



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI -------- BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
CHỦ ĐỀ: PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC TRONG SỰ
NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
Giảng viên : Nguyễn Ngọc Diệp Nhóm thực hiện : Nhóm 10
Mã lớp học phần : 242_HCMI0131_22 Hà Nội, năm 2025
BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN
STT Họ và tên Mã sinh viên Nội dung nhiệm vụ Đánh giá thành viên 83 Lê Thị Quỳnh Trang 22D290109 - Làm PowerPoint (Nhóm trưởng) - Thuyết trình - Đề cương 84 Nguyễn Mạnh Trường 22D170254 - Nội dung Chương II 85 22 N D g 1 ô 7 0 A 2 n 5 h 5 Tu-ấ n L àm PowerPoint - Thuyết trình 86 Đỗ Mạnh Tùng 22D290155 - Phản biện 87 Nguyễn Cẩm Tú 22D170256 - Nội dung Chương II - Tổng hợp Word 88 Hoàng Thị Vân 22D290117 - Nội dung Chương I - Phản biện 89 La Thị Khánh Vân 22D170262 - Nội dung Chương II 90 Phạm Khánh Vi 22D290119 - Nội dung Chương I - Phản biện - Đề cương 91 Nhâm Thiên Vũ 22D290120 - Nội dung Liên hệ MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC TRONG
SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM ........................ 2
1.1. Một số khái niệm cơ bản .......................................................................................... 2
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực ................................................................................ 2
1.1.2. Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa ......................................................... 3
1.2. Đặc điểm và phân loại nguồn nhân lực .................................................................. 3
1.3. Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ..... 5
1.4. Quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực gắn với công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ...................................................................................................................... 7
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM .......................................................... 11
2.1. Thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay .............................................. 11
2.1.1. Tổng quan dân số và nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay ............................. 11
2.1.2. Tổng quan thị trường lao động – Quý I/2025 ................................................ 12
2.1.3 Phân bổ dân số và nguồn nhân lực theo giới tính, khu vực........................... 13
2.1.4. Cơ cấu việc làm theo ngành – Quý I/2025 ..................................................... 17
2.2. Đánh giá về vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá ở Việt Nam hiện nay ........................................................................................ 18
2.2.1. Những ưu điểm ....................................... ......................................................... 18
2.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân ....................................... .............................. 19
2.3. Giải pháp nhằm phát huy vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam. ......................................................................... 22
LIÊN HỆ NGUỒN LỰC TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA-HIỆN ĐẠI
HÓA CỦA ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI ........................................................................... 25
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 27
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................... .................................................. 28 MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải
phát triển kinh tế, mà muốn phát triển kinh tế thì phải có người – người lao động có tri thức,
có kỹ thuật.” Câu nói ấy không chỉ thể hiện tầm nhìn chiến lược của Bác, mà còn là kim
chỉ nam cho mọi chính sách phát triển của đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.
Trong giai đoạn hiện nay, công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH) là con
đường tất yếu để Việt Nam rút ngắn khoảng cách với các quốc gia phát triển, thoát khỏi
tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và vươn lên hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu. Với
một đất nước còn xuất phát điểm thấp, cơ sở hạ tầng yếu, công nghiệp chưa phát triển đồng
đều như Việt Nam, thì CNH – HĐH không chỉ là định hướng kinh tế, mà còn là một nhiệm
vụ lịch sử gắn liền với vận mệnh dân tộc.
Thế nhưng, để CNH – HĐH diễn ra thành công và hiệu quả, yếu tố quyết định chính
là con người. Chính nguồn nhân lực là chủ thể vận hành, sáng tạo và cải tiến công nghệ, là
lực lượng nòng cốt để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất lao động và năng lực
cạnh tranh quốc gia. Thực tế hiện nay cho thấy nguồn nhân lực nước ta còn nhiều bất cập:
tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ chưa cao; kỹ năng nghề và kỷ luật lao động còn hạn
chế; sự phân bố nhân lực chưa hợp lý giữa các vùng miền và ngành nghề.
Do đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa, Cách mạng công nghiệp 4.0 và xu hướng chuyển
đổi xanh – số đang diễn ra mạnh mẽ, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trở thành
yếu tố sống còn. Cần có các chính sách đồng bộ để phát triển giáo dục nghề nghiệp, đào
tạo kỹ năng mềm, tư duy đổi mới và khả năng thích ứng. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh phân
bổ hợp lý nguồn lao động và thu hút nhân tài phục vụ phát triển vùng sâu, vùng xa và các ngành trọng điểm. 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC TRONG
SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
Thuật ngữ “nguồn nhân lực” xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi có sự thay
đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Nguồn nhân
lực là nguồn lực con người, là động lực quan trọng góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã
hội, quyết định thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cho đến
nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “nguồn nhân lực”. Chẳng hạn như:
Theo Liên Hợp quốc, “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh
nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá
nhân và của đất nước”.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), ở nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là toàn bộ những
người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động – đây là nguồn cung ứng sức lao động
cho xã hội. Với nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất
xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm
toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Khánh (2012) nêu trong Giáo trình “Kinh tế
nguồn nhân lực”, “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, là bộ phận quan trọng trong
dân số có nguồn hình thành và đích đến về quy mô nhất định, có sự gắn kết chặt chẽ với
nhau giữa những người lao động để có thể phát huy tối đa năng lực của nguồn nhân lực cho mục tiêu phát triển”.
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam (2021), “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân
số từ đủ độ tuổi lao động trở lên, có khả năng lao động và họ đang làm việc trên thực tế tại
các ngành nghề trong nền kinh tế”.
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu nguồn nhân lực là phạm trù dùng để chỉ sức mạnh
tiềm ẩn của dân cư tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã
hội. Sức mạnh và khả năng tiềm ẩn của nguồn nhân lực được thể hiện qua số lượng, chất
lượng và cơ cấu nguồn nhân lực với đủ điều kiện tham gia vào sản xuất xã hội và đáp ứng
được các nhu cầu sử dụng nhân lực của xã hội. 2
1.1.2. Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là hai khái niệm liên quan đến quá trình phát triển
kinh tế và xã hội của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ. Công nghiệp hóa diễn ra ở các
nước khác nhau, có sự khác nhau về các quan niệm, mô hình, bước đi và ảnh hưởng của nó
đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) nêu định nghĩa:
“Công nghiệp hóa là quá trình phát triển kinh tế trong đó một bộ phận nguồn của cải quốc
dân được động viên để phát triển nền kinh tế công nghiệp nhiều thành phần với kỹ thuật hiện đại”.
Ở Việt Nam, trong những năm 1960, công nghiệp hóa được coi là nhiệm vụ trung
tâm trong suốt thời kỳ quá độ. Đảng ta đã xác định thực chất của công nghiệp hóa xã hội
chủ nghĩa là: “Quá trình thực hiện cách mạng kỹ thuật, thực hiện sự phân công mới về lao
động xã hội và là quá trình tích luỹ xã hội chủ nghĩa để không ngừng thực hiện tái sản xuất mở rộng”
Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa VII đã đưa ra khái
niệm: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt
động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng lao động thủ công
là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện,
phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học
và công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”. Quan niệm trên đây về công nghiệp
hóa, hiện đại hóa được thể hiện và quán triệt đầy đủ trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VIII và lần thứ IX.
1.2. Đặc điểm và phân loại nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực mặc dù cũng tham gia vào quá trình lao động sản xuất như các
nguồn lực khác, song lại mang những đặc trưng rất riêng biệt. Những đặc điểm này tạo nên
vai trò đặc biệt của nguồn nhân lực trong sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ nhất, sức lao động là một thuộc tính gắn liền với cơ thể sống của con người. Do
vậy, để người lao động có sức lao động tốt và ngày càng được nâng cao, cần đảm bảo chính
sách tiền lương hợp lý, chi trả định kỳ, đáp ứng kịp thời nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Tiền 3
lương phải tuân theo quy luật vận động của tiền lương thực tế, bảo đảm đời sống vật chất
và tinh thần ngày càng được cải thiện. Đồng thời, môi trường lao động phải được tổ chức
theo hướng hợp tác, sáng tạo, tạo điều kiện cho người lao động thỏa mãn nhu cầu cá nhân
thông qua hoạt động tập thể và sự tương tác xã hội.
Thứ hai, nguồn nhân lực có tính chất đặc thù so với các nguồn lực khác đó là trong
quá trình sử dụng, trình độ của người lao động có thể thay đổi theo nhiều chiều hướng. Việc
sử dụng lao động có thể làm cho trình độ kỹ năng, tri thức và thái độ của người lao động
được nâng cao; ngược lại, trong điều kiện bất lợi, trình độ ấy có thể suy giảm. Trong một
số trường hợp, qua thời gian, năng lực lao động có thể không thay đổi đáng kể. Điều này
cho thấy tính biến động và khả năng phát triển không ngừng của nguồn nhân lực, đòi hỏi
phải có các chính sách giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng phù hợp.
Thứ ba, thị trường lao động trong nền kinh tế thị trường vận hành theo cơ chế cạnh
tranh. Trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, thị trường lao động ngày càng mang tính quốc
tế: người lao động có quyền di chuyển tự do và tham gia lao động ở nhiều quốc gia khác
nhau, đồng thời các doanh nghiệp cũng có quyền tuyển dụng lao động từ khắp nơi trên thế
giới. Điều này làm gia tăng tính cạnh tranh, đồng thời mở rộng cơ hội phát triển nguồn nhân
lực trên phạm vi toàn cầu.
Ngoài ra, nguồn nhân lực cũng được phân loại rõ ràng dựa trên nguồn gốc hình
thành, giúp quản lý và khai thác hiệu quả lực lượng lao động trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Cụ thể, nguồn nhân lực có thể được chia thành ba nhóm chính:
- Nguồn nhân lực có sẵn trong dân số: Bao gồm những người trong độ tuổi lao động
và có khả năng lao động. Đây là nhóm lao động chủ yếu tham gia vào các hoạt động
sản xuất và dịch vụ. Nhóm này chiếm phần lớn lực lượng lao động, đóng vai trò chủ
chốt trong việc phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ.
- Nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế còn gọi là dân số hoạt động kinh tế: Đây
là nhóm lao động trực tiếp đóng góp vào việc tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là trong
các ngành công nghiệp hiện đại và các lĩnh vực dịch vụ.
- Nguồn nhân lực dự trữ: Bao gồm những người trong độ tuổi lao động nhưng chưa
tham gia vào thị trường lao động, chẳng hạn như những người làm công việc nội trợ,
những người chưa có việc làm sau khi tốt nghiệp hoặc những người vừa hoàn thành 4
nghĩa vụ quân sự,... Đây là nguồn lao động tiềm năng có thể được huy động khi cần
thiết, đặc biệt trong những giai đoạn cần mở rộng lực lượng lao động để đáp ứng nhu cầu phát triển.
Với các đặc điểm và phân loại như trên, nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa của Việt Nam không chỉ cần được phát triển về số lượng mà còn phải chú
trọng vào việc nâng cao chất lượng. Chính vì vậy, các chính sách giáo dục, đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực là yếu tố then chốt để xây dựng một lực lượng lao động có khả năng
đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế toàn cầu.
1.3. Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện
đại hóa. Như mọi quốc gia khác trên thế giới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
Việt Nam cũng phải phụ thuộc vào nguồn nhân lực và do nguồn lực này quyết định.
Thứ nhất, nguồn nhân lực là nhân tố chủ chốt, sử dụng các nguồn lực khác phục vụ
cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên
nhiên, vị trí địa lý... tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng. Chứng chỉ phát huy tác dụng và
có ý nghĩa tích cực xã hội khi được kết hợp với nguồn nhân lực thông qua hoạt động có ý
thức của con người. Bởi lẽ, nguồn nhân lực là nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và
có ý chí, biết “lợi dụng” các nguồn lực khác, gắn chúng kết lại với nhau, tạo thành một sức
mạnh tổng hợp, cùng tác động vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các nguồn lực
khác là những khách thể chịu sự cải tạo, khai thác của nguồn nhân lực, hết thảy chúng đều
phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con người, nếu con người biết cách tác động và chi phối
đúng mục đích và hiệu quả. Ví dụ như vốn cũng là một nguồn lực để tiến hành công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nhưng vốn chỉ trở thành nguồn lực quan trọng và cấp thiết của sự phát
triển khi nó nằm trong tay những người biết sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả cao.
Ngày nay trước xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự hợp tác đầu tư nước ngoài
cũng là nguồn lực quan trọng, nó tạo ra sự đột phá trong kinh tế, nhất là với các nước có
điểm xuất phát thấp, nhưng sức mạnh của sự đột phá này đến đâu, tác động tích cực của nó
như thế nào còn tuỳ thuộc vào yếu tố nhân lực khi tiếp nhận nguồn lực đó. Sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa do nguồn nhân lực tổ chức, thực hiện do đó phải có sự hiện diện 5
của nguồn nhân lực trong công tác quản lý, nghĩa là phải dựa vào nguồn nhân lực. Nếu
thiếu sự hiện diện của nguồn nhân lực thì mọi nguồn lực đều trở nên vô nghĩa.
Thứ hai, các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, trong khi đó
nguồn nhân lực lại là vô tận. Nó không chỉ tái sinh và tự sản sinh về mặt sinh học mà còn
tự đổi mới không ngừng, phát triển về chất trong con người xã hội, nếu biết chăm lo, bồi
dưỡng và khai thác hợp lý. Đó là cơ sở làm cho năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn
của con người phát triển tiến bộ trong quá trình tiến hóa nhân loại.Nhờ vậy nguồn nhân lực
đã từng bước làm chủ tự nhiên, sáng tạo, khám phá ra nhiều nguồn tài nguyên mới, nhiều
công cụ sản xuất có hiệu quả hơn, đưa xã hội chuyển qua các nền văn minh từ thấp đến cao.
Thứ ba, nguồn nhân lực trong việc phát triển công nghệ, khoa học kĩ thuật. Sự Phát
triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật và công nghệ hiện đại đang dẫn
nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển vận động đến nền kinh tế của trí tuệ. Phải
nói rằng khoa học-kỹ thuật và công nghệ trước tiên là sản phẩm của quá trình hoạt động
nhận thức của con người, là sản phẩm của sự phát triển trí tuệ con người. Chính nguồn nhân
lực đã sáng tạo ra và quyết định xu hướng tốc độ phát triển của khoa học-kỹ thuật và công
nghệ. Nguồn nhân lực quyết định sử dụng những tri thức khoa học-kỹ thuật vào sản xuất
như thế nào để hiệu quả nhất. Nguồn nhân lực sử dụng khoa học-kỹ thuật và công nghệ để
cải tạo đối tượng lao động, biến đổi giá trị của các tài nguyên thiên nhiên, cải tiến và sử
dụng công cụ lao động, tư liệu lao động.Giờ đây sức mạnh của trí tuệ đã đạt đến mức mà
nhờ nó con người có thể sáng tạo ra những người máy “bắt chước” hay “phỏng theo” những
đặc tính trí tuệ của chính con người. Rõ ràng là bằng những kỹ thuật công nghệ hiện đại do
chính bàn tay khối óc con người làm ra mà ngày nay nhân loại đang chứng kiến những biến
đổi thần kỳ trong lịch sử phát triển của mình.
Thứ tư, nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công của quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Kinh nghiệm của nhiều nước và thực tiễn của chính nước ta cho thấy sự
thành công của công nghiệp hoá, hiện đại hoá phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch định đường
lối, chính sách cũng như tổ chức thực hiện, nghĩa là phụ thuộc vào năng lực nhận thức và
hoạt động thực tiễn của con người. Sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa sẽ không đạt
được kết quả tốt nếu năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của nguồn nhân lực không 6
đáp ứng đầy đủ với điều kiện cụ thể của đất nước và bối cảnh quốc tế. Đối với những nền
kinh tế nông nghiệp chưa công nghiệp hoá thì mặt số lượng của nguồn nhân lực có tầm
quan trọng đặc biệt vì nó qui định quy mô của thị trường. Nhưng khi tiến hành công nghiệp
hoá thì mặt chất lượng, cơ cấu và cơ chế sử dụng nguồn nhân lực lại quan trọng hơn. Cơ
cấu lao động cần cho quá trình công nghiệp hoá phải bao gồm: các chính khách, các nhà
hoạch định chính sách, các học giả, các nhà kinh doanh, các nhà kỹ thuật và công nghệ, các
công nhân lành nghề... không có các chính khách, các học giả tài ba thì khó có thể có được
những chiến lược, chính sách phát triển đúng đắn; không có các nhà kinh doanh lỗi lạc thì
cũng sẽ không có người sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn vốn, nhân lực, công nghệ.
Sự thiếu vắng hay kém cỏi của một trong các bộ phận cấu thành nhân lực trên đây sẽ có hại
cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Qua toàn bộ phân tích trên có thể kết luận rằng nguồn nhân lực có vai trò quyết định
sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Do vậy,muốn công
nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công thì phải đổi mới cơ bản các chính sách đầu tư cho các
ngành khoa học, văn hoá, giáo dục, y tế ở Việt Nam nhằm phát triển nguồn nhân lực cho
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
1.4. Quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông
qua tại Đại hội VII, khẳng định: “Phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công
bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến
bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt
với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội”.
Tại Đại hội VIII, vấn đề phát triển nguồn nhân lực càng được Đảng ta chú trọng, coi
đây là động lực chính tạo nên lực lượng sản xuất - nhân tố quyết định tốc độ và sự phát
triển bền vững của phương thức sản xuất mới ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Vì thế, muốn phát triển đất nước bền vững không thể không chăm lo phát triển con người.
Đảng ta xác định: con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Nguồn lực
cơ bản, to lớn, quyết định này phải có hàm lượng trí tuệ, phẩm chất ngày một cao mới có
thể đáp ứng được sự nghiệp CNH, HĐH. Đại hội VIII nêu rõ: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng 7
và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH”.
Từ sau Đại hội VIII, thực hiện chiến lược CNH, HĐH đất nước, Trung ương Đảng
đã ban hành nhiều nghị quyết về các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến việc chăm sóc, bồi
dưỡng và phát huy nhân tố con người. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996) về
định hướng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo trong thời kỳ CNH, HĐH và nhiệm vụ
đến năm 2000 khẳng định: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho
sự phát triển nhanh và bền vững”. Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục là xây dựng những
thế hệ con người thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH. Nghị quyết xác
định: phát triển nguồn nhân lực phải là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội
được thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó giáo dục và đào tạo là then chốt, là quốc
sách hàng đầu; phát triển giáo dục, đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến
bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh... Chú trọng phát triển nguồn lực
con người một cách toàn diện về cả trí tuệ, sức khỏe, đạo đức, thái độ… Những quan điểm,
chủ trương của Đảng đã được cụ thể hóa bằng các cơ chế, chính sách, chương trình, dự án
nhằm thực hiện các mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Đại hội IX (2001) của Đảng nêu rõ: “đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân
lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước thời kỳ CNH, HĐH”, đồng thời khẳng định
phương hướng: “Tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về phát triển giáo dục
và đào tạo, khoa học và công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với cơ cấu hợp lý;
triển khai thực hiện chương trình phổ cập trung học cơ sở; ứng dụng nhanh các công nghệ
tiên tiến, hiện đại; từng bước phát triển kinh tế tri thức”.
Đại hội X thể hiện rõ quyết tâm phấn đấu để giáo dục và đào tạo cùng với khoa học
và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu; tập trung đổi mới toàn diện giáo dục và đào
tạo, chấn hưng giáo dục để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao… với các giải pháp
cụ thể: quản lý quá trình phát triển dân số và nguồn nhân lực trong mối quan hệ với phát
triển kinh tế - xã hội; đổi mới phương thức đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; phát triển
nguồn nhân lực gắn với tạo việc làm, tạo việc làm tại chỗ thông qua phát triển sản xuất, tập
trung vào các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, xuất khẩu… 8
Đại hội XI (2011) của Đảng đã xác định ba khâu đột phá chiến lược, trong đó khẳng
định: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao”. Đại hội
xác định: “gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa
học, công nghệ”. Để thực hiện chiến lược này, Đảng ta đưa ra nhiều giải pháp: “xây dựng
và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam; đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo
dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ và hội nhập quốc tế,
trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý
là khâu then chốt”; “xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm
vóc con người Việt Nam”. Đảng ta nêu rõ 4 định hướng chiến lược về phát triển nguồn
nhân lực trong thời kỳ hội nhập: gắn phát triển nguồn nhân lực với việc đẩy nhanh tốc độ
phát triển kinh tế - xã hội; gắn việc phát triển nguồn nhân lực với quá trình dân chủ hóa,
nhân văn hóa đời sống xã hội, khai thác có hiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống và hiện
đại; nâng cao chất lượng sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ; có chiến lược phát
triển con người trên cơ sở một hệ thống chính sách đồng bộ hướng tới con người vừa là
mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Giải quyết tốt các vấn đề này sẽ tạo được yếu
tố nội sinh của nguồn nhân lực, cơ sở bền vững cho phát triển và hội nhập. Trong đó, một
trong vấn đề mấu chốt được Đảng nêu ra là: “Đổi mới chính sách đào tạo, sử dụng và đãi
ngộ trí thức, trọng dụng và tôn vinh nhân tài, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài”. Nghị
quyết khẳng định: Việt Nam chỉ có thể đi tắt đón đầu sự phát triển trên thế giới trong thời
kỳ hội nhập bằng cách đầu tư vào yếu tố con người.
Mặc dù đã được đặc biệt quan tâm và đạt nhiều thành tựu to lớn nhưng trong bối
cảnh hội nhập quốc tế, việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đặt ra cấp thiết. Theo đánh
giá của Ngân hàng Thế giới (WB), chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam thấp hơn so với
nhiều nước, đặc biệt là thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao.
Chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79/10 điểm (xếp thứ 11/12 nước châu Á tham
gia xếp hạng của WB) trong khi Hàn Quốc là 6,91; Ấn Độ là 5,76; Malaysia là 5,59; Thái
Lan là 4,94... Cơ cấu phân bổ lao động theo ngành nghề cũng mất cân đối. Các ngành kỹ
thuật - công nghệ, nông - lâm - ngư nghiệp ít và chiếm tỷ trọng thấp, trong khi đó các ngành
khoa học xã hội như: luật, kinh tế, ngoại ngữ... lại chiếm tỷ lệ khá cao. Nhiều ngành nghề,
lĩnh vực có tình trạng vừa thừa lại vừa thiếu nhân lực. 9
Như vậy, việc nâng cao trình độ nguồn nhân lực là một yêu cầu cấp thiết trong xây
dựng và phát triển đất nước. Chúng ta cần nhanh chóng đầu tư phát triển nguồn nhân lực,
tiến tới “nền kinh tế tri thức”; cập nhật, trọng dụng và phát huy tài năng, giá trị của nguồn
nhân lực cấp cao để theo kịp tốc độ chung toàn cầu.
Thời kỳ hội nhập sẽ mở ra nhiều cơ hội việc làm với những yêu cầu ngày càng cao
đối với người lao động, nhất là: kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, ngoại ngữ, tin học và tác
phong công nghiệp… Hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực nước ta còn nhiều hạn chế,
chưa được trang bị tốt về chuyên môn, nghiệp vụ, các kỹ năng mềm và trình độ ngoại ngữ
nên không đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng.
Bên cạnh đó, thị trường lao động còn có sự chênh lệch giữa cung - cầu, giữa nhu cầu của
nhà tuyển dụng với người lao động, giữa những kiến thức được đào tạo trong nhà trường
với thực tiễn cuộc sống… Công tác dự báo và thông tin thị trường lao động còn nhiều hạn chế…
Để có thể phát huy được thế mạnh về nguồn nhân lực và tận dụng được thời kỳ “dân
số vàng” trong quá trình hội nhập quốc tế, nguồn nhân lực Việt Nam cần phải được trang
bị, rèn luyện chuyên môn nghề nghiệp, nâng cao năng lực tư duy khoa học, lao động sáng
tạo, phát huy sáng kiến, áp dụng công nghệ mới không ngừng phát triển kỹ năng nghề nghiệp. 10
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay
2.1.1. Tổng quan dân số và nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay
Tính đến ngày 1/4/2024, Việt Nam có 101.112.656 người, trong đó nam giới 49,8%
và nữ giới 50,2%. Tỷ số giới tính là 99,2 nam/100 nữ, cho thấy sự cân bằng dân số tương đối bền vững .
Việt Nam hiện đang bước vào giai đoạn “cơ cấu dân số vàng”, với 67,4% dân số
trong độ tuổi lao động (15–64 tuổi). Đây là thời kỳ “vàng” cho tăng trưởng, khi dân số trong
độ tuổi làm việc nhiều hơn dân số phụ thuộc. Tuy nhiên, lợi thế này không kéo dài mãi, vì
Việt Nam dự kiến chuyển sang giai đoạn dân số già từ năm 2036.
Hiện tại, lực lượng lao động Việt Nam đạt 52,9 triệu người, nhưng vẫn tồn tại các vấn đề lớn:
- Tỷ lệ lao động phi chính thức cao, thiếu đảm bảo xã hội.
Hiện có tới 64,3% lực lượng lao động làm việc trong khu vực phi chính thức, không
có hợp đồng lao động ổn định và không được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội. Điều này
dẫn đến nguy cơ mất việc đột ngột, không có thu nhập bảo đảm khi ốm đau, thai sản hoặc
về hưu, đồng thời giảm động lực cải thiện kỹ năng và gắn bó lâu dài với người sử dụng lao động.
- Trình độ chuyên môn thấp, khó cạnh tranh trong khu vực.
Chỉ 28,8% người lao động sở hữu bằng cấp hoặc chứng chỉ chuyên môn, một tỷ lệ
còn khiêm tốn so với nhiều quốc gia trong khu vực. Thiếu hụt kỹ năng chuyên sâu và chứng
nhận nghề nghiệp làm giảm khả năng tiếp cận việc làm chất lượng cao, hạn chế cơ hội thăng
tiến và góp phần kéo dài tình trạng thu nhập thấp.
- Chưa đáp ứng yêu cầu của kinh tế số và công nghiệp hóa.
Chất lượng nguồn nhân lực hiện tại vẫn chưa bắt kịp nhu cầu ngày càng cao của nền
kinh tế số và xu hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Lao động còn yếu về năng lực công
nghệ, tư duy đổi mới và kỹ năng số, gây cản trở trong việc ứng dụng tự động hóa, trí tuệ
nhân tạo và các giải pháp số vào sản xuất, kinh doanh.
- Phân bổ lao động mất cân đối giữa vùng miền. 11
Sự chênh lệch về phát triển kinh tế giữa các vùng miền dẫn đến tình trạng tập trung
lao động tại các đô thị lớn, trong khi vùng sâu, vùng xa thiếu hụt nguồn nhân lực. Mất cân
đối này không chỉ tạo áp lực quá tải lên hạ tầng đô thị mà còn kéo dài khoảng cách phát
triển, làm gia tăng bất bình đẳng về cơ hội việc làm và thu nhập.
- Bất bình đẳng giới trong tiếp cận việc làm và an sinh xã hội.
Phân bổ lao động theo giới vẫn còn khoảng cách đáng kể: nữ giới thường bị hạn chế
tiếp cận các vị trí việc làm chất lượng cao và ít có cơ hội tham gia đào tạo nghề chuyên sâu.
Họ cũng dễ rơi vào tình trạng lao động phi chính thức hơn, dẫn đến thiệt thòi về thu nhập,
chế độ bảo hiểm và an sinh xã hội.
- Hệ quả về thu nhập và an sinh xã hội.
Sự kết hợp của lao động phi chính thức, trình độ chuyên môn thấp và phân bổ mất
cân đối đã tạo ra khoảng cách lớn về thu nhập và khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo
dục, nhà ở và bảo hiểm. Điều này làm gia tăng rủi ro nghèo đói, giảm chất lượng cuộc sống
và tiềm ẩn nguy cơ bất ổn xã hội.
Tóm lại, để tận dụng “cơ cấu vàng”, Việt Nam cần nhanh chóng nâng cấp chất lượng
nhân lực, thúc đẩy việc làm chính thức, và tăng cường kết nối giữa đào tạo – thị trường lao
động. Nếu không tận dụng tốt, lợi thế dân số sẽ nhanh chóng chuyển thành thách thức xã hội.
2.1.2. Tổng quan thị trường lao động – Quý I/2025
Chỉ tiêu Số liệu So với quý IV/2024 So với quý I/2025
Lực lượng lao động (15+)
52,9 triệu người Giảm 230,7 nghìn người Tăng 532,0 nghìn người Lao động có việc làm
51,9 triệu người Giảm 234,0 nghìn người Tăng 532,1 nghìn người Tỷ lệ tham gia 68,2 % Giảm 0,8 điểm % Giảm 0,3 điểm % lực lượng lao động Tỷ lệ thất nghiệp 2,20 % Giảm 0,02 điểm % Giảm 0,04 điểm % Lao động có 28,8 % Tăng 0,2 điểm % Tăng 1,0 điểm % bằng/chứng chỉ 12
Tình hình lao động và việc làm trong kỳ báo cáo ghi nhận một số tín hiệu tích cực:
Tỷ lệ thất nghiệp tiếp tục duy trì ở mức thấp, cho thấy thị trường lao động đang phục hồi
tốt và ổn định sau giai đoạn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế vĩ mô. Đây là minh
chứng cho hiệu quả của các chính sách hỗ trợ phục hồi sản xuất, tạo việc làm và ổn định an
sinh xã hội mà Chính phủ và các địa phương đã triển khai trong thời gian qua.
Tuy nhiên, lực lượng lao động và tỷ lệ tham gia lao động có xu hướng giảm nhẹ, chủ
yếu do yếu tố mùa vụ sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán. Tình trạng này thường lặp lại hằng năm,
khi một bộ phận người lao động tạm thời rút khỏi thị trường để nghỉ ngơi, chuyển đổi việc
làm hoặc quay về địa phương.
Về chất lượng nguồn nhân lực, tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ ghi nhận xu
hướng tăng, phản ánh tác động tích cực từ các chương trình, chính sách đào tạo nghề và
nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động. Đây là một kết quả khả quan bước đầu,
góp phần cải thiện chất lượng nhân lực và đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.
Tuy nhiên, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ vẫn còn ở mức thấp so
với yêu cầu đặt ra trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu phát triển của nền
kinh tế hiện đại, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ cao, dịch vụ chất lượng và công
nghiệp mũi nhọn. Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, gắn đào tạo với nhu
cầu thực tiễn của doanh nghiệp và thị trường; đồng thời khuyến khích các mô hình đào tạo
linh hoạt, ứng dụng công nghệ và chuẩn hóa theo tiêu chí quốc tế.
2.1.3 . Phân bổ dân số và nguồn nhân lực theo giới tính, khu vực
- Lao động có việc làm theo vùng:
Chỉ tiêu Số liệu So với quý trước So với cùng kỳ năm trước
Thành thị 20,0 triệu người Giảm 115,9 nghìn người Tăng 433,6 nghìn người
Nông thôn 31,8 triệu người Giảm 118,1 nghìn người Tăng 98,5 nghìn người
Tỷ lệ lao động thành thị ghi nhận mức tăng đáng kể so với cùng kỳ năm trước, phản
ánh xu hướng đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi cả nước. Quá trình này cho 13
thấy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội từ nông thôn ra thành thị, đặc biệt trong bối
cảnh các khu đô thị ngày càng phát triển về hạ tầng, công nghiệp và dịch vụ, thu hút lực
lượng lao động lớn từ các vùng nông thôn. Sự gia tăng của lao động thành thị không chỉ
minh chứng cho sức hút của các trung tâm kinh tế, mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết về phát
triển hạ tầng xã hội, nhà ở, giao thông và các chính sách phúc lợi để bảo đảm điều kiện
sống cho người lao động nhập cư.
Tuy nhiên, lao động ở khu vực nông thôn vẫn chiếm tỷ trọng lớn, với gần 62% tổng
số lao động có việc làm, cho thấy khu vực nông nghiệp và nông thôn vẫn đang đóng vai trò
trụ cột trong cơ cấu lao động quốc gia. Điều này phản ánh thực tế rằng, mặc dù đang trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khu vực nông nghiệp vẫn là nguồn sống chính cho
phần lớn dân cư. Tuy nhiên, đây cũng là khu vực dễ bị tổn thương do chịu ảnh hưởng trực
tiếp từ biến đổi khí hậu, rủi ro thiên tai, biến động giá nông sản và năng suất lao động còn thấp.
Trong bối cảnh đó, việc nâng cao năng lực sản xuất, ứng dụng công nghệ cao trong
nông nghiệp, cũng như đa dạng hóa sinh kế cho người dân nông thôn là những định hướng
quan trọng nhằm giảm thiểu tính dễ tổn thương của khu vực này. Đồng thời, cần có chiến
lược phát triển nông thôn toàn diện, gắn với đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm và kết nối
hiệu quả với thị trường đô thị để bảo đảm phát triển cân bằng và bền vững giữa các vùng kinh tế.
- Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động theo giới và khu vực:
Đối tượng Tỷ lệ tham gia (%) Nam giới 74,2 % Nữ giới 62,4 % Thành thị 65,8 % Nông thôn 69,8 % 14
Chênh lệch giới tính trong thị trường lao động tiếp tục là một vấn đề đáng quan tâm,
thể hiện rõ qua sự bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận việc làm có chất lượng. Mặc dù phụ
nữ tham gia vào lực lượng lao động với tỷ lệ tương đối cao, họ vẫn đối mặt với nhiều rào
cản trong việc tiếp cận các vị trí có thu nhập cao, ổn định và gắn với các quyền lợi về bảo
hiểm xã hội, đào tạo nghề và thăng tiến. Những rào cản này bao gồm định kiến giới, trách
nhiệm gia đình không chia sẻ đồng đều, cũng như sự hạn chế trong tiếp cận giáo dục, kỹ
năng công nghệ và mạng lưới nghề nghiệp. Kết quả là nữ giới thường tập trung nhiều hơn
vào các lĩnh vực phi chính thức, có tính chất tạm thời, thiếu bảo vệ và dễ bị tổn thương
trước biến động kinh tế.
Ở khu vực nông thôn, mặc dù tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cao hơn so với khu
vực thành thị, song phần lớn lao động vẫn tập trung trong khu vực phi chính thức với mức
thu nhập thấp và điều kiện làm việc thiếu ổn định. Đây là hệ quả của cơ cấu kinh tế nông
thôn còn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp quy mô nhỏ, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tự
phát. Thiếu tiếp cận thông tin thị trường lao động, dịch vụ đào tạo nghề chất lượng và cơ
hội việc làm đa dạng khiến lao động nông thôn, đặc biệt là phụ nữ và thanh niên, gặp khó
khăn trong việc nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng sống.
Trong bối cảnh đó, cần có các chính sách can thiệp mạnh mẽ nhằm thúc đẩy bình
đẳng giới trong việc làm, nâng cao năng lực cho lao động nữ, đồng thời mở rộng cơ hội
nghề nghiệp chính thức cho người lao động nông thôn. Việc tăng cường đầu tư vào giáo
dục nghề nghiệp, hỗ trợ khởi nghiệp, phát triển kinh tế tập thể và nâng cao năng lực quản
lý tại cơ sở sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề bất bình đẳng và
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững. 15
- Tỷ lệ lao động phi chính thức: Phân loại Tỷ lệ (%) Cả nước 64,3 % Thành thị 48,6 % Nông thôn 74,2 % Nam giới 67,6 % Nữ giới 60,6 %
Tỷ lệ lao động phi chính thức tiếp tục duy trì ở mức cao, trở thành một trong những
“điểm nghẽn” lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững của thị trường lao động Việt Nam.
Lao động trong khu vực phi chính thức thường không có hợp đồng lao động rõ ràng, không
được tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, cũng như không được bảo đảm các điều
kiện làm việc an toàn, vệ sinh. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi và an sinh lâu
dài của người lao động mà còn làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước, gây thất thu ngân sách
và làm méo mó các chuẩn mực cạnh tranh trên thị trường.
Đặc biệt, khu vực phi chính thức thu hút một tỷ trọng lớn lực lượng lao động trong
độ tuổi lao động, chủ yếu là lao động phổ thông, lao động nông thôn và lao động có trình
độ thấp. Đây là nhóm dễ bị tổn thương nhất khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng hoặc có
sự dịch chuyển mạnh về công nghệ và mô hình sản xuất. Mặt khác, sự phổ biến của hình
thức lao động phi chính thức cũng đặt ra thách thức lớn cho việc xây dựng hệ thống an sinh
xã hội toàn diện, công bằng và hiệu quả.
Trước thực trạng này, cần thiết phải có các chính sách cụ thể và thực tiễn nhằm
khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh cá thể và cơ sở sản xuất phi chính thức
tham gia vào quá trình chính thức hóa. Các biện pháp có thể bao gồm: đơn giản hóa thủ tục
đăng ký kinh doanh, hỗ trợ tiếp cận tín dụng và công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi trong
việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm y tế, đồng thời nâng cao nhận thức 16
cộng đồng về quyền và nghĩa vụ lao động. Việc thúc đẩy chuyển đổi từ lao động phi chính
thức sang chính thức không chỉ nâng cao chất lượng việc làm mà còn góp phần tăng năng
suất lao động, cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và hướng tới một thị trường lao
động hiện đại, công bằng và bền vững.
2.1.4. Cơ cấu việc làm theo ngành – Quý I/2025
Ngành Số lao động (triệu) Tỷ trọng (%)
Nông, lâm nghiệp & thủy sản 13,5 26,0 %
Công nghiệp & xây dựng 17,3 33,3 % Dịch vụ 21,1 40,7 %
Trong cơ cấu việc làm theo ngành kinh tế, khu vực dịch vụ hiện đang dẫn đầu về số
lượng lao động, phản ánh rõ nét xu hướng đô thị hóa mạnh mẽ, gia tăng tiêu dùng nội địa
và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại. Sự phát triển của thương mại,
logistics, tài chính – ngân hàng, giáo dục, y tế và các dịch vụ cá nhân, xã hội cho thấy vai
trò ngày càng quan trọng của khu vực dịch vụ trong việc tạo ra việc làm và thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế theo chiều sâu. Xu hướng này phù hợp với đặc điểm của các nền kinh tế
đang phát triển, nơi tầng lớp trung lưu ngày càng mở rộng và nhu cầu về dịch vụ chất lượng ngày càng gia tăng.
Song song đó, khu vực công nghiệp và xây dựng ghi nhận tốc độ tăng trưởng nhanh
về số lượng việc làm, phản ánh hiệu quả rõ rệt từ quá trình thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI), phát triển các khu công nghiệp tập trung và mở rộng đầu tư công. Các chính
sách ưu đãi đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cấp hạ tầng đã góp phần tạo
điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, qua đó thúc đẩy nhu cầu lao động,
đặc biệt trong các ngành như chế biến chế tạo, xây dựng và sản xuất thiết bị điện – điện tử.
Trong khi đó, khu vực nông nghiệp có xu hướng giảm về tỷ trọng lao động trong
tổng thể nền kinh tế, phù hợp với lộ trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm phụ
thuộc vào sản xuất nông nghiệp truyền thống. Tuy nhiên, khu vực này vẫn chiếm hơn 25%
tổng số lao động có việc làm, cho thấy vai trò nền tảng của nông nghiệp, đặc biệt trong bảo 17