



















Preview text:
2
I. Phương hướng............................................................................................20 II.
Giải pháp.....................................................................................................21
PHẦN KẾT LUẬN...................................................................23
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………...24 LỜI MỞ ĐẦU 1.
Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Kinh tế học vi mô là một bộ phận của kinh tế học chuyên nghiên cứu và phân tích các
hành vi kinh tế của các tác nhân trong nền kinh tế: người tiêu dùng, các hãng sản xuất kinh
doanh và chính phủ. Mục tiêu để giải thích giá và lượng của một hàng hóa cụ thể.
Các tác nhân trong nền kinh tế luôn phải thực hiện sự lựa chọn và hành vi đó của họ
được lý giải thông qua các nghiên cứu của kinh tế học, đặc biệt là trong kinh tế học vi mô.
Như vậy, đối tượng nghiên cứu của kinh tế vi mô là hành vi kinh tế của các tác nhân trong
nền kinh tế. Để hiểu hơn về đối tượng nghiên cứu, một trong những nội dung quan trọng
của Kinh tế học vi mô 1 là Phân tích hành vi của doanh nghiệp trên các cấu trúc thị trường.
Một cấu trúc thị trường được đặc trưng bởi số lượng người mua hay người bán tham
gia trên thi trường và mối quan hệ tương tác lẫn nhau. Cấu trúc thị trường đầy đủ bao gồm
thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh độc quyền, thị trường độc quyền
nhóm và thị trường độc quyền thuần túy. Mỗi loại thị trường đều có ảnh hưởng nhất định
đến các doanh nghiệp trong và ngoài thị trường đó, và là những vấn đề đáng nghiên cứu của kinh tế học vi mô. 2.
Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu Như vậy có thể thấy mỗi một phần
trong cấu trúc thị trường đều có tác động đến hành vi của doanh nghiệp –một đối tượng
nghiên cứu trong Kinh tế học vi mô, có vai trò vô cùng quan trọng cho một nền kinh tế
đang phát triển và phát triển.
Với tầm quan trọng của việc tìm hiểu về cấu trúc thị trường đối với kinh tế học cũng
như nền kinh tế chung, nhóm 4 được giao nhiệm vụ sẽ làm rõ đề tài: “Phân tích và lấy ví dụ
minh hoạ về sự lựa chọn đầu vào tối ưu để: hoặc tối thiểu hoá chi phí khi sản xuất một mức
sản lượng nhất định hoặc tối đa hoá sản lượng với một mức chi tiêu nhất định”. 3.
Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Mục tiêu: Tìm hiểu rõ về sự lựa chọn tối ưu của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp đạt lợi nhuận cao.
Phạm vi nghiên cứu: Trong doanh nghiệp. 3 4.
Phương pháp nghiên cứu
Nhóm 4 sử dụng phương pháp phân tích, đặt bài toán và đưa ra phương pháp giải. 4 5 6 7 8 9 11 13 15 16 => 0 , 1 K 15 = 0 , 1 L
20 và 100000 = 20 ×K + 15 ×L => K= 15 20 ×L và 100000 = 20 × 15 20 ×L + 15 ×L => 100000 = 30 L => L= 10000 3 và K= 25 10000 Ta có Q = 0 ,1KL = 0 ,1× 3 ×25= 833,3
Vậy với chi phí 1 tỷ VNĐ thì công ty Vinamilk sản xuất được tối đa 8 , 3 triệu lít sữa. * Hình ảnh minh họa: 2. Ví dụ minh họa 2: 17 18 19
- Minh họa cho sự lựa chọn tối ưu trong sản xuất, từ đây cho chúng ta hiểu
sâu và biết cách ứng dụng bài toán vào trong công việc đầu tư, kinh doanh trong tương lai.
⁎Câu hỏi liên quan. a, Nhà sản xuất luôn có quyền lựa chọn sản phẩm đầu vào của
mình, vậy sao doanh nghiệp không lựa chọn nguồn sữa có mức giá rẻ nhất ?
Trả lời: điều này còn phụ thuộc vào chất lượng sữa và nguồn gốc sữa, nếu
chọn nguồn sữa rẻ mà bỏ qua hai điều trên thì chi phí cơ hội cho lựa chọn sữa
rẻ là “giảm sút chất lượng sữa, mất đi sự đánh giá cao của khách hàng, hơn nữa
giá trị thương hiệu cũng sẽ bị ảnh hưởng”.
b, Tại sao doanh nghiệp không lựa chọn giảm bớt số lượng công
nhân, thực hiện các chính sách khuyến khích sản xuất để tăng sản lượng ?
Trả lời: bởi với số lượng công nhân nhất định được doanh nghiệp tính toán kĩ
lưỡng mới có thể lao động đạt đến hiệu quả kinh tế tối ưu nhất, nếu giảm số lượng
công nhân thì nguồn lực coi như bị thiếu hụt. II.
Thực tế của doanh nghiệp khi vận dụng bài toán hoặc tối thiểu hoá chi phí
đầu vào hoặc tối đa hoá sản lượng đầu ra.
Qua nghiên cứu, nhóm 4 nhận thấy bài toán tối thiểu hóa chi phí đầu vào, hay tối đa
hóa sản lượng đầu ra sản phẩm có tính ứng dụng cao trong cuộc sống, là bài toán mà bất cứ
một doanh nghiệp nào cũng phải sử dụng để kinh doanh hiệu quả và sinh lời. Nhưng thực tế
không phải là con số tròn trĩnh như trên tính toán lí thuyết bởi hành vi lựa chọn của hãng
còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài như sự biến động của thị trường, những tác động
tâm lí... khiến việc thực hiện bài toán có thể trở nên hiệu quả hoặc không hiệu quả.
Ví dụ 1 : Hành vi làm tối thiểu hóa chi phí đầu vào của sản xuất của hãng do hoàn
cảnh của thời đại tác động.
Sau đại dịch Covid, Mỹ cắt giảm xuất khẩu chất bán dẫn(nguyên liệu chủ yếu làm ra chip
điện tử) của mình cho Huawei Technology (Trung Quốc), nhà sản xuất 20