làm cho sản lượng cân bằng giảm đi và
nền kinh tế đang vận hành ở mức sản lượng thấp dưới mức sản lượng tiềm năng có
thể bị suy thoái trầm trọng hơn. Ngược lại, việc sử dụng chính sách tài khóa ngược
chiều giúp giữ cho nền kinh tế ở mức sản lượng tiềm năng, tăng sản lượng và giữ
nguồn việc làm, tuy nhiên, ngân sách có thể bị thâm hụt cơ cấu.
2.4.Các biện pháp giảm thâm hụt ngân sách
Khi thâm hụt quá lớn và kéo dài, các Chính phủ đều phải nghĩ đến các biện
pháp hạn chế thâm hụt. Biện pháp cơ bản thường là “tăng thu và giảm chi”. Tăng
thu ở đây bao gồm việc tăng thuế và tăng thu các loại phí, lệ phí; còn giảm chi là
việc giảm chi tiêu của Chính phủ cho đầu tư xây dựng cơ bản, phí sản xuất vật
chất, chi viện trợ, chi trả nợ và chi an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, việc tăng thu,
giảm chi có thể ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế.
Như vậy, nếu Chính phủ tăng chi tiêu (G) và tăng thuế (T) một lượng như nhau
thì ngân sách không đổi và sản lượng cân bằng sẽ tăng một lượng tương ứng bằng
đúng lượng tăng chi tiêu hay tăng thuế: ∆𝑌 = ∆𝐺 = ∆𝑇.
Khi các biện pháp tăng thu và giảm chi không giải quyết được vấn đề thâm hụt
ngân sách, Chính phủ phải sử dụng các biện pháp tài trợ khác.
- Vay trong nước (Vay dân): Vay trong nước là Chính phủ vay chính người dân
nước đó. Chính phủ vay dân chúng thông qua việc phát hành trái phiếu Chính phủ
trong nước. Các khoản vay trong nước thường không gây ra lạm phát trong ngắn
hạn, không làm giảm dự trữ ngoại tệ của quốc gia và tránh được nguy cơ phụ thuộc
vào nước ngoài. Thế nhưng việc làm này lại có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới khả
năng tiếp cận vốn của khu vực kinh tế tư nhân và gây ra tác động làm tăng lãi suất.
- Vay nước ngoài: Vay nước ngoài là việc nhận viện trợ hoặc vay từ các Chính phủ
nước ngoài, các tổ chức tài chính phát triển quốc tế như: Ngân hàng Thế giới
(WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IFM)... Vay nước
ngoài giúp giảm sức ép lạm phát đối với nền kinh tế và tạo nguồn vốn giúp phát
triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, nếu khoản vay này lớn thì Chính phủ nước sở tại
phải có thặng dư thương mại để trả, tức là trả lãi và gốc trên khoản vay từ trước.
Gánh nặng trả các khoản vay nước ngoài này cũng làm giảm tiêu dùng của một
quốc gia. Thêm nữa, nó dễ khiến các quốc gia đi vay bị phụ thuộc vào nước ngoài
về cả kinh tế, chính trị, quân sự…
- Sử dụng quỹ dự trữ ngoại tệ quốc gia: Việc sử dụng dự trữ ngoại tệ có thể giúp
đạt được mục tiêu bù đắp cho thâm hụt ngân sách mà không gây ra gánh nặng nợ 6
nần. Tuy nhiên nó lại có thể ảnh hưởng xấu tới tỷ giá hối đoái, giảm sức cạnh tranh
của hàng hoá trong xuất khẩu và có thể gây tác động tiêu cực tới sự dịch chuyển của dòng vốn đầu tư.
- Phát hành tiền: Là việc Ngân hàng Trung ương gia tăng in thêm tiền để bù đắp
thâm hụt. Việc này có thể giúp đáp ứng nhanh chóng nhu cầu bù đắp thâm hụt,
không gây ra áp lực trả nợ. Nhưng việc in thêm tiền đưa vào lưu thông trong khi
sản lượng nền kinh tế không gia tăng sẽ khiến cho giá cả tăng cao, lạm phát xảy ra.
Điều này làm đời sống người dân gặp nhiều khó khăn, các vấn đề không chỉ kinh
tế mà xã hội, chính trị của quốc gia đó có thể sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Chính
vì vậy, các Chính phủ thường sẽ phải hạn chế tối đa việc sử dụng công cụ này.
Tóm lại, mọi biện pháp đều có thể gây nên những ảnh hưởng không tốt đến nền
kinh tế. Nghệ thuật quản lý vĩ mô là phải làm sao hạn chế và trung hòa các ảnh
hưởng này, làm cho chúng không gây nên những tác động xấu đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
3. Chi tiêu cho đầu tư công
3.1.Khái niệm đầu tư công
Khái niệm đầu tư công được quy định tại khoản 15 Điều 4 Luật đầu tư công
năm 2019: “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình,
dự án và đối tượng đầu tư công khác theo quy định của Luật này”.
Như vậy, đầu tư công là một hoạt động đầu tư của Nhà nước, sử dụng nguồn
vốn chủ yếu từ ngân sách nhà nước để thực hiện thiết kế, xây dựng các dự án kết
cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.
3.2.Các khoản mục đầu tư công
3.2.1. Đối tượng và dự án đầu tư công
Đầu tư công áp dụng với các cơ quan, đơn vị, cá nhân, tổ chức tham gia hoặc
liên quan đến các hoạt động đầu tư công, quản lý, sử dụng vốn đầu tư công. Luật
Đầu tư công 2019 đã bổ sung thêm đối tượng cụ thể của đầu tư công gồm có:
- Đầu tư vào các chương trình, dự án kết cấu cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội.
- Đầu tư, phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị – xã hội.
- Đầu tư, hỗ trợ các hoạt động cung cấp dịch vụ, sản phẩm, công ích, phúc lợi xã hội.
- Đầu tư, tham gia thực hiện các dự án theo phương án đối tác công tư.
- Đầu tư lập, thẩm định, quyết định, phê duyệt, công bố, điều chỉnh các quy hoạch
theo quy định pháp luật về việc quy hoạch.
- Cấp bù lãi suất tín dụng ưu đãi, vốn điều lệ cho ngân hàng chính sách, phí quản
lý; quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách.
Dự án đầu tư công gồm có:
- Các dự án và chương trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước.
- Các dự án sử dụng vốn Hỗ trợ Phát triển Chính thức (ODA).
- Các dự án sử dụng nguồn vốn vay ( có bảo lãnh của Chính phủ).
- Các dự án sử dụng vốn nhà nước không phải là mục đích kinh doanh.
- Các dự án sử dụng vốn nhà nước nhằm mục đích kinh doanh. 7
- Các dự án công trình xây dựng.
- Các dự án không có công trình xây dựng (như mua sắm công).
- Các dự án có nguồn vốn đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP).
3.2.2. Các loại đầu tư công hiện nay
Tùy thuộc các tiêu chí khác nhau hiện nay có các loại đầu tư công như sau:
- Dựa theo tiêu chí nguồn vốn: Đầu tư công gồm có các hoạt động đầu tư, hỗ trợ
đầu tư có sử dụng vốn nhà nước vào những công trình, dự án để phát triển kinh tế
xã hội. Vốn nhà nước trong đầu tư công gồm có vốn ngân sách nhà nước chi cho
đầu tư theo quy định của Luật ngân sách nhà nước; vốn huy động được từ trái
phiếu Chính phủ, chính quyền địa phương, công trái của quốc gia; vốn tín dụng
đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn tín dụng được Nhà nước bảo lãnh và vốn đầu
tư doanh nghiệp nhà nước. Theo tiêu chí này đầu tư công được chia thành thành 05 loại:
+ Đầu tư công sử dụng vốn ngân sách nhà nước (gồm có cả vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước)
+ Đầu tư công sử dụng vốn từ nguồn gốc ngân sách
+ Đầu tư công sử dụng nguồn vốn Hỗ trợ Phát triển Chính thức (ODA)
+ Đầu tư công sử dụng nguồn vốn vay có sự bảo lãnh của Chính phủ và chính quyền địa phương.
+ Đầu tư công sử dụng vốn hỗn hợp
- Dựa theo tính chất của dự án đầu tư công được chia thành 02 loại:
+ Đầu tư công theo dự án có xây dựng công trình
+ Đầu tư công theo dự án không có xây dựng công trình.
- Dựa theo mục tiêu và phạm vi đầu tư đầu tư công được chia thành 02 loại:
+ Đầu tư công vào những hoạt động không có khả năng hoàn vốn. Đây là loại
hình đầu tư vì mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, hình thành cơ sở hạ tầng kinh tế
– xã hội nhằm hỗ trợ, phát triển, kích thích thu hút những nguồn vốn khác.
+ Đầu tư vì mục tiêu lợi nhuận như: đầu tư các dự án và thành lập doanh nghiệp
Nhà nước thực hiện dự án đầu tư công; đầu tư vào các chương trình, dự án với mục
đích kinh doanh; đầu tư qua các tổ chức kinh tế do Nhà nước lập ra.
3.3.Vai trò của đầu tư công
Từ lâu, người ta đã mặc định rằng thúc đẩy đầu tư công chính là động lực vô
cùng to lớn để phát triển kinh tế, chính trị, xã hội tại Việt Nam, giúp cho nền kinh
tế có được sự tăng trưởng tốt bảo đảm cuộc sống của người dân và cộng đồng sinh
sống tại Việt Nam. Qua các khảo sát cũng như nghiên cứu qua lý thuyết và thực tế
từ năm 1995 cho đến nay đã khẳng định rằng đầu tư công có vai trò đặc biệt quan
trọng đến sự phát triển của Việt Nam.
Đầu tư được coi là động lực chính thức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bản
chất của mối quan hệ này đã được nghiên cứu trong nhiều nghiên cứu mang tính lý
thuyết và thực nghiệm. Nhiều nghiên cứu ngoài nước phân biệt giữa đầu tư tư nhân
và đầu tư công, theo đó đầu tư công thường được cho là đầu tư cho kết cấu hạ tầng.
Việc phân biệt như vậy rất có ý nghĩa vì đầu tư cho kết cấu hạ tầng có những điểm
khác biệt với nguồn vốn được sử dụng trong các doanh nghiệp. Kết cấu hạ tầng là
vốn tồn tại bên ngoài doanh nghiệp và hỗ trợ hoạt động kinh tế của các doanh 8
nghiệp cũng như các hoạt động của các cá nhân. Do vậy, nhiều doanh nghiệp và cá
nhân trong một khu vực có hưởng lợi từ kết cấu hạ tầng đó mà không mất thêm chi
phí hoặc ít nhất với chi phí thấp hơn nếu kết cấu hạ tầng đó phải được cung cấp
cho người sử dụng thêm đó, nên kết cấu hạ tầng có thể coi như cung cấp những lợi
ích ngoại lai cho những người sử dụng đó.
Tại Việt Nam, Luật Đầu tư công được ban hành vào năm 2014, trong đó có
định nghĩa đầu tư công không bao gồm nguồn vốn của các doanh nghiệp thuộc sở
hữu nhà nước, đầu tư công chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng đầu tư và đóng vai
trò quan trọng, quyết định tốc độ tăng trưởng của đầu tư nói chung. Trong giai
đoạn 1995-2013, đầu tư công chiếm 40% tổng đầu tư, cao gấp đôi tỷ trọng FDI và
đầu tư tư nhân. Sau khi giảm nhẹ trong năm 2010, năm 2011 tỷ trọng đầu tư công
đã phục hồi đạt mức cao của năm 2009 (40,4% tổng vốn đầu tư). Tốc độ tăng
trưởng 7,5% trong năm 2013 cũng tương quan mạnh mẽ với mức tăng trưởng đầu
tư 7,3% của năm đó. Bất chấp sự tăng trưởng nhanh chóng này, cơ cấu đầu tư công
vẫn được coi là có vấn đề ở chỗ là nó quá tập trung vào doanh nghiệp nhà nước.
Do vậy, có hiện tượng chèn ép đầu tư tư nhân và ít thu hút được các loại hình đầu tư khác.
II. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THÂM HỤT NGÂN SÁCH
VÀ CHI TIÊU CHO ĐẦU TƯ CÔNG CỦA VIỆT NAM
TRONG 3 NĂM GẦN ĐÂY (2020-2022)
1. Tình hình thâm hụt ngân sách nhà nước trong 3 năm gần đây
1.1. Tình hình thu chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2020-2022 Năm 2020
Dự toán ngân sách nhà nước năm 2020 được Quốc hội quyết định với tổng số
thu là 1.512.300 tỷ đồng, tổng số chi là 1.747.100 tỷ đồng; bội chi ngân sách nhà
nước là 234.800 tỷ đồng, tương đương 3,44% GDP, trong đó bội chi ngân sách
trung ương là 217.800 tỷ đồng, bội chi ngân sách địa phương là 17.000 tỷ đồng.
Quyết toán thu ngân sách nhà nước đạt 1.510.579 tỷ đồng, giảm 28.474 tỷ
đồng (-1,9%) so với dự toán, chủ yếu do giảm các khoản thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu.
Quyết toán chi ngân sách nhà nước là 1.709.524 tỷ đồng, giảm 64.242 tỷ đồng,
bằng 96,4% dự toán, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện chỉ ngân
sách bám sát mục tiêu, dự toán được giao; rà soát, cắt giảm mạnh các khoản chi
thường xuyên chưa thực sự cần thiết, chậm triển khai; tập trung nguồn lực cho chỉ
phòng, chống dịch Covid-19 và hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng của dịch bệnh.
Ngoài ra, một số nhiệm vụ chi NSNN năm 2020 đạt thấp so với dự toán hoặc
không thực hiện, phải hủy dự toán theo quy định. Theo đó, quyết toán chi NSNN thấp hơn so dự toán.
Nhìn chung, trong năm 2020, công tác điều hành chi ngân sách nhà nước được
thực hiện chủ động, đảm bảo chặt chẽ, bám sát dự toán được giao; kỷ luật tài chính
được tăng cường, hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước có tiến bộ. Các nhiệm vụ 9
chính trị quan trọng được đảm bảo, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của
đất nước và từng địa phương và có thêm nguồn lực xử lý kịp thời các nhiệm vụ
quan trọng, cấp bách phát sinh về đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội, khắc phục hậu
quả thiên tai, dịch bệnh, đảm bảo an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh. Năm 2021
Thu ngân sách nhà nước dự toán là 1.343,3 nghìn tỷ đồng, báo cáo Quốc hô ‡i
ước đạt 1.365,5 nghìn tỷ đồng, kết quả thực hiê ‡n đạt 1.568,4 nghìn tỷ đồng, vượt
225,1 nghìn tỷ đồng (16,8%) so dự toán, tăng 202,9 nghìn tỷ đồng so với báo cáo
Quốc hô ‡i. Tỷ lệ động viên thu ngân sách nhà nước đạt 18,7% GDP, riêng thu thuế và phí đạt 15,1% GDP.
Về chi ngân sách nhà nước, dự toán là 1.687 nghìn tỷ đồng; báo cáo Quốc hô ‡i
ước đạt 1.709,2 nghìn tỷ đồng. Trong năm, mặc dù nhu cầu chi cho công tác
phòng, chống dịch và hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 là rất lớn,
nhưng nhờ có các giải pháp chủ đô ‡ng, tích cực nên đã đáp ứng đầy đủ các nhu cầu
phát sinh tăng thêm mà không ảnh hưởng lớn đến các nhiệm vụ chi phát triển kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước.
Bộ Tài chính xác định mục tiêu, nhiệm vụ tài chính - ngân sách nhà nước năm
2022 là: Huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước để
phòng, chống, kiểm soát dịch Covid-19, tận dụng tốt các cơ hội thúc đẩy phục hồi
và phát triển kinh tế - xã hội; tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát
lạm phát, bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội; tiếp tục cơ cấu lại ngân
sách nhà nước, quản lý nợ công, bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung
ương, phát huy sự chủ động của các bộ, ngành, địa phương; đẩy mạnh cải cách
hành chính, hiện đại hóa gắn liền với sắp xếp lại tổ chức bộ máy, tinh giản biên
chế, đổi mới khu vực sự nghiệp công lập, siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính -
ngân sách, triệt để tiết kiệm chi ngân sách nhà nước. Năm 2022
Tổng thu ngân sách các tháng trong năm đều vượt tiến độ kế hoạch. Năm 2022,
mặc dù GDP chỉ tăng 8,02% nhưng thu ngân sách tăng 13,8% so với năm trước.
Chênh lệch lớn này có thể được giải thích bởi tăng giá và các khoản giãn thu hết
hạn vào năm 2022. Bên cạnh đó, việc tăng cường sử dụng hóa đơn điện tử, giao
dịch không dùng tiền mặt, tăng cường kiểm tra kiểm soát (từ thuế giá trị gia tăng
cho đến thuế thu nhập cá nhân), đã giúp tăng đáng kể nguồn thu ngân sách.
Về chi ngân sách, năm 2022 chính sách tài khóa tiếp tục được thắt chặt. Điều
này có tác dụng tích cực là giảm áp lực tăng phát hành tiền, góp phần ổn định vĩ
mô. Cả chi thường xuyên và chi đầu tư không đạt dự toán, nhưng nợ gốc và lãi trái
phiếu chính phủ đến hạn được đảm bảo thanh toán toàn bộ (164.701 tỷ đồng).
Năm 2022 đã thực hiện nhiều chương trình, cả ngắn hạn và dài hạn để hỗ trợ
và khuyến khích phục hồi kinh tế như giảm 2% thuế giá trị gia tăng, giảm thuế môi
trường đối với xăng dầu (ước thực hiện khoảng 30,7 nghìn tỷ đồng), giãn hoãn
thuế thu nhập đối với các doanh nghiệp gặp khó khăn…
Chênh lệch thu chi ngân sách trong nhiều tháng đều có kết dư, nhưng cả năm
ước bội chi ngân sách nhà nước 421.300 tỷ đồng, tương đương 4,5% GDP, nếu trừ 10
đi số tiền thực hiện Chương trình Phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội thì mức
bội chi còn khoảng 4,09% GDP.
Năm 2022, tổng thu ngân sách ước đạt 1.803,6 nghìn tỷ đồng, bằng 127,8% dự
toán, tăng 15% so với năm 2021 (ngân sách trung ương đạt 125,8% dự toán; ngân
sách địa phương đạt 129,9% dự toán).
1.2. Tình hình thâm hụt ngân sách nhà nước giai đoạn 2020-2022 Năm 2020
Ngân sách năm 2020 thâm hụt hơn 216.400 tỷ đồng : Tổng thu ngân sách sau
cân đối là gần 2,28 triệu tỷ đồng, gồm thu theo dự toán hơn 1,51 triệu tỷ đồng; còn
lại là các khoản chuyển nguồn, thu kết dư và khoản thu từ quỹ dự trữ tài chính.
Tổng chi cân đối ngân sách hơn 2,53 triệu tỷ đồng, trong đó chi theo dự toán là
hơn 1,7 triệu tỷ đồng, còn lại là khoản chi chuyển nguồn sang 2021.
Sau cân đối, mức bội chi ngân sách là hơn 216.405 tỷ đồng (gần 9,3 tỷ USD),
tương đương 3,44% GDP. Mức thâm hụt ngân sách này thấp hơn nhiều so với mức
Quốc hội cho phép điều chỉnh (368.300 tỷ đồng - khoảng 5,41% GDP). Năm 2021
Tổng cục Thống kê vừa công bố báo cáo về tình hình kinh tế – xã hội quý 4 và
năm 2021; trong đó, cập nhật thông tin về ước thu, chi ngân sách nhà nước trong trong năm 2021.
Cụ thể, lũy kế tổng thu ngân sách nhà nước ước tính cả năm 2021 đạt 1.523,4
nghìn tỷ đồng, vượt dự toán 13,4%, tương ứng 180,1 nghìn tỷ đồng. Hoạt động sản
xuất kinh doanh, xuất, nhập khẩu được phục hồi trong trạng thái “bình thường
mới” đã tác động tích cực làm thu ngân sách nhà nước vượt dự toán năm.
Thu nội địa bằng vượt dự toán 10,4%, tương đương 118 nghìn tỷ đồng. Thu từ
dầu thô vượt dự toán lên tới 97,4%, tương ứng 22,6 nghìn tỷ đồng. Thu cân đối từ
hoạt động xuất, nhập khẩu vượt 22,1% khoảng 39,5 nghìn tỷ đồng.
Về chi ngân sách, tổng chi ngân sách nhà nước năm 2021 ước tính đạt 1.839,2
nghìn tỷ đồng, bằng 109% dự toán năm. Trong đó, chi thường xuyên bằng 102,3%.
Chi đầu tư phát triển bằng 106,4% dự toán; chi trả nợ lãi bằng 96,2%.
Như vậy, ước tính ngân sách nhà nước năm 2021 bội chi khoảng 315,8 nghìn tỷ đồng. 11 Năm 2022
Bộ Tài chính cho biết tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2022 ước đạt 1.803,6
nghìn tỷ đồng, bằng 127,8% dự toán, tăng 15% so với năm 2021. Trong 9 tháng
đầu năm 2022, thu ngân sách nhà nước đạt 94% dự toán, ước cả năm vượt 14,3%
so với dự toán, tăng 2,9% so với ước thực hiện năm 2021.
Thu nội địa vượt 21,8% dự toán, tăng 9,9%; thu từ dầu thô vượt 176% dự toán,
tăng 74,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu vượt 43,9% dự
toán, tăng 32,7% so với cùng kỳ năm 2021.
Theo Bộ Tài chính, thu ngân sách nhà nước năm 2022 vượt dự toán chủ yếu do
hoạt động kinh tế tiếp tục duy trì đà phục hồi và tăng trưởng khả quan (GDP tăng
8,02%); tổng mức bán lẻ tăng 19,8%; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 7,8%,
xuất khẩu tăng 10,6%, nhập khẩu tăng 8,4%, xuất siêu 11,2 tỷ USD.
Bên cạnh đó, giá dầu và một số hàng hóa, nguyên liệu đầu vào tăng cao đã góp
phần tăng thu từ dầu thô và từ hoạt động xuất nhập khẩu.
1.3. Các biện pháp giảm thâm hụt ngân sách
Thứ nhất, nhà nước phát hành thêm tiền.
Phát hành thêm tiền để xử lý bội chi gân sách nhà nước: Giải pháp này đơn
giản dễ thực hiện nhưng sẽ gây ra lạm phát nếu Nhà nước phát hành thêm quá
nhiều tiền để bù đắp bội chi gân sách nhà nước, ảnh hưởng đến tiêu cực đến đời
sống kinh tế -xã hội - chính trị. 12
Thứ hai, vay nợ cả trong và ngoài nước.
Vay nợ trong nước và vay nợ nước ngoài: Việc vay nợ nước ngoài quá nhiều sẽ
kéo theo vấn đề phục thuộc nước ngoài cả về kinh tế lẫn chính trị và còn làm giảm
dự trữ ngoại hối khi trả nợ, làm cạn dự trữ quốc gia sẽ dẫn đến khủng hoảng tỷ giá.
Còn vay nợ trong nước sẽ làm tăng lãi suất và vòng nợ – trả lãi- bội chi sẽ làm tăng
mạnh các khoản nợ công chúng và kéo theo gánh nặng chi trả của ngân sách nhà
nước cho các thời kỳ sau.
Thứ ba, tăng các khoản thu.
Tăng các khoản thu: Việc tăng các khoản thu (đặc biệt là thuế) có thể bù đắp
thâm hụt ngân sách nhà nước và giảm bội chi ngân sách nhà nước.Tăng thu ngân
sách nhà nước bằng biện pháp tích cực khai thác mọi nguồn thu, thay đổi và áp
dụng các sắc thuế mới, nâng cao hiệu quả thu. Tuy nhiên, cần lưu ý khi tăng thu
vẫn phải chú ý khuyến khích các ngành, vùng trọng điểm để tạo lực đẩy cho nền
kinh tế và phải xác định cái gốc cơ bản là phải tăng thu ngân sách nhà nước bằng
chính sự tăng trưởng kinh tế.
Thuế là khoản thu mang tính chất cưỡng chế do nhà nước huy động từ các tổ
chức, cá nhân và tập trung vào quỹ ngân sách nhà nước. Thuế đánh vào hầu hết các
lĩnh vực: xây dựng, cải tạo, sửa chữa, khai thác, chế biến, xuất-nhập khẩu…Do vậy
thu từ thuế là khoản thu chiếm tỉ trọng chủ yếu trong ngân sách nhà nước. Việc
tăng các khoản thu đặc biệt là thuế sẽ góp phần bồi đắp sự thâm hụt và bội chi ngân sách nhà nước.
Thứ tư, triệt để tiết kiệm các khoản chi.
Tiết kiệm các khoản chi đầu tư công và chi thường xuyên từ ngân sách nhà
nước. Đây là một giải pháp tuy mang tính tình thế nhưng vô cùng quan trọng đối
với mỗi quốc gia khi xảy ra tình trạng bội chi ngân sách nhà nước và xuất hiện lạm
phát. Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là chỉ đầu tư vào những dự
án mang tính chủ đạo, hiệu quả để tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế –
xã hội, đặc biệt là những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm
trí không đầu tư. Mặt khác, bên cạnh việc tiết kiệm các khoản đầu tư công, những
khoản chi thường xuyên của các cơ quan nhà nước cũng cần phải cắt giảm nếu
những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết.
Thứ năm, tăng cường vai trò quản lý của cơ quan Nhà nước.
Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn định chính
sách vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế. Để thực
hiện vai trò của mình, nhà nước sử dụng một hệ thống chính sách và công cụ quản
lý vĩ mô để điều khiển, tác động và đời sống kinh tế – xã hội nhằm giải quyết các
mối quan hệ trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội, nhất là mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
2. Tình hình chi tiêu cho đầu tư công của Việt Nam trong 3 năm gần đây
2.1. Tình hình đầu tư công trong 3 năm gần đây Năm 2020 13
Tính từ đầu năm 2020 đến đầu tháng 12/2020, lũy kế giải ngân vốn đầu tư
công đạt hơn 356 nghìn tỷ đồng. Kết quả giải ngân này cao hơn 12,4% so với cùng
kỳ năm 2019 và cao nhất trong 5 năm (2016 - 2020).
Năm 2020, giải ngân đầu tư công không chỉ tăng về vốn, mà công tác đầu tư
cũng đã đi vào thực chất hơn. Các dự án đầu tư công bước đầu đã mang lại những
hiệu quả nhất định, tạo nên sức bật mới cho kinh tế địa phương, vùng và quốc gia,
trở thành một động lực để nền kinh tế chống đỡ với khó khăn, thách thức do Covid-19 gây ra.
Trong quý III và 9 tháng năm 2020, các Bộ, ngành và địa phương tập trung chỉ
đạo quyết liệt, nhanh chóng để tháo gỡ khó khăn, đặc biệt trong công tác giải
phóng mặt bằng để đẩy nhanh việc giải ngân vốn đầu tư công. Tuy nhiên, vốn đầu
tư công đến nay mới giải ngân được khoảng 60% so với kế hoạch năm 2020. Theo
tính toán của Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư công giải ngân tăng thêm 1% sẽ làm
GDP tăng thêm 0,06%. Trong những năm qua nền kinh tế thường giải ngân đạt
92% - 93% kế hoạch vốn đầu tư công, nếu năm nay giải ngân được 100% kế hoạch
sẽ làm tăng GDP thêm 0,42 điểm phần trăm. Do đó việc quyết liệt đẩy nhanh tiến
độ giải ngân vốn đầu tư công trong những tháng cuối năm sẽ tiếp tục đóng góp tích
cực cho tăng trưởng quý IV và cả năm 2020.
Công tác giải ngân vốn đầu tư công đã khắc phục được tình trạng đọng vốn,
tình trạng có tiền mà không tiêu được. Con số thống kê cho thấy, giải ngân vốn đầu
tư công đến ngày 31/12/2020 là 389.982,80 tỷ đồng, đạt 82,8% kế hoạch Thủ
tướng Chính phủ giao. Đối với số vốn kéo dài các năm trước sang năm 2020, thực
hiện giải ngân 11 tháng đầu năm 2020 đạt 63,8% kế hoạch; ước giải ngân 12 tháng
đầu năm 2020 đạt 75% kế hoạch. Năm 2021
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng kế hoạch vốn giao trong năm 2021 và kế
hoạch vốn năm trước kéo dài sang là 607.569.950 triệu đồng. Hết niên độ giải ngân
vốn ngân sách nhà nước năm 2021 (đến 31/1/2022), thanh toán vốn đầu tư công
năm 2021 là 466.521.674 triệu đồng, đạt tỷ lệ 76,78%. Trong đó, thanh toán vốn
trong nước là 446.966.234 triệu đồng, đạt tỷ lệ 80,68%; thanh toán vốn nước ngoài
là 19.555.440 triệu đồng, đạt tỷ lệ 36,53%.
Đối với vốn cân đối ngân sách địa phương, lũy kế thanh toán cả năm là
313.786.100 triệu đồng, đạt tỷ lệ 80,86%.
Vốn ngân sách trung ương, lũy kế thanh toán cả năm là 152.735.574 triệu
đồng, đạt tỷ lệ 69,85%.
Dự án do Bộ, cơ quan Trung ương quản lý, lũy kế thanh toán cả năm là
70.979.113 triệu đồng, đạt tỷ lệ 75,47%.
Dự án do địa phương quản lý, lũy kế thanh toán cả năm là 395.542.561 triệu
đồng, đạt tỷ lệ 77,02%. Năm 2022
Theo báo cáo từ Bộ Tài chính, ước thanh toán từ đầu năm đến 31/1/2023 là
539.276,51 tỷ đồng, đạt 80,63% kế hoạch, đạt 92,97% kế hoạch Thủ tướng Chính 14
phủ giao (cùng kỳ năm 2021 đạt 78,08% kế hoạch và đạt 95,11% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao).
Năm 2022, kế hoạch Chính phủ đặt ra là đạt mục tiêu giải ngân vốn đầu tư
công trên 95%, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công phải đi đôi với bảo đảm chất
lượng công trình và hiệu quả sử dụng vốn. Cố gắng quyết tâm cao nhất để hoàn
thành các mục tiêu giải ngân vốn đầu tư công đã đề ra; khắc phục những khó khăn,
vướng mắc trong thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công; phát huy dân chủ, sức
mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, thực hiện đồng bộ các giải pháp phù hợp
tình hình thực tế và yêu cầu công việc.
Tuy nhiên, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công tính đến tháng 11/2022 chỉ đạt
52,43% kế hoạch. Nếu so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, tỷ lệ giải ngân
đạt 58,33%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2021 (63,86%). Tỷ lệ giải ngân thấp làm
giảm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, gây lãng phí nguồn lực, ảnh hưởng đến
tăng trưởng kinh tế, tác động tiêu cực đến việc triển khai các chính sách tài khóa
tiền tệ, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế đang chịu tác động của đại dịch Covid-19.
2.2. Những thách thức của đầu tư công và giải pháp
2.2.1. Những thách thức của chi tiêu cho đầu tư công
Đầu tư công của Việt Nam những năm gần đây đã có những chuyển biến tích
cực song vẫn còn tồn tại nhiều thách thức. Với quy mô chi tiêu ngân sách cao và
liên tục tăng lên, Việt Nam phải đối mặt với tình trạng mất cân bằng ngân sách kéo
dài. Thống kê của Bộ Tài chính cho thấy, trong nhiều năm, Việt Nam luôn rơi vào
tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước. Cụ thể, thâm hụt ngân sách (không bao
gồm chi trả nợ gốc) trong giai đoạn 2004 - 2006 chỉ khoảng 1% GDP, nhưng trong
giai đoạn 3 năm qua, thâm hụt ngân sách đã tăng lên gần 3% GDP. Thâm hụt ngân 15
sách tổng thể (bao gồm cả chi trả nợ gốc) kể từ năm 2001 đến nay luôn tiệm cận
ngưỡng 5% GDP (năm 2015 lên đến 6,2% GDP).
Dù nợ công vẫn nằm trong ngưỡng cho phép, nhưng hiện vẫn phải đối mặt với
nhiều rủi ro lớn. Nếu bội chi ngân sách và mức bảo lãnh của Chính phủ tiếp tục
được duy trì như hiện nay thì tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam sẽ tăng vượt
trần cho phép (65% GDP) trong những năm tới, kể cả khi tăng trưởng GDP được
duy trì ở mức cao và chi phí huy động tương đối thuận lợi như hiện nay. Mặt khác,
dư địa ngân sách đang ngày càng mỏng, khiến cho nợ công có thể trở nên mất bền
vững khi có những cú sốc. Nghĩa vụ nợ dự phòng và quan trọng hơn là nghĩa vụ nợ
dự phòng tiềm ẩn nếu hiện thực hóa có thể làm cho Việt Nam càng thêm dễ tổn
thương với lộ trình nợ như hiện nay, ngay cả khi cân đối ngân sách cơ bản của Việt
Nam vẫn được quản lý cẩn trọng.
Thách thức của việc thay đổi hiệu suất chi thường xuyên trong tổng chi ngân
sách nhà nước. Mặc dù quỹ lương cũng như tổng biên chế nhà nước của Việt Nam
chưa quá cao so với bình quân của các nước có thu nhập trung bình trên thế giới,
nhưng nếu vẫn tiếp diễn tốc độ tăng như trên sẽ gây áp lực về tài chính công. Cụ
thể, tăng biên chế sẽ để lại hệ quả lâu dài và khó có thể đảo ngược sau khi tuyển
dụng. Với xu hướng như hiện nay, chi lương của Việt Nam có thể vượt mức bình
quân của các quốc gia có thu nhập trung bình trong thời gian ngắn. Trong khi đó,
vấn đề cải thiện hiệu quả hoạt động của người lao động trong khu vực nhà nước
chưa được quan tâm đầy đủ.
Mặc dù phân cấp chi ngân sách nhà nước rất mạnh nhưng hiệu quả của phân
cấp, nhất là với cung cấp hạ tầng dịch vụ công địa phương lại chưa thực sự rõ ràng.
Tình trạng đầu tư công tràn lan, chồng chéo, kém hiệu quả của các địa phương,
thậm chí vượt xa khả năng của ngân sách địa phương, có phần trách nhiệm từ cơ
chế phân cấp ngân sách. Sự thiếu giám sát và kỷ luật lỏng lẻo của Trung ương và
cơ quan dân cử địa phương, cùng với chất lượng quy hoạch thấp cũng là nguyên
nhân quan trọng của tình trạng này, dẫn đến rủi ro là càng phân cấp mạnh thì nguy
cơ mất ổn định hệ thống ngân sách càng lớn. Để thay đổi cơ bản tình trạng này, về
lâu dài cần xem xét lại phân cấp kinh tế - xã hội nhằm tăng cường hiệu quả tổng thể. 2.2.2. Giải pháp
- Cần giảm dần và chấm dứt xu hướng giảm chi đầu tư, đặc biệt ở cấp Trung ương,
cải thiện về lập ngân sách đầu tư bằng cách quan tâm nhiều hơn đến các nhu cầu
chi duy tu, bảo dưỡng liên quan đến đầu tư, qua đó hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Rà soát lại các mục tiêu chi tiêu công theo một khuôn khổ chính sách nhất quán,
nhằm tạo điều kiện để Việt Nam gắn kết tốt hơn giữa chi tiêu và mục tiêu. 16
- Chi tiêu cho các chương trình mục tiêu quốc gia cần gắn với mục tiêu ưu tiên.
- Giảm tỷ lệ chi thường xuyên bằng việc giảm tốc độ tăng biên chế của Chính phủ
và quỹ lương cho cán bộ, công chức và viên chức, nhằm hỗ trợ phát triển một bộ
máy hành chính linh hoạt hơn và có khả năng đáp ứng cao hơn.
- Xem xét lại mức độ phân cấp chi đầu tư cho địa phương gắn với hiệu quả tổng
thể kinh tế - xã hội, hạn chế rủi ro đầu tư dàn trải, tạo ra cơ chế khuyến khích nhằm
thúc đẩy sự kết nối giữa các dự án hạ tầng lớn, bao gồm cả các dự án hạ tầng giữa các địa phương.
- Gắn kết chi đầu tư và chi thường xuyên.
- Hoàn thiện cơ sở dữ liệu về dự án đầu tư và hệ thống theo dõi tập trung nhằm cải
thiện chất lượng báo cáo đầu tư công, góp phần đưa ra những quyết định kịp thời
để thực hiện các dự án hiệu quả.
- Tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình về tài chính ở cấp địa
phương, thực hiện nghiên kỉ luật tài khóa.
III. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THÂM HỤT NGÂN
SÁCH VÀ ĐẦU TƯ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM
1. Tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế
1.1. Tác động tích cực
Không phải lúc nào thâm hụt cũng mang lại kết quả xấu, nó cũng có thể đem
lại kết quả tốt trong những trường hợp cụ thể. Tỷ lệ thâm hụt khi ở mức dao động
từ 1- 5% GDP sẽ an toàn cho nền kinh tế. Khi này thâm hụt sẽ có lợi cho sự phát
triển kinh tế. Ví dụ như Chính phủ muốn sử dụng thâm hụt khoảng 3% GDP để
xây dựng các chính sách, các chương trình nhằm nâng cao, cải thiện chất lượng
cuộc sống cho người dân: xây nhà tình thương, giúp đỡ các nạn nhân mắc Covid – 19…
Ngoài ra, thâm hụt ngân sách cũng được sử dụng như một công cụ chính sách
tài khóa nhằm tăng trưởng kinh tế. Ví dụ như khi đại dịch covid diễn ra các doanh
nghiệp gặp khó, khi này chính phủ sẽ giảm thuế và hỗ trợ một số khoản khác. Từ
đó, Chính phủ chấp nhận thâm hụt đổi lại có thể kích thích doanh nghiệp tăng gia
sản xuất và giá thành sản phẩm cũng sẽ rẻ hơn, từ đó sản lượng gia tăng và sức
mua của người dân cũng tăng theo.
1.2. Tác động tiêu cực
Bên cạnh tác động tích cực, thâm hụt ngân sách cũng đem lại những tác động
tiêu cực, ảnh hưởng tới quá trình ổn định kinh tế, phát triển đất nước.
Thứ nhất, thâm hụt làm giảm tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Khi một nền
kinh tế chịu thâm hụt trong thời gian dài, Chính phủ thu về không đủ để chi ra sẽ
khiến cho sản xuất trì trệ, thất nghiệp tăng cao, các tệ nạn xã hội cũng từ đó ngày 17
càng phát sinh, chỉ số GDP cũng ngày càng suy giảm, vị thế đất nước trên trường
quốc tế cũng trở nên chậm hơn.
Thứ hai, thâm hụt dài hạn sẽ dẫn tới nợ công, vay nước ngoài lớn. Khi chi
không đủ, Chính phủ sẽ cần đi vay người dân thông qua hình thức trái phiếu hoặc
vay nước ngoài để duy trì nền kinh tế. Điều này có thể vô hình tạo ra một vòng
xoáy sâu nếu thâm hụt diễn ra trong thời gian dài khi tiền để vay dùng để trả nợ và
cứ lặp lại nhiều lần như thế.
Thứ ba, thâm hụt càng lớn sẽ dẫn tới lạm phát càng cao. Khi không đủ tiền, nhà
nước có thể dùng tới phương pháp in tiền. Nhưng khi đó, lượng tiền đưa vào lưu
thông lớn sẽ dẫn tới giá cả hàng hóa cao (tiền mất giá) thì lạm phát sẽ theo đó sinh ra.
Thứ tư, thâm hụt ngân sách sẽ ảnh hưởng tới thất nghiệp. Khi thâm hụt gây ra
lạm phát, kéo theo đó là giá cả tăng, chi phí sản xuất lớn, các công ty, xí nghiệp sẽ
hạn chế sản xuất vì giá cả vật liệu, hàng hóa tăng từng ngày. Lúc đó, nhu cầu về
nhân lực, việc làm sẽ giảm dẫn tới tỷ lệ thất nghiệp cao.
Tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) có những ảnh hưởng hết sức
rộng lớn trên tất cả các lĩnh vực, các hoạt động kinh tế xã hội. Việc thâm hụt ngân
sách nhà nước ở mức độ cao và kéo dài sẽ làm cho Nhà nước phải tìm cách tăng
các khoản thu, như vậy sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội
của người dân. Việc thâm hụt ngân sách nhà nước sẽ khiến cho tất cả các hoạt
động trong xã hội bị ảnh hưởng như:
+ Đối với nền kinh tế: Việc thâm hụt ngân sách nhà nước sẽ gây ra việc thiếu
nguồn thu, khi thiếu nguồn thu nhà nước sẽ đánh vào những khoản phải thu như
thuế, lệ phí,… Việc tăng các khoản thuế, lệ phí khiến cho việc mua bán, kích cầu
cũng bị tụt giảm, nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng đầu tiên và vô cùng nghiêm trọng.
+ Đối với đời sống kinh tế - xã hội: Đời sống của người dân cũng sẽ bị ảnh
hưởng không hề nhỏ khi năm ngân sách đó của nhà nước xuất hiện việc bội chi
ngân sách. Nền kinh tế bị ảnh hưởng sẽ là nguyên nhân dẫn đến đời sống kinh tế
của người dân bị kéo theo. Việc mua bán, giao dịch trong đời sống bị trì trệ, cuộc
sống thiếu thốn, từ đó kéo theo sự tụt giảm của những ngành khác như vui chơi
giải trí, du lịch, văn hóa giáo dục cũng từ đó mà tụt giảm…
2. Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế
2.1. Tác động đến tổng cầu và tổng cung
Đầu tư công có vai trò tương đối quan trọng trong phát triển và tăng trưởng kinh tế,
với hai mặt tác động tích cực và tiêu cực trên cả góc độ tổng cầu và tổng cung:
- Trên góc độ tổng cầu, đầu tư công có thể tác động tới các kênh về tiêu dùng, tiêu
dùng chính phủ, đầu tư chính phủ; tiêu dùng và đầu tư tư nhân; nhập khẩu.
- Trên khía cạnh tổng cung, đầu tư công có tác động tích cực, trực tiếp làm tăng
tổng cung; đồng thời gián tiếp tăng năng suất, khuyến khích đầu tư tư nhân. Tuy
nhiên, đầu tư công cũng có thể tạo ra các tác động tiêu cực một cách gián tiếp như
tác động chèn lấn đầu tư tư nhân, làm giảm năng suất do đầu tư công không hiệu quả… 18
2.2. Tác động đến cơ cấu nền kinh tế
Kinh tế Việt Nam đang theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì vậy, việc đầu tư
công có vai trò rất to lớn đối với việc phát triển kinh tế – xã hội. Cụ thể:
Thứ nhất, đầu tư công có vai trò chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, định hướng và
thúc đẩy đầu tư phát triển kinh tế – xã hội. Những quyết định đầu tư công sẽ làm
ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế trong tương lai. Nó làm thay đổi số lượng, tỷ trọng
của từng bộ phận trong nền kinh tế. Kinh nghiệm và thực tiễn cho thấy rằng con
đường tăng trưởng nhanh với tốc độ mong muốn (từ 9 – 10%) là tăng cường đầu tư
nhằm tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là sự chuyển dịch cơ cấu
ngành, vùng, lãnh thổ. Đầu tư góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp
với quy luật và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong từng thời
kỳ, tạo ra sự cân đối mới trên phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, vùng.
Thứ hai, đầu tư công góp phần ổn định và làm giảm khoảng cách giàu nghèo,
giảm bất bình đẳng, bất công trong xã hội thông qua các chương trình và dự án
kinh tế hỗ trợ các vùng khó khăn, vùng sâu vùng xa,… từ đó nâng cao, cải thiện và
ổn định đời sống của người dân.
Thứ ba, đầu tư công giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa vào việc đầu tư cho
các công trình hạ tầng, cơ sở vật chất, kỹ thuật tối thiểu chung cho xã hội. Đồng
thời nó cũng tạo những điều kiện thiết yếu cho các chủ thể trong nền kinh tế đầu tư và phát triển.
Thứ tư, đầu tư công có vai trò quan trọng trong đảm bảo và không ngừng tăng
cường sức mạnh quốc phòng, an ninh. Các công trình, dự án an ninh quốc phòng
là cơ sở quan trọng của đất nước để bảo vệ tổ quốc, giữ vững độc lập và chủ quyền quốc gia.
Nói tóm lại, đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước có vai trò quan
trọng với sự phát triển các mặt của nền kinh tế và đời sống xã hội, giúp củng cố an
ninh quốc phòng và là một công cụ góp phần điều tiết kinh tế, đảm bảo ổn định
kinh tế vĩ mô. Nó mang tính định hướng, dẫn dắt và hỗ trợ phát triển cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
2.3. Tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế
Đầu tư công có thể góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế bằng cách tạo ra
một loạt các hiệu ứng kinh tế tích cực. Cụ thể, từ lâu, người ta đã mặc định rằng
thúc đẩy đầu tư công chính là động lực vô cùng to lớn để phát triển kinh tế, chính
trị, xã hội tại Việt Nam, giúp cho nền kinh tế có được sự tăng trưởng tốt bảo đảm
cuộc sống của người dân và cộng đồng sinh sống tại Việt Nam. Qua các khảo sát
cũng như nghiên cứu qua lý thuyết và thực tế từ năm 1995 cho đến nay đã khẳng
định rằng đầu tư công có vai trò đặc biệt quan trọng đến sự phát triển của Việt Nam.
Đầu tư được coi là động lực chính thức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bản
chất của mối quan hệ này đã được nghiên cứu trong nhiều nghiên cứu mang tính lý
thuyết và thực nghiệm. Nhiều nghiên cứu ngoài nước phân biệt giữa đầu tư tư nhân
và đầu tư công, theo đó đầu tư công thường được cho là đầu tư cho kết cấu hạ tầng. 19
Việc phân biệt như vậy rất có ý nghĩa vì đầu tư cho kết cấu hạ tầng có những điểm
khác biệt với nguồn vốn được sử dụng trong các doanh nghiệp.
IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ
CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ ĐẦU TƯ CÔNG ĐỂ THÚC
ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TRONG GIAI ĐOẠN TIẾP THEO
1. Tăng cường quản lý chặt chẽ, đảm bảo sự minh bạch và trách nhiệm trong việc
sử dụng nguồn tài chính công.
2. Tập trung đầu tư vào các ngành có tiềm năng tăng trưởng cao, đặc biệt là những
ngành có độ ưu tiên cao như hạ tầng, giáo dục và y tế.
3. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư trong sản xuất, nâng cao năng suất lao
động và sử dụng công nghệ mới để nâng cao hiệu quả sản xuất.
4. Đẩy mạnh chương trình cải cách hành chính, thúc đẩy môi trường kinh doanh
thân thiện hơn với doanh nghiệp, đồng thời tăng cường hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
5. Thúc đẩy đổi mới công nghiệp, cải cách cơ cấu kinh tế, chuyển đổi sang mô
hình kinh tế số và tăng cường đầu tư vào nghiên cứu và phát triển.
6. Tăng cường hợp tác quốc tế, khai thác thị trường mới, đẩy mạnh xuất khẩu và
thu hút đầu tư nước ngoài.
7. Nâng cao năng lực quản lý và thực hiện chính sách tài khoá và đầu tư công của
các đơn vị quản lý, đảm bảo việc triển khai được thực hiện một cách hiệu quả và
đạt được kết quả như mong đợi.
Tăng cường hiệu quả chính sách tài khoá và đầu tư công đòi hỏi sự cộng tác
chặt chẽ giữa các đơn vị quản lý và doanh nghiệp, đồng thời cần sự đổi mới, cải
cách và tập trung vào các ngành có tiềm năng tăng trưởng cao để đạt được kết quả
tốt nhất trong tăng trưởng kinh tế. 20