TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN KINH TẾ VĨ MÔ 1
------------------------------------------------
BÀI THẢO LUẬN
Phân tích các yếu tố tác động đến tổng cầu (tổng chi tiêu dự kiến) và ảnh hưởng của sự
thay đổi tổng cầu đến tổng sản lượng. Hãy phân tích tình hình biến động của tổng cầu về
hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam trong những năm gần đây và cho biết sự thay đổi này
tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
NHÓM 2
LỚP HỌC PHẦN 241_MAEC0111_01
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN NGUYỄN THỊ THU HIỀN
Hà Nội, tháng 10 năm 2024
MỤC LỤC
BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN...........................................................................................................
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................................................
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT..............................................................................................................................
1.1. Khái niệm tổng chi tiêu..................................................................................................................
1.1.1. Tổng chi tiêu trong nền kinh tế giản đơn.................................................................................
1.1.2. Tổng chi tiêu trong nền kinh tế đóng.......................................................................................
1.1.3. Tổng chi tiêu trong nền kinh tế mở..........................................................................................
1.2. Các thành tố của tổng chi tiêu.......................................................................................................
1.2.1. Các thành tố của tổng chi tiêu trong nền kinh tế giản đơn......................................................
1.2.2. Các thành tố của tổng chi tiêu trong nền kinh tế đóng.............................................................
1.2.3. Các thành tố của tổng chi tiêu trong nền kinh tế mở................................................................
1.3. Các yếu tố tác động đến tổng chi tiêu...........................................................................................
1. Chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình (C)....................................................................................
2. Chi tiêu cho đầu tư (I)....................................................................................................................
3. Xuất khẩu ròng (X)........................................................................................................................
4. Nhập khẩu (IM)..............................................................................................................................
1.4. Ảnh hưởng của sự thay đổi tổng chi tiêu đến tổng sản lượng.....................................................
1.4.1. Sự thay đổi chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình đến tổng sản lượng..................................
1.4.2. Ảnh hưởng của xuất khẩu ròng đến tổng sản lượng.................................................................
1.4.3. Sự thay đổi của chi tiêu nhập khẩu đến tổng sản lượng...........................................................
II. PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔNG CHI TIÊU TẠI VIỆT NAM................
2.1. Tình hình thay đổi của các thành tố của tổng chi tiêu...............................................................
2.1.1. Phân tích tình hình thu nhập và tiêu dùng của hộ gia đình.....................................................
2.1.2. Phân tích tình hình đầu tư tư nhân...........................................................................................
2.1.3. Chi tiêu của chính phủ tại Việt Nam........................................................................................
2.1.4. Tình hình xuất khẩu và nhập khẩu tại Việt Nam....................................................................
2.2. Đánh giá sự biến động của tổng chi tiêu hàng hóa và dịch vụ và tác động của sự
thay đổi đến tăng trưởng sản lượng tại Việt Nam..............................................................................
2.2.1. Đánh giá sự biến động của tổng chi tiêu trong thời gian gần đây...........................................
2.2.2. Đánh giá tác động của biến động tổng chi tiêu đến tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam....................................................................................................................................................
III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT..................................................................................................................
3.1. Kết luận...........................................................................................................................................
3.2 Đề xuất và khuyến nghị...................................................................................................................
1
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................................................
BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN
STT Tên thành viên Mã sinh viên Công việc Đánh giá
1 Lê Minh Ánh 23D121006
2 Trần Minh Ánh 23D121057
3 Nguyễn Việt Bách 23D121058
4 Lê Vi Linh Chi 23D121007
5 Nguyễn Linh Chi 23D121059
6 Lê Thị Hồng Diệp 23D121060
7 Ngô Hữu Doanh 23D121061
8 Đào Thùy Dung 23D121062
9 Nguyễn Hoàng Duy 21D190213
10 Phạm Lê Duy 23D121008
2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh nền kinh tế mở, tổng chi tiêu được coi chìa khóa vàng quyết định mức
độ sản xuất tăng trưởng của một quốc gia. Tổng chi tiêu dự kiến của tất cả các thành phần
kinh tế - từ hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ đến khu vực nước ngoài - đóng vai trò trung
tâm trong việc hình thành nền tảng kinh tế. Sự biến động của tổng chi tiêu không chỉ ảnh hưởng
trực tiếp đến tổng sản lượng mà còn tạo ra những tác động lan tỏa toàn diện lên nền kinh tế.
Việc phân tích các yếu tố tác động đến tổng chi tiêu ảnh hưởng của chúng đến tổng
sản lượng không chỉ mang ý nghĩathuyết mà còn có giá trị thực tiễn cao. Các nhà hoạch định
chính sách có thể dựa vào đó để đưa ra những quyết sách phù hợp, từ đó điều chỉnh tổng chi tiêu
nhằm đạt được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng em sẽ tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến
tổng chi tiêu, ảnh hưởng của tổng cầu chi tiêu tổng sản lượng, và phân tích thực trạng biến động
của tổng cầu về hàng hóa dịch vụ tại Việt Nam trong nhữngm gần đây. Qua đó, đánh giá
tác động của những biến động này đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, đề xuất các giải
pháp chính sách nhằm duy trì và thúc đẩy sự ổn định và phát triển kinh tế.
3
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Khái niệm tổng chi tiêu
1.1.1. Tổng chi tiêu trong nền kinh tế giản đơn
Tổng chi tiêu trong nền kinh tế giản đơn bao gồm chi tiêu dự kiến của hộ gia đình doanh
nghiệp để mua hàng hóa dịch vụ trong nền kinh tế tương ứng với mỗi mức thu nhập quốc
dân (Y) cho trước.
AE = C + I
AE: Tổng chi tiêu dự kiến
C: Dự kiến chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình
I: Dự kiến chi tiêu đầu tư của doanh nghiệp
1.1.2. Tổng chi tiêu trong nền kinh tế đóng
Nền kinh tế đóng gồm 3 tác nhân: hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ. Tổng chi tiêu trong
nền kinh tế đóng bao gồm chi tiêu dự kiến của hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ để mua
hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế tương ứng với mỗi mức thu nhập quốc dân cho trước.
AE = C + I + G
C: Dự kiến chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình
I: Dự kiến chi tiêu đầu tư của doanh nghiệp
G: Dự kiến chi tiêu của chính phủ
1.1.3. Tổng chi tiêu trong nền kinh tế mở
Nền kinh tế mở gồm 4 tác nhân: hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ và nước ngoài. Tổng
chi tiêu trong nền kinh tế mở gồm chi tiêu dự kiến của hộ gia đình, doanh nghiệp chính phủ và
nước ngoài để mua hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế tương ứng với mỗi mức thu nhập quốc
dân cho trước.
AE = C + I + G + NX
C: Dự kiến chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình
I: Dự kiến chi tiêu đầu tư của doanh nghiệp
G: Dự kiến chi tiêu của chính phủ
NX: xuất khẩu ròng
1.2. Các thành tố của tổng chi tiêu
1.2.1. Các thành tố của tổng chi tiêu trong nền kinh tế giản đơn
* Dự kiến chi tiêu của hộ gia đình (C)
C là dự kiến chi tiêu của các hộ gia đình về các hàng hoá dịch vụ cuối cùng tương ứng với
mỗi mức thu nhập cho trước.
4
Các yếu tố tác động đến dự kiến chi tiêu của hộ gia đình:
- Thu nhập quốc dân (Y)
- Của cải/ tài sản
- Tập quán, tâm lý, thị hiếu tiêu dùng
- Các chính sách kinh tế vĩ mô (T,i…)
* Dự kiến chi tiêu đầu tư của doanh nghiệp
I - chi tiêu dự kiến của các doanh nghiệp mua hàng hóa dịch vụ trong nền kinh tế để thực hiện
hoạt động đầu tư.
Các yếu tố ảnh hưởng đến dự kiến đầu tư:
- Tỷ lệ lãi suất: r↑→ I↓
- Môi trường kinh doanh: thuận lợi → I↑
- Mức cầu về sản phẩm do đầu tư mới tạo ra: cầu sản phẩm tăng → I↑
- Dự báo của các doanh nghiệp về tình hình sản xuất kinh doanh và tình trạng của nền kinh
tế: tích cực → I↑
Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí (ngoài lãi suất) của hoạt động đầu tư: Thuế, tiền công,
giá nguyên vật liệu, công nghệ…. ↑→ I↓
1.2.2. Các thành tố của tổng chi tiêu trong nền kinh tế đóng
Chi tiêu cho tiêu dùng: C= C +MPCYD
Trong nền kinh tế đóng: Y = Y – T, suy ra hàm tiêu dùng được viết theo Y như sau: D
C= C+MPC(Y
T)
Các trường hợp khác nhau của thuế:
1. Thuế tự định: T = T => C= C+MPC(Y
T)
2. Thuế tỷ lệ: T = tY => C= C+MPC (1
t)
Y
3. Thuế hỗn hợp: T = T + tY => C= C+ I + G - MPC
T + MPC (1
t)
Y
Chi tiêu cho đầu tư: I =
I
Chi tiêu mua hàng của chính phủ: G = G
1.2.3. Các thành tố của tổng chi tiêu trong nền kinh tế mở
- Chi tiêu cho tiêu dùng: C= C+MPC(Y
T )
- Chi tiêu cho đầu tư: I =
I
- Chi tiêu mua hàng của chính phủ: G =
G
- Xuất khẩu ròng: NX= X – IM (X là xuất khẩu, IM là nhập khẩu)
5
1.3. Các yếu tố tác động đến tổng chi tiêu
Ta có công thức tổng chi tiêu là: AE= C+I+G+NX
Tức là C+I+G+X-IM
Trong đó X - IM là công thức tính xuất khẩu ròng NX
Vậy các yếu tố tác động đến tổng chi tiêu là:
1. Chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình (C)
Khái niệm: là giá trị của hàng hoá và dịch vụ mà các hộ gia đình mua nhằm thoả mãn nhu cầu
của cuộc sống hàng ngày, bao gồm tiêu dùng sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm,
quần áo, giày dép..., tiêu dùng các sản phẩm lâu bền như ti vi, tủ lạnh, xe hơi... và chi cho dịch
vụ như điện, nước, y tế, điện thoại, internet, du lịch...
Chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như:
Thứ nhất, thu nhập quốc dân trong điều kiện các yếu tố khác là không đổi, thu nhập quốc dân
càng cao, các hộ gia đình càng có nhiều ngân sách cho việc tiêu dùng nên tiêu dùng tăng và
ngược lại.
Thứ hai, lượng của cải hay tài sản mà các hộ gia đình nắm giữ, bao gồm cả tài sản thực và tài
sản tài chính. Các hộ gia đình sở hữu càng nhiều tài sản thì càng có điều kiện để chi tiêu cho tiêu
dùng nhiều hơn và ngược lại.
Thứ ba, các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ, chẳng hạn như các chính sách thuế, lãi
suất, tiền lương... có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp tới thu nhập của các hộ gia đình và
khiến họ tăng hoặc giảm chi tiêu cho tiêu dùng.
Thứ tư, các yếu tố khác tác động đến chi tiêu của các hộ gia đình như tập quán, tâm lý, thị hiếu,
thói quen tiêu dùng...
Chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình được biểu diễn dưới dạng hàm tiêu dùng, nó thể hiện mối
quan hệ giữa tiêu dùng của hộ gia đình (C)với thu nhập khả dụng (YD). Cụ thể, hàm tiêu dùng
được viết dưới dạng C=f(Yd)
2. Chi tiêu cho đầu tư (I)
Đầu tư là một cấu thành quan trọng thứ hai trong tổng chi tiêu dự kiến. Đó là phần chi tiêu của
doanh nghiệp cho mua sắm máy móc, trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng mới và đầu tư vào
hàng tồn kho để bán trong tương lai. Cần lưu ý là phần chi tiêu của các hộ gia đình cho việc xây
dựng nhà ở mới cũng được tính vào chi tiêu cho đầu tư.
Trong ngắn hạn, đầu tư sẽ tác động làm thay đổi tổng chi tiêu theo dự kiến.
Trong dài hạn, đầu tư có vai trò tạo ra tích lũy cơ bản trong nền kinh tế và tác động tới tăng
trưởng kinh tế trong dài hạn.
6
=>Như vậy, đầu tư đóng vai trò kép, nó tác động đến sản lượng ngắn hạn thông qua ảnh hưởng
tới chi tiêu dự kiến, nó tác động tới tăng trưởng dài hạn thông qua ảnh hưởng của việc hình
thành vốn đối với sản lượng tiềm năng và tổng cung.
Những yếu tố tác động đến chi tiêu cho đầu tư. Chi tiêu cho đầu tư chịu ảnh hưởng bởi nhiều
yếu tố:
Thứ nhất, là lãi suất. Lãi suất là cái giá phải trả cho tiền vay trong một thời gian nhất định. Lãi
suất càng cao thì chi phí trả cho vốn vay đầu tư càng cao, do đó đầu tư có xu hướng giảm.
Ngược lại, lãi suất thấp thì chi phí vay vốn giảm và đầu tư có xu hướng tăng.
Thứ hai, là mức cầu về sản phẩm do đầu tư mới tạo ra. Đây là mức cầu về hàng hóa hay dịch vụ
(sản phẩm) trong tương lai. Nếu mức cầu này càng lớn thì dự kiến đầu tư của các hãng ở hiện tại
sẽ tăng và ngược lại, nếu mức cầu về sản phẩm do đầu tư mới tạo ra nhỏ thì đầu tư của doanh
nghiệp giảm.
Thứ ba, là kỳ vọng. Kỳ vọng là sự dự đoán, dự báo, mong muốn về một điều gì đó sẽ xảy ra
trong tương lai. Nếu các doanh nghiệp tin rằng trong tương lai nền kinh tế sẽ hoạt động tốt hơn,
khả năng doanh nghiệp bán được nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn thì sẽ đầu tư nhiều hơn hiện tại.
Nếu tương lai có nhiều thách thức thì các doanh nghiệp sẽ có xu hướng giảm đầu tư.
Thứ tư, là các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí (ngoài lãi suất) của hoạt động đầu tư như: thuế, tiền
công, giá nguyên nhiên vật liệu, công nghệ,… Khi chi phí cho các yếu tố này tăng sẽ làm lợi
nhuận còn lại của doanh nghiệp giảm, họ sẽ giảm đầu tư và ngược lại.
3. Xuất khẩu ròng (X)
Xuất khẩu (X) là những hoạt động sản xuất hàng hoá dịch vụ trong nước để bán ra nước ngoài.
Xuất khẩu của một nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
- Thu nhập nước ngoài: Nếu thu nhập tăng
- Giá cả hàng hoá xuất khẩu
- Khả năng cạnh tranh chất lượng hàng hoá
- Quan hệ kinh tế giữa các nước
4. Nhập khẩu (IM)
Nhập khẩu (IM) là những hoạt động mua hàng hóa được sản xuất ở nước ngoài về tiêu dùng
trong nước.
Nhập khẩu phụ thuộc vào các yếu tố như:
- Thu nhập của người dân trong nước hay thu nhập quốc dân
- Giá cả hàng hoá nhập khẩu
- Khả năng cạnh tranh về chất lượng hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu so với hàng hoá trong
nước
- Thị hiếu tiêu dùng của người dân trong nước
7
- Quan hệ kinh tế giữa các nước
1.4. Ảnh hưởng của sự thay đổi tổng chi tiêu đến tổng sản lượng
1.4.1. Sự thay đổi chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình đến tổng sản lượng
Ảnh hưởng trực tiếp của sự thay đổi trong thay đổi tổng chi tiêu
Với việc tăng chi tiêu, tiêu dùng các gia đình tăng chi tiêu, tổng chi tiêu của nền kinh tế cũng sẽ
tăng lên. Điều này khiến cho các doanh nghiệp sản xuất để tăng sản lượng nhằm đáp ứng nhu
cầu. Ngược lại với giảm chi tiêu, chi tiêu, tổng chi tiêu giảm, các doanh nghiệp giảm sản xuất để
phù hợp với nhu cầu hiện tại dẫn đến giảm tổng sản lượng
Ảnh hưởng gián tiếp của sự thay đổi trong thay đổi tổng chi tiêu
Tăng sản xuất: Khi một ngành tăng sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng, nó sẽ tạo ra nhu
cầu về nguyên vật liệu, dịch vụ từ các ngành khác. Điều này sẽ kích thích sản xuất của các
ngành liên quan, tạo ra hiệu ứng lan tỏa trong nền kinh tế.
Ngoài ra còn một vài yếu tố ảnh hưởng của chi tiêu tiêu dùng hộ gia đình tới tổng sản lượng:
- Thu nhập: Thu nhập của các hộ gia đình càng cao, họ càng có nhu cầu tiêu dùng các sản
phẩm trên thị trường, khả năng chi tiêu càng lớn sẽ giúp thúc đẩy sản lượng tăng.
- Lãi suất:Lãi suất cao sẽ khuyến khích tiết kiệm và giảm chi tiêu tiêu dùng. Ngược lại, lãi
suất thấp sẽ khuyến khích tiêu dùng.
- Chính sách của chính phủ: Các chính sách về thuế, chi tiêu công, tiền tệ của chính phủ có
thể tác động trực tiếp đến thu nhập và khả năng chi tiêu của hộ gia đình.
Ảnh hưởng của sự thay đổi chi tiêu cho đầu tư đến tổng sản lượng
- Lãi suất: Lãi suất càng cao thì chi phí trả cho vốn vay đầu tư càng cao, do đó đầu tư có xu
hướng giảm. Điều này làm cho tổng sản lượng giảm. Ngược lại, lãi suất thấp thì chi phí
vay vốn giảm và đầu tư có xu hướng tăng, giúp cho tổng sản lượng tăng.
- Kỳ vọng: Nếu các doanh nghiệp tin rằng trong tương lai nền kinh tế sẽ hoạt động tốt hơn,
khả năng doanh nghiệp bán được nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn thì sẽ đầu tư nhiều hơn
hiện tại, góp phần tăng tổng chi tiêu của đầu tư như bất động sản, cổ phiếu, nguyên nhiên
liệu. Nếu tương lai có nhiều thách thức thì các doanh nghiệp sẽ có xu hướng giảm đầu tư,
làm giảm tổng sản lượng của các ngành trên.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí (ngoài lãi suất) của hoạt động đầu tư như: thuế, tiền
công, giá nguyên nhiên vật liệu, công nghệ,… Khi chi phí cho các yếu tố này tăng sẽ làm
lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp giảm, họ sẽ giảm đầu tư, làm giảm tổng sản lượng
của các nguyên nhiên vật liệu sản xuất của doanh nghiệp, nền kinh tế và ngược lại
8
1.4.2. Ảnh hưởng của xuất khẩu ròng đến tổng sản lượng
Thu nhập nước ngoài: Thu nhập nước ngoài tăng hoặc đồng tiền có giá trị sẽ góp phần giúp cho
sức mua nước ngoài lớn. Tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước sản xuất sản phẩm để xuất
khẩu các nước. Góp phần không nhỏ trong gia tăng tổng sản lượng.
1.4.3. Sự thay đổi của chi tiêu nhập khẩu đến tổng sản lượng
- Thu nhập của người dân trong nước hay thu nhập quốc dân: thu nhập của người dân càng
lớn thì họ sẽ có thêm nhiều nhu cầu sử dụng các sản phẩm chất lượng nhập khẩu từ bên
ngoài. Điều đó làm gia tăng việc nhập khẩu các loại mặt hàng từ nước ngoài vào trong
nước làm tăng sản lượng của tổng nền kinh tế.
- Giá cả hàng hoá nhập khẩu: tùy thuộc vào nhu cầu, các thị trường có mức thu nhập khác
nhau mà doanh nghiệp, nhà nước cho phép nhập khẩu với số lượng dự kiến ở mức hợp
lý. Điều này cũng tác động ít nhiều đến nhập khẩu và sản lượng hàng hóa trong nước.
- Khả năng cạnh tranh về chất lượng hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu so với hàng hoá trong
nước.
- Thị hiếu tiêu dùng của người dân trong nước.
- Quan hệ kinh tế giữa các nước.
II. PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔNG CHI TIÊU TẠI VIỆT
NAM
2.1. Tình hình thay đổi của các thành tố của tổng chi tiêu
2.1.1. Phân tích tình hình thu nhập và tiêu dùng của hộ gia đình
Thu nhập:
Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2022 theo giá hiện hành đạt 4,67 triệu đồng, tăng 11,1
điểm % so với năm 2021. Năm 2022 năm đánh dấu sự khôi phục về kinh tế tình hình đời
sống dân cư. Sau 2 năm 2019 và 2020, thu nhập bình quân đầu người giảm liên tiếp do tác động
tiêu cực của đại dịch Covid-19, thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2022 quay trở lại xu
hướng tăng như các năm từ 2019 trở về trước. Thu nhập tăng đều cả thành thị nông thôn.
Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2022 ở khu vực thành thị đạt gần 5,95 triệu đồng (tăng
10,4 điểm % so với năm 2021) cao gấp 1,54 lần thu nhập bình quân ở khu vực nông thôn là 3,86
triệu đồng (tăng 10,8 điểm % so với năm 2021). Thu nhập tăng giúp tăng chi tiêu, nhưng tỷ lệ
9
chi tiêu so với thu nhập đang xu hướng giảm, đặc biệt nhóm thu nhập cao, nhờ các khoản
tiết kiệm và đầu tư tăng lên.
=> Thu nhập bình quân đầu người của người dân Việt Nam đã tăng đáng kể trong những năm
gần đây nhờ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Chi tiêu:
Xu hướng tiêu dùng của các hộ gia đình tại việt nam có xu hướng tăng. Với sự tăng trưởng kinh
tế và hội nhập quốc tế, nhu cầu của người tiêu dùng ngàyng đa dạng nâng cao. Xu hướng
tiêu dùng của người Việt đang chứng kiến những thay đổi đáng kể. Tiêu dùng thông minh ngày
càng được ưu tiên, khi người tiêu dùng không chỉ quan tâm đến giá cả còn chú trọng đến
chất lượng, nguồn gốc tác động của sản phẩm đến môi trường. Song song đó, tiêu dùng trực
tuyến cũng bùng nổ nhờ sự phát triển của công nghệ, mang đến sự tiện lợi đa dạng lựa chọn
cho người mua. Bên cạnh việc mua sắm vật chất, tiêu dùng dịch vụ như du lịch, giáo dục, giải
trí cũng ngày càng được chú trọng, thể hiện sự quan tâm đến trải nghiệm và nâng cao chất lượng
cuộc sống. Doanh thu từ hàng hóa và dịch vụ bán lẻ tăng mạnh, chiếm 55% GDP vào năm 2022.
=> Chi tiêu của hộ gia đình chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố đan xen, từ tình hình kinh tế
mô, chính sách tài chính đến các yếu tố nhân và hội. Dù vậy, chi tiêu của hộ gia đình tại
Việt Nam đang tăng trưởng cùng với cải thiện thu nhập và xu hướng tiêu dùng mới.
Ảnh hưởng:
Thu nhập chi tiêu của hộ gia đình thành phần quan trọng nhất trong tổng cầu, thường
chiếm tỷ trọng lớn nhất trong GDP của Việt Nam. Khi thu nhập của hộ gia đình ng, sức mua
cũng tăng, dẫn đến mức chi tiêu cao hơn cho hàng hóa dịch vụ. Điều này trực tiếp làm gia
tăng tổng cầu, đặc biệt trong các nền kinh tế phụ thuộc vào tiêu dùng nội địa như Việt Nam.
Trong công thức GDP (GDP = C + I + G + NX), tiêu dùng nhân (C) - bao gồm chi tiêu của
hộ gia đình - chiếm tỷ trọng lớn nhất, điều này cho thấy tác động lớn của chi tiêu hộ gia đình lên
tổng cầu. Sự gia tăng chi tiêu có thể kích thích tổng cầu trong ngắn hạn, nhưng khi chi tiêu vượt
mức hoặc không bền vững, có thể gây lạm phát hoặc tạo ra các bất ổn kinh tế dài hạn.
10
=>Ta thể thấy được sự tác động này hơn qua việc: Thu nhập tăng -> chi tiêu tăng ->
tổng cầu tăng -> doanh nghiệp mở rộng sản xuất -> tạo thêm việc làm -> thu nhập tiếp tục
tăng.
2.1.2. Phân tích tình hình đầu tư tư nhân
Việt Nam hiện khoảng 600 nghìn doanh nghiệp, trong đó gần 500 nghìn doanh nghiệp
nhân. Trong số này tới hơn 96% doanh nghiệp nhỏ vừa, 2% doanh nghiệp quy vừa
2% doanh nghiệp lớn. Doanh nghiệp tư nhân tạo ra khoảng 1,2 triệu việc làm, đóng góp hơn
40% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) mỗi năm.
Vai trò của đầu tư tư nhân đối với tổng chi tiêu
Tăng trưởng sản xuất: Đầu nhân vào các ngành sản xuất, dịch vụ tạo ra hàng hóa dịch
vụ mới, làm tăng cung đa dạng hóa sản phẩm trên thị trường. Điều này kích thích nhu cầu
tiêu dùng của người dân, từ đó đẩy mạnh tổng chi tiêu.
Tạo việc làm: Các dự án đầu nhân thường đi kèm với việc tạo ra nhiều việc làm mới, tăng
thu nhập cho người lao động. Với thu nhập cao hơn, người dân khả năng tiêu dùng nhiều
hơn, góp phần vào tăng trưởng tổng chi tiêu.
Cải thiện cơ sở hạ tầng: Đầu tư tư nhân vào các công trình hạ tầng như giao thông, năng lượng,
viễn thông tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, nâng caong suất lao động thu
hút thêm đầu tư. Điều này gián tiếp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng tổng chi tiêu.
Đổi mới công nghệ: Các doanh nghiệp nhân thường đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ
mới, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Điều này giúp các doanh nghiệp cạnh tranh tốt
hơn trên thị trường quốc tế, tăng thu nhập và góp phần vào tăng trưởng tổng chi tiêu.
Tác động của đầu tư tư nhân đến tổng chi tiêu của nền kinh tế Việt Nam qua các yếu tố:
1. Lãi suất
Mối quan hệ giữa lãi suất và đầu tư tư nhân: Lãi suất là chi phí vay vốn, ảnh hưởng trực tiếp đến
quyết định đầu của khu vực nhân. Khi lãi suất giảm, chi phí vay vốn thấp hơn, khuyến
11
khích các doanh nghiệp nhân mở rộng sản xuất, đầu vào máy móc, thiết bị, công nghệ
mới. Ngược lại, khi lãi suất tăng, đầu tư tư nhân có xu hướng giảm vì chi phí tài chính cao.
Tác động đến tổng chi tiêu:
Nếu lãi suất thấp, đầu nhân tăng, kéo theo mức chi tiêu tăng trong nền kinh tế thông qua
hiệu ứng lan tỏa (doanh nghiệp mua sắm nguyên liệu, trả lương, và tạo thêm việc làm).
dụ, giai đoạn Việt Nam duy trì chính sách lãi suất thấp nhằm kích cầu đầu (đặc biệt trong
sau đại dịch COVID-19) đã góp phần thúc đẩy hoạt động đầu nhân, đóng góp đáng kể
vào tăng trưởng GDP.
2. Mức cầu về sản phẩm
Quan hệ giữa cầu sản phẩm đầu nhân: Mức cầu của thị trường quyết định đến
khả năng sinh lời kỳ vọng của các khoản đầu tư. Khi nhu cầu về sản phẩm dịch vụ tăng, các
doanh nghiệp tư nhân sẵn sàng mở rộng sản xuất để đáp ứng nhu cầu.
Tác động đến tổng chi tiêu: Nhu cầu cao làm tăng doanh thu lợi nhuận, khuyến khích
doanh nghiệp tái đầu tư vào sản xuất. Điều này không chỉ nâng cao tổng chi tiêu trong ngắn hạn
mà còn đóng góp vào tăng trưởng bền vững trong dài hạn.
dụ, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp nhân Việt Nam (như VinFast, Thế
Giới Di Động) đã tận dụng nhu cầu ngày càng tăng trong và ngoài nước để mở rộng đầu tư, gia
tăng tiêu dùng và xuất khẩu.
3. Kỳ vọng
Kỳ vọng quyết định đầu tư: Các doanh nghiệp nhân đầu dựa trên kỳ vọng về sự
ổn định kinh tế, tăng trưởng dài hạn, và các chính sách hỗ trợ của chính phủ. Nếu kỳ vọng tích
cực, doanh nghiệp sẵn sàng đầu lớn; ngược lại, nếu môi trường kinh tế bất ổn, doanh nghiệp
sẽ thu hẹp quy đầu tư. Sau Đại hội X năm 2006, khi Đảng Nhà nước chính thức khuyến
khích phát triển kinh tế tư nhân, kỳ vọng tích cực đã tạo động lực mạnh mẽ cho doanh nghiệp tư
nhân mở rộng đầu tư.
Tác động đến tổng chi tiêu: Kỳ vọng tích cực làm tăng đầu tư, kéo theo tăng chi tiêu trong toàn
nền kinh tế.
12
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí khác
-Chi phí lao động: Kinh tế nhân chiếm 85% lực lượng lao động của Việt Nam, việc
tăng cường đầu vào đào tạo sử dụng lao động sẽ tăng năng suất, dẫn đến mức chi
tiêu cao hơn của cả doanh nghiệp người lao động. Tuy nhiên, nếu chi phí lao động
tăng quá cao (do tiền lương hoặc các khoản phúc lợi), khả năng sinh lời của đầu giảm,
làm hạn chế chi tiêu đầu tư.
-Chi phí nguyên vật liệu logistics: Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế, chi phí
nhập khẩu nguyên vật liệu logistics ảnh hưởng trực tiếp đến đầu nhân. Chi phí
cao có thể làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến tổng
chi tiêu. dụ, khi chi phí vận chuyển tăng đột biến trong giai đoạn COVID-19, một số
doanh nghiệp tư nhân đã giảm đầu tư vào sản xuất.
-Chính sách tài khóa thuế: Các chính sách hỗ trợ, như giảm thuế cải cách thủ tục
hành chính, làm giảm chi phí đầu khuyến khích các doanh nghiệp nhân tăng chi
tiêu. dụ, chính sách thuế ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ vừa tại Việt Nam đã góp
phần khuyến khích đầu tư, tạo hiệu ứng lan tỏa đến tổng cầu.
2.1.3. Chi tiêu của chính phủ tại Việt Nam
1. Gia tăng chi tiêu cơ sở hạ tầng tại Việt Nam
Trong giai đoạn từ 2020 đến 2024, Việt Nam đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể trong chi
tiêu cho cơ sở hạ tầng, đặc biệt là đầu tư công trong lĩnh vực giao thông vận tải. Với tỷ lệ đầu tư
chiếm 5,7% GDP, Việt Nam hiện nằm trong nhóm các quốc gia dẫn đầu châu Á về tỷ trọng chi
tiêu hạ tầng. Hệ thống đường cao tốc là một trong những lĩnh vực được chú trọng nhất. Tính đến
năm 2023, Việt Nam đã đưa vào khai thác 1.729 km đường cao tốc đặt mục tiêu đạt 3.000
km vào năm 2025. Điển hình, các đoạn cao tốc Bắc Nam đi qua Ninh Bình Thanh Hóa đã
hoàn thành, rút ngắn đáng kể thời gian di chuyển giữa các vùngtạo động lực phát triển kinh
tế cho miền Trung. Chính phủ nhận định rằng đầu o hạ tầng không chỉ giảm chi phí
logistics, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, còn mở ra không gian phát triển mới
cho công nghiệp, dịch vụ, và đô thị hóa.
13
Việc đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng phản ánh sự thay đổi chiến lược của Việt Nam trong bối
cảnh cần khắc phục những hạn chế về kết nối vùng và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế sau đại
dịch. Đại dịch Covid-19 đã làm giảm mạnh nhu cầu tiêu dùng đầu nhân, khiến đầu
công trở thành công cụ chính để kích cầu kinh tế, với ngân sách đầu công năm 2024 lên tới
657.000 tỷ VNĐ. Việc giải ngân nhanh các khoản chi này không chỉ tạo việc làm, tăng tiêu
dùng còn kích thích các hoạt động kinh tế khác, đóng góp trực tiếp vào tổng chi tiêu quốc
gia.
2. Gia tăng chi tiêu y tế và giáo dục
Chi tiêu y tế tại Việt Nam đã tăng đáng kể trong những năm gần đây, phản ánh nỗ lực cải thiện
chất lượng chăm sóc sức khỏe ứng phó với các thách thức cấp bách. Trong giai đoạn 2021-
2025, tổng ngân sách đầu cho y tế đạt 38.135 tỷ đồng, tập trung vào nâng cấp cơ sở y tế, sản
xuất vắc xin trong nước phòng chống dịch bệnh. Đồng thời, chi thường xuyên giai đoạn
2021-2023 đạt 226.264 tỷ đồng, ng gần 1,3 lần so với giai đoạn trước, chiếm 6,81% tổng chi
thường xuyên. Nguyên nhân chủ yếudo đại dịch Covid-19, đòi hỏi đầu tư lớn vào hệ thống y
tế để nâng cao năng lực phòng chống dịch, cải thiện sở hạ tầng và chất lượng dịch vụ. Ngoài
ra, chính phủ đặt mục tiêu bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân, khiến chi tiêu từ quỹ bảo hiểm xã hội
cũng gia tăng, góp phần đáng kể vào tổng chi tiêu quốc gia.
Chi tiêu cho giáo dục giai đoạn 2004-2017 chiếm khoảng 5% GDP 17-19% tổng chi tiêu
công, thể hiện sự ưu tiên đầu vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, giáo dục đại học chỉ nhận được
một phần ngân sách nhỏ, với 0,23% GDP 0,9% tổng chi tiêu công. Nguyên nhân chiến
lược của chính phủ tập trung phổ cập giáo dục các bậc học thấp, phù hợp với nhu cầu nâng
cao nền tảng nhân lực bản. Trong khi đó, giáo dục đại học dựa nhiều vàohội hóa học
phí, khiến nguồn ngân sách nhà nước phân bổ thấp hơn. Sự mất cân đối này phản ánh định
hướng đầu ngắn hạn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu điều chỉnh để đảm bảo nguồn nhân lực chất
lượng cao, phục vụ mục tiêu phát triển dài hạn và tăng trưởng kinh tế tri thức.
3. Chi tiêu an sinh xã hội
14
Chi tiêu an sinh xã hội của Việt Nam đã gia tăng đáng kể trong những năm qua, từ 2,85%
GDP năm 2005 lên khoảng 6,7% GDP vào năm 2021. Trong giai đoạn 2012-2022, tổng chi
ngân sách cho lĩnh vực này đạt 1,96 triệu tỷ đồng, tương đương 3,5% GDP, với mức chi tăng
đều hàng năm. Riêng trong giai đoạn 2020-2022, trước ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-
19, ngân sách nhà nước đã huy động khoảng 53 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ người dân thông qua trợ
cấp, chăm sóc y tế, và tiêm chủng.
Nguyên nhân chính của sự gia tăng chi tiêu nằm nhu cầu đảm bảo phúc lợi hội trong bối
cảnh già hóa dân số và các cú sốc kinh tế - xã hội. Các chương trình này không chỉ bảo vệ người
dân trước khó khăn còn kích thích tiêu dùng, tạo động lực tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên,
việc duy trì các chính sách này đòi hỏi sự cân đối tài chính để đảm bảo tính bền vững trongi
hạn.
4. Chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa của Việt Nam đã chuyển đổi từ thắt chặt sang mở rộng trong những
năm gần đây nhằm hỗ trợ nền kinh tế vượt qua các khó khăn và thúc đẩy tăng trưởng. Giai đoạn
2022-2023, việc nới lỏng tài khóa được thể hiện qua các chính sách miễn, giảm giãn hoãn
thuế, phí, với quy mô hỗ trợ khoảng 200 nghìn tỷ đồng, cùng với việc tăng chi tiêu công và chấp
nhận bội chi cao hơn để phục hồi kinh tế sau đại dịch Covid-19.
Nguyên nhân chính của sự thay đổi này là nhu cầu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh suy
giảm toàn cầu, tác động của đại dịch áp lực từ lạm phát. Việc nới lỏng tài khóa đã góp phần
ổn định kinh tế mô, kiểm soát lạm phát (ở mức 3,5% năm 2023), đồng thời đảm bảo nguồn
lực cho an sinh hội, đầu sở hạ tầng, cải cách lương. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào
nguồn thu nội địa chính sách giảm thuế đã làm gia tăng rủi ro cho ngân sách, đòi hỏi quản
tài chính cẩn trọng hơn trong thời gian tới.
2.1.4. Tình hình xuất khẩu và nhập khẩu tại Việt Nam
Về tổng quan, hàng hóa trong 5m 2018 2022, tốc độ tăng kim ngạch xuất, nhập khẩu bình
quân của Việt Nam đạt 11,3%/năm. Trong giai đoạn kinh tế thế giới và trong nước chịu tác động
15
tiêu cực của dịch Covid-19, hoạt động xuất, nhập khẩu tuy suy giảm nhưng vẫn đạt mức tăng
trưởng dương.
Xuất khẩu năm 2018 đạt 243,48 tỷ USD, tăng 13,2% so với năm 2017, vượt xa chỉ tiêu kế hoạch
được Quốc hội Chính phủ giao (chỉ tiêu Quốc hội giao tăng 7-8%; ch tiêu Chính phủ giao
tăng 8-10%). Tính theo giá trị tuyệt đối, xuất khẩu năm 2018 tăng thêm 28,36 tỷ USD so với
năm trước, đóng góp tích cực vào bức tranh tăng trưởng chung của nền kinh tế cả nước. Năm
2018 năm thứ 3 liên tiếp Việt Nam xuất siêu trong hoạt động xuất nhập khẩu cũng
năm thặng dư cán cân thương mại của nước ta đạt mức cao nhất từ trước tới nay. Mức thặng dư
kỷ lục đạt được năm 2018 là gần 6,8 tỷ USD, gần gấp 3 lần so với thặng dư năm 2017 (2,11 t
USD). Với việc duy trì xuất siêu trong năm 2018, Việt Nam đã đạt xuất siêu trong 6 năm kể từ
năm 2012 đến nay chỉ duy nhất năm 2015 cán cân thương mại thâm hụt. Kết quả này đã
góp phần làm tích cực cán cân thanh toánổn định các chỉ số kinh tế vĩ mô khác của nền kinh
tế.
Theo Tổng cục Hải quan, kết thúc năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả
nước lập kỷ lục mới khi đạt con số 517,26 tỷ USD, tăng 7,6% (tương ứng tăng 36,69 tỷ USD) so
với năm 2018. Trong đó trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 264,19 tỷ USD, tăng 8,4% nhập khẩu
đạt 253,07 tỷ USD, tăng 6,8% so với năm 2018. Mặc năm 2019 xảy ra căng thẳng thương
mại giữa Mỹ – Trung và vấn đề địa chính trị càng làm gia tăng đáng kể tính bất ổn của hệ thống
thương mại toàn cầu, gây ảnh hưởng không nhỏ tới niềm tin kinh doanh, quyết định đầu
thương mại toàn cầu.
Năm 2020, tổng trị giá xuất nhập khẩu của c nước đạt 545,36 tỷ USD, tăng 5,4% với năm
trước. Trong đó trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 282,65 tỷ USD, tăng 7,0%, tương ứng tăng 18,39
tỷ USD so với năm 2019 nhập khẩu đạt 262,70 tỷ USD, tăng 3,7% , tương ứng tăng 9,31 tỷ
USD. Tuy bị ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19 nhưng xuất siêu vẫn tăng trưởng ấn
tượng trong tình hình thế giới bị đứt gãy chuỗi cung ứng nghiêm trọng.
Kim ngạch thương mại của Việt Nam năm 2021 mặc chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch
COVID-19 vẫn tăng trưởng ấn tượng, đạt mức kỷ lục 668,5 t USD, trong đó xuất khẩu đạt
336,3 tỷ USD (tăng 19% so với năm 2020) nhập khẩu đạt 332,2 tỷ USD (tăng 26,5% so với
16
năm 2020). thể thấy, trong năm vừa qua các doanh nghiệp Việt Nam đã thực hiện tốt mục
tiêu vừa chống dịch, vừa tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Cùng với đó nhu cầu tiêu
dùng tăng trở lại cả thị trường trong nước xuất khẩu, giúp gia tăng kim ngạch xuất nhập
khẩu của Việt Nam so với năm trước đó.Tính tổng cả năm 2021, cán cân thương mại của Việt
Nam đã trở lại trạng thái thặng với giá trị xuất siêu 4 tỷ USD (nửa đầu năm 2021, Việt Nam
nhập siêu 1,47 tỷ USD), trong đó, khu vực vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 27 tUSD, khu
vực kinh tế trong nước nhập siêu 23 tỷ USD.
Những tháng đầu năm 2022, dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp đã gây ra những ảnh
hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh tế, trong đó nhập khẩu hàng hóa bị ảnh hưởng khá nghiêm
trọng, các nước có xu hướng sử dụng sản phẩm nội địa thay cho sản phẩm nhập khẩu, đặc biệt là
các mặt hàng nông sản, thủy sản. Năm 2022 cũng diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới
nhiều biến động nhanh, khó lường làm gia tăng rủi ro đến thị trường tài chính, tiền tệ, an ninh
năng lượng, an ninh lương thực toàn cầu. Tuy nhiên, nửa cuối năm đã chứng kiến sự phục hồi
mạnh mẽ của nền kinh tế khi đã bắt đầu kiểm soát hiệu quả bước đầu vượt qua đại dịch.
Trong bức tranh chung nhiều điểm sáng, một trong số đó hoạt động xuất nhập khẩu với
tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt mức kỷ lục vượt mốc 700 tỷ USD. Với quyết tâm
phục hồi phát triển kinh tế, tạo đà hoàn thành mục tiêu kinh tế hội năm 2022 giai
đoạn 2021-2025 theo Nghị quyết Đại hội Đảng XIII, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ
đạo Bộ, ngành, địa phương triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết số
01/NQ-CP, Nghị Quyết số 02/NQ-CP, Nghị quyết số 11/NQ-CP về Chương trình phục hồi, phát
triển kinh tế hội. Kinh tế tiếp tục duy trì ổn địnhtiền đề cho hoạt động xuất, nhập
khẩu hàng hóa của Việt Nam đứng vững, giữ được đà tăng trưởng và tạo lực kéo quan trọng cho
cả nền kinh tế. Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều rủi ro, bất ổn, thương mại toàn cầu giảm
sút, xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn duy trì được những kết quả ấn tượng trong năm
2022.
Tóm lại, trong giai đoạn năm 2018-2022, trước, trong sau dịch Covid xảy ra, tình hình tổng
cầu về hàng hóa dịch vụ của nền kinh tế Việt Nam sự thay đổi rệt. Từ 2018 đến gần
cuối m 2019, do nền kinh tế trong nước thế giới ổn định nên tổng cầu trong nước tăng
17
nhanh phát triển. Sau đó, trong tình hình dịch bệnh, kinh tế hội năm 2020 của nước
sự phát triển nhẹ. Nhờ đó, tình hình kinh tế được cải thiện một phần nhỏ. Tuy vậy tổng cầu (sản
lượng) của nền kinh tế có tăng nhưng ở mức thấp nhất so với các năm trước.
Sang năm 2023, kinh tế thế giới tiếp tục gặp nhiều khó khăn, lạm phát mặc dù đã hạ nhiệt nhưng
vẫn mức cao, nhiều nền kinh tế lớn duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt; nhu cầu hàng hóa thế
giới và một số thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam như Hoa Kỳ, Trung Quốc EU, ASEAN,
Nhật Bản sụt giảm; thương mại đầu toàn cầu tiếp tục thu hẹp; hàng rào bảo hộ, phòng vệ
thương mại gia tăng đã khiến nhiều quốc gia tăng trưởng chậm lại. Theo IMF, tăng trưởng
thương mại thế giới dự kiến đạt 0,9% trong năm 2023, thấp hơn nhiều so với mức trung bình
4,9% của giai đoạn 2000-2019.
Do đó, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2023 không đạt được như kỳ vọng. Tính
chung cả năm 2023, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 683 tỷ USD, giảm 6,6%
so với năm trước, trong đó xuất khẩu giảm 4,4%; nhập khẩu giảm 8,9%[1]. Tuy nhiên, cán cân
thương mại tiếp tục ghi nhận xuất siêu năm thứ 8 liên tiếp với mức thặng kỷ lục ước đạt 28
tỷ USD, gấp 2,3 lần năm 2022.
Xuất, nhập khẩu năm 2023sự hỗ trợ rất lớn từ hội nhập kinh tế quốc tế, giúp Việt Nam hợp
tác thương mại với nhiều quốc gia hơn và trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị toàn
cầu. Nhiều ngành hàng thế mạnh của Việt Nam tiếp tục ghi dấu ấn khi liên tục giữ vị trí
nhóm đầu trong kim ngạch xuất khẩu của thế giới. Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa năm
2023 của Việt Nam mặc dù chưa phục hồi mạnh, nhưng mức suy giảm đã được thu hẹp đáng kể
sẽ là tiền đề hướng đến sự khởi sắc trong năm 2024.
2.2. Đánh giá sự biến động của tổng chi tiêu hàng hóa dịch vụ tác động của sthay
đổi đến tăng trưởng sản lượng tại Việt Nam
2.2.1. Đánh giá sự biến động của tổng chi tiêu trong thời gian gần đây
1. Tiêu dùng cá nhân (C):
Sau giai đoạn đại dịch COVID-19, tiêu dùng nhân tại Việt Nam sự sụt giảm do tác động
của giãn cách xã hội và thu nhập người dân giảm. Tuy nhiên, từ năm 2022 trở lại đây, tiêu dùng
18
xu hướng phục hồi mạnh mẽ. Các biện pháp hỗ trợ thu nhập và các chương trình kích cầu đã
góp phần thúc đẩy chi tiêu cá nhân, đặc biệt là trong các lĩnh vực như bán lẻ và dịch vụ ăn uống.
2. Đầu tư (I):
Đầu từ khu vực nhân nước ngoài thành phần quan trọng của tổng cầu. Những năm
gần đây, dòng vốn FDI vào các ngành sản xuất công nghệ cao gia tăng. Tuy nhiên, một s
yếu tố bên ngoài như lạm phát toàn cầu suy thoái kinh tế thế giới cũng làm ảnh hưởng đến
dòng vốn này. Việt Nam đã có những chính sách khuyến khích đầu tư, từ ưu đãi thuế đến cải
thiện hạ tầng, nhằm duy trì mức đầu tư ổn định.
3. Chi tiêu Chính phủ (G):
Chính phủ đã tăng chi tiêu công vào các dự án sở hạ tầng, y tế, giáo dục, nhằm kích thích
tăng trưởng sau giai đoạn khó khăn của dịch bệnh. Những dự án lớn trong lĩnh vực giao thông
năng lượng không chỉ tạo ra việc làm còn thúc đẩy tiêu dùng trong nước. Các gói hỗ trợ
cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng đã góp phần nâng cao tổng chi tiêu.
4. Xuất khẩu ròng (NX):
Xuất khẩu thành phần then chốt trong tổng cầu của Việt Nam, với sự phát triển của các mặt
hàng chủ lực như điện tử, dệt may, nông sản. Mặc dù chịu tác động từ schững lại của kinh
tế toàn cầu, Chính phủ Việt Nam đã tìm cách mở rộng thị trường gia tăng sản lượng các mặt
hàng có giá trị cao, giúp duy trì mức xuất khẩu ổn định.
Kết luận: Tổng chi tiêu của Việt Nam trong thời gian gần đây sự tăng trưởng đáng kể, nhờ
vào các chính sách kích thích của Chính phủ và sự phục hồi của tiêu dùng và đầu tư. Sự gia tăng
này giúp thúc đẩy GDP, nhưng cũng đặt ra thách thức về kiểm soát lạm phát ổn định giá c
trong nước.
2.2.2. Đánh giá tác động của biến động tổng chi tiêu đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
Trong những năm qua, sự thay đổi của tổng chi tiêu, bao gồm: tiêu dùng hộ gia đình, đầu
nhân, chi tiêu chính phủ cán cân xuất nhập khẩu đã ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ tăng
trưởng và sản lượng của nền kinh tế Việt Nam.
19

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN KINH TẾ VĨ MÔ 1
------------------------------------------------ BÀI THẢO LUẬN
Phân tích các yếu tố tác động đến tổng cầu (tổng chi tiêu dự kiến) và ảnh hưởng của sự
thay đổi tổng cầu đến tổng sản lượng. Hãy phân tích tình hình biến động của tổng cầu về
hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam trong những năm gần đây và cho biết sự thay đổi này
tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. NHÓM 2 LỚP HỌC PHẦN 241_MAEC0111_01 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN NGUYỄN THỊ THU HIỀN
Hà Nội, tháng 10 năm 2024 MỤC LỤC
BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN...........................................................................................................
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................................................
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT..............................................................................................................................

1.1. Khái niệm tổng chi tiêu..................................................................................................................
1.1.1. Tổng chi tiêu trong nền kinh tế giản đơn.................................................................................
1.1.2. Tổng chi tiêu trong nền kinh tế đóng.......................................................................................
1.1.3. Tổng chi tiêu trong nền kinh tế mở..........................................................................................
1.2. Các thành tố của tổng chi tiêu.......................................................................................................
1.2.1. Các thành tố của tổng chi tiêu trong nền kinh tế giản đơn......................................................
1.2.2. Các thành tố của tổng chi tiêu trong nền kinh tế đóng.............................................................
1.2.3. Các thành tố của tổng chi tiêu trong nền kinh tế mở................................................................
1.3. Các yếu tố tác động đến tổng chi tiêu...........................................................................................
1. Chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình (C)....................................................................................
2. Chi tiêu cho đầu tư (I)....................................................................................................................
3. Xuất khẩu ròng (X)........................................................................................................................
4. Nhập khẩu (IM)..............................................................................................................................
1.4. Ảnh hưởng của sự thay đổi tổng chi tiêu đến tổng sản lượng.....................................................
1.4.1. Sự thay đổi chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình đến tổng sản lượng..................................
1.4.2. Ảnh hưởng của xuất khẩu ròng đến tổng sản lượng.................................................................
1.4.3. Sự thay đổi của chi tiêu nhập khẩu đến tổng sản lượng...........................................................
II. PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔNG CHI TIÊU TẠI VIỆT NAM................
2.1. Tình hình thay đổi của các thành tố của tổng chi tiêu...............................................................
2.1.1. Phân tích tình hình thu nhập và tiêu dùng của hộ gia đình.....................................................
2.1.2. Phân tích tình hình đầu tư tư nhân...........................................................................................
2.1.3. Chi tiêu của chính phủ tại Việt Nam........................................................................................
2.1.4. Tình hình xuất khẩu và nhập khẩu tại Việt Nam....................................................................
2.2. Đánh giá sự biến động của tổng chi tiêu hàng hóa và dịch vụ và tác động của sự
thay đổi đến tăng trưởng sản lượng tại Việt Nam..............................................................................

2.2.1. Đánh giá sự biến động của tổng chi tiêu trong thời gian gần đây...........................................
2.2.2. Đánh giá tác động của biến động tổng chi tiêu đến tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam....................................................................................................................................................
III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT..................................................................................................................
3.1. Kết luận...........................................................................................................................................
3.2 Đề xuất và khuyến nghị...................................................................................................................
1
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................................................
BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN STT Tên thành viên Mã sinh viên Công việc Đánh giá 1 Lê Minh Ánh 23D121006 2 Trần Minh Ánh 23D121057 3 Nguyễn Việt Bách 23D121058 4 Lê Vi Linh Chi 23D121007 5 Nguyễn Linh Chi 23D121059 6 Lê Thị Hồng Diệp 23D121060 7 Ngô Hữu Doanh 23D121061 8 Đào Thùy Dung 23D121062 9 Nguyễn Hoàng Duy 21D190213 10 Phạm Lê Duy 23D121008 2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh nền kinh tế mở, tổng chi tiêu được coi là chìa khóa vàng quyết định mức
độ sản xuất và tăng trưởng của một quốc gia. Tổng chi tiêu dự kiến của tất cả các thành phần
kinh tế - từ hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ đến khu vực nước ngoài - đóng vai trò trung
tâm trong việc hình thành nền tảng kinh tế. Sự biến động của tổng chi tiêu không chỉ ảnh hưởng
trực tiếp đến tổng sản lượng mà còn tạo ra những tác động lan tỏa toàn diện lên nền kinh tế.
Việc phân tích các yếu tố tác động đến tổng chi tiêu và ảnh hưởng của chúng đến tổng
sản lượng không chỉ mang ý nghĩa lý thuyết mà còn có giá trị thực tiễn cao. Các nhà hoạch định
chính sách có thể dựa vào đó để đưa ra những quyết sách phù hợp, từ đó điều chỉnh tổng chi tiêu
nhằm đạt được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng em sẽ tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến
tổng chi tiêu, ảnh hưởng của tổng cầu chi tiêu tổng sản lượng, và phân tích thực trạng biến động
của tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ tại Việt Nam trong những năm gần đây. Qua đó, đánh giá
tác động của những biến động này đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, và đề xuất các giải
pháp chính sách nhằm duy trì và thúc đẩy sự ổn định và phát triển kinh tế. 3
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Khái niệm tổng chi tiêu
1.1.1. Tổng chi tiêu trong nền kinh tế giản đơn
Tổng chi tiêu trong nền kinh tế giản đơn bao gồm chi tiêu dự kiến của hộ gia đình và doanh
nghiệp để mua hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế tương ứng với mỗi mức thu nhập quốc dân (Y) cho trước. AE = C + I
AE: Tổng chi tiêu dự kiến
C: Dự kiến chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình
I: Dự kiến chi tiêu đầu tư của doanh nghiệp
1.1.2. Tổng chi tiêu trong nền kinh tế đóng
Nền kinh tế đóng gồm 3 tác nhân: hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ. Tổng chi tiêu trong
nền kinh tế đóng bao gồm chi tiêu dự kiến của hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ để mua
hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế tương ứng với mỗi mức thu nhập quốc dân cho trước. AE = C + I + G
C: Dự kiến chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình
I: Dự kiến chi tiêu đầu tư của doanh nghiệp
G: Dự kiến chi tiêu của chính phủ
1.1.3. Tổng chi tiêu trong nền kinh tế mở
Nền kinh tế mở gồm 4 tác nhân: hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ và nước ngoài. Tổng
chi tiêu trong nền kinh tế mở gồm chi tiêu dự kiến của hộ gia đình, doanh nghiệp chính phủ và
nước ngoài để mua hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế tương ứng với mỗi mức thu nhập quốc dân cho trước. AE = C + I + G + NX
C: Dự kiến chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình
I: Dự kiến chi tiêu đầu tư của doanh nghiệp
G: Dự kiến chi tiêu của chính phủ NX: xuất khẩu ròng
1.2. Các thành tố của tổng chi tiêu
1.2.1. Các thành tố của tổng chi tiêu trong nền kinh tế giản đơn
* Dự kiến chi tiêu của hộ gia đình (C)
C là dự kiến chi tiêu của các hộ gia đình về các hàng hoá dịch vụ cuối cùng tương ứng với
mỗi mức thu nhập cho trước. 4
Các yếu tố tác động đến dự kiến chi tiêu của hộ gia đình: - Thu nhập quốc dân (Y) - Của cải/ tài sản
- Tập quán, tâm lý, thị hiếu tiêu dùng
- Các chính sách kinh tế vĩ mô (T,i…)
* Dự kiến chi tiêu đầu tư của doanh nghiệp
I - chi tiêu dự kiến của các doanh nghiệp mua hàng hóa dịch vụ trong nền kinh tế để thực hiện hoạt động đầu tư.
Các yếu tố ảnh hưởng đến dự kiến đầu tư:
- Tỷ lệ lãi suất: r↑→ I↓
- Môi trường kinh doanh: thuận lợi → I↑
- Mức cầu về sản phẩm do đầu tư mới tạo ra: cầu sản phẩm tăng → I↑
- Dự báo của các doanh nghiệp về tình hình sản xuất kinh doanh và tình trạng của nền kinh tế: tích cực → I↑
Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí (ngoài lãi suất) của hoạt động đầu tư: Thuế, tiền công,
giá nguyên vật liệu, công nghệ…. ↑→ I↓
1.2.2. Các thành tố của tổng chi tiêu trong nền kinh tế đóng
Chi tiêu cho tiêu dùng: C= C +MPCYD
Trong nền kinh tế đóng: YD = Y – T, suy ra hàm tiêu dùng được viết theo Y như sau:
C= C+MPC(Y T)
Các trường hợp khác nhau của thuế:
1. Thuế tự định: T = T=> C= C+MPC(Y T)
2. Thuế tỷ lệ: T = tY => C= C+MPC (1 t) Y
3. Thuế hỗn hợp: T = T + tY => C= C+ I + G - MPCT + MPC (1 t) Y
Chi tiêu cho đầu tư: I = I
Chi tiêu mua hàng của chính phủ: G = G
1.2.3. Các thành tố của tổng chi tiêu trong nền kinh tế mở
- Chi tiêu cho tiêu dùng: C= C+MPC(Y T)
- Chi tiêu cho đầu tư: I = I
- Chi tiêu mua hàng của chính phủ: G = G
- Xuất khẩu ròng: NX= X – IM (X là xuất khẩu, IM là nhập khẩu) 5
1.3. Các yếu tố tác động đến tổng chi tiêu
Ta có công thức tổng chi tiêu là: AE= C+I+G+NX Tức là C+I+G+X-IM
Trong đó X - IM là công thức tính xuất khẩu ròng NX
Vậy các yếu tố tác động đến tổng chi tiêu là:
1. Chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình (C)
Khái niệm: là giá trị của hàng hoá và dịch vụ mà các hộ gia đình mua nhằm thoả mãn nhu cầu
của cuộc sống hàng ngày, bao gồm tiêu dùng sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm,
quần áo, giày dép..., tiêu dùng các sản phẩm lâu bền như ti vi, tủ lạnh, xe hơi... và chi cho dịch
vụ như điện, nước, y tế, điện thoại, internet, du lịch...
Chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như:
Thứ nhất, thu nhập quốc dân trong điều kiện các yếu tố khác là không đổi, thu nhập quốc dân
càng cao, các hộ gia đình càng có nhiều ngân sách cho việc tiêu dùng nên tiêu dùng tăng và ngược lại.
Thứ hai, lượng của cải hay tài sản mà các hộ gia đình nắm giữ, bao gồm cả tài sản thực và tài
sản tài chính. Các hộ gia đình sở hữu càng nhiều tài sản thì càng có điều kiện để chi tiêu cho tiêu
dùng nhiều hơn và ngược lại.
Thứ ba, các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ, chẳng hạn như các chính sách thuế, lãi
suất, tiền lương... có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp tới thu nhập của các hộ gia đình và
khiến họ tăng hoặc giảm chi tiêu cho tiêu dùng.
Thứ tư, các yếu tố khác tác động đến chi tiêu của các hộ gia đình như tập quán, tâm lý, thị hiếu, thói quen tiêu dùng...
Chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình được biểu diễn dưới dạng hàm tiêu dùng, nó thể hiện mối
quan hệ giữa tiêu dùng của hộ gia đình (C)với thu nhập khả dụng (YD). Cụ thể, hàm tiêu dùng
được viết dưới dạng C=f(Yd)
2. Chi tiêu cho đầu tư (I)
Đầu tư là một cấu thành quan trọng thứ hai trong tổng chi tiêu dự kiến. Đó là phần chi tiêu của
doanh nghiệp cho mua sắm máy móc, trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng mới và đầu tư vào
hàng tồn kho để bán trong tương lai. Cần lưu ý là phần chi tiêu của các hộ gia đình cho việc xây
dựng nhà ở mới cũng được tính vào chi tiêu cho đầu tư.
Trong ngắn hạn, đầu tư sẽ tác động làm thay đổi tổng chi tiêu theo dự kiến.
Trong dài hạn, đầu tư có vai trò tạo ra tích lũy cơ bản trong nền kinh tế và tác động tới tăng
trưởng kinh tế trong dài hạn. 6
=>Như vậy, đầu tư đóng vai trò kép, nó tác động đến sản lượng ngắn hạn thông qua ảnh hưởng
tới chi tiêu dự kiến, nó tác động tới tăng trưởng dài hạn thông qua ảnh hưởng của việc hình
thành vốn đối với sản lượng tiềm năng và tổng cung.
Những yếu tố tác động đến chi tiêu cho đầu tư. Chi tiêu cho đầu tư chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố:
Thứ nhất, là lãi suất. Lãi suất là cái giá phải trả cho tiền vay trong một thời gian nhất định. Lãi
suất càng cao thì chi phí trả cho vốn vay đầu tư càng cao, do đó đầu tư có xu hướng giảm.
Ngược lại, lãi suất thấp thì chi phí vay vốn giảm và đầu tư có xu hướng tăng.
Thứ hai, là mức cầu về sản phẩm do đầu tư mới tạo ra. Đây là mức cầu về hàng hóa hay dịch vụ
(sản phẩm) trong tương lai. Nếu mức cầu này càng lớn thì dự kiến đầu tư của các hãng ở hiện tại
sẽ tăng và ngược lại, nếu mức cầu về sản phẩm do đầu tư mới tạo ra nhỏ thì đầu tư của doanh nghiệp giảm.
Thứ ba, là kỳ vọng. Kỳ vọng là sự dự đoán, dự báo, mong muốn về một điều gì đó sẽ xảy ra
trong tương lai. Nếu các doanh nghiệp tin rằng trong tương lai nền kinh tế sẽ hoạt động tốt hơn,
khả năng doanh nghiệp bán được nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn thì sẽ đầu tư nhiều hơn hiện tại.
Nếu tương lai có nhiều thách thức thì các doanh nghiệp sẽ có xu hướng giảm đầu tư.
Thứ tư, là các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí (ngoài lãi suất) của hoạt động đầu tư như: thuế, tiền
công, giá nguyên nhiên vật liệu, công nghệ,… Khi chi phí cho các yếu tố này tăng sẽ làm lợi
nhuận còn lại của doanh nghiệp giảm, họ sẽ giảm đầu tư và ngược lại.
3. Xuất khẩu ròng (X)
Xuất khẩu (X) là những hoạt động sản xuất hàng hoá dịch vụ trong nước để bán ra nước ngoài.
Xuất khẩu của một nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
- Thu nhập nước ngoài: Nếu thu nhập tăng
- Giá cả hàng hoá xuất khẩu
- Khả năng cạnh tranh chất lượng hàng hoá
- Quan hệ kinh tế giữa các nước 4. Nhập khẩu (IM)
Nhập khẩu (IM) là những hoạt động mua hàng hóa được sản xuất ở nước ngoài về tiêu dùng trong nước.
Nhập khẩu phụ thuộc vào các yếu tố như:
- Thu nhập của người dân trong nước hay thu nhập quốc dân
- Giá cả hàng hoá nhập khẩu
- Khả năng cạnh tranh về chất lượng hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu so với hàng hoá trong nước
- Thị hiếu tiêu dùng của người dân trong nước 7
- Quan hệ kinh tế giữa các nước
1.4. Ảnh hưởng của sự thay đổi tổng chi tiêu đến tổng sản lượng
1.4.1. Sự thay đổi chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình đến tổng sản lượng
Ảnh hưởng trực tiếp của sự thay đổi trong thay đổi tổng chi tiêu
Với việc tăng chi tiêu, tiêu dùng các gia đình tăng chi tiêu, tổng chi tiêu của nền kinh tế cũng sẽ
tăng lên. Điều này khiến cho các doanh nghiệp sản xuất để tăng sản lượng nhằm đáp ứng nhu
cầu. Ngược lại với giảm chi tiêu, chi tiêu, tổng chi tiêu giảm, các doanh nghiệp giảm sản xuất để
phù hợp với nhu cầu hiện tại dẫn đến giảm tổng sản lượng
Ảnh hưởng gián tiếp của sự thay đổi trong thay đổi tổng chi tiêu
Tăng sản xuất: Khi một ngành tăng sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng, nó sẽ tạo ra nhu
cầu về nguyên vật liệu, dịch vụ từ các ngành khác. Điều này sẽ kích thích sản xuất của các
ngành liên quan, tạo ra hiệu ứng lan tỏa trong nền kinh tế.
Ngoài ra còn một vài yếu tố ảnh hưởng của chi tiêu tiêu dùng hộ gia đình tới tổng sản lượng:
- Thu nhập: Thu nhập của các hộ gia đình càng cao, họ càng có nhu cầu tiêu dùng các sản
phẩm trên thị trường, khả năng chi tiêu càng lớn sẽ giúp thúc đẩy sản lượng tăng.
- Lãi suất:Lãi suất cao sẽ khuyến khích tiết kiệm và giảm chi tiêu tiêu dùng. Ngược lại, lãi
suất thấp sẽ khuyến khích tiêu dùng.
- Chính sách của chính phủ: Các chính sách về thuế, chi tiêu công, tiền tệ của chính phủ có
thể tác động trực tiếp đến thu nhập và khả năng chi tiêu của hộ gia đình.
Ảnh hưởng của sự thay đổi chi tiêu cho đầu tư đến tổng sản lượng
- Lãi suất: Lãi suất càng cao thì chi phí trả cho vốn vay đầu tư càng cao, do đó đầu tư có xu
hướng giảm. Điều này làm cho tổng sản lượng giảm. Ngược lại, lãi suất thấp thì chi phí
vay vốn giảm và đầu tư có xu hướng tăng, giúp cho tổng sản lượng tăng.
- Kỳ vọng: Nếu các doanh nghiệp tin rằng trong tương lai nền kinh tế sẽ hoạt động tốt hơn,
khả năng doanh nghiệp bán được nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn thì sẽ đầu tư nhiều hơn
hiện tại, góp phần tăng tổng chi tiêu của đầu tư như bất động sản, cổ phiếu, nguyên nhiên
liệu. Nếu tương lai có nhiều thách thức thì các doanh nghiệp sẽ có xu hướng giảm đầu tư,
làm giảm tổng sản lượng của các ngành trên.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí (ngoài lãi suất) của hoạt động đầu tư như: thuế, tiền
công, giá nguyên nhiên vật liệu, công nghệ,… Khi chi phí cho các yếu tố này tăng sẽ làm
lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp giảm, họ sẽ giảm đầu tư, làm giảm tổng sản lượng
của các nguyên nhiên vật liệu sản xuất của doanh nghiệp, nền kinh tế và ngược lại 8
1.4.2. Ảnh hưởng của xuất khẩu ròng đến tổng sản lượng
Thu nhập nước ngoài: Thu nhập nước ngoài tăng hoặc đồng tiền có giá trị sẽ góp phần giúp cho
sức mua nước ngoài lớn. Tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước sản xuất sản phẩm để xuất
khẩu các nước. Góp phần không nhỏ trong gia tăng tổng sản lượng.
1.4.3. Sự thay đổi của chi tiêu nhập khẩu đến tổng sản lượng
- Thu nhập của người dân trong nước hay thu nhập quốc dân: thu nhập của người dân càng
lớn thì họ sẽ có thêm nhiều nhu cầu sử dụng các sản phẩm chất lượng nhập khẩu từ bên
ngoài. Điều đó làm gia tăng việc nhập khẩu các loại mặt hàng từ nước ngoài vào trong
nước làm tăng sản lượng của tổng nền kinh tế.
- Giá cả hàng hoá nhập khẩu: tùy thuộc vào nhu cầu, các thị trường có mức thu nhập khác
nhau mà doanh nghiệp, nhà nước cho phép nhập khẩu với số lượng dự kiến ở mức hợp
lý. Điều này cũng tác động ít nhiều đến nhập khẩu và sản lượng hàng hóa trong nước.
- Khả năng cạnh tranh về chất lượng hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu so với hàng hoá trong nước.
- Thị hiếu tiêu dùng của người dân trong nước.
- Quan hệ kinh tế giữa các nước.
II. PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔNG CHI TIÊU TẠI VIỆT NAM
2.1. Tình hình thay đổi của các thành tố của tổng chi tiêu
2.1.1. Phân tích tình hình thu nhập và tiêu dùng của hộ gia đình Thu nhập:
Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2022 theo giá hiện hành đạt 4,67 triệu đồng, tăng 11,1
điểm % so với năm 2021. Năm 2022 là năm đánh dấu sự khôi phục về kinh tế và tình hình đời
sống dân cư. Sau 2 năm 2019 và 2020, thu nhập bình quân đầu người giảm liên tiếp do tác động
tiêu cực của đại dịch Covid-19, thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2022 quay trở lại xu
hướng tăng như các năm từ 2019 trở về trước. Thu nhập tăng đều ở cả thành thị và nông thôn.
Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2022 ở khu vực thành thị đạt gần 5,95 triệu đồng (tăng
10,4 điểm % so với năm 2021) cao gấp 1,54 lần thu nhập bình quân ở khu vực nông thôn là 3,86
triệu đồng (tăng 10,8 điểm % so với năm 2021). Thu nhập tăng giúp tăng chi tiêu, nhưng tỷ lệ 9
chi tiêu so với thu nhập đang có xu hướng giảm, đặc biệt ở nhóm thu nhập cao, nhờ các khoản
tiết kiệm và đầu tư tăng lên.
=> Thu nhập bình quân đầu người của người dân Việt Nam đã tăng đáng kể trong những năm
gần đây nhờ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Chi tiêu:
Xu hướng tiêu dùng của các hộ gia đình tại việt nam có xu hướng tăng. Với sự tăng trưởng kinh
tế và hội nhập quốc tế, nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng đa dạng và nâng cao. Xu hướng
tiêu dùng của người Việt đang chứng kiến những thay đổi đáng kể. Tiêu dùng thông minh ngày
càng được ưu tiên, khi người tiêu dùng không chỉ quan tâm đến giá cả mà còn chú trọng đến
chất lượng, nguồn gốc và tác động của sản phẩm đến môi trường. Song song đó, tiêu dùng trực
tuyến cũng bùng nổ nhờ sự phát triển của công nghệ, mang đến sự tiện lợi và đa dạng lựa chọn
cho người mua. Bên cạnh việc mua sắm vật chất, tiêu dùng dịch vụ như du lịch, giáo dục, giải
trí cũng ngày càng được chú trọng, thể hiện sự quan tâm đến trải nghiệm và nâng cao chất lượng
cuộc sống. Doanh thu từ hàng hóa và dịch vụ bán lẻ tăng mạnh, chiếm 55% GDP vào năm 2022.
=> Chi tiêu của hộ gia đình chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố đan xen, từ tình hình kinh tế vĩ
mô, chính sách tài chính đến các yếu tố cá nhân và xã hội. Dù vậy, chi tiêu của hộ gia đình tại
Việt Nam đang tăng trưởng cùng với cải thiện thu nhập và xu hướng tiêu dùng mới. Ảnh hưởng:
Thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình là thành phần quan trọng nhất trong tổng cầu, thường
chiếm tỷ trọng lớn nhất trong GDP của Việt Nam. Khi thu nhập của hộ gia đình tăng, sức mua
cũng tăng, dẫn đến mức chi tiêu cao hơn cho hàng hóa và dịch vụ. Điều này trực tiếp làm gia
tăng tổng cầu, đặc biệt trong các nền kinh tế phụ thuộc vào tiêu dùng nội địa như Việt Nam.
Trong công thức GDP (GDP = C + I + G + NX), tiêu dùng cá nhân (C) - bao gồm chi tiêu của
hộ gia đình - chiếm tỷ trọng lớn nhất, điều này cho thấy tác động lớn của chi tiêu hộ gia đình lên
tổng cầu. Sự gia tăng chi tiêu có thể kích thích tổng cầu trong ngắn hạn, nhưng khi chi tiêu vượt
mức hoặc không bền vững, có thể gây lạm phát hoặc tạo ra các bất ổn kinh tế dài hạn. 10
=>Ta có thể thấy được sự tác động này rõ hơn qua việc: Thu nhập tăng -> chi tiêu tăng ->
tổng cầu tăng -> doanh nghiệp mở rộng sản xuất -> tạo thêm việc làm -> thu nhập tiếp tục tăng.
2.1.2. Phân tích tình hình đầu tư tư nhân
Việt Nam hiện có khoảng 600 nghìn doanh nghiệp, trong đó có gần 500 nghìn doanh nghiệp tư
nhân. Trong số này có tới hơn 96% là doanh nghiệp nhỏ và vừa, 2% doanh nghiệp quy mô vừa
và 2% doanh nghiệp lớn. Doanh nghiệp tư nhân tạo ra khoảng 1,2 triệu việc làm, đóng góp hơn
40% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) mỗi năm.
Vai trò của đầu tư tư nhân đối với tổng chi tiêu
Tăng trưởng sản xuất: Đầu tư tư nhân vào các ngành sản xuất, dịch vụ tạo ra hàng hóa và dịch
vụ mới, làm tăng cung và đa dạng hóa sản phẩm trên thị trường. Điều này kích thích nhu cầu
tiêu dùng của người dân, từ đó đẩy mạnh tổng chi tiêu.
Tạo việc làm: Các dự án đầu tư tư nhân thường đi kèm với việc tạo ra nhiều việc làm mới, tăng
thu nhập cho người lao động. Với thu nhập cao hơn, người dân có khả năng tiêu dùng nhiều
hơn, góp phần vào tăng trưởng tổng chi tiêu.
Cải thiện cơ sở hạ tầng: Đầu tư tư nhân vào các công trình hạ tầng như giao thông, năng lượng,
viễn thông tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, nâng cao năng suất lao động và thu
hút thêm đầu tư. Điều này gián tiếp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng tổng chi tiêu.
Đổi mới công nghệ: Các doanh nghiệp tư nhân thường đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ
mới, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Điều này giúp các doanh nghiệp cạnh tranh tốt
hơn trên thị trường quốc tế, tăng thu nhập và góp phần vào tăng trưởng tổng chi tiêu.
Tác động của đầu tư tư nhân đến tổng chi tiêu của nền kinh tế Việt Nam qua các yếu tố: 1. Lãi suất
Mối quan hệ giữa lãi suất và đầu tư tư nhân: Lãi suất là chi phí vay vốn, ảnh hưởng trực tiếp đến
quyết định đầu tư của khu vực tư nhân. Khi lãi suất giảm, chi phí vay vốn thấp hơn, khuyến 11
khích các doanh nghiệp tư nhân mở rộng sản xuất, đầu tư vào máy móc, thiết bị, và công nghệ
mới. Ngược lại, khi lãi suất tăng, đầu tư tư nhân có xu hướng giảm vì chi phí tài chính cao.
Tác động đến tổng chi tiêu:
Nếu lãi suất thấp, đầu tư tư nhân tăng, kéo theo mức chi tiêu tăng trong nền kinh tế thông qua
hiệu ứng lan tỏa (doanh nghiệp mua sắm nguyên liệu, trả lương, và tạo thêm việc làm).
Ví dụ, giai đoạn Việt Nam duy trì chính sách lãi suất thấp nhằm kích cầu đầu tư (đặc biệt trong
và sau đại dịch COVID-19) đã góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư tư nhân, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP.
2. Mức cầu về sản phẩm
Quan hệ giữa cầu sản phẩm và đầu tư tư nhân: Mức cầu của thị trường quyết định đến
khả năng sinh lời kỳ vọng của các khoản đầu tư. Khi nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ tăng, các
doanh nghiệp tư nhân sẵn sàng mở rộng sản xuất để đáp ứng nhu cầu.
Tác động đến tổng chi tiêu: Nhu cầu cao làm tăng doanh thu và lợi nhuận, khuyến khích
doanh nghiệp tái đầu tư vào sản xuất. Điều này không chỉ nâng cao tổng chi tiêu trong ngắn hạn
mà còn đóng góp vào tăng trưởng bền vững trong dài hạn.
Ví dụ, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam (như VinFast, Thế
Giới Di Động) đã tận dụng nhu cầu ngày càng tăng trong và ngoài nước để mở rộng đầu tư, gia
tăng tiêu dùng và xuất khẩu. 3. Kỳ vọng
Kỳ vọng và quyết định đầu tư: Các doanh nghiệp tư nhân đầu tư dựa trên kỳ vọng về sự
ổn định kinh tế, tăng trưởng dài hạn, và các chính sách hỗ trợ của chính phủ. Nếu kỳ vọng tích
cực, doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư lớn; ngược lại, nếu môi trường kinh tế bất ổn, doanh nghiệp
sẽ thu hẹp quy mô đầu tư. Sau Đại hội X năm 2006, khi Đảng và Nhà nước chính thức khuyến
khích phát triển kinh tế tư nhân, kỳ vọng tích cực đã tạo động lực mạnh mẽ cho doanh nghiệp tư nhân mở rộng đầu tư.
Tác động đến tổng chi tiêu: Kỳ vọng tích cực làm tăng đầu tư, kéo theo tăng chi tiêu trong toàn nền kinh tế. 12
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí khác
-Chi phí lao động: Kinh tế tư nhân chiếm 85% lực lượng lao động của Việt Nam, việc
tăng cường đầu tư vào đào tạo và sử dụng lao động sẽ tăng năng suất, dẫn đến mức chi
tiêu cao hơn của cả doanh nghiệp và người lao động. Tuy nhiên, nếu chi phí lao động
tăng quá cao (do tiền lương hoặc các khoản phúc lợi), khả năng sinh lời của đầu tư giảm,
làm hạn chế chi tiêu đầu tư.
-Chi phí nguyên vật liệu và logistics: Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế, chi phí
nhập khẩu nguyên vật liệu và logistics ảnh hưởng trực tiếp đến đầu tư tư nhân. Chi phí
cao có thể làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến tổng
chi tiêu. Ví dụ, khi chi phí vận chuyển tăng đột biến trong giai đoạn COVID-19, một số
doanh nghiệp tư nhân đã giảm đầu tư vào sản xuất.
-Chính sách tài khóa và thuế: Các chính sách hỗ trợ, như giảm thuế và cải cách thủ tục
hành chính, làm giảm chi phí đầu tư và khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân tăng chi
tiêu. Ví dụ, chính sách thuế ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam đã góp
phần khuyến khích đầu tư, tạo hiệu ứng lan tỏa đến tổng cầu.
2.1.3. Chi tiêu của chính phủ tại Việt Nam
1. Gia tăng chi tiêu cơ sở hạ tầng tại Việt Nam
Trong giai đoạn từ 2020 đến 2024, Việt Nam đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể trong chi
tiêu cho cơ sở hạ tầng, đặc biệt là đầu tư công trong lĩnh vực giao thông vận tải. Với tỷ lệ đầu tư
chiếm 5,7% GDP, Việt Nam hiện nằm trong nhóm các quốc gia dẫn đầu châu Á về tỷ trọng chi
tiêu hạ tầng. Hệ thống đường cao tốc là một trong những lĩnh vực được chú trọng nhất. Tính đến
năm 2023, Việt Nam đã đưa vào khai thác 1.729 km đường cao tốc và đặt mục tiêu đạt 3.000
km vào năm 2025. Điển hình, các đoạn cao tốc Bắc – Nam đi qua Ninh Bình và Thanh Hóa đã
hoàn thành, rút ngắn đáng kể thời gian di chuyển giữa các vùng và tạo động lực phát triển kinh
tế cho miền Trung. Chính phủ nhận định rằng đầu tư vào hạ tầng không chỉ giảm chi phí
logistics, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, mà còn mở ra không gian phát triển mới
cho công nghiệp, dịch vụ, và đô thị hóa. 13
Việc đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng phản ánh sự thay đổi chiến lược của Việt Nam trong bối
cảnh cần khắc phục những hạn chế về kết nối vùng và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế sau đại
dịch. Đại dịch Covid-19 đã làm giảm mạnh nhu cầu tiêu dùng và đầu tư tư nhân, khiến đầu tư
công trở thành công cụ chính để kích cầu kinh tế, với ngân sách đầu tư công năm 2024 lên tới
657.000 tỷ VNĐ. Việc giải ngân nhanh các khoản chi này không chỉ tạo việc làm, tăng tiêu
dùng mà còn kích thích các hoạt động kinh tế khác, đóng góp trực tiếp vào tổng chi tiêu quốc gia.
2. Gia tăng chi tiêu y tế và giáo dục
Chi tiêu y tế tại Việt Nam đã tăng đáng kể trong những năm gần đây, phản ánh nỗ lực cải thiện
chất lượng chăm sóc sức khỏe và ứng phó với các thách thức cấp bách. Trong giai đoạn 2021-
2025, tổng ngân sách đầu tư cho y tế đạt 38.135 tỷ đồng, tập trung vào nâng cấp cơ sở y tế, sản
xuất vắc xin trong nước và phòng chống dịch bệnh. Đồng thời, chi thường xuyên giai đoạn
2021-2023 đạt 226.264 tỷ đồng, tăng gần 1,3 lần so với giai đoạn trước, chiếm 6,81% tổng chi
thường xuyên. Nguyên nhân chủ yếu là do đại dịch Covid-19, đòi hỏi đầu tư lớn vào hệ thống y
tế để nâng cao năng lực phòng chống dịch, cải thiện cơ sở hạ tầng và chất lượng dịch vụ. Ngoài
ra, chính phủ đặt mục tiêu bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân, khiến chi tiêu từ quỹ bảo hiểm xã hội
cũng gia tăng, góp phần đáng kể vào tổng chi tiêu quốc gia.
Chi tiêu cho giáo dục giai đoạn 2004-2017 chiếm khoảng 5% GDP và 17-19% tổng chi tiêu
công, thể hiện sự ưu tiên đầu tư vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, giáo dục đại học chỉ nhận được
một phần ngân sách nhỏ, với 0,23% GDP và 0,9% tổng chi tiêu công. Nguyên nhân là chiến
lược của chính phủ tập trung phổ cập giáo dục ở các bậc học thấp, phù hợp với nhu cầu nâng
cao nền tảng nhân lực cơ bản. Trong khi đó, giáo dục đại học dựa nhiều vào xã hội hóa và học
phí, khiến nguồn ngân sách nhà nước phân bổ thấp hơn. Sự mất cân đối này phản ánh định
hướng đầu tư ngắn hạn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu điều chỉnh để đảm bảo nguồn nhân lực chất
lượng cao, phục vụ mục tiêu phát triển dài hạn và tăng trưởng kinh tế tri thức.
3. Chi tiêu an sinh xã hội 14
Chi tiêu an sinh xã hội của Việt Nam đã gia tăng đáng kể trong những năm qua, từ 2,85%
GDP năm 2005 lên khoảng 6,7% GDP vào năm 2021. Trong giai đoạn 2012-2022, tổng chi
ngân sách cho lĩnh vực này đạt 1,96 triệu tỷ đồng, tương đương 3,5% GDP, với mức chi tăng
đều hàng năm. Riêng trong giai đoạn 2020-2022, trước ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-
19, ngân sách nhà nước đã huy động khoảng 53 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ người dân thông qua trợ
cấp, chăm sóc y tế, và tiêm chủng.
Nguyên nhân chính của sự gia tăng chi tiêu nằm ở nhu cầu đảm bảo phúc lợi xã hội trong bối
cảnh già hóa dân số và các cú sốc kinh tế - xã hội. Các chương trình này không chỉ bảo vệ người
dân trước khó khăn mà còn kích thích tiêu dùng, tạo động lực tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên,
việc duy trì các chính sách này đòi hỏi sự cân đối tài chính để đảm bảo tính bền vững trong dài hạn.
4. Chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa của Việt Nam đã chuyển đổi từ thắt chặt sang mở rộng trong những
năm gần đây nhằm hỗ trợ nền kinh tế vượt qua các khó khăn và thúc đẩy tăng trưởng. Giai đoạn
2022-2023, việc nới lỏng tài khóa được thể hiện rõ qua các chính sách miễn, giảm và giãn hoãn
thuế, phí, với quy mô hỗ trợ khoảng 200 nghìn tỷ đồng, cùng với việc tăng chi tiêu công và chấp
nhận bội chi cao hơn để phục hồi kinh tế sau đại dịch Covid-19.
Nguyên nhân chính của sự thay đổi này là nhu cầu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh suy
giảm toàn cầu, tác động của đại dịch và áp lực từ lạm phát. Việc nới lỏng tài khóa đã góp phần
ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát (ở mức 3,5% năm 2023), đồng thời đảm bảo nguồn
lực cho an sinh xã hội, đầu tư cơ sở hạ tầng, và cải cách lương. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào
nguồn thu nội địa và chính sách giảm thuế đã làm gia tăng rủi ro cho ngân sách, đòi hỏi quản lý
tài chính cẩn trọng hơn trong thời gian tới.
2.1.4. Tình hình xuất khẩu và nhập khẩu tại Việt Nam
Về tổng quan, hàng hóa trong 5 năm 2018 – 2022, tốc độ tăng kim ngạch xuất, nhập khẩu bình
quân của Việt Nam đạt 11,3%/năm. Trong giai đoạn kinh tế thế giới và trong nước chịu tác động 15
tiêu cực của dịch Covid-19, hoạt động xuất, nhập khẩu tuy suy giảm nhưng vẫn đạt mức tăng trưởng dương.
Xuất khẩu năm 2018 đạt 243,48 tỷ USD, tăng 13,2% so với năm 2017, vượt xa chỉ tiêu kế hoạch
được Quốc hội và Chính phủ giao (chỉ tiêu Quốc hội giao tăng 7-8%; chỉ tiêu Chính phủ giao
tăng 8-10%). Tính theo giá trị tuyệt đối, xuất khẩu năm 2018 tăng thêm 28,36 tỷ USD so với
năm trước, đóng góp tích cực vào bức tranh tăng trưởng chung của nền kinh tế cả nước. Năm
2018 là năm thứ 3 liên tiếp Việt Nam có xuất siêu trong hoạt động xuất nhập khẩu và cũng là
năm thặng dư cán cân thương mại của nước ta đạt mức cao nhất từ trước tới nay. Mức thặng dư
kỷ lục đạt được năm 2018 là gần 6,8 tỷ USD, gần gấp 3 lần so với thặng dư năm 2017 (2,11 tỷ
USD). Với việc duy trì xuất siêu trong năm 2018, Việt Nam đã đạt xuất siêu trong 6 năm kể từ
năm 2012 đến nay và chỉ duy nhất năm 2015 có cán cân thương mại thâm hụt. Kết quả này đã
góp phần làm tích cực cán cân thanh toán và ổn định các chỉ số kinh tế vĩ mô khác của nền kinh tế.
Theo Tổng cục Hải quan, kết thúc năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả
nước lập kỷ lục mới khi đạt con số 517,26 tỷ USD, tăng 7,6% (tương ứng tăng 36,69 tỷ USD) so
với năm 2018. Trong đó trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 264,19 tỷ USD, tăng 8,4% và nhập khẩu
đạt 253,07 tỷ USD, tăng 6,8% so với năm 2018. Mặc dù năm 2019 xảy ra căng thẳng thương
mại giữa Mỹ – Trung và vấn đề địa chính trị càng làm gia tăng đáng kể tính bất ổn của hệ thống
thương mại toàn cầu, gây ảnh hưởng không nhỏ tới niềm tin kinh doanh, quyết định đầu tư và thương mại toàn cầu.
Năm 2020, tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước đạt 545,36 tỷ USD, tăng 5,4% với năm
trước. Trong đó trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 282,65 tỷ USD, tăng 7,0%, tương ứng tăng 18,39
tỷ USD so với năm 2019 và nhập khẩu đạt 262,70 tỷ USD, tăng 3,7% , tương ứng tăng 9,31 tỷ
USD. Tuy bị ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19 nhưng xuất siêu vẫn tăng trưởng ấn
tượng trong tình hình thế giới bị đứt gãy chuỗi cung ứng nghiêm trọng.
Kim ngạch thương mại của Việt Nam năm 2021 mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch
COVID-19 vẫn tăng trưởng ấn tượng, đạt mức kỷ lục 668,5 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt
336,3 tỷ USD (tăng 19% so với năm 2020) và nhập khẩu đạt 332,2 tỷ USD (tăng 26,5% so với 16
năm 2020). Có thể thấy, trong năm vừa qua các doanh nghiệp Việt Nam đã thực hiện tốt mục
tiêu vừa chống dịch, vừa tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Cùng với đó là nhu cầu tiêu
dùng tăng trở lại ở cả thị trường trong nước và xuất khẩu, giúp gia tăng kim ngạch xuất nhập
khẩu của Việt Nam so với năm trước đó.Tính tổng cả năm 2021, cán cân thương mại của Việt
Nam đã trở lại trạng thái thặng dư với giá trị xuất siêu 4 tỷ USD (nửa đầu năm 2021, Việt Nam
nhập siêu 1,47 tỷ USD), trong đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 27 tỷ USD, khu
vực kinh tế trong nước nhập siêu 23 tỷ USD.
Những tháng đầu năm 2022, dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp đã gây ra những ảnh
hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh tế, trong đó nhập khẩu hàng hóa bị ảnh hưởng khá nghiêm
trọng, các nước có xu hướng sử dụng sản phẩm nội địa thay cho sản phẩm nhập khẩu, đặc biệt là
các mặt hàng nông sản, thủy sản. Năm 2022 cũng diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới có
nhiều biến động nhanh, khó lường làm gia tăng rủi ro đến thị trường tài chính, tiền tệ, an ninh
năng lượng, an ninh lương thực toàn cầu. Tuy nhiên, nửa cuối năm đã chứng kiến sự phục hồi
mạnh mẽ của nền kinh tế khi đã bắt đầu kiểm soát có hiệu quả và bước đầu vượt qua đại dịch.
Trong bức tranh chung có nhiều điểm sáng, một trong số đó là hoạt động xuất nhập khẩu với
tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt mức kỷ lục vượt mốc 700 tỷ USD. Với quyết tâm
phục hồi và phát triển kinh tế, tạo đà hoàn thành mục tiêu kinh tế – xã hội năm 2022 và giai
đoạn 2021-2025 theo Nghị quyết Đại hội Đảng XIII, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ
đạo Bộ, ngành, địa phương triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết số
01/NQ-CP, Nghị Quyết số 02/NQ-CP, Nghị quyết số 11/NQ-CP về Chương trình phục hồi, phát
triển kinh tế – xã hội. Kinh tế vĩ mô tiếp tục duy trì ổn định là tiền đề cho hoạt động xuất, nhập
khẩu hàng hóa của Việt Nam đứng vững, giữ được đà tăng trưởng và tạo lực kéo quan trọng cho
cả nền kinh tế. Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều rủi ro, bất ổn, thương mại toàn cầu giảm
sút, xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn duy trì được những kết quả ấn tượng trong năm 2022.
Tóm lại, trong giai đoạn năm 2018-2022, trước, trong và sau dịch Covid xảy ra, tình hình tổng
cầu về hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế Việt Nam có sự thay đổi rõ rệt. Từ 2018 đến gần
cuối năm 2019, do nền kinh tế trong nước và thế giới ổn định nên tổng cầu trong nước tăng 17
nhanh và phát triển. Sau đó, trong tình hình dịch bệnh, kinh tế – xã hội năm 2020 của nước có
sự phát triển nhẹ. Nhờ đó, tình hình kinh tế được cải thiện một phần nhỏ. Tuy vậy tổng cầu (sản
lượng) của nền kinh tế có tăng nhưng ở mức thấp nhất so với các năm trước.
Sang năm 2023, kinh tế thế giới tiếp tục gặp nhiều khó khăn, lạm phát mặc dù đã hạ nhiệt nhưng
vẫn ở mức cao, nhiều nền kinh tế lớn duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt; nhu cầu hàng hóa thế
giới và một số thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam như Hoa Kỳ, Trung Quốc EU, ASEAN,
Nhật Bản sụt giảm; thương mại và đầu tư toàn cầu tiếp tục thu hẹp; hàng rào bảo hộ, phòng vệ
thương mại gia tăng đã khiến nhiều quốc gia tăng trưởng chậm lại. Theo IMF, tăng trưởng
thương mại thế giới dự kiến đạt 0,9% trong năm 2023, thấp hơn nhiều so với mức trung bình
4,9% của giai đoạn 2000-2019.
Do đó, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2023 không đạt được như kỳ vọng. Tính
chung cả năm 2023, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 683 tỷ USD, giảm 6,6%
so với năm trước, trong đó xuất khẩu giảm 4,4%; nhập khẩu giảm 8,9%[1]. Tuy nhiên, cán cân
thương mại tiếp tục ghi nhận xuất siêu năm thứ 8 liên tiếp với mức thặng dư kỷ lục ước đạt 28
tỷ USD, gấp 2,3 lần năm 2022.
Xuất, nhập khẩu năm 2023 có sự hỗ trợ rất lớn từ hội nhập kinh tế quốc tế, giúp Việt Nam hợp
tác thương mại với nhiều quốc gia hơn và trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị toàn
cầu. Nhiều ngành hàng có thế mạnh của Việt Nam tiếp tục ghi dấu ấn khi liên tục giữ vị trí
nhóm đầu trong kim ngạch xuất khẩu của thế giới. Hoạt động xuất – nhập khẩu hàng hóa năm
2023 của Việt Nam mặc dù chưa phục hồi mạnh, nhưng mức suy giảm đã được thu hẹp đáng kể
sẽ là tiền đề hướng đến sự khởi sắc trong năm 2024.
2.2. Đánh giá sự biến động của tổng chi tiêu hàng hóa và dịch vụ và tác động của sự thay
đổi đến tăng trưởng sản lượng tại Việt Nam
2.2.1. Đánh giá sự biến động của tổng chi tiêu trong thời gian gần đây
1. Tiêu dùng cá nhân (C):
Sau giai đoạn đại dịch COVID-19, tiêu dùng cá nhân tại Việt Nam có sự sụt giảm do tác động
của giãn cách xã hội và thu nhập người dân giảm. Tuy nhiên, từ năm 2022 trở lại đây, tiêu dùng 18
có xu hướng phục hồi mạnh mẽ. Các biện pháp hỗ trợ thu nhập và các chương trình kích cầu đã
góp phần thúc đẩy chi tiêu cá nhân, đặc biệt là trong các lĩnh vực như bán lẻ và dịch vụ ăn uống. 2. Đầu tư (I):
Đầu tư từ khu vực tư nhân và nước ngoài là thành phần quan trọng của tổng cầu. Những năm
gần đây, dòng vốn FDI vào các ngành sản xuất và công nghệ cao gia tăng. Tuy nhiên, một số
yếu tố bên ngoài như lạm phát toàn cầu và suy thoái kinh tế thế giới cũng làm ảnh hưởng đến
dòng vốn này. Việt Nam đã có những chính sách khuyến khích đầu tư, từ ưu đãi thuế đến cải
thiện hạ tầng, nhằm duy trì mức đầu tư ổn định.
3. Chi tiêu Chính phủ (G):
Chính phủ đã tăng chi tiêu công vào các dự án cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục, nhằm kích thích
tăng trưởng sau giai đoạn khó khăn của dịch bệnh. Những dự án lớn trong lĩnh vực giao thông
và năng lượng không chỉ tạo ra việc làm mà còn thúc đẩy tiêu dùng trong nước. Các gói hỗ trợ
cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng đã góp phần nâng cao tổng chi tiêu.
4. Xuất khẩu ròng (NX):
Xuất khẩu là thành phần then chốt trong tổng cầu của Việt Nam, với sự phát triển của các mặt
hàng chủ lực như điện tử, dệt may, và nông sản. Mặc dù chịu tác động từ sự chững lại của kinh
tế toàn cầu, Chính phủ Việt Nam đã tìm cách mở rộng thị trường và gia tăng sản lượng các mặt
hàng có giá trị cao, giúp duy trì mức xuất khẩu ổn định.
Kết luận: Tổng chi tiêu của Việt Nam trong thời gian gần đây có sự tăng trưởng đáng kể, nhờ
vào các chính sách kích thích của Chính phủ và sự phục hồi của tiêu dùng và đầu tư. Sự gia tăng
này giúp thúc đẩy GDP, nhưng cũng đặt ra thách thức về kiểm soát lạm phát và ổn định giá cả trong nước.
2.2.2. Đánh giá tác động của biến động tổng chi tiêu đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
Trong những năm qua, sự thay đổi của tổng chi tiêu, bao gồm: tiêu dùng hộ gia đình, đầu tư tư
nhân, chi tiêu chính phủ và cán cân xuất nhập khẩu đã ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ tăng
trưởng và sản lượng của nền kinh tế Việt Nam. 19