



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI -------- -------- ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: KINH TẾ VĨ MÔ I Đề tài:
Dựa trên lý thuyết về lạm phát, hãy phân tích tình hình lạm phát
của Việt Nam trong 3 năm gần đây. Phân tích những nhân tố ảnh
hưởng đến biến động mức giá chung của Việt Nam thời gian qua.
Hãy phân tích, đánh giá hiệu quả các chính sách liên quan đến kiểm
soát lạm phát mà chính phủ Việt Nam đã sử dụng thời gian qua. Nhóm 10
Lớp học phần: 2307MAEC0111
Giáo viên hướng dẫn: Vũ Thị Thanh Huyền Hà Nội, tháng 4 năm 2023 1 MỤC LỤC
PHẦN NỘI DUNG..............................................................................................5
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT....................................................................................5
1. Lí thuyết chung về lạm phát.....................................................................5
1.1 Khái niệm..............................................................................................5
1.2 Phân loại lạm phát...............................................................................5
1.3 Nguyên nhân dẫn đến lạm phát..........................................................6
1.4 Ảnh hưởng của lạm phát.....................................................................7
2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát.............................................8
2.1 Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế...............................9
2.2 Sự đánh đổi giữa mục tiêu kiềm chế lạm phát và tốc độ tăng
trưởng kinh tế...........................................................................................10
2.3 Mối quan hệ phi tuyến tính giữa tăng trưởng và lạm phát............10
3. Chính sách kiểm soát lạm phát..............................................................11
3.1 Giải pháp từ phía cầu........................................................................11
3.2 Giải pháp từ phía cung......................................................................12
3.3 Một số biện pháp hỗ trợ khác...........................................................12
II. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM TRONG 3
NĂM GẦN ĐÂY.............................................................................................13
1. Khái quát về tình hình lạm phát Việt Nam trong giai đoạn 2020 –
2022...............................................................................................................13
1.1 Năm 2020............................................................................................13
1.2 Năm 2021............................................................................................14
1.3 Năm 2022............................................................................................15
2 Ảnh hưởng của lạm phát đến phát triển kinh tế ở Việt Nam...............16
2.1 Các chỉ số lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng, GDP của Việt Nam qua 3
năm gần đây..............................................................................................16
2.2 Ảnh hưởng của lạm phát đến các yếu tố chủ yếu trong kinh tế....17 2
III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BIẾN ĐỘNG MỨC GIÁ
CHUNG CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA............................................21
1. Chính sách tài khóa.................................................................................21
2. Chính sách tiền tệ....................................................................................23
3. Các chính sách kiểm soát giá và thu nhập khác...................................30
3.1 Kiểm soát bằng cách kiểm soát lạm phát.........................................30
3.2 Kiểm soát dịch bệnh...........................................................................30
3.3 Giảm giá dịch vụ giáo dục.................................................................30
4. Đánh giá hiệu quả và hạn chế của các chính sách................................30
4.1 Chính sách tài khóa...........................................................................30
4.2 Chính sách tiền tệ...............................................................................32
4.3 Các chính sách kiểm soát giá và thu nhập khác..............................35
IV. Một số giải pháp để kiểm soát lạm pháp trong năm 2023 và các năm
tiếp theo...........................................................................................................36
PHẦN KẾT LUẬN............................................................................................39
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................40
PHẦN KẾT LUẬN............................................................................................41 3 LỜI MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, tình hình lạm phát đang diễn ra và khó kiểm soát.
Nó trở thành chủ đề nóng trên khắp các diễn đàn. Vậy tại sao lại bình luận về
lạm phát khi mà đã có nhiều người nói về nó? Nhóm em đã đưa ra 3 lí do:
-Thứ nhất, ảnh hưởng của lạm phát liên quan đến sự ổn định và công bằng xã hội.
-Thứ hai, chúng ta cần làm sáng tỏ nguyên nhân gây ra lạm phát.
-Thứ ba, vì đây thực sự là một vấn đề rất cần thiết cho các doanh nghiệp hiện
nay, nắm bắt kịp thời thông tin về lạm phát giúp doanh nghiệp có thể điều
chỉnh được chiến lược kinh doanh của mình cho phù hợp, hạn chế được
những rủi ro về lãi suất, tỷ giá..
Chính vì vậy, nhóm em quyết định chọn đề tài này để tìm hiểu, nghiên cứu cho bài thảo luận. 2. Mục tiêu nghiên cứu
-Hệ thống hóa những vấn đề lí luận kinh tế vĩ nô nói chung và lạm phát nói riêng.
-Phân tích tình hình lạm phát Việt Nam hiện nay.
-Căn cứ vào cơ sở lí luận và kết quả phân tích, đánh giá thực trạng lạm phát,
đề xuất giải pháp khắc phục.
3. Đối tượng nghiên cứu
Chuyên về nghiên cứu những vấn đề lý luận thực tiễn về kinh tế vi mô trong đó có lạm phát. 4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay, số liệu nghiên
cứu trong mấy năm trở lại đây chủ yếu trong giai đoạn 2019 - 2022 1. 4 PHẦN NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. Lí thuyết chung về lạm phát 1.1 Khái niệm
-Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch
vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó. Khi mức giá
chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so
với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ.
-Lạm phát được tính theo công thức sau: gp= (Ip −1 )×10 0(%) Ip−1 Trong đó:
Ip : Chỉ số giá chung của thời kì nghiên cứu;
Ip−1 : Chỉ số giá chung của thời kì được chọn làm gốc so sánh;
gp : Tỷ lệ lạm phát của thời kì nghiên cứu (có thể là tháng, quý, hoặc năm). 1.2 Phân loại lạm phát
Lạm phát được biết rộng rãi với 3 cấp độ như sau:
-Lạm phát vừa phải: được đặc trưng bằng giá cả tăng chậm và có thể dự đoán
được. Tỷ lệ lạm phát hàng năm là một chữ số. Khi giá tương đối ổn định, mọi
người tin tưởng vào đồng tiền, họ sẵn sàng giữ tiền vì nó hầu như giữ nguyên
giá trị trong vòng một tháng hay một năm. Mọi người sẵn sàng làm những hợp
đồng dài hạn theo giá trị tính bằng tiền vì họ tin rằng giá trị và chi phí mua và
bán sẽ không chệch đi quá xa.
-Lạm phát phi mã: tỷ lệ tăng giá trên 10% đến < 100% được gọi là lạm phát 2
hoặc 3 con số. Đồng tiền mất giá nhiều, lãi suất thực tế thường âm, không ai 5
muốn giữ tiền mặt. Mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cần thiết cho
việc thanh toán hằng ngày và thích giữ hàng hóa, vàng hay ngoại tệ.
-Siêu lạm phát: tỷ lệ tăng giá khoảng trên 1000% /năm. Đồng tiền gần như
mất giá hoàn toàn. Các giao dịch diễn ra trên cơ sở hàng đổi hàng do tiền
không còn làm được chức năng trao đổi. Nền tài chính bị khủng hoảng.
-Lạm phát vừa phải là mức mà đa số các quốc gia đều mong muốn. Các quốc
gia thường dùng các chính sách để kiềm chế, kích thích để mức lạm phát đạt ở
ngưỡng vừa phải, từ đó nền kinh tế phát triển đi lên.
1.3 Nguyên nhân dẫn đến lạm phát
1.3.1 Lạm phát do cầu kéo
-Lạm phát cầu kéo xảy ra khi các thành phần của chi tiêu gia tăng khiến cho
tổng cầu tăng, tổng cầu tăng sẽ tác động làm cho sản lượng tăng và mức giá
chung tăng lên gây ra lạm phát, điều này đặc biệt dễ xảy ra khi sản lượng đã
đạt hoặc vượt quá mức tự nhiên. Các nguyên nhân cụ thể bao gồm:
Sự tăng lên đột biến trong cầu tiêu dùng của hộ gia đình.
Sự tăng lên trong đầu tư.
Sự tăng lên trong chi tiêu Chính phủ.
Sự tăng lên trong xuất khẩu ròng.
1.3.2 Lạm phát do chi phí đẩy
-Chi phí đầu vào của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên
liệu đầu vào, máy móc, thuế… Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố đầu vào tăng
lên thì tổng chi phí sản xuất của các doanh nghiệp cũng tăng lên, vì thế mà giá
thành sản phẩm cũng sẽ tăng lên từ đó tạo ra lạm phát.
-Ví dụ: Cuộc xung đột giữa Nga và Ucraina diễn ra, khiến cho giá các loại
nông sản như: lương thực, bông; thức ăn chăn nuôi; phân bón; kim loại công
nghiệp; sắt thép xây dựng tăng cao dẫn tới lạm phát. 1.3.3 Lạm phát dự kiến
-Trong nền kinh tế tiền tệ trừ siêu lạm phát và lạm phát phi mã, lạm phát vừa
phải có xu hướng tiếp tục giữ mức lịch sử của nó. Giá cả trong trường hợp này 6
tăng đều đều với một tỷ lệ tương đối ổn định. Tỷ lệ lạm phát này được gọi là tỷ
lệ lạm phát dự kiến vì mọi người đã có thể dự tính trước mức độ của nó.
-Mọi hoạt động kinh tế sẽ trông đợi và ngắm vào nó để tính toán điều chỉnh
(ví dụ điều chỉnh lãi suất danh nghĩa, tiền lương danh nghĩa, giá cả trong các
hợp đồng kinh tế, các khoản chi, tiêu ngân sách…
1.4 Ảnh hưởng của lạm phát
-Trong điều kiện bình thường, nền kinh tế nào cũng tồn tại lạm phát và nó ở
mức độ chấp nhận được, thường dưới 10%/năm đối với các nước đang phát
triển. Lạm phát gây tác hại lớn cho nền kinh tế bởi sự biến động ngoài dự tính
của nó. Khi lạm phát vượt quá mức dự tính, nó tạo nên sự biến động bất
thường về giá trị tiền tệ, làm sai lệch toàn bộ thước đo các quan hệ giá trị và
ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh tế xã hội của đất nước.
1.4.1 Đối với sản lượng và việc làm
-Khi giá cả tăng, sản lượng quốc dân cũng thay đổi theo, có thể tăng, giảm
hoặc không đổi. Nếu lạm phát là do cầu thì sản lượng có thể tăng nhiều hay ít
phụ thuộc vào độ dốc của đường cung. Nếu lạm phát do cung gây ra thì sản
lượng giảm, giá tăng cao, nền kinh tế sẽ rơi vào thời kì lạm phát đình trệ.
-Lạm phát làm gia tăng số lượng người thất nghiệp, đời sống người dân sẽ
khó khăn. Thu nhập người dân bị giảm mạnh. Một hệ lụy khủng khiếp là khi
lạm phát xảy ra người giàu sẽ tích lũy tài sản và hàng hóa. Trong khi người
nghèo không có đủ tiền mua sắm hàng hóa thiết yếu hàng ngày.
1.4.2 Đối với việc phân phối lại thu nhập
-Lạm phát thường được tính toán dựa trên tỷ lệ lạm phát dự tính. Nếu lạm
phát thực tế cao hơn lạm phát dự tính thì: Người đi vay, ngân hàng và doanh
nghiệp được lợi, trong khi đó, người cho vay, người gửi tiết kiệm và người lao
động nhận một số tiền lương cố định chưa được điều chỉnh theo lạm phát sẽ chịu thiệt.
-Khi lạm phát xảy ra, con người cần nhiều tiền hơn để sẵn sàng cho việc chi
trả những món hàng hóa như khi chưa có lạm phát. Khiến cho họ phải đi vay 7
tiền và các doanh nghiệp cũng cần phải vay vốn nhiều hơn để nhập nguyên vật
liệu và hàng hóa duy trì hoạt động kinh doanh.
-Nhiều người vay dẫn đến các ngân hàng phải tăng lãi suất, nếu lãi suất tăng
nhiều mà doanh nghiệp sử dụng số tiền đó để kinh doanh, khoản lợi nhuận do
kinh doanh mang lại nhỏ hơn số tiền lãi phải trả ngân hàng thì nền kinh tế có
nguy cơ suy thoái vì các doanh nghiệp thu hẹp sản xuất.
1.4.3 Thay đổi cơ cấu kinh tế
-Lạm phát có thể làm thay đổi cơ cấu kinh tế do giá các loại hàng hóa không
thay đổi theo cùng tỷ lệ. Những ngành có giá tăng nhanh sẽ tăng tỉ trọng chiếm
trong tổng sản lượng, nguyên nhân là do giá tăng nhanh làm tăng giá trị sản
lượng tính theo giá hiện hành. Mặt khác, giá một số ngành tăng nhanh, nguồn
sản xuất sẽ chảy về ngành đó, làm tăng sản lượng thực của ngành.
-Ngành có tốc độ tăng giá chậm sản lượng sẽ giảm xuống, kết quả tỉ trọng
ngành có giá tăng nhanh sẽ cao hơn. Tỉ trọng các ngành khác sẽ thấp hơn.
1.4.4 Đối với hiệu quả kinh tế
-Lạm phát xảy ra càng cao sẽ làm cho hiệu quả kinh tế càng suy giảm. Cụ thể như:
Kích thích người nước ngoài rút vốn về.
Lạm biến động dạng cơ cấu đầu tư.
Làm suy yếu thị trường.
Làm sai lêch tín hiệu giá cả.
Làm phát sinh chi phí điều chỉnh giá.
Làm lãng phí thời gian cho việc đối phó với tình trạng mất gia tiền tệ.
Làm giảm sức cạnh tranh với nước ngoài.
2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát
-Lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai mặt của xã hội, là hai vấn đề kinh tế
trong nền kinh tế. Lạm phát có thể coi là kẻ thù của tăng trưởng kinh tế nhưng
nó là hai vấn đề luôn tồn tại song song với nhau. Theo cách hiểu thông thường,
lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế vì làm giảm năng suất
lao động. Tuy nhiên, đã có không ít nhà kinh tế lập luận rằng, lạm phát ở mức 8
nhẹ sẽ có tác dụng tích cực đến tăng trưởng kinh tế cụthể bằng cách tiếp cận
nào đó họ đã tìm ra ngưỡng lạm phát mới cho các nước đang phát triển, các
nước công nghiệp và cho rằng nếu lạm phát vượt qua ngưỡngmới này sẽ tác
động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.
-Khái niệm tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng
sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc dân (GNP) hoặc quy mô
sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định.
2.1 Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế 2.1.1 Tác động tiêu cực
2.1.1.1 Tác động từ lãi suất
-Tác động đầu tiên đến lạm phát chính là lãi suất. Do đó khi tỷ lệ lạm phát
tăng cao nhưng muốn giữ lãi suất thực ổn định và dương thì lãi suất danh nghĩa
phải tăng và khi lãi suất danh nghĩa tăng thì hậu quả của nền kinh tế là bị suy
thoái và thất nghiệp gia tăng.
2.1.1.2 Tác động từ thu nhập thực tế
-Giữa thu nhập thực tế và thu nhập danh nghĩa của người dân có quan hệ với
nhau qua tỷ lệ lạm phát. Khi lạm phát tăng lên mà thu nhập danh nghĩa không
tăng thì thu nhập thực tế của người lao động giảm xuống. Do đó ta có công thức:
Thu nhập thực tế = Thu nhập danh nghĩa - Tỷ lệ lạm phát
-Và khi thu nhập thực tế của người dân bị giảm xuống sẽ dẫn đến suy thoái
kinh tế, đời sống lao động khó khăn và do đó làm giảm lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ.
2.1.1.3 Tác động từ nợ quốc gia
-Lạm phát gia tăng thì Chính phủ được lợi vì thuế đánh vào người dân càng
nhiều. Tuy nhiên mặt trái của nó chính là khi lạm phát tăng lên thì nợ quốc gia
sẽ trở nên nghiêm trọng vì nếu cùng một số tiền đó mà chi trong quá trình chưa 9
lạm phát thì chỉ trả với “a” phí, nhưng khi tiến đến tình trạng lạm phát thì phải
trả với “a+n” phí. Thế nên là tình trạng nợ quốc gia ngày càng gia tăng lên.
2.1.2. Tác động tích cực
-Lạm phát không phải bao giờ cũng gây nên những tác hại cho nền kinh tế.
Khi tốc độ lạm phát vừa phải ở các nước đang phát triển sẽ mang lại một số lợi
ích cho nền kinh tế như sau:
Kích thích tiêu dùng, đầu tư giảm bớt thất nghiệp trong xã hội.
Kích thích doanh nghiệp tăng đầu tư, tăng sản lượng hàng hóa và sản xuất
được mở rộng (thúc đẩy kinh tế phát triển trong dài hạn).
Tăng đầu tư dẫn đến tăng thu nhập và tăng tổng cầu giúp sản xuất phát triển.
Lạm phát thấp làm tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
Trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng nhanh, lạm phát có khả năng tăng cao.
2.2 Sự đánh đổi giữa mục tiêu kiềm chế lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế
-Nói chung mọi chính sách kiềm chế lạm phát luôn phải đối mặt với sự đánh
đổi, ít nhất là trong ngắn hạn, đối với tăng trưởng kinh tế, tăng tỉ lệ thất nghiệp.
-Ví dụ ở Việt Nam năm 2008: Ngay từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước thể
hiện quyết tâm chống lạm phát bằng một loạt các biện pháp cứng rắn như nâng
dự trữ bắt buộc, thắt chặt cho vay chứng khoán, cảnh báo cho vay bất động sản,
tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn.... Tuy nhiên lộ trình thực hiện cũng
như các biên pháp lựa chọn có lẽ là vấn đề cần xem xét lại. Nhiều biện pháp
được sử dụng cũng như cách thức thực thi đang gây ra một sự bất ổn rất lớn
trên thị trường tiền tệ. Ngân hàng Nhà nước khiến các ngân hàng thương mại
lúng túng trong việc huy động vốn và cho vay, tạo ra tình trạng mất thanh
khoản cục bộ trên toàn hệ thống. Thị trường liên ngân hàng trong suốt những
ngày đó rất ít hoạt động và gần như bị tê liệt vì không ít ngân hàng mất lòng tin vào các đối tác đi vay.
2.3 Mối quan hệ phi tuyến tính giữa tăng trưởng và lạm phát
-Mối liên hệ tuyến tính về lạm phát và tăng trưởng kinh tế có thể được mô tả
thông quá lý thuyết về đường cong Phillips của Phillips (1958). Theo lý thuyết 10
này, để giảm tỷ lệ thất nghiệp, chính phủ sử dụng chính sách quản lý tổng cầu
và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, do tỷ lệ thất nghiệp có quan hệ
ngược chiều bền vững với tỷ lệ lạm phát, nên tăng trưởng kinh tế cao sẽ dẫn
đến lạm phát cao (mối tương quan thuận chiều). Có thể nói, lạm phát chính là
cái giá phải trả để giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, lại
có những lập luận cho rằng giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế tồn tại một
mối liên hệ phi tuyến tính. Các nghiên cứu thực nghiệm về mối liên hệ phi
tuyến này như của Fischer (1993), Bruno and Easterly (1998) đã chỉ ra rằng
lạm phát và tăng trưởng kinh tế luôn tồn tại một ngưỡng giới hạn nào đó, xét cả
trong ngắn hạn và dài hạn.
-Gần đây, nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng sự tác động lẫn nhau
giữa tăng trưởng và lạm phát là phi tuyến tính và lõm. Bruno và Easterly
(1995) xác định một thời kỳ khủng hoảng lạm phát như là một khoảng thời
gian khi tỷ lệ lạm phát vượt quá 40%, cố gắng để đánh giá nước đó thực hiện
như thế nào trước, trong và sau thời kỳ khủng hoảng. Kết quả chỉ ra rằng ở
mức lạm phát cao hơn, có một mối quan hệ tiêu cực giữa lạm phát và tăng
trưởng kinh tế, theo đó, chi phí lạm phát sẽ cao hơn. Tại mức lạm phát thấp và
vừa phải, kết quả là không rõ ràng và cho thấy rằng không có mô hình phủ hợp.
Họ tin rằng sẽ có sự hồi phục của nền kinh tế nếu giảm lạm phát thành công sau khủng hoảng.
-Sarel (1995) sử dụng dữ liệu của 87 quốc gia cũng củng cố ý kiến rằng lạm
phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ phi tuyến tính. Ông thấy rằng 8% là
ngưỡng thích hợp của lạm phát. Dưới ngưỡng này lạm phát ảnh hưởng không
đáng kể thậm chí là ảnh hưởng tích cực, trong khi đó, nếu lạm phát trên
ngưỡng này, nó có ảnh hưởng tiêu cực và ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng kinh tế.
3. Chính sách kiểm soát lạm phát
3.1 Giải pháp từ phía cầu
-Sử dụng chính sách tài khóa hẹp và tiền tệ hẹp hoặc cùng một lúc sử dụng
cả 2 chính sách này. Bên cạnh đó chúng ta cũng có thể bổ sung hỗ trợ thông
qua chính sách thu nhập bằng cách kiểm soát giá và lương.
-Các biện pháp này thực chất là làm giảm tổng cầu, đẩy đường tổng cầu AD
dịch chuyển sang trái để làm giảm giá và sản lượng. 11
-Trên thực tế thì chính sách có độ trễ nhất định, cần tránh việc chống lạm
phát lại đưa đất nước vào thời kì suy thoái, công ăn việc làm giảm.
3.2 Giải pháp từ phía cung
-Ta có thể thực hiện theo hai hướng là cắt giảm chi phí sản xuất hoặc gia tăng
năng lực sản suất của nền kinh tế. Muốn vậy cần phải kích thích tổng cung,
dịch chuyển đường AS sang phải làm cho sản lượng tăng và giá giảm.
-Đối với lạm phát chi phí đẩy: Chính phủ có thể đưa ra một số chính sách
như cắt giảm một số loại thuế nhằm kích thích sản xuất hoặc giảm bớt chi phí,
chính sách kiểm soát lượng…
-Đối với lạm phát xảy ra do năng lực sản xuất giảm: Chính phủ có thể đưa ra
chính sách khuyến khích cải tiến kĩ thuật, hiện đại hóa công nghệ, áp dụng
công nghệ mới vào sản xuất, cải tiến quản lí,…
Tuy nhiên phải chú ý rằng, thường thì giải pháp chống lạm phát bằng cách tác
động lên cung có nhiều ưu điểm nhưng khó thực hơn giải pháp tác động lên
cầu. Vì vậy, hầu hết các giải pháp chống lạm phát đều diễn ra theo hướng cắt
giảm tổng cầu. Đương nhiên, việc cắt giảm lạm phát thông qua giảm tổng cầu
sẽ dẫn đến gia tăng thất nghiệp
3.3 Một số biện pháp hỗ trợ khác
-Chính phủ có thể thực hiện thông qua một số biện pháp như:
Kiểm soát lượng cung tiền trong nền kinh tế thông qua hoạt động của thị trường mở. Lãi suất chiết khấu.
Quy định tỉ lệ dự trữ bắt buộc.
Kiểm soát ổn định giá cả, đặc biệt là giá cả của các mặt hàng vật tư cơ bản
như: xăng, dầu, điện, nước…. 12
II. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM TRONG 3 NĂM GẦN ĐÂY
1. Khái quát về tình hình lạm phát Việt Nam trong giai đoạn 2020 – 2022 1.1 Năm 2020
Nhìn chung, mặt bằng giá năm nay tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước,
ngay từ tháng một đã tăng 6,43%, ảnh hưởng đến công tác quản lý, điều hành
giá của năm 2020, dẫn đến việc kiểm soát lạm phát theo mục tiêu dưới 4%
Quốc hội đặt ra gặp nhiều khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo, điều
hành sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự phối hợp của các Bộ,
ngành, địa phương, mức tăng của CPI được kiểm soát dần qua từng tháng với
xu hướng giảm dần. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2020 tăng 3,23% so
với năm trước, đạt mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ CPI bình quân năm 2020
dưới 4% của Quốc Hội đề ra trong bối cảnh một năm với nhiều biến động khó
lường. CPI tháng 12/2020 tăng 0,19% so với tháng 12/2019, là mức thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020. c
Tốc độ tăng CPI bình quân năm 2020 (%)
CPI bình quân năm 2020 tăng do một số nguyên nhân chủ yếu sau: 13
+Giá các mặt hàng lương thực tăng 4,51% so với năm trước (làm CPI chung
tăng 0,17%), trong đó giá gạo tăng 5,14% do giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng.
+Giá các mặt hàng thực phẩm tăng 12,28% so với năm trước (làm CPI chung
tăng 2,61%), trong đó riêng giá thịt lợn tăng 57,23% do nguồn cung chưa được
đảm bảo (làm CPI chung tăng 1,94%), theo đó, giá thịt chế biến tăng 21,59%,
mỡ lợn tăng 58,99%, bên cạnh đó, do ảnh hưởng của mưa bão, lũ lụt tại các
tỉnh miền Trung trong tháng 10 và tháng 11 tác động làm cho diện tích rau màu
ngập nặng, nhiều ao, hồ, chuồng trại bị hư hỏng, cuốn trôi,…làm cho giá rau
tươi, khô và chế biến tăng.
+Giá thuốc và thiết bị y tế tăng 1,35% do dịch Covid-19 trên thế giới vẫn diễn
biến phức tạp nên nhu cầu về mặt hàng này ở mức cao; (iv) Tiếp tục thực hiện
lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP làm chỉ số giá nhóm
dịch vụ giáo dục năm 2020 tăng 4,32% so với năm 2019.
Lạm phát cơ bản tháng 12/2020 tăng 0,07% so với tháng trước và tăng 0,99%
so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân năm 2020 tăng 2,31% so với bình quân năm 2019. 1.2 Năm 2021
-Trong năm 2021, chỉ số lạm phát thấp nhất chong 6 năm vừa qua, mặc dù
nền kinh tế đất nước bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh COVID-19. Theo số
liệu của Tổng cục Thống kê, so với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 9 tăng
2,06%; CPI bình quân 9 tháng năm 2021 tăng 1,82% so với cùng kỳ năm trước,
mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016. Lạm phát cơ bản 9 tháng tăng 0,88%, CPI
tháng 10/2021 ước giảm 0,1%-0,15%; bình quân 10 tháng ước tăng 1,81%-
1,83% so cùng kỳ năm trước, lạm phát cơ bản 10 tháng ước tăng 0,82%-0,86%.
Trong đó, nhóm các hàng hóa tăng giá mạnh chủ yếu là xăng dầu và gas theo
biến động giá thế giới: giá xăng dầu tăng 31,74%, giá gas tăng 25,89%. Bên
cạnh đó là giá gạo tăng 5,97%, giá vật liệu nhà ở tăng 7,03% và giá dịch vụ
giáo dục tăng 1,87% theo lộ trình điều chỉnh tăng học phí. Năm 2021 chính là
năm có chỉ số lạm phát thấp nhất chong 6 năm vừa qua.
-Trong năm 2021, mặc dù chịu ảnh hưởng của xung đột Nga-Ukraine và
những nút thắt chuỗi cung ứng toàn cầu trong đại dịch Covid-19, lạm phát của 14
Việt Nam vẫn được kiểm soát tốt. Với mức lạm phát 1,84%, Việt Nam đang là
một “làn gió ngược” trong xu hướng lạm phát cao toàn cầu.
Tốc độ tăng CPI của các năm giai đoạn 2016-2021 (%) 1.3 Năm 2022
Theo Tổng cục Thống kê, tháng 9 năm 2022 Việt Nam duy trì tỷ lệ lạm phát ở
mức 2,73%. Đây là một thành công trong việc kiểm soát lạm phát, góp phần ổn
định kinh tế vĩ mô, vượt qua được áp lực rất lớn về lạm phát được dự báo năm
2022. Bình quân 8 tháng năm 2022, CPI tăng 2,58% so với cùng kỳ năm trước;
lạm phát cơ bản tăng 1,64%. Tháng 7-2022 tăng 0,4% so với tháng trước, tính
chung 7 tháng đầu năm nay CPI tăng 2,54% so với cùng kỳ năm trước. 15
Tốc độ tăng CPI từ tháng 3/2022 đến tháng 3/2023 (%)
2 Ảnh hưởng của lạm phát đến phát triển kinh tế ở Việt Nam
2.1 Các chỉ số lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng, GDP của Việt Nam qua 3 năm gần đây
-Năm 2020: Kết thúc năm 2020, kinh tế Việt Nam đã có điểm sáng với tốc
độ tăng trưởng khả quan, các chỉ số vĩ mô được đảm bảo. Trong đó, mục tiêu
kiềm chế lạm phát đã và sẽ được khống chế ở mức tăng dưới 4% như Quốc hội
đã đề ra từ đầu năm.
Lạm phát cơ bản bình quân năm 2020 tăng 2,31% so với bình quân năm
2019, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra là dưới 4%. Ở góc độ điều hành vĩ mô,
Chính phủ luôn chỉ đạo đúng đắn, kịp thời nhằm khống chế đà tăng CPI ngay từ đầu năm
Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12, tăng 0,1% so
với tháng trước và tăng 0,19% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân năm 2020,
chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,23% so với năm 2019. Tính chung quý IV/2020,
CPI tăng 0,22% so với quý trước và tăng 1,38% so với quý IV/2019.
GDP năm 2020 tăng 2,91% (Quý I tăng 3,68%; quý II tăng 0,39%; quý III
tăng 2,69%; quý IV tăng 4,48%) trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến
phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội là thành công lớn của Việt Nam
-Năm 2021: Trong những năm gần đây tỷ lệ lạm phát có xu hướng tăng cao
đã có những tác động rất tiêu cực đối với nên kinh tế thế giới nói chung và Việt
Nam nói riêng. Điều ấy đã đặt ra những thách thức rất lớn cho kinh tế vĩ mô -
phải làm sao để kiềm chế lạm phát ở mức tốt nhất, duy trì tăng trưởng kinh tế,
ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là trong thời hậu Covid - 19.
Giá xăng dầu, giá gas trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới; giá gạo
tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng vào dịp cuối năm tăng là
những yếu tố làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2020 tăng 0,1% so
với tháng trước và tăng 0,19% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân năm 2021,
chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,23% so với năm 2019. 16
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2021 tăng 2,91% so với năm trước,
tuy là mức tăng thấp nhất của các năm trong giai đoạn 2011-2021 nhưng trong
bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh
vực kinh tế – xã hội thì đây là thành công lớn của Việt Nam với mức tăng
trưởng năm 2021 thuộc nhóm cao nhất thế giới. GDP quý IV/2021 ước tính
tăng 4,48% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng thấp nhất của quý IV các
năm trong giai đoạn 2011-2021.
-Năm 2022: Thời gian vừa qua, thế giới phải đối mặt với nguy cơ mất an
ninh lương thực, đặc biệt khi cuộc xung đột giữa Nga và Ucraina xảy ra.
Nhưng nguồn cung trong nước nhóm hàng này dồi dào, không những đáp ứng
nhu cầu của người dân mà còn góp phần thúc đẩy xuất khẩu nên giá lương
thực, thực phẩm khá ổn định:
Trong khi lương thực, thực phẩm chiếm tỷ lệ cao (gần 25%) trong tổng chi
tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình Việt Nam nên có tác động lớn tới CPI.
Trong đó, giá thịt lợn bình quân năm 2022 giảm 10,68%, đã giúp kiềm chế tốc
độ tăng giá của nhóm thực phẩm và tác động làm CPI chung giảm 0,36 điểm phần trăm.
Ước tính GDP năm 2022 tăng 8,02% (quý I tăng 5,05%; quý II tăng 7,83%;
quý III tăng 13,71%; quý IV tăng 5,92%) so với năm trước do nền kinh tế được
khôi phục trở lại và đạt mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2022.
2.2 Ảnh hưởng của lạm phát đến các yếu tố chủ yếu trong kinh tế 2.2.1 Giá vàng
-Khi lạm phát quá cao và việc tăng lãi suất không hiệu quả, vàng sẽ bước vào
một đợt tăng dữ dội. Thời điểm lạm phát xảy ra, dòng tiền sẽ tìm đến nơi trú ẩn
an toàn, khi đó lượng mua vàng tích trữ nhiều hơn đồng nghĩa giá vàng cũng vì
thế mà tăng cao. Có thể thấy trong khoảng thời gian gần đây, giá vàng trong
nước liên tục lập đỉnh và luôn duy trì giao dịch ở mức giá cao.
-Năm 2021, giá vàng trong nước có xu hướng giảm, kéo theo chỉ số tiêu
dùng hàng hóa, giá của các dòng sản phẩm khác dịu xuống phần nào so với
năm trước. Năm 2022 là năm đánh dấu giá vàng đạt mốc cực đại trong lịch sử 17
với 74,4 triệu đồng/ lượng vàng bán ra ( tháng 3), kéo theo đó là các công ty
đầu tư bất động sản, chứng khoán ồ ạt phất cờ đứng dậy phát triển mạnh mẽ,
tuy nhiên đến giữa tháng 6 trở về cuối năm, giá vàng trên thị trường trượt giá
về mức đáy với 62,5 triệu đồng/ lượng vàng bán ra, và nhỉnh về cuối năm với
67 triệu đồng, nhưng điều đó đã làm cho hàng loạt các giao dịch bất động sản,
chứng khoán theo đó mà giảm mạnh, các công ty nhỏ , sức chống chịu kém đã
liên tục phá sản, ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế.
2.2.2 Lãi suất cho vay tăng
-Lãi suất cao, trong những năm gần đây Việt Nam dùng vay nợ để phát triển
kinh tế. Chính phủ mắc nợ sẽ phải chi trả nhiều hơn cho việc trả nợ, từ đó gây
ảnh hưởng đến ngân sách cho những việc: chống dịch & xóa đói giảm nghèo;
các gói kích thích kinh tế để phát triển bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
-Nhìn chung năm 2020 và năm 2021, mức lãi suất cho vay của các ngân hàng
tư và nhà nước đều dao động ở mức thấp và tầm trung, năm 2020 giảm dao
động 0,6-0,8 %/ năm so với 2019, năm 2021 tiếp tục giảm về đầu năm và tăng
nhẹ cuối năm trở về năm 2022 tăng mạnh, tăng từ 0,5 -1,2 %/ năm so với 2021,
mức lãi suất trên 10%/ năm xuất hiện khá nhiều. Năm 2022 được coi là một
năm tăng mạnh lãi suất ngân hàng, từ đó mà đè dồn thêm nhiều gánh nặng lên
vai người đi vay, đặc biệt là các doanh nghiệp, tăng lãi suất làm cho các doanh
nghiệp, các xí nghiệp, công ty tăng giá bán sản phẩm, dịch vụ để đảm bảo hoạt
động của chính doanh nghiệp, công ty, và suy cho cùng, người dân, người tiêu
dùng lại chịu áp lực từ việc tăng giá, khiến cuộc sống người dân lại thêm khó
khăn. Tại họp báo về tình hình kinh tế xã hội quý IV và cả năm 2022, Tổng cục Thống kê cho biết:
-Số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là 143.200 doanh nghiệp, tăng
19,5%; bình quân một tháng có hơn 11.900 doanh nghiệp rút lui khỏi thị
trường, bình quân trên 397 doanh nghiệp/ ngày, đa phần đến từ nguyên nhân
vỡ nợ, thiếu vốn, không đủ sức chi trả lãi suất, không thể tiếp tục duy trì doanh nghiệp hoạt động. 18 2.2.3 Nguyên vật liệu
-Lạm phát về nguyên vật liệu là giá nguyên nhiên vật liệu tăng cao. Theo Cục
Thống kê: “Kinh tế Việt Nam có đặc điểm khi giá nguyên vật liệu tăng 1% thì
giá sản phẩm đầu ra tăng 2,06%”, đồng nghĩa với gia tăng lạm phát của nền
kinh tế, do đó rủi ro nhập khẩu lạm phát là không thể tránh khỏi trong bối cảnh
các nền kinh tế là đối tác thương mại lớn, quan trọng hàng đầu của Việt Nam
như Mỹ, EU, Hàn Quốc… đều dự báo lạm phát ở mức đáng lo ngại.
-Theo phản ánh của Hiệp hội Các nhà thầu xây dựng Việt Nam (VACC), từ
đầu năm đến nay, giá thép xây dựng trong nước đã tăng khoảng 30 - 40% so
với cuối năm 2020 và tăng mạnh nhất từ tháng 4/2021, chỉ số giá sản xuất
nhóm sản phẩm sắt, thép tháng 4 tăng 4,23% so với tháng 3 và tăng 27,68% so
cùng kỳ năm 2020, bình quân bốn tháng đầu năm tăng 23,15%.
-Ở trong nước, sản xuất phục hồi trong quý I/2021, hoạt động xây dựng khởi
sắc, các đơn vị sản xuất, kinh doanh tăng cường nhập khẩu nguyên liệu đầu
vào sản xuất sản phẩm sắt, thép; các công trình xây dựng gấp rút triển khai,
tăng cường mua sản phẩm sắt, thép đề phòng giá tăng… là những yếu tố tác
động làm giá sắt, thép trong nước tăng mạnh. Một diễn biến khác được cơ quan
thống kê rất chú ý là giá nhóm sản phẩm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi liên tục
tăng cao từ giữa năm 2020 đến nay vẫn chưa hạ nhiệt. Cụ thể, giá nhóm sản
phẩm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi cho ngành công nghiệp chế biến tháng 4
tăng 2,48% so với tháng 3 và tăng 13,49% so cùng kỳ năm 2020; tính chung
bốn tháng đầu năm nay tăng thêm 8,79%. Trước đó, trong quý I, giá gạo trong
nước tăng theo giá gạo xuất khẩu; giá ăn uống ngoài gia đình tăng theo giá
lương thực, thực phẩm; giá nhiên liệu trong nước biến động theo giá thế giới,...
-Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá nhà ở và VLXD năm 2022
tăng 3,11% so với năm trước do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá
nguyên nhiên vật liệu đầu và điển hình là sự tăng cao của giá xăng những năm
gần đây, nhiều loại vật liệu xây dựng cũng rục rịch tăng theo. Ðối với ngành
thép, giá nguyên liệu toàn cầu từ cuối năm 2020 liên tục tăng, trong đó quặng
sắt thời điểm tháng 5/2021 tăng cao gấp 2,6 lần, phế liệu tăng 2,5 lần so cùng
kỳ năm 2020. Ðiều này dẫn đến việc nhiều doanh nghiệp sản xuất buộc phải
tăng giá bán thép từ 200 nghìn đến 900 nghìn đồng/tấn, ở mức 16,8 triệu đến 19
17,5 triệu đồng/tấn tùy thương hiệu, ảnh hưởng nhiều đến các doanh nghiệp,
đặc biệt là nhu cầu người tiêu dùng bị ảnh hưởng không ít.
2.2.4 Doanh nghiệp kinh doanh
-Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội với quy mô 350 nghìn
tỷ đồng, cùng với các gói hỗ trợ của năm 2020 và 2021 đang thẩm thấu vào
mọi lĩnh vực của nền kinh tế sẽ làm cho tổng cầu tăng đột biến, nhu cầu tiêu
dùng hàng hóa và dịch vụ tăng mạnh sau thời gian dài chịu ảnh hưởng của đại
dịch là áp lực lớn lên lạm phát trong năm 2022. Với việc lạm phát tăng mạnh,
nguyên liệu đầu vào tăng cao, cộng với việc lãi suất vay nợ cao, nhu cầu người
tiêu dùng giảm mạnh trong chi tiêu sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới doanh nghiệp
trong giai đoạn này. Điển hình trong giai đoạn này có thể nhắc đến “bão giá
thép” trong quý 1/2022 khi đã khiến nhiều chủ đầu tư choáng váng vào cuối
tháng 3 với việc lên gần 21 triệu đồng/tấn, vượt rất xa đỉnh cũ năm 2021, hậu
quả là việc doanh nghiệp dễ bị “xói mòn” lợi nhuận do chi phí đầu vào quá cao.
-Đồng thời, với các dự án đầu tư công, dự toán đã hoạch định xong thì hiện
tại giá lại tăng cao do lạm phát nên sẽ tiếp tục bị dừng lại để điều chỉnh, phải
dở dang, kéo dài, vốn đầu tư tăng so với kế hoạch và gây ra sự chậm trễ trong
việc phục hồi và phát triển nền kinh tế. Cụ thể, gói phục vụ cho việc phát triển
kết cấu hạ tầng, khơi thông nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển chiếm tới
113,85 nghìn tỷ đồng nhưng vẫn chưa giải ngân tốt là hệ quả của việc giá
nguyên vật liệu tăng quá mạnh (dự kiến tăng khoảng 12-18% theo khảo sát) đã
khiến cho hàng loạt dự án đầu tư công bị chậm tiến độ vì không thể giải ngân. 2.2.5 Chi phí chìm
-Ngoài việc phải đối mặt với việc nguyên vật liệu tăng cao, doanh nghiệp
cũng phải đối mặt với hàng loạt vấn đề về chi phí như vận chuyển, khấu hao,
lãi vay, tiền lương,… Cụ thể ở đây trước khi xuất hiện dịch bệnh Covid cuối
năm 2019- đầu năm 2020, cước phí vận chuyển bằng đường biển chỉ từ 1.000 –
3.000 USD/container, nhưng sau đó đã tăng vọt lên 10.000 USD/container và
đến thời điểm hiện tại đã là 14.000– 15.000 USD/container 40 feet. Ngoài ra,
việc doanh nghiệp phải đối mặt với chi phí lãi vay cao cộng với việc đứt “chuỗi 20