TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA MARKETING
---------- ----------
MÔN HỌC
KINH TẾ VĨ MÔ 1
Đề tài:
Dựa trên các lý thuyết về ngân sách nhà nước và thâm hụt ngân sách,
hãy phân tích tình hình thâm hụt ngân sách và chi tiêu cho đầu tư công
của Việt Nam trong 3 năm gần đây. Đánh giá tác động của thâm hụt
ngân sách và đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.”
Nhóm thảo luận: nhóm 8
Lớp học phần: 2307MAEC0111
Giảng viên hướng dẫn: Th.s Vũ Thị Thanh Huyền
Hà Nội, ngày…tháng…năm…
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU.......................................................................................................4
1. Lý do lựa chọn đề tài.........................................................................................4
2. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................4
3. Phạm vi nghiên cứu...........................................................................................4
4. Mục đích nghiên cứu.........................................................................................5
5. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT........................................................................6
1. Ngân sách nhà nước..........................................................................................6
2. Thâm hụt ngân sách nhà nước..........................................................................7
3. Chi tiêu cho đầu tư công.................................................................................11
CHƯƠNG II: THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ CHI TIÊU ĐẦU TƯ CÔNG
CỦA VIỆT NAM TRONG VÒNG 3 NĂM GẦN ĐÂY......................................13
I. Tình hình thâm hụt ngân sách nhà nước Việt Nam trong 3 năm gần đây.
.............................................................................................................................13
1. Tình hình thu ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2020 – 2022...............13
2. Tình hình chi ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2020 – 2022...............22
3. Tình hình thâm hụt ngân sách nhà nước giai đoạn 2020 - 2022................28
II, Tình hình chi tiêu cho đầu tư công của Việt Nam trong 3 năm gần đây.
.............................................................................................................................30
1. Về biến động tăng giảm trong đầu tư công................................................30
2. Về cơ cấu đầu tư công...............................................................................32
3. Đánh giá các kết quả đạt được và hạn chế tồn tại, nguyên nhân...............33
CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ
ĐẦU TƯ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM...........39
I. Tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế nhà nước.....39
1. Tác động đến quy mô và tốc độ tăng GDP................................................39
2. Tác động đến cơ cấu nền kinh tế...............................................................39
3. Tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế............................................39
II. Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế nhà nước.................40
1. Tác động đến tổng cầu và tổng cung.........................................................40
2. Tác động đến cơ cấu kinh tế......................................................................40
3. Tác động đến hiệu quả kinh tế...................................................................41
CHƯƠNG IV: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ CHÍNH
SÁCH TÀI KHÓA VÀ ĐẦU TƯ CÔNG ĐỂ THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ TRONG GIAI ĐOẠN TIẾP THEO...................................................42
1. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các dự án đầu tư công........................42
2. Giải pháp giải ngân vốn đầu tư công năm 2023...............................................42
CHƯƠNG V: DỰ ĐOÁN ĐẦU TƯ CÔNG VÀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC TRONG NĂM 2023.........................................................................44
1. Dự kiến vốn đầu tư công năm 2023................................................................44
2. Dự báo sự thâm hụt ngân sách nhà nước năm 2023.......................................44
PHẦN KẾT THÚC................................................................................................45
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài.
Hiện nay, khi hội ngày càng phát triển, quá trình công nghiệp hóa hiện
đại hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, vấn đề chi tiêu cho đầu công có vai trò hết
sức quan trọng đối với mỗi nền kinh tế. Tuy nhiên, do tác động của nhiều yếu tố
như: thiên tai, dịch bệnh, đầu kém hiệu quả hoặc quy chi tiêu của chính phủ
quá lớn đã dẫn tới tình trạng thâm hụt ngân sách, gây nên những ảnh hưởng
không nhỏ tới nền kinh tế mỗi quốc gia. Và Việt Nam cũng một nước phải gánh
chịu những ảnh hưởng ấy.
Chính vậy, để đối mặt với tình hình này, việc nghiên cứu, đào sâu, đưa ra
các kết luận, đánh giá cũng như giải pháp kiến nghị lại càng trở nên quan trọng
hơn. Đặc biệt hơn khi bối cảnh hiện tại thời điểm Việt Nam đang trong quá trình
hội nhập quốc tế và từng bước xây dựng xã hội chủ nghĩa. Nhận thức được tính cấp
thiết của vấn đề này, nhóm 8 chúng em lựa chọn đề tài: “Dựa trên các thuyết về
ngân sách nhà nước thâm hụt ngân sách, hãy phân tích tình hình thâm hụt ngân
sách chi tiêu cho đầu công của Việt Nam trong 3 năm gần đây. Đánh giá tác
động của thâm hụt ngân sách đầu công đến tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam.” để nghiên cứu kỹ nhằm chỉ ra các vấn đề đưa ra giải pháp nhằm khắc
phục tình trạng thâm hụt ngân sách còn tồn đọng.
2. Đối tượng nghiên cứu.
- Các lý thuyết về ngân sách nhà nước và thâm hụt ngân sách.
- Tình hình thâm hụt ngân sách chi tiêu cho đầu công của Việt Nam trong 3
năm gần đây (2020 – 2022).
- Tác động của thâm hụt ngân sách và đầucông đến tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu.
a. Phạm vi không gian
- Trên phạm vi cả nước Việt Nam.
- Trên lĩnh vực kinh tế.
b. Phạm vi thời gian:từ năm 2020 đến năm 2022.
4. Mục đích nghiên cứu.
- Đánh giá tình hình thâm hụt ngân sách chi tiêu cho đầu công trong khoảng
thời gian này.
- Giải pháp để giải quyết, khắc phục những hạn chế phương hướng để tiếp tục
phát triển trong thời gian tới.
5. Phương pháp nghiên cứu.
- Sử dụng phương pháp thu thập thông tin, phân tích và đánh giá.
- Sử dụng phương pháp so sánh và đối chiếu.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. Ngân sách nhà nước
a. Khái niệm ngân sách nhà nước
- Ngân sách (NS) toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước trong dự toán đã
được cơ quan của nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một
năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước (Luật Ngân
sách Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
- Đặc điểm của ngân sách nhà nước (NSNN):
+ Quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất gắn với quyền lực của nhà nước trong quá trình
tạo lập, phần phối, sử dụng các nguồn lực tài chính, gắn mật thiết với
quyền sở hữu của nhà nước và lợi ích chung của cộng đồng.
+ Việc quản lý ngân sách nhà nước được thực hiện không chỉ đối với quỹ tiền tệ
tập trung cả đối với các quỹ tiền tệ phi tập trung. Các khoản thu chi của
ngân sách nhà nước không được hoàn trả trực tiếp.
- Vai trò của ngân sách nhà nước:
+ Công cụ củng cố bộ máy quản lý nhà nước, tăng cường sức mạnh quốc phòng
và giữ vững an ninh quốc gia.
+ Công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể trong nền kinh tế, góp phần giải
quyết các vấn đề về đời sống và xã hội.
+ Công cụ chủ yếu phân bổ các nguồn lực tài chính, đảm bảo cho nền kinh tế
phát triển với tốc độ nhanh, ổn định và bền vững.
+ Công cụ tăng cường tiềm lực tài chính quốc gia, góp phần ổn định tiền tệ, giá
cả và kiềm chế lạm phát.
+ Công cụ mở rộng quan hệ đối ngoại, đẩy nhanh quá trình hợp tác hội nhập
quốc tế.
b. Nội dung NSNN
- NSNN bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Trong đó:
+ Ngân sách trung ương các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp
trung ương hưởng các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi
của cấp trung ương (Theo quy định tại khoản 15 Điều 4 Luật Ngân sách nhà
nước 2015).
+ Ngân sách địa phương các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp
địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa
phương các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa
phương (Theo quy định tại khoản 13 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước 2015).
+ Theo khoản 2 Điều 6 Luật Ngân sách nhà nước 2015, ngân sách địa phương
gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, được hướng dẫn tại
khoản 2 Điều 6 Nghị định 163/2016/NĐ-CP, gồm các khoản như sau:
“a) Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung ngân sách
tỉnh), bao gồm ngân sách cấp tỉnh ngân sách của các huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương;
b) Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương (gọi chung ngân sách huyện), bao gồm ngân sách cấp huyện
ngân sách của các xã, phường, thị trấn;
c) Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã).”
- Như vậy, ngân sách nhà nước thể hiểu một thành phần trong hệ thống tài
chính, tổng hợp tất cả các khoản thu chi của Nhà nước nhằm đảm bảo sự hoạt
động của bộ máy chính quyền Nhà nước từ Trung ương đến địa phương.
c. Trạng thái NSNN
- Trạng ti ngân ch n nước tờng được hiểu là nh hình tài cnh của
chính ph trong một khoảng thời gian nhất định. bao gồm thu nhập t c
nguồn khác nhau, chẳng hạn n thuế, lp, khoản tiền vay và các nguồn tài tr
khác, cùng với chi tu của cnh phủ cho các mục đích khác nhau, bao gồm
chương trình hội, quốc phòng, giáo dục, y tế, htầng nhiều lĩnh vực khác.
- Trạng thái ngân sách nhà ớc có thể được đánh g dựa trên nhiều ch s
khác nhau, bao gồm tổng số thu nhập chi tiêu, tlệ ncông, mức lãi suất, mức
độ tăng trưởng kinh tế nhiều yếu tố khác. Đánh giá trạng thái nn ch nhà
ớc là một phần quan trọng của việc quản lý i cnh công và đưa rac quyết
định về cnh ch.
2. Thâm hụt ngân sách nhà nước.
a. Khái niệm về thâm hụt ngân sách nhà nước
- Thâm hụt ngân sách nhà nướclà hiện tượng ngân sách nhà nước không thể cân
đối được (thể hiện chênh lệch giữa cung cầu về nguồn lực tài chính của Nhà
nước).
- Công thức tính thâm hụt ngân sách:
B = T - G
B là hiệu số giữa thu và chi.
B < 0: xảy ra thâm hụt ngân sách.
b. Phân loại thâm hụt ngân sách
Hiện nay, thâm hụt ngân sách được chia thành 3 loại
- mức thâm hụt khi việc chi thực tế lớn hơn việc thuThâm hụt ngân sách thực tế:
thực tế trong một thời kỳ nhất định
- Thâm hụt cơ cấu: những khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách
tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy
chi tiêu cho giáo dục và quốc phòng.
- : những khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinhThâm hụt chu kỳ
tế hay chỉnh bởi mức độ cao thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân.
c. Nguyên nhân thâm hụt ngân sách nhà nước
- Nguyên nhân khách quan:
+ Tác động của chu kỳ kinh doanh: nền kinh tế suy thoái, khủng hoảng làm thu
nhập của một quôc gia giảm xuống, kép theo đó thu NSNN giảm, tuy nhiên
nhu cầu chi NSNN tăng để giải quyết những khó khăn về đời sống cũng như
kinh tế, hội hậu quả tất yếu thâm hụt NSNN sẽ tăng lên. giai đoạn
nền kinh tế tăng trưởng mạnh, thu NSNN sẽ tăng lên, trong khi chi NSNN
không tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức thâm hụt NSNN.
+ Do hậu quả của các tác nhân gây ra: hội luôn phải đối mặt với thiên tai,
chiến tranh, dân số, dịch bệnh,…, những tác nhân đó sẽ gây hậu quả nghiêm
trọng đến nh hình thu chi NSNN. Cụ thể, tăng mạnh nhu cầu chi cho quốc
phòng và khắc phục hậu quả của thiên tai… mặc dù khi lập dự toán các khoản
mục trên đã được dự trù trước, tuy nhiên tổn thất thực tế thường vượt xa dự
toán. Qua đó làm cho NSNN bị thâm hụt nhiều hơn.
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Nguyên nhân thứ nhất: khi nhà nước thực hiện chính sách cho nền kinh
tế nhằm một mục tiêu nào đó sẽ dẫn đến việc thay đổi cơ cấu thu chi NSNN.
+ Nguyên nhân thứ hai (nguyên nhân chiếm tỉ trọng lớn nhất): hoạt động điều
hành của ngân sách nhà nước chưa hiệu quả.
- thuế nguồn thu chính bền vững nhất cho NSNN,Thất thu thuế nhà nước:
tuy nhiên, do hệ thống pháp luật nước ta còn nhiều điều bất cập, sự quản chưa
chặt chẽ đã tạo kẽ hở cho các nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu
một lượng đáng kể cho NSNN. Bên cạnh đó, việc giảm thuế, giãn thuế, miễn thuế
một mặt giúp các doanh nghiệp thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì mở rộng sản
xuất. Mặt khác, việc này hoặc chậm thu làm ảnh hưởng đến các khoản chi ngân
sách khác gây thâm hụt ngân sách nhà nước.
- tình trạng đầu dàn trải gây lãng phí các địa phươngĐầu kém hiệu quả:
vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia
còn chậm thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước, kìm hãm
sự phát triển của các vùng miền, nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách
nhà nước.
- tăng chi tiêu của chính phủ một mặtQuy chi tiêu của chính phủ quá lớn:
giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn hạn nhưng lại tạo ra những nguy
bất ổn lâu dài như lạm phát rủi ro tài chính do sự thiếu hiệu quả của các
khoản chi tiêu công thiếu chế giảm sát đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của
hệ thống tài chính. Lý thuyết kinh tế không chỉ ra 1 cách rõ ràng về hướng tác động
chi tiêu của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế
thường thống nhất rằng chi tiêu của chính phủ một khi vượt quá 1 ngưỡng nào đó
sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây ra phân bố nguồn lực 1 cách không hiệu
quả, dẫn tới thâm hụt ngân sách nhà nước và cuối cùng là gây ra lạm phát.
- : sựCông cụ trong chính sách tài khóa để kính thích sự tăng trưởng kinh tế
thiếu hụt trong những năm qua còn được sử dụng như một công cụ trong chính sách
tài khóa để kích thích sự tăng trưởng kinh tế. Chúng ta thể dễ dàng nhận thấy
điều này thông qua cân đối NSNN hằng năm. Về nguyên tắc, sau khi lấy tổng thu
trừ tổng chi trong năm sẽ xác định được số thặng dư hoặc thiếu hụt ngân sách trong
năm. Tuy nhiên, khi cân đối ngân sách, chúng ta thường xác định số bội chi trước
(thông thường tương đương với mức Quốc hội cho phép) nguồn còn lại được
Quốc hội cho phép chuyển sang năm sau. Đây chính sách ngân sách thận trọng
khi áp dụng thuyết bội chi 1 cách chủ động điều đó không gây xáo trộn trong
chính sách kinh tế mô, nhưng phải cân nhắc kiểm tra xem toàn bộ số bội chi
được sử dụng để chi đầu phát triển cho các dự án trọng điểmhiệu quả qua
đó tạo thêm công ăn việc làm, tạo đà cho nền kinh tế phát triển, tăng khả năng thu
NSNN trong tương lai hay không.
- : chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợNhà nước huy động vốn để kích cầu
chính là phát hành trái phiếu Chính phủ, miễn giảm thuế và sử dụng Quỹ dự trữ nhà
nước. Sử dụng gói giải pháp kích cầu một mặt làm kích thích tiêu dùng, tăng
trưởng kinh tế, mặt khác sẽ làm mức thâm hụt ngân sách tăng rất cao.
- Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu phát triển chi thường xuyên:
đây là 1 trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách áp lực bội chi ngân
sách (nhất là những ngân sách các địa phương). Chúng ta thể thấy, thông qua
chế phân cấp nguồn thu nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách chế bổ sung
từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Ngân sách địa phương được phân
cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành
các công trình khi hoàn thành đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo
dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư. Chính điều đó luôn tạo sự căng
thẳng về ngân sách. Để nguồn kinh phí hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động
hoặc yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả 2 trường hợp đều tạo áp lực bội chi
NSNN.
d. Tác động của thâm hụt NS đến tăng tưởng kinh tế (TTKT)
* Tác động tích cực
Không phải lúc nào thâm hụt cũng mang lại kết quả xấu, cũng thể đem
lại kết quả tốt trong những trường hợp cụ thể.
Tỷ lệ thâm hụt khi mức dao động từ 1- 5% GDP sẽ an toàn cho nền kinh tế.
Khi này thâm hụt sẽ lợi cho sự phát triển kinh tế. Ví dụ như Chính phủ muốn sử
dụng thâm hụt khoảng 3% GDP để xây dựng các chính sách, các chương trình
nhằm nâng cao, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân: xây nhà tình thương,
giúp đỡ các nạn nhân mắc Covid – 19…
Ngoài ra, thâm hụt ngân sách cũng được sử dụng như một công cụ chính sách
tài khóa nhằm tăng trưởng kinh tế. dụ như khi đại dịch covid diễn ra các doanh
nghiệp gặp khó, khi này chính phủ sẽ giảm thuế hỗ trợ một số khoản khác. Từ
đó, Chính phủ chấp nhận thâm hụt đổi lại thể kích thích doanh nghiệp tăng gia
sản xuất và giá thành sản phẩm cũng sẽ rẻ hơn, từ đó sản lượng gia tăng và sức mua
của người dân cũng tăng theo.
* Tác động tiêu cực
Bên cạnh tác động tích cực, thâm hụt ngân sách cũng đem lại những tác động
tiêu cực, ảnh hưởng tới quá trình ổn định kinh tế, phát triển đất nước.
Thứ nhất, thâm hụt làm giảm tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Khi một nền
kinh tế chịu thâm hụt trong thời gian dài, Chính phủ thu về không đủ để chi ra sẽ
khiến cho sản xuất trì trệ, thất nghiệp tăng cao, các tệ nạn hội cũng từ đó ngày
càng phát sinh, chỉ số GDP cũng ngày càng suy giảm, vị thế đất nước trên trường
quốc tế cũng trở nên chậm hơn.
Thứ hai, thâm hụt dài hạn sẽ dẫn tới nợ công, vay nước ngoài lớn. Khi chi
không đủ, Chính phủ sẽ cần đi vay người dân thông qua hình thức trái phiếu hoặc
vay nước ngoài để duy trì nền kinh tế. Điều này thể hình tạo ra một vòng
xoáy sâu nếu thâm hụt diễn ra trong thời gian dài khi tiền để vay dùng để trả nợ
cứ lặp lại nhiều lần như thế.
Thứ ba, thâm hụt càng lớn sẽ dẫn tới lạm phát càng cao. Khi không đủ tiền,
nhà nước thể dùng tới phương pháp in tiền. Nhưng khi đó, lượng tiền đưa vào
lưu thông lớn sẽ dẫn tới giá cả hàng hóa cao (tiền mất giá) thì lạm phát sẽ theo đó
sinh ra.
Thứ tư, thâm hụt ngân sách sẽ ảnh hưởng tới thất nghiệp. Khi thâm hụt gây ra
lạm phát, kéo theo đó giá cả tăng, chi phí sản xuất lớn, các công ty, nghiệp sẽ
hạn chế sản xuất giá cả vật liệu, hàng hóa tăng từng ngày. Lúc đó, nhu cầu về
nhân lực, việc làm sẽ giảm dẫn tới tỷ lệ thất nghiệp cao.
3. Chi tiêu cho đầu tư công
a. Khái niệm đầu tư công
Đầu tư công (ĐTC) là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương tình, dự
án và đối tượng ĐTC khác theo quy định của Luật ĐTC.
b. Các khoản mục ĐTC
- lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư; lập,Hoạt động ĐTC bao gồm:
thẩm định, quyết định chương trình, dự án ĐTC; lập, thẩm định, phê duyệt, giao,
triển khai thực hiện kế hoạch, dự án ĐTC; quản lí, sử dụng vốn ĐTC; nghiệm thu,
bàn giao chương trình, quyết toán dự án ĐTC; theo dõi và đánh giá, kiểm tra, thanh
tra kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công.
- Phân loại dự án:
+ Dự án cấu phần xây dựng dự án đầu xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp,
mở rộng dự án đã đầu xây dựng, bao gồm cả phần mua tài sản, mua trang
thiết bị của dự án.
+ Dự án không có cấu phần xây dựng là dự án mua tài sản, nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, mua, sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị, máy móc dự án
khác không thuộc điều trên.
c. Vai trò của ĐTC
- Từ lâu, người ta đã mặc định rằng thúc đẩy đầu công chính động lực
cùng to lớn để phát triển kinh tế, chính trị, hội tại Việt Nam, giúp cho nền kinh
tế được sự tăng trưởng tốt bảo đảm cuộc sống của người dân cộng đồng sinh
sống tại Việt Nam. Qua các khảo sát cũng như nghiên cứu qua thuyết thực tế
từ năm 1995 cho đến nay đã khẳng định rằng đầu công vai trò đặc biệt quan
trọng đến sự phát triển của Việt Nam.
- Đầu được coi là động lực chính thức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bản
chất của mối quan hệ này đã được nghiên cứu trong nhiều nghiên cứu mang tính
thuyết và thực nghiệm. Nhiều nghiên cứu ngoài nước phân biệt giữa đầu tư tư nhân
và đầu tư công, theo đó đầu tư công thường được cho là đầu tư cho kết cấu hạ tầng.
Việc phân biệt như vậy rất ý nghĩa vì đầu cho kết cấu hạ tầng những điểm
khác biệt với nguồn vốn được sử dụng trong các doanh nghiệp.
- Kết cấu hạ tầng là vốn tồn tại bên ngoài doanh nghiệphỗ trợ hoạt động kinh
tế của các doanh nghiệp cũng như các hoạt động của các nhân. Do vậy, nhiều
doanh nghiệp nhân trong một khu vực hưởng lợi từ kết cấu hạ tầng đó
không mất thêm chi phí hoặc ít nhất với chi phí thấp hơn nếu kết cấu hạ tầng đó
phải được cung cấp cho người sử dụng thêm đó, nên kết cấu hạ tầng thể coi như
cung cấp những lợi ích ngoại lai cho những người sử dụng đó.
- Tại Việt Nam, Luật Đầu công được ban hành vào năm 2014, trong đó
định nghĩa đầu tư công không bao gồm nguồn vốn của các doanh nghiệp thuộc sở
hữu nhà nước, đầu công chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng đầu đóng vai
trò quan trọng, quyết định tốc độ tăng trưởng của đầu tư nói chung. Trong giai đoạn
1995-2013, đầu tư công chiếm 40% tổng đầu tư, cao gấp đôi tỷ trọng FDI và đầu tư
tư nhân. Sau khi giảm nhẹ trong năm 2010, năm 2011 tỷ trọng đầu tư công đã phục
hồi đạt mức cao của năm 2009 (40,4% tổng vốn đầu tư). Tốc độ tăng trưởng 7,5%
trong năm 2013 cũng tương quan mạnh mẽ với mức tăng trưởng đầu 7,3% của
năm đó. Bất chấp sự tăng trưởng nhanh chóng này, cấu đầu công vẫn được
coi vấn đề chỗ quá tập trung vào doanh nghiệp nhà nước. Do vậy,
hiện tượng chèn ép đầu tư tư nhân và ít thu hút được các loại hình đầu tư khác.
CHƯƠNG II: THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ CHI TIÊU ĐẦU TƯ CÔNG
CỦA VIỆT NAM TRONG VÒNG 3 NĂM GẦN ĐÂY
I. Tình hình thâm hụt ngân sách nhà nước Việt Nam trong 3 năm gần đây.
1. Tình hình thu ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2020 – 2022
a. Về biến động tổng thu NS
* Năm 2020
- Về quyết toán thu ngân sách nhà nước (NSNN), dựđoán1.539.052,8 tỷđồng;
quyết toán 1.510.579,2 tỷđồng, giảm 1,9% so với dựđoán; trong đó, thu ngân
sách Trung ương giảm 92.076,6 tỷđồng, thu ngân sách địa phương tăng 63.603
tỷđồng.
- Báo cáo kiểm toán quyết toán NSNN năm 2020, Tổng Kiểm toán Nhà nước
Trần Sỹ Thanh nhấn mạnh năm 2020 năm cuối của kế hoạch tài chính 5 năm
quốc gia giai đoạn 2016 - 2020. Dự toán NSNN năm 2020 được thực hiện trong bối
cảnh dịch bệnh COVID-19 bùng phát trên phạm vi toàn cầu, thiên tai, bão lũ xảy ra
nghiêm trọng ở miền Trung, Tây Nguyên… tác động lớn đến toàn bộ đời sống kinh
tế - xã hội, ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện nhiệm vụ thu, chi NSNN, ngoài
dự báo khi Chính phủ trình Quốc hội quyết nghị kế hoạch phát triển kinh tế
hội và dự toán NSNN năm 2020.
- Song với sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, cả
hệ thống chính trị đã vào cuộc; doanh nghiệp, người dân đồng hành ủng hộ đã góp
phần hạn chế những tác động gây sốc, tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng kinh tế
thu chi NSNN năm 2020. Trong đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt 2,91%,
giảm so với kế hoạch 6,8% nhưng vẫn thuộc nhóm các ớc tăng trưởng dương.
Thu NSNN xấp xỉ dự toán, riêng thu nội địa vượt dự toán.
* Năm 2021
- Cụ thể, thu NSNN dự toán 1.343,3 nghìn tỷ đồng, báo cáo Quốc i ước đạt
1.365,5 nghìn t đồng, kết quả thực hiê n đạt 1.568,4 nghìn tỷ đồng, vượt 225,1
nghìn tỷđồng (16,8%) so dự toán, tăng 202,9 nghìn tỷ đồng so với báo cáo Quốc
i. Tỷ lệ động viên thu NSNN đạt 18,7% GDP, riêng thu thuế phí đạt 15,1%
GDP.
- Trong bối cảnh nền kinh tế chịu tác động nghiêm trọng của dịch bệnh, đặc biệt
trong khoảng giữa năm 2021, Chính phủ đánh giá kết quả thu NSNN đạt được như
trên nhờ số thu tăng khá trong quý I quý IV (31,8% 35,8%), thể hiện tính
hiệu quả của việc điều chỉnh kịp thời chính sách tài khóa, tiền tệ để tháo gỡ khó
khăn cho doanh nghiệp người dân, các giải pháp kích cầu đầu tư, tiêu dùng thúc
đẩy phục hồi kinh tế đã tác động tích cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh
nền kinh tế.
* Năm 2022
- Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày báo cáo, Bộ trưởng Bộ Tài
chính Hồ Đức Phớc cho biết trong 9 tháng đầu năm 2022, thu ngân sách nhà nước
đạt 94% dự toán. Trong đó, thu nội địa đạt 88,9% dự toán, thu dầu thô đạt 113% dự
toán, thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 108,8% dự toán. Theo đó, cả năm
thu ngân sách ước tăng 14,3% so với dự toán.
- Thông tin về một số khoản thu chính, Tổng cục Thống kê, cho biết thu nội địa
tháng 12 ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng. Lũy kế năm 2022 đạt 1.421,8 nghìn tỷ đồng,
bằng 120,8% dự toán năm và tăng 9% so với năm trước.
b. Về cơ cấu thu NS
* Năm 2020
- Tổng thu ngân sách: 1.539.053 tỷ đồng.
- Thu nội địa; quyết toán đạt 1.293.728 tỷ đồng, tăng 2.951 tỷ đồng (+0,2%) so
với dự toán, chủ yếu tăng từ các khoản thu về nhà đất (87.970 tỷ đồng), thu từ
hoạt động xổ số kiến thiết (5.226 tđồng) thu khác ngân sách (22.229 tỷ đồng);
tỷ trọng thu nội địa đạt 85,6% tổng thu NSNN, tăng so với các năm trước. Từ cuối
Quý III/2020, nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh, đồng thời các chính sách hỗ trợ cho
doanh nghiệp, người dân ứng phó với dịch Covid-19 đã phát huy tác dụng, kinh tế
phục hồi khá, tác động tích cực đến số thu NSNN;
-Thu ngân sách từ 3 khu vực kinh tế không đạt dự toán (khu vực DNNN đạt
83,3%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 91,4%; khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh đạt 91,2% dự toán).
- Thu dầu thô; quyết toán 34.598 t đồng, giảm 1,7% (602 t đồng) so với dự
toán do giá dầu thô thanh toán bình quân đạt 45,7 USD/thùng, giảm 14,3
USD/thùng so với giá dự toán (là 60 USD/thùng); sản lượng thanh toán đạt 9,56
triệu tấn, tăng 540 nghìn tấn so với dự toán.
- Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu: quyết toán 177,444 tỷ đồng, giảm
14,7% (30,556 tỷ đồng) so với dự toán. Năm 2020, mặc tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu đạt 545,4 tỷ USD, tăng 5,35% so với năm 2019, tuy nhiên, kim ngạch
xuất nhập khẩu hàng thuế giảm 12,9% so với dự toán (một số mặt hàng nhập
khẩu số thu lớn giảm mạnh như ô nguyên chiếc, sắt thép, máy móc, thiết bị,
dụng cụ phụ tùng, hóa chất...) làm giảm thu ngân sách trong lĩnh vực này so với dự
toán.
- Số hoàn thuế giá trị gia tăng theo thực tế phát sinh 137.019 tỷ đồng, tăng
7.019 tỷ đồng so với dự toán. Công tác hoàn thuế GTGT được kiểm soát chặt chẽ,
đảm bảo đúng quy định của pháp luật, đúng đối tượng thực tế phát sinh, không
gây khó khăn, phiền cho doanh nghiệp; đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ thông tin trong quản hoàn thuế, kết hợp với tăng cường thanh tra, kiểm tra
sau hoàn thuế, phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm
- Thu viện trợ không hoàn lại: quyết toán 4.808 tỷ đồng, giảm 268 tỷ đồng so với
dự toán.
Ngoài ra, thực hiện chủ trương của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội”, trong năm 2020, Chính phủ đã thực hiện miễn, giảm nghĩa
vụ thuế một số khoản thu ngân sách, qua đó giúp doanh nghiệp, hộ kinh doanh
người dân vượt qua khó khăn, duy trì hoạt động sản xuất - kinh doanh, từng
bước thích ứng với trạng thái bình thường mới, được luận đánh giá cao. Theo
đó, tổng số thuế, phí, tiền thuê đất đã miễn, giảm là 16.307 tỷ đồng; số gia hạn thời
hạn nộp thuế GTGT, TNDN, TTĐB và tiền thuê đất là 97,259 tỷ đồng.
* Năm 2021
- M t s ngành, l nh v c nh ngân hàng, ch ng khoán, b t ng s n, xây ĩ ư đ
dng, s n xu t s t thép, ô tô, c h ng l i t các chính sách nêu trên ã đượ ưở đ
phát sinh l i nhu ng t bi n, t ng thu cho NSNN. ng th i, m t s kho n n tă đ ế ă Đ
thu c ng phát sinh t bi n ngoài d ki n khi xây d ng d toán, nh : thu thuũ đ ế ế ư ế
thu nh p doanh nghi p t ượ ướ chuy n nh ng d án khu đô th Ph c Hưng 2.373
tđỷồng; thu t ượ ho t đ ng chuy n nh ng bt đ ng sn c a Tp oàn Ecoparkđ
1.290 t đỷồng; thu chênh lch giá khí trong bao tiêu bán cho 2 nhà máy đin BOT
ca TP. H Chí Minh t nh Bà R a – V ng Tàu t ngày 20/3/2019 n m 2020 ũ ă
2.457 t đỷồng. Cùng vi thu tđó ượ chuy n nh ng v n c a mt s doanh
nghip kho ng 5.300 t đỷồng; thu ti n s d ng đt 1 ln cho c đảời d án (Đ i
s quán M , Công ty c ph n u t du l ch V n H ng; Công ty c ph n đ ư ươ
đu tư phát tri n du lch Vinaconex, Tng công ty Đu tư phát tri n công
nghip, …) kho ng 7.000 t đỷồng; thu hi chi n m tră ướ c c a Ban qu n lý d án
Th Thiêm 2.515 t đỷồng.
- Cụ thể: Thu nội địa vượt 21,8% dự toán, tăng 9,9%; thu từ dầu thô vượt 176%
dự toán, tăng 74,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu vượt
43,9% dự toán, tăng 32,7% so với cùng kỳ năm 2021.
- Thu NSNN năm 2022 vượt dự toán chủ yếu do hoạt động kinh tế tiếp tục duy
trì đà phục hồi và tăng trưởng khả quan với GDP tăng 8,02%; tổng mức bán lẻ tăng
19,8%; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,8%, xuất khẩu tăng 10,6%, nhập khẩu
tăng 8,4%, xuất siêu 11,2 tỷ USD. Bên cạnh đó, giá dầu một số hàng hóa,
nguyên liệu đầu vào tăng cao đã góp phần tăng thu từ dầu thô từ hoạt động xuất
nhập khẩu.
- Một số khoản thu mức vượt khá so với dự toán như: Thuế thu nhập nhân
vượt 38,5%, chủ yếu nhờ thị trường chứng khoán, bất động sản tăng trưởng mạnh
trong năm 2021; quyết toán thuế năm 2021 từ các hoạt động chuyển nhượng bất
động sản, chứng khoán... được nộp trong quý I/2022; các khoản thu về nhà, đất
vượt 54,5% do thị trường bất động sản duy trì đà phát triển từ cuối năm 2021; các
địa phương đã đẩy mạnh triển khai công tác giải phóng mặt bằng, đấu giá đất, đôn
đốc thu tiền sử dụng đất xử thu hồi n đọng của các dự án đã thực hiện giao
đất, góp phần tăng thu tiền sử dụng đất năm 2022 so dự toán; thu hồi vốn, thu cổ
tức, lợi nhuâ n, lợi nhuâ n sau thuế, chênh lê ch thu chi của Ngân hàng Nhà nước tăng
17% chủ yếu do tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nhiệp năm 2022 đã có
sự hồi phục; phát sinh khoản thu tiền cổ tức năm 2020 được chia trong năm 2022
của 2 ngân hàng Vietcombank và Vietinbank khoảng 5,8 nghìn tỷ đồng, qua đó góp
phần tăng thu NSNN.
- Cơ quan Thuế, Hải quan cũng tăng cường quản thuế, xây dựng sở dữ liệu
lớn từ hóa đơn điện tử để truy dấu gian lận, soát những nguồn thu tiềm năng
nhưng còn thất thu để đưa vào quản lý, quyết liệt quản lý, chống thất thu, khai thác
tăng thu từ hoạt động thương mại điện tử, t hoạt động chuyển nhượng bất động
sản. Đến nay đã 42 nhà cung cấp nước ngoài khai nộp thuế, với tổng số thuế
đã nộp 3,44 nghìn tỷ đồng; ước thu cả năm 2022 từ hoạt động chuyển nhượng
bất động sản đạt hơn 41 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 20 nghìn tỷ đồng, khoảng 97% so
năm, đã góp phần không nhỏ trong việc tăng thu NSNN trong năm 2022.
- 10 khoản thuợt dự toán, trong đó thu từ nhà, đất đạt 154,5%; thu từ hoạt
động sổ xố kiến thiết đạt 118,2% các khoản thu trực tiếp từ hoạt đô ng sản xuất-
kinh doanh 03 khu vực kinh tế (thu từ khu vực doanh nghiê p Nhà nước đạt
114,3% dự toán, tăng 7,4% so với năm trước; thu t khu vực doanh nghiê p vốn
đầu tư ớc ngoài đạt 117,6% dự toán, tăng 11,5%; thu t khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh đạt 121,5% dự toán, tăng 5,9%). Còn 02 khoản thu không đạt dự toán
thu thuế bảo vệ môi trường (đạt 72% dự toán, bằng 73,3% so cùng kỳ) do thực
hiện giảm mức thuế bảo vệ môi trường đối với các t hàng xăng, dầu, m nhờn
theo các Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 18/2022/UBTVQH15
số 20/2022/UBTVQH15 tác động làm giảm thu NSNN và thu cổ phần hóa, thoái
vốn Nhà nước tại doanh nghiệp (đạt 12,1% dự toán) do tiến độ cổ phần hóa, thoái
vốn nhà nước tại doanh nghiệp chậm.
* Năm 2022
- T l huy ng vào ngân sách nhà n c t 17,2% GDP; t thu , phí t đ ướ đ ế đ
13,9% GDP.
- Lũy kế tổng thu ngân sách nhà nước năm 2022 đạt 1.784,8 nghìn tỷ đồng, bằng
126,4% dự toán năm và tăng 13,8% so với năm trước.
- Thông tin về một số khoản thu chính, Tổng cục Thống kê, cho biết thu nội địa
tháng 12 ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng. Lũy kế năm 2022 đạt 1.421,8 nghìn tỷ đồng,
bằng 120,8% dự toán năm và tăng 9% so với năm trước.
- Trong đó: Thu nội địa thực hiện tháng 7/2022 ước đạt 116,1 nghìn tỷ đồng,
tăng khoảng 19,6 nghìn tỷ đồng so tháng 6/2022. Lũy kế thu 7 tháng năm 2022 ước
đạt 870,4 nghìn tỷ đồng, bằng 74% dự toán, tăng 15% so cùng kỳ năm 2021; Thu
từ dầu thô: Thực hiện tháng 7/2022 ước đạt 7 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 1,9 nghìn
tỷ đồng so tháng 6/2022. Lũy kế thu 7 tháng ước đạt 43 nghìn tỷ đồng, bằng
152,5% dự đoán, tăng 91,6% so với cùng kỳ năm 2021.
- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu, thực hiện thu tháng 7/2022
ước đạt 20,6 nghìn tỷ đồng, giảm khoảng 6,9 nghìn tỷ đồng so với tháng 6/2022.
Lũy kế thu 7 tháng ước đạt gần 179, 8 nghìn tỷ đồng, bằng 90,3% dự đoán, tăng
23,6% so với cùng kỳ năm 2021, trên sở: Tổng số thu thuế ước đạt 261,2 nghìn
tỷ đồng, bằng 74,2% dự đoán; hoàn thuế giá trị gia tăng theo chế độ khoảng 81,4
nghìn tỷ đồng, bằng 53,2% dự đoán.
(Nguồn: VNE; Ngân sách nhà nước bội thu hơn 100 nghìn tỷ đồng sau 11 tháng/
Chứng khoán Tân Việt)
(Nguồn: Công khai báo cáo ngân sách 6 tháng đầu năm 2022/ Cổng thông tin điện
tử Chính phủ)
c. Nhận xét kết quả đạt được, hạn chế, tồn tại và nguyên nhân
* Nhận xét
- Khoảng thời gian 2020-2022 khoảng thời gian khó khăn với nền kinh tế khi
đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh tế và đời sống xã
hội của người dân, đồng thời tác động siêu tiêu cực tới thực hiện dự toán ngân sách
khi một số nguồn thu sụt giảm.
- Dịch Covid-19 đã đảo lộn nguyên tắc ngân sách, các chính sách miễn, giảm,
giãn thuế, lệ phí, tiền thu đất khiến thu ngân sách giảm.
- Số thu NSNN tăng chủ yếu tdầu thô, hoạt động xuất nhập khẩu, tiền sử dung
đất thuế, phí nội địa, sản xuất, kinh doanh.
- Kết quả này được từ sự đúng đắn trong chủ trương của Bộ Tài chính, đó là:
Quản lý thu, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp,
phấn đấu tăng thu những địa bàn, lĩnh vực điều kiện, quyết liệt xử thu hồi
nợ đọng thuế.
- Một số ngành, lĩnh vực được hưởng lợi từ chính sách nới lỏng về tài khóa, tiền
tệ đã tạo thêm nguồn thu cho NSNN.
* Hạn chế, tồn tại
- Mặc về tổng thể, số thu ngân sách nhà nước vượt mức dự toán đặt ra nhưng
thực tế công tác thu ngân sách vẫn gặp khó khăn.
- Nhiều doanh nghiệp gặp khó về tài chính, vốn sản xuất, kinh doanh, kinh tế
biên mậu không ổn định; giao thông kết nối chưa đồng bộ; dịch vụ kết cấu hạ
tầng phục vụ du lịch chưa đáp ứng yêu cầu, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp cũng như giảm số nộp ngân sách nhà nước.
- Chính sách quản đối với hàng hóa xuất - nhập khẩu chính sách quản
chặt chẽ cửa khẩu phụ, lối mở phía Trung Quốc đã làm giảm lượng giao dịch
thương mại, ảnh hưởng đến hoạt động thương mại, xuất - nhập khẩu, làm giảm số
thu phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, dịch vụ tiện ích công cộng khác trong
khu vực cửa khẩu.
- Dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất,
kinh doanh của các doanh nghiệp... Những yếu tố đó thể làm giảm số thu ngân
sách nhà nước tại khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.
- Việc thu ngân sách thực tế luôn cao hơn dự toán thu Ngân sách Nhà nước đặt ra
yêu cầu về công tác dự báo thu Ngân sách Nhà nước cần chính xác sát với thực
tế hơn. Bên cạnh đó, xuất phát từ nguyên nhân chủ quan một số địa phương thể
muốn dự báo thu ngân sách mức thấp hơn so với thu ngân sách thực tế hàng năm
để từ đó có khoản thưởng vượt thu từ ngân sách trung ương.
- Đối với các khoản thu lệ phí, các cơ quan hành chính nhà nước được để lại một
phần để đắp chi phí thu, phần còn lại mới nộp vào NSNN. Việc để lại như vậy
làm một phần số thu lệ phí bị để ngoài ngân sách, đồng thời t lệ để lại chưa sát
hoạt động của đơn vị, nên đơn vị không đủ kinh phí để tổ chức thu, đơn vị
thừa nguồn thu dẫn đến dư kinh phí hoặc sử dụng sai mục đích…
- Phân tích đến thu - chi ngân sách không thể không đề cập tới vấn đề nợ đọng,
trốn thuế, thất thu thuế vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Hành vi trốn thuế, gian lận
thuế diễn ra ngày càng phức tạp với những hành vi ngày càng tinh vi khó phát
hiện, gây thất thoát không nhỏ NSNN… Những năm qua, qua kiểm toán, kiểm toán
nhà nước khu vực XII nói riêng các kiểm toán nhà nước khu vực nói chung đã
phát hiện hành vi vi phạm chính sách thuế diễn ra hầu hết các địa phương, các
loại hình doanh nghiệp; công tác thanh tra, kiểm tra của quan thuế còn bỏ sót
nhiều vi phạm của doanh nghiệp,…
* Nguyên nhân
- Dịch bệnh Covid-19 hoành hành, gây nhiều ảnh hưởng đến nền kinh tế.
Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên hầu hết kim ngạch xuất nhập khẩu của
các mặt hàng đóng góp số thu lớn có xu hướng giảm dần.
Để giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn bởi dịch bệnh, nhà nước đã áp dụng
chính sách miễn giảm thuế, dãn thuế.
- Thất thu thuế nhà nước:
Thuế nguồn thu chính bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh
các nguồn thu khác như tài nguyên, lợi nhuận từ quá trình sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ,…Tuy nhiên, hệ thống
pháp luật nước ta còn nhiều bất cập, sự quản chưa chặt chẽ đã tạo kẽ hở cho
các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể cho
ngân sách nhà nước.
Bên cạnh đó, việc dãn thuế, giảm thuế, miễn thuế một mặt giúp các doanh
nghiệp thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì mở rộng sản xuất, mặt khác lại
làm ảnh hưởng đến việc thu ngân sách nhà nước.

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING -------------------- MÔN HỌC KINH TẾ VĨ MÔ 1 Đề tài:
“ Dựa trên các lý thuyết về ngân sách nhà nước và thâm hụt ngân sách,
hãy phân tích tình hình thâm hụt ngân sách và chi tiêu cho đầu tư công
của Việt Nam trong 3 năm gần đây. Đánh giá tác động của thâm hụt
ngân sách và đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.”
Nhóm thảo luận: nhóm 8
Lớp học phần: 2307MAEC0111
Giảng viên hướng dẫn: Th.s Vũ Thị Thanh Huyền
Hà Nội, ngày…tháng…năm… MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU.......................................................................................................4
1. Lý do lựa chọn đề tài.........................................................................................4
2. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................4
3. Phạm vi nghiên cứu...........................................................................................4
4. Mục đích nghiên cứu.........................................................................................5
5. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT........................................................................6
1. Ngân sách nhà nước..........................................................................................6
2. Thâm hụt ngân sách nhà nước..........................................................................7
3. Chi tiêu cho đầu tư công.................................................................................11
CHƯƠNG II: THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ CHI TIÊU ĐẦU TƯ CÔNG
CỦA VIỆT NAM TRONG VÒNG 3 NĂM GẦN ĐÂY......................................13

I. Tình hình thâm hụt ngân sách nhà nước Việt Nam trong 3 năm gần đây.
.............................................................................................................................13

1. Tình hình thu ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2020 – 2022...............13
2. Tình hình chi ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2020 – 2022...............22
3. Tình hình thâm hụt ngân sách nhà nước giai đoạn 2020 - 2022................28
II, Tình hình chi tiêu cho đầu tư công của Việt Nam trong 3 năm gần đây.
.............................................................................................................................30

1. Về biến động tăng giảm trong đầu tư công................................................30
2. Về cơ cấu đầu tư công...............................................................................32
3. Đánh giá các kết quả đạt được và hạn chế tồn tại, nguyên nhân...............33
CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ
ĐẦU TƯ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM...........39

I. Tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế nhà nước.....39
1. Tác động đến quy mô và tốc độ tăng GDP................................................39
2. Tác động đến cơ cấu nền kinh tế...............................................................39
3. Tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế............................................39
II. Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế nhà nước.................40
1. Tác động đến tổng cầu và tổng cung.........................................................40
2. Tác động đến cơ cấu kinh tế......................................................................40
3. Tác động đến hiệu quả kinh tế...................................................................41
CHƯƠNG IV: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ CHÍNH
SÁCH TÀI KHÓA VÀ ĐẦU TƯ CÔNG ĐỂ THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ TRONG GIAI ĐOẠN TIẾP THEO...................................................42
1. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các dự án đầu tư công........................42
2. Giải pháp giải ngân vốn đầu tư công năm 2023...............................................42
CHƯƠNG V: DỰ ĐOÁN ĐẦU TƯ CÔNG VÀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC TRONG NĂM 2023.........................................................................44

1. Dự kiến vốn đầu tư công năm 2023................................................................44
2. Dự báo sự thâm hụt ngân sách nhà nước năm 2023.......................................44
PHẦN KẾT THÚC................................................................................................45 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài.
Hiện nay, khi xã hội ngày càng phát triển, quá trình công nghiệp hóa – hiện
đại hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, vấn đề chi tiêu cho đầu tư công có vai trò hết
sức quan trọng đối với mỗi nền kinh tế. Tuy nhiên, do tác động của nhiều yếu tố
như: thiên tai, dịch bệnh, đầu tư kém hiệu quả hoặc quy mô chi tiêu của chính phủ
quá lớn … đã dẫn tới tình trạng thâm hụt ngân sách, gây nên những ảnh hưởng
không nhỏ tới nền kinh tế mỗi quốc gia. Và Việt Nam cũng là một nước phải gánh
chịu những ảnh hưởng ấy.
Chính vì vậy, để đối mặt với tình hình này, việc nghiên cứu, đào sâu, đưa ra
các kết luận, đánh giá cũng như giải pháp và kiến nghị lại càng trở nên quan trọng
hơn. Đặc biệt hơn khi bối cảnh hiện tại là thời điểm Việt Nam đang trong quá trình
hội nhập quốc tế và từng bước xây dựng xã hội chủ nghĩa. Nhận thức được tính cấp
thiết của vấn đề này, nhóm 8 chúng em lựa chọn đề tài: “Dựa trên các lý thuyết về
ngân sách nhà nước và thâm hụt ngân sách, hãy phân tích tình hình thâm hụt ngân
sách và chi tiêu cho đầu tư công của Việt Nam trong 3 năm gần đây. Đánh giá tác
động của thâm hụt ngân sách và đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam.”
để nghiên cứu kỹ nhằm chỉ ra các vấn đề và đưa ra giải pháp nhằm khắc
phục tình trạng thâm hụt ngân sách còn tồn đọng.
2. Đối tượng nghiên cứu.
- Các lý thuyết về ngân sách nhà nước và thâm hụt ngân sách.
- Tình hình thâm hụt ngân sách và chi tiêu cho đầu tư công của Việt Nam trong 3
năm gần đây (2020 – 2022).
- Tác động của thâm hụt ngân sách và đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu.
a. Phạm vi không gian
- Trên phạm vi cả nước Việt Nam. - Trên lĩnh vực kinh tế.
b. Phạm vi thời gian:từ năm 2020 đến năm 2022.
4. Mục đích nghiên cứu.
- Đánh giá tình hình thâm hụt ngân sách và chi tiêu cho đầu tư công trong khoảng thời gian này.
- Giải pháp để giải quyết, khắc phục những hạn chế và phương hướng để tiếp tục
phát triển trong thời gian tới.
5. Phương pháp nghiên cứu.
- Sử dụng phương pháp thu thập thông tin, phân tích và đánh giá.
- Sử dụng phương pháp so sánh và đối chiếu.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. Ngân sách nhà nước
a. Khái niệm ngân sách nhà nước
- Ngân sách (NS) là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước trong dự toán đã
được cơ quan của nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một
năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước (Luật Ngân
sách Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
- Đặc điểm của ngân sách nhà nước (NSNN):
+ Quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất gắn với quyền lực của nhà nước trong quá trình
tạo lập, phần phối, và sử dụng các nguồn lực tài chính, gắn bó mật thiết với
quyền sở hữu của nhà nước và lợi ích chung của cộng đồng.
+ Việc quản lý ngân sách nhà nước được thực hiện không chỉ đối với quỹ tiền tệ
tập trung mà cả đối với các quỹ tiền tệ phi tập trung. Các khoản thu chi của
ngân sách nhà nước không được hoàn trả trực tiếp.
- Vai trò của ngân sách nhà nước:
+ Công cụ củng cố bộ máy quản lý nhà nước, tăng cường sức mạnh quốc phòng
và giữ vững an ninh quốc gia.
+ Công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể trong nền kinh tế, góp phần giải
quyết các vấn đề về đời sống và xã hội.
+ Công cụ chủ yếu phân bổ các nguồn lực tài chính, đảm bảo cho nền kinh tế
phát triển với tốc độ nhanh, ổn định và bền vững.
+ Công cụ tăng cường tiềm lực tài chính quốc gia, góp phần ổn định tiền tệ, giá
cả và kiềm chế lạm phát.
+ Công cụ mở rộng quan hệ đối ngoại, đẩy nhanh quá trình hợp tác và hội nhập quốc tế.
b. Nội dung NSNN
- NSNN bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Trong đó:
+ Ngân sách trung ương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp
trung ương hưởng và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi
của cấp trung ương (Theo quy định tại khoản 15 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước 2015).
+ Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp
địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa
phương và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa
phương (Theo quy định tại khoản 13 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước 2015).
+ Theo khoản 2 Điều 6 Luật Ngân sách nhà nước 2015, ngân sách địa phương
gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, được hướng dẫn tại
khoản 2 Điều 6 Nghị định 163/2016/NĐ-CP, gồm các khoản như sau:
“a) Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách
tỉnh), bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương;

b) Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương (gọi chung là ngân sách huyện), bao gồm ngân sách cấp huyện và
ngân sách của các xã, phường, thị trấn;

c) Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã).”
- Như vậy, ngân sách nhà nước có thể hiểu là một thành phần trong hệ thống tài
chính, tổng hợp tất cả các khoản thu và chi của Nhà nước nhằm đảm bảo sự hoạt
động của bộ máy chính quyền Nhà nước từ Trung ương đến địa phương.
c. Trạng thái NSNN
- Trạng thái ngân sách nhà nước thường được hiểu là tình hình tài chính của
chính phủ trong một khoảng thời gian nhất định. Nó bao gồm thu nhập từ các
nguồn khác nhau, chẳng hạn như thuế, lệ phí, khoản tiền vay và các nguồn tài trợ
khác, cùng với chi tiêu của chính phủ cho các mục đích khác nhau, bao gồm
chương trình xã hội, quốc phòng, giáo dục, y tế, hạ tầng và nhiều lĩnh vực khác.
- Trạng thái ngân sách nhà nước có thể được đánh giá dựa trên nhiều chỉ số
khác nhau, bao gồm tổng số thu nhập và chi tiêu, tỷ lệ nợ công, mức lãi suất, mức
độ tăng trưởng kinh tế và nhiều yếu tố khác. Đánh giá trạng thái ngân sách nhà
nước là một phần quan trọng của việc quản lý tài chính công và đưa ra các quyết định về chính sách.
2. Thâm hụt ngân sách nhà nước.
a. Khái niệm về thâm hụt ngân sách nhà nước
- Thâm hụt ngân sách nhà nướclà hiện tượng ngân sách nhà nước không thể cân
đối được (thể hiện chênh lệch giữa cung và cầu về nguồn lực tài chính của Nhà nước).
- Công thức tính thâm hụt ngân sách: B = T - G
B là hiệu số giữa thu và chi.
B < 0: xảy ra thâm hụt ngân sách.
b. Phân loại thâm hụt ngân sách
Hiện nay, thâm hụt ngân sách được chia thành 3 loại
- Thâm hụt ngân sách thực tế: mức thâm hụt khi việc chi thực tế lớn hơn việc thu
thực tế trong một thời kỳ nhất định
- Thâm hụt cơ cấu: những khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách
tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô
chi tiêu cho giáo dục và quốc phòng.
- Thâm hụt chu kỳ: những khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh
tế hay chỉnh bởi mức độ cao thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân.
c. Nguyên nhân thâm hụt ngân sách nhà nước
- Nguyên nhân khách quan:
+ Tác động của chu kỳ kinh doanh: nền kinh tế suy thoái, khủng hoảng làm thu
nhập của một quôc gia giảm xuống, kép theo đó thu NSNN giảm, tuy nhiên
nhu cầu chi NSNN tăng để giải quyết những khó khăn về đời sống cũng như
kinh tế, xã hội và hậu quả tất yếu là thâm hụt NSNN sẽ tăng lên. Ở giai đoạn
nền kinh tế tăng trưởng mạnh, thu NSNN sẽ tăng lên, trong khi chi NSNN
không tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức thâm hụt NSNN.
+ Do hậu quả của các tác nhân gây ra: xã hội luôn phải đối mặt với thiên tai,
chiến tranh, dân số, dịch bệnh,…, những tác nhân đó sẽ gây hậu quả nghiêm
trọng đến tình hình thu chi NSNN. Cụ thể, tăng mạnh nhu cầu chi cho quốc
phòng và khắc phục hậu quả của thiên tai… mặc dù khi lập dự toán các khoản
mục trên đã được dự trù trước, tuy nhiên tổn thất thực tế thường vượt xa dự
toán. Qua đó làm cho NSNN bị thâm hụt nhiều hơn.
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Nguyên nhân thứ nhất: khi nhà nước thực hiện chính sách vĩ mô cho nền kinh
tế nhằm một mục tiêu nào đó sẽ dẫn đến việc thay đổi cơ cấu thu chi NSNN.
+ Nguyên nhân thứ hai (nguyên nhân chiếm tỉ trọng lớn nhất): hoạt động điều
hành của ngân sách nhà nước chưa hiệu quả.
- Thất thu thuế nhà nước: thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho NSNN,
tuy nhiên, do hệ thống pháp luật nước ta còn nhiều điều bất cập, sự quản lí chưa
chặt chẽ đã tạo kẽ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu
một lượng đáng kể cho NSNN. Bên cạnh đó, việc giảm thuế, giãn thuế, miễn thuế
một mặt giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản
xuất. Mặt khác, việc này hoặc chậm thu làm ảnh hưởng đến các khoản chi ngân
sách khác gây thâm hụt ngân sách nhà nước.
- Đầu tư kém hiệu quả: tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương
vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia
còn chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước, kìm hãm
sự phát triển của các vùng miền, là nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước.
- Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn: tăng chi tiêu của chính phủ một mặt
giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn hạn nhưng lại tạo ra những nguy
cơ bất ổn lâu dài như lạm phát và rủi ro tài chính do sự thiếu hiệu quả của các
khoản chi tiêu công và thiếu cơ chế giảm sát đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của
hệ thống tài chính. Lý thuyết kinh tế không chỉ ra 1 cách rõ ràng về hướng tác động
chi tiêu của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế
thường thống nhất rằng chi tiêu của chính phủ một khi vượt quá 1 ngưỡng nào đó
sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây ra phân bố nguồn lực 1 cách không hiệu
quả, dẫn tới thâm hụt ngân sách nhà nước và cuối cùng là gây ra lạm phát.
- Công cụ trong chính sách tài khóa để kính thích sự tăng trưởng kinh tế: sự
thiếu hụt trong những năm qua còn được sử dụng như một công cụ trong chính sách
tài khóa để kích thích sự tăng trưởng kinh tế. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy
điều này thông qua cân đối NSNN hằng năm. Về nguyên tắc, sau khi lấy tổng thu
trừ tổng chi trong năm sẽ xác định được số thặng dư hoặc thiếu hụt ngân sách trong
năm. Tuy nhiên, khi cân đối ngân sách, chúng ta thường xác định số bội chi trước
(thông thường tương đương với mức Quốc hội cho phép) và nguồn còn lại được
Quốc hội cho phép chuyển sang năm sau. Đây là chính sách ngân sách thận trọng
khi áp dụng lý thuyết bội chi 1 cách chủ động và điều đó không gây xáo trộn trong
chính sách kinh tế vĩ mô, nhưng phải cân nhắc và kiểm tra xem toàn bộ số bội chi
có được sử dụng để chi đầu tư phát triển cho các dự án trọng điểm và hiệu quả qua
đó tạo thêm công ăn việc làm, tạo đà cho nền kinh tế phát triển, tăng khả năng thu
NSNN trong tương lai hay không.
- Nhà nước huy động vốn để kích cầu: chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ
chính là phát hành trái phiếu Chính phủ, miễn giảm thuế và sử dụng Quỹ dự trữ nhà
nước. Sử dụng gói giải pháp kích cầu một mặt làm kích thích tiêu dùng, tăng
trưởng kinh tế, mặt khác sẽ làm mức thâm hụt ngân sách tăng rất cao.
- Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên:
đây là 1 trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách áp lực bội chi ngân
sách (nhất là những ngân sách các địa phương). Chúng ta có thể thấy, thông qua cơ
chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung
từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Ngân sách địa phương được phân
cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành
các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo
dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư. Chính điều đó luôn tạo sự căng
thẳng về ngân sách. Để có nguồn kinh phí hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động
hoặc yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả 2 trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN.
d. Tác động của thâm hụt NS đến tăng tưởng kinh tế (TTKT)
* Tác động tích cực
Không phải lúc nào thâm hụt cũng mang lại kết quả xấu, nó cũng có thể đem
lại kết quả tốt trong những trường hợp cụ thể.
Tỷ lệ thâm hụt khi ở mức dao động từ 1- 5% GDP sẽ an toàn cho nền kinh tế.
Khi này thâm hụt sẽ có lợi cho sự phát triển kinh tế. Ví dụ như Chính phủ muốn sử
dụng thâm hụt khoảng 3% GDP để xây dựng các chính sách, các chương trình
nhằm nâng cao, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân: xây nhà tình thương,
giúp đỡ các nạn nhân mắc Covid – 19…
Ngoài ra, thâm hụt ngân sách cũng được sử dụng như một công cụ chính sách
tài khóa nhằm tăng trưởng kinh tế. Ví dụ như khi đại dịch covid diễn ra các doanh
nghiệp gặp khó, khi này chính phủ sẽ giảm thuế và hỗ trợ một số khoản khác. Từ
đó, Chính phủ chấp nhận thâm hụt đổi lại có thể kích thích doanh nghiệp tăng gia
sản xuất và giá thành sản phẩm cũng sẽ rẻ hơn, từ đó sản lượng gia tăng và sức mua
của người dân cũng tăng theo.
* Tác động tiêu cực
Bên cạnh tác động tích cực, thâm hụt ngân sách cũng đem lại những tác động
tiêu cực, ảnh hưởng tới quá trình ổn định kinh tế, phát triển đất nước.
Thứ nhất, thâm hụt làm giảm tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Khi một nền
kinh tế chịu thâm hụt trong thời gian dài, Chính phủ thu về không đủ để chi ra sẽ
khiến cho sản xuất trì trệ, thất nghiệp tăng cao, các tệ nạn xã hội cũng từ đó ngày
càng phát sinh, chỉ số GDP cũng ngày càng suy giảm, vị thế đất nước trên trường
quốc tế cũng trở nên chậm hơn.
Thứ hai, thâm hụt dài hạn sẽ dẫn tới nợ công, vay nước ngoài lớn. Khi chi
không đủ, Chính phủ sẽ cần đi vay người dân thông qua hình thức trái phiếu hoặc
vay nước ngoài để duy trì nền kinh tế. Điều này có thể vô hình tạo ra một vòng
xoáy sâu nếu thâm hụt diễn ra trong thời gian dài khi tiền để vay dùng để trả nợ và
cứ lặp lại nhiều lần như thế.
Thứ ba, thâm hụt càng lớn sẽ dẫn tới lạm phát càng cao. Khi không đủ tiền,
nhà nước có thể dùng tới phương pháp in tiền. Nhưng khi đó, lượng tiền đưa vào
lưu thông lớn sẽ dẫn tới giá cả hàng hóa cao (tiền mất giá) thì lạm phát sẽ theo đó sinh ra.
Thứ tư, thâm hụt ngân sách sẽ ảnh hưởng tới thất nghiệp. Khi thâm hụt gây ra
lạm phát, kéo theo đó là giá cả tăng, chi phí sản xuất lớn, các công ty, xí nghiệp sẽ
hạn chế sản xuất vì giá cả vật liệu, hàng hóa tăng từng ngày. Lúc đó, nhu cầu về
nhân lực, việc làm sẽ giảm dẫn tới tỷ lệ thất nghiệp cao.
3. Chi tiêu cho đầu tư công
a. Khái niệm đầu tư công
Đầu tư công (ĐTC) là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương tình, dự
án và đối tượng ĐTC khác theo quy định của Luật ĐTC.
b. Các khoản mục ĐTC
- Hoạt động ĐTC bao gồm: lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư; lập,
thẩm định, quyết định chương trình, dự án ĐTC; lập, thẩm định, phê duyệt, giao,
triển khai thực hiện kế hoạch, dự án ĐTC; quản lí, sử dụng vốn ĐTC; nghiệm thu,
bàn giao chương trình, quyết toán dự án ĐTC; theo dõi và đánh giá, kiểm tra, thanh
tra kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công.
- Phân loại dự án:
+ Dự án có cấu phần xây dựng là dự án đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp,
mở rộng dự án đã đầu tư xây dựng, bao gồm cả phần mua tài sản, mua trang thiết bị của dự án.
+ Dự án không có cấu phần xây dựng là dự án mua tài sản, nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, mua, sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị, máy móc và dự án
khác không thuộc điều trên.
c. Vai trò của ĐTC
- Từ lâu, người ta đã mặc định rằng thúc đẩy đầu tư công chính là động lực vô
cùng to lớn để phát triển kinh tế, chính trị, xã hội tại Việt Nam, giúp cho nền kinh
tế có được sự tăng trưởng tốt bảo đảm cuộc sống của người dân và cộng đồng sinh
sống tại Việt Nam. Qua các khảo sát cũng như nghiên cứu qua lý thuyết và thực tế
từ năm 1995 cho đến nay đã khẳng định rằng đầu tư công có vai trò đặc biệt quan
trọng đến sự phát triển của Việt Nam.
- Đầu tư được coi là động lực chính thức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bản
chất của mối quan hệ này đã được nghiên cứu trong nhiều nghiên cứu mang tính lý
thuyết và thực nghiệm. Nhiều nghiên cứu ngoài nước phân biệt giữa đầu tư tư nhân
và đầu tư công, theo đó đầu tư công thường được cho là đầu tư cho kết cấu hạ tầng.
Việc phân biệt như vậy rất có ý nghĩa vì đầu tư cho kết cấu hạ tầng có những điểm
khác biệt với nguồn vốn được sử dụng trong các doanh nghiệp.
- Kết cấu hạ tầng là vốn tồn tại bên ngoài doanh nghiệp và hỗ trợ hoạt động kinh
tế của các doanh nghiệp cũng như các hoạt động của các cá nhân. Do vậy, nhiều
doanh nghiệp và cá nhân trong một khu vực có hưởng lợi từ kết cấu hạ tầng đó mà
không mất thêm chi phí hoặc ít nhất với chi phí thấp hơn nếu kết cấu hạ tầng đó
phải được cung cấp cho người sử dụng thêm đó, nên kết cấu hạ tầng có thể coi như
cung cấp những lợi ích ngoại lai cho những người sử dụng đó.
- Tại Việt Nam, Luật Đầu tư công được ban hành vào năm 2014, trong đó có
định nghĩa đầu tư công không bao gồm nguồn vốn của các doanh nghiệp thuộc sở
hữu nhà nước, đầu tư công chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng đầu tư và đóng vai
trò quan trọng, quyết định tốc độ tăng trưởng của đầu tư nói chung. Trong giai đoạn
1995-2013, đầu tư công chiếm 40% tổng đầu tư, cao gấp đôi tỷ trọng FDI và đầu tư
tư nhân. Sau khi giảm nhẹ trong năm 2010, năm 2011 tỷ trọng đầu tư công đã phục
hồi đạt mức cao của năm 2009 (40,4% tổng vốn đầu tư). Tốc độ tăng trưởng 7,5%
trong năm 2013 cũng tương quan mạnh mẽ với mức tăng trưởng đầu tư 7,3% của
năm đó. Bất chấp sự tăng trưởng nhanh chóng này, cơ cấu đầu tư công vẫn được
coi là có vấn đề ở chỗ là nó quá tập trung vào doanh nghiệp nhà nước. Do vậy, có
hiện tượng chèn ép đầu tư tư nhân và ít thu hút được các loại hình đầu tư khác.
CHƯƠNG II: THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ CHI TIÊU ĐẦU TƯ CÔNG
CỦA VIỆT NAM TRONG VÒNG 3 NĂM GẦN ĐÂY
I. Tình hình thâm hụt ngân sách nhà nước Việt Nam trong 3 năm gần đây.
1. Tình hình thu ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2020 – 2022
a. Về biến động tổng thu NS
* Năm 2020
- Về quyết toán thu ngân sách nhà nước (NSNN), dựđoán là 1.539.052,8 tỷđồng;
quyết toán là 1.510.579,2 tỷđồng, giảm 1,9% so với dựđoán; trong đó, thu ngân
sách Trung ương giảm 92.076,6 tỷđồng, thu ngân sách địa phương tăng 63.603 tỷđồng.
- Báo cáo kiểm toán quyết toán NSNN năm 2020, Tổng Kiểm toán Nhà nước
Trần Sỹ Thanh nhấn mạnh năm 2020 là năm cuối của kế hoạch tài chính 5 năm
quốc gia giai đoạn 2016 - 2020. Dự toán NSNN năm 2020 được thực hiện trong bối
cảnh dịch bệnh COVID-19 bùng phát trên phạm vi toàn cầu, thiên tai, bão lũ xảy ra
nghiêm trọng ở miền Trung, Tây Nguyên… tác động lớn đến toàn bộ đời sống kinh
tế - xã hội, ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện nhiệm vụ thu, chi NSNN, ngoài
dự báo khi Chính phủ trình và Quốc hội quyết nghị kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội và dự toán NSNN năm 2020.
- Song với sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, cả
hệ thống chính trị đã vào cuộc; doanh nghiệp, người dân đồng hành ủng hộ đã góp
phần hạn chế những tác động gây sốc, tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và
thu chi NSNN năm 2020. Trong đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt 2,91%,
giảm so với kế hoạch 6,8% nhưng vẫn thuộc nhóm các nước tăng trưởng dương.
Thu NSNN xấp xỉ dự toán, riêng thu nội địa vượt dự toán. * Năm 2021
- Cụ thể, thu NSNN dự toán là 1.343,3 nghìn tỷ đồng, báo cáo Quốc hô •i ước đạt
1.365,5 nghìn tỷ đồng, kết quả thực hiê •n đạt 1.568,4 nghìn tỷ đồng, vượt 225,1
nghìn tỷđồng (16,8%) so dự toán, tăng 202,9 nghìn tỷ đồng so với báo cáo Quốc
hô •i. Tỷ lệ động viên thu NSNN đạt 18,7% GDP, riêng thu thuế và phí đạt 15,1% GDP.
- Trong bối cảnh nền kinh tế chịu tác động nghiêm trọng của dịch bệnh, đặc biệt
trong khoảng giữa năm 2021, Chính phủ đánh giá kết quả thu NSNN đạt được như
trên nhờ số thu tăng khá trong quý I và quý IV (31,8% và 35,8%), thể hiện tính
hiệu quả của việc điều chỉnh kịp thời chính sách tài khóa, tiền tệ để tháo gỡ khó
khăn cho doanh nghiệp và người dân, các giải pháp kích cầu đầu tư, tiêu dùng thúc
đẩy phục hồi kinh tế đã tác động tích cực đến hoạt động sản xuất – kinh doanh và nền kinh tế. * Năm 2022
- Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày báo cáo, Bộ trưởng Bộ Tài
chính Hồ Đức Phớc cho biết trong 9 tháng đầu năm 2022, thu ngân sách nhà nước
đạt 94% dự toán. Trong đó, thu nội địa đạt 88,9% dự toán, thu dầu thô đạt 113% dự
toán, thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 108,8% dự toán. Theo đó, cả năm
thu ngân sách ước tăng 14,3% so với dự toán.
- Thông tin về một số khoản thu chính, Tổng cục Thống kê, cho biết thu nội địa
tháng 12 ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng. Lũy kế năm 2022 đạt 1.421,8 nghìn tỷ đồng,
bằng 120,8% dự toán năm và tăng 9% so với năm trước.
b. Về cơ cấu thu NS * Năm 2020
- Tổng thu ngân sách: 1.539.053 tỷ đồng.
- Thu nội địa; quyết toán đạt 1.293.728 tỷ đồng, tăng 2.951 tỷ đồng (+0,2%) so
với dự toán, chủ yếu là tăng từ các khoản thu về nhà đất (87.970 tỷ đồng), thu từ
hoạt động xổ số kiến thiết (5.226 tỷ đồng) và thu khác ngân sách (22.229 tỷ đồng);
tỷ trọng thu nội địa đạt 85,6% tổng thu NSNN, tăng so với các năm trước. Từ cuối
Quý III/2020, nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh, đồng thời các chính sách hỗ trợ cho
doanh nghiệp, người dân ứng phó với dịch Covid-19 đã phát huy tác dụng, kinh tế
phục hồi khá, tác động tích cực đến số thu NSNN;
-Thu ngân sách từ 3 khu vực kinh tế không đạt dự toán (khu vực DNNN đạt
83,3%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 91,4%; khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh đạt 91,2% dự toán).
- Thu dầu thô; quyết toán 34.598 tỷ đồng, giảm 1,7% (602 tỷ đồng) so với dự
toán do giá dầu thô thanh toán bình quân đạt 45,7 USD/thùng, giảm 14,3
USD/thùng so với giá dự toán (là 60 USD/thùng); sản lượng thanh toán đạt 9,56
triệu tấn, tăng 540 nghìn tấn so với dự toán.
- Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu: quyết toán 177,444 tỷ đồng, giảm
14,7% (30,556 tỷ đồng) so với dự toán. Năm 2020, mặc dù tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu đạt 545,4 tỷ USD, tăng 5,35% so với năm 2019, tuy nhiên, kim ngạch
xuất nhập khẩu hàng có thuế giảm 12,9% so với dự toán (một số mặt hàng nhập
khẩu có số thu lớn giảm mạnh như ô tô nguyên chiếc, sắt thép, máy móc, thiết bị,
dụng cụ phụ tùng, hóa chất...) làm giảm thu ngân sách trong lĩnh vực này so với dự toán.
- Số hoàn thuế giá trị gia tăng theo thực tế phát sinh là 137.019 tỷ đồng, tăng
7.019 tỷ đồng so với dự toán. Công tác hoàn thuế GTGT được kiểm soát chặt chẽ,
đảm bảo đúng quy định của pháp luật, đúng đối tượng và thực tế phát sinh, không
gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp; đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ thông tin trong quản lý hoàn thuế, kết hợp với tăng cường thanh tra, kiểm tra
sau hoàn thuế, phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm
- Thu viện trợ không hoàn lại: quyết toán 4.808 tỷ đồng, giảm 268 tỷ đồng so với dự toán.
Ngoài ra, thực hiện chủ trương của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội”, trong năm 2020, Chính phủ đã thực hiện miễn, giảm nghĩa
vụ thuế và một số khoản thu ngân sách, qua đó giúp doanh nghiệp, hộ kinh doanh
và người dân vượt qua khó khăn, duy trì hoạt động sản xuất - kinh doanh, từng
bước thích ứng với trạng thái bình thường mới, được dư luận đánh giá cao. Theo
đó, tổng số thuế, phí, tiền thuê đất đã miễn, giảm là 16.307 tỷ đồng; số gia hạn thời
hạn nộp thuế GTGT, TNDN, TTĐB và tiền thuê đất là 97,259 tỷ đồng. * Năm 2021
- Một số ngành, lĩnh vực như ngân hàng, chứng khoán, bất động sản, xây
dựng, sản xuất sắt thép, ô tô, … được hưởng lợi từ các chính sách nêu trên đã
phát sinh lợi nhuận tăng đột biến, tăng thu cho NSNN. Đồng thời, một số khoản
thu cũng phát sinh đột biến ngoài dự kiến khi xây dựng dự toán, như: thu thuế
thu nhập doanh nghiệp từ chuyển nhượng ự
d án khu đô thị Phước Hưng 2.373 tđ
ỷồng; thu từ hoạt động chuyển ượ nh
ng bất động sản của Tập đoàn Ecopark 1.290 t đ
ỷồng; thu chênh lệch giá khí trong bao tiêu bán cho 2 nhà máy điện BOT
của TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu từ ngày 20/3/2019 và năm 2020 là 2.457 t đ
ỷồng. Cùng với đó là thu từ chuyển nhượng ố v n của một số doanh nghiệp khoảng 5.300 t đ ỷồng; thu tiền sử ụ d ng đất 1 lần cho c đ ảời dự án (Đại
sứ quán Mỹ, Công ty cổ phần đầu tư và du lịch Vạn Hương; Công ty cổ phần
đầu tư và phát triển du lịch Vinaconex, Tổng công ty Đầu tư và phát triển công
nghiệp, …) khoảng 7.000 t đ
ỷồng; thu hồi chi năm trước của Ban quản lý dự án Thủ Thiêm 2.515 tỷđ ồng.
- Cụ thể: Thu nội địa vượt 21,8% dự toán, tăng 9,9%; thu từ dầu thô vượt 176%
dự toán, tăng 74,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu vượt
43,9% dự toán, tăng 32,7% so với cùng kỳ năm 2021.
- Thu NSNN năm 2022 vượt dự toán chủ yếu do hoạt động kinh tế tiếp tục duy
trì đà phục hồi và tăng trưởng khả quan với GDP tăng 8,02%; tổng mức bán lẻ tăng
19,8%; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,8%, xuất khẩu tăng 10,6%, nhập khẩu
tăng 8,4%, xuất siêu 11,2 tỷ USD. Bên cạnh đó, giá dầu và một số hàng hóa,
nguyên liệu đầu vào tăng cao đã góp phần tăng thu từ dầu thô và từ hoạt động xuất nhập khẩu.
- Một số khoản thu có mức vượt khá so với dự toán như: Thuế thu nhập cá nhân
vượt 38,5%, chủ yếu nhờ thị trường chứng khoán, bất động sản tăng trưởng mạnh
trong năm 2021; quyết toán thuế năm 2021 từ các hoạt động chuyển nhượng bất
động sản, chứng khoán... được nộp trong quý I/2022; các khoản thu về nhà, đất
vượt 54,5% do thị trường bất động sản duy trì đà phát triển từ cuối năm 2021; các
địa phương đã đẩy mạnh triển khai công tác giải phóng mặt bằng, đấu giá đất, đôn
đốc thu tiền sử dụng đất và xử lý thu hồi nợ đọng của các dự án đã thực hiện giao
đất, góp phần tăng thu tiền sử dụng đất năm 2022 so dự toán; thu hồi vốn, thu cổ
tức, lợi nhuâ •n, lợi nhuâ •n sau thuế, chênh lê •ch thu chi của Ngân hàng Nhà nước tăng
17% chủ yếu do tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nhiệp năm 2022 đã có
sự hồi phục; phát sinh khoản thu tiền cổ tức năm 2020 được chia trong năm 2022
của 2 ngân hàng Vietcombank và Vietinbank khoảng 5,8 nghìn tỷ đồng, qua đó góp phần tăng thu NSNN.
- Cơ quan Thuế, Hải quan cũng tăng cường quản lý thuế, xây dựng cơ sở dữ liệu
lớn từ hóa đơn điện tử để truy dấu gian lận, rà soát những nguồn thu có tiềm năng
nhưng còn thất thu để đưa vào quản lý, quyết liệt quản lý, chống thất thu, khai thác
tăng thu từ hoạt động thương mại điện tử, từ hoạt động chuyển nhượng bất động
sản. Đến nay đã có 42 nhà cung cấp nước ngoài kê khai nộp thuế, với tổng số thuế
đã nộp là 3,44 nghìn tỷ đồng; ước thu cả năm 2022 từ hoạt động chuyển nhượng
bất động sản đạt hơn 41 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 20 nghìn tỷ đồng, khoảng 97% so
năm, đã góp phần không nhỏ trong việc tăng thu NSNN trong năm 2022.
- Có 10 khoản thu vượt dự toán, trong đó thu từ nhà, đất đạt 154,5%; thu từ hoạt
động sổ xố kiến thiết đạt 118,2% và các khoản thu trực tiếp từ hoạt đô •ng sản xuất-
kinh doanh ở 03 khu vực kinh tế (thu từ khu vực doanh nghiê •p Nhà nước đạt
114,3% dự toán, tăng 7,4% so với năm trước; thu từ khu vực doanh nghiê •p có vốn
đầu tư nước ngoài đạt 117,6% dự toán, tăng 11,5%; thu từ khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh đạt 121,5% dự toán, tăng 5,9%). Còn 02 khoản thu không đạt dự toán
là thu thuế bảo vệ môi trường (đạt 72% dự toán, bằng 73,3% so cùng kỳ) do thực
hiện giảm mức thuế bảo vệ môi trường đối với các mă •t hàng xăng, dầu, mỡ nhờn
theo các Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 18/2022/UBTVQH15 và
số 20/2022/UBTVQH15 tác động làm giảm thu NSNN và thu cổ phần hóa, thoái
vốn Nhà nước tại doanh nghiệp (đạt 12,1% dự toán) do tiến độ cổ phần hóa, thoái
vốn nhà nước tại doanh nghiệp chậm. * Năm 2022
- Tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước đạt 17,2% GDP; từ thuế, phí đạt 13,9% GDP.
- Lũy kế tổng thu ngân sách nhà nước năm 2022 đạt 1.784,8 nghìn tỷ đồng, bằng
126,4% dự toán năm và tăng 13,8% so với năm trước.
- Thông tin về một số khoản thu chính, Tổng cục Thống kê, cho biết thu nội địa
tháng 12 ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng. Lũy kế năm 2022 đạt 1.421,8 nghìn tỷ đồng,
bằng 120,8% dự toán năm và tăng 9% so với năm trước.
- Trong đó: Thu nội địa thực hiện tháng 7/2022 ước đạt 116,1 nghìn tỷ đồng,
tăng khoảng 19,6 nghìn tỷ đồng so tháng 6/2022. Lũy kế thu 7 tháng năm 2022 ước
đạt 870,4 nghìn tỷ đồng, bằng 74% dự toán, tăng 15% so cùng kỳ năm 2021; Thu
từ dầu thô: Thực hiện tháng 7/2022 ước đạt 7 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 1,9 nghìn
tỷ đồng so tháng 6/2022. Lũy kế thu 7 tháng ước đạt 43 nghìn tỷ đồng, bằng
152,5% dự đoán, tăng 91,6% so với cùng kỳ năm 2021.
- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu, thực hiện thu tháng 7/2022
ước đạt 20,6 nghìn tỷ đồng, giảm khoảng 6,9 nghìn tỷ đồng so với tháng 6/2022.
Lũy kế thu 7 tháng ước đạt gần 179, 8 nghìn tỷ đồng, bằng 90,3% dự đoán, tăng
23,6% so với cùng kỳ năm 2021, trên cơ sở: Tổng số thu thuế ước đạt 261,2 nghìn
tỷ đồng, bằng 74,2% dự đoán; hoàn thuế giá trị gia tăng theo chế độ khoảng 81,4
nghìn tỷ đồng, bằng 53,2% dự đoán.
(Nguồn: VNE; Ngân sách nhà nước bội thu hơn 100 nghìn tỷ đồng sau 11 tháng/
Chứng khoán Tân Việt)
(Nguồn: Công khai báo cáo ngân sách 6 tháng đầu năm 2022/ Cổng thông tin điện tử Chính phủ)
c. Nhận xét kết quả đạt được, hạn chế, tồn tại và nguyên nhân * Nhận xét
- Khoảng thời gian 2020-2022 là khoảng thời gian khó khăn với nền kinh tế khi
đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh tế và đời sống xã
hội của người dân, đồng thời tác động siêu tiêu cực tới thực hiện dự toán ngân sách
khi một số nguồn thu sụt giảm.
- Dịch Covid-19 đã đảo lộn nguyên tắc ngân sách, các chính sách miễn, giảm,
giãn thuế, lệ phí, tiền thu đất khiến thu ngân sách giảm.
- Số thu NSNN tăng chủ yếu từ dầu thô, hoạt động xuất nhập khẩu, tiền sử dung
đất thuế, phí nội địa, sản xuất, kinh doanh.
- Kết quả này có được từ sự đúng đắn trong chủ trương của Bộ Tài chính, đó là:
Quản lý thu, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp,
phấn đấu tăng thu ở những địa bàn, lĩnh vực có điều kiện, quyết liệt xử lý thu hồi nợ đọng thuế.
- Một số ngành, lĩnh vực được hưởng lợi từ chính sách nới lỏng về tài khóa, tiền
tệ đã tạo thêm nguồn thu cho NSNN.
* Hạn chế, tồn tại
- Mặc dù về tổng thể, số thu ngân sách nhà nước vượt mức dự toán đặt ra nhưng
thực tế công tác thu ngân sách vẫn gặp khó khăn.
- Nhiều doanh nghiệp gặp khó về tài chính, vốn sản xuất, kinh doanh, kinh tế
biên mậu không ổn định; giao thông kết nối chưa đồng bộ; dịch vụ và kết cấu hạ
tầng phục vụ du lịch chưa đáp ứng yêu cầu, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp cũng như giảm số nộp ngân sách nhà nước.
- Chính sách quản lý đối với hàng hóa xuất - nhập khẩu và chính sách quản lý
chặt chẽ cửa khẩu phụ, lối mở phía Trung Quốc đã làm giảm lượng giao dịch
thương mại, ảnh hưởng đến hoạt động thương mại, xuất - nhập khẩu, làm giảm số
thu phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, dịch vụ tiện ích công cộng khác trong khu vực cửa khẩu.
- Dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất,
kinh doanh của các doanh nghiệp... Những yếu tố đó có thể làm giảm số thu ngân
sách nhà nước tại khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.
- Việc thu ngân sách thực tế luôn cao hơn dự toán thu Ngân sách Nhà nước đặt ra
yêu cầu về công tác dự báo thu Ngân sách Nhà nước cần chính xác và sát với thực
tế hơn. Bên cạnh đó, xuất phát từ nguyên nhân chủ quan một số địa phương có thể
muốn dự báo thu ngân sách ở mức thấp hơn so với thu ngân sách thực tế hàng năm
để từ đó có khoản thưởng vượt thu từ ngân sách trung ương.
- Đối với các khoản thu lệ phí, các cơ quan hành chính nhà nước được để lại một
phần để bù đắp chi phí thu, phần còn lại mới nộp vào NSNN. Việc để lại như vậy
làm một phần số thu lệ phí bị để ngoài ngân sách, đồng thời tỷ lệ để lại chưa sát
hoạt động của đơn vị, nên có đơn vị không đủ kinh phí để tổ chức thu, có đơn vị
thừa nguồn thu dẫn đến dư kinh phí hoặc sử dụng sai mục đích…
- Phân tích đến thu - chi ngân sách không thể không đề cập tới vấn đề nợ đọng,
trốn thuế, thất thu thuế vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Hành vi trốn thuế, gian lận
thuế diễn ra ngày càng phức tạp với những hành vi ngày càng tinh vi và khó phát
hiện, gây thất thoát không nhỏ NSNN… Những năm qua, qua kiểm toán, kiểm toán
nhà nước khu vực XII nói riêng và các kiểm toán nhà nước khu vực nói chung đã
phát hiện hành vi vi phạm chính sách thuế diễn ra ở hầu hết các địa phương, các
loại hình doanh nghiệp; công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế còn bỏ sót
nhiều vi phạm của doanh nghiệp,… * Nguyên nhân
- Dịch bệnh Covid-19 hoành hành, gây nhiều ảnh hưởng đến nền kinh tế.
Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên hầu hết kim ngạch xuất nhập khẩu của
các mặt hàng đóng góp số thu lớn có xu hướng giảm dần.
Để giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn bởi dịch bệnh, nhà nước đã áp dụng
chính sách miễn giảm thuế, dãn thuế.
- Thất thu thuế nhà nước:
Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh
các nguồn thu khác như tài nguyên, lợi nhuận từ quá trình sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ,…Tuy nhiên, hệ thống
pháp luật nước ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đã tạo kẽ hở cho
các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể cho ngân sách nhà nước.
Bên cạnh đó, việc dãn thuế, giảm thuế, miễn thuế một mặt giúp các doanh
nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất, mặt khác lại
làm ảnh hưởng đến việc thu ngân sách nhà nước.