lOMoARcPSD| 61463864
A.Khái luận chung
1.Định nghĩa văn hóa: văn a một hệ thống hữu các gtrị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự
nhiên và xã hội.
VD: văn hóa Phục Hưng, văn hóa Đông Sơn
*Quan niệm về văn hóa của Hồ Chí Minh:”Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người
mới sáng tạo phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ
thuật, những công ccho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, các phương thức sử dụng toàn bnhững
sáng tạo phát minh đó tức văn hóa. Văn hóa sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với
biểu hiện của loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống đòi hỏi của sự
sinh tồn”.
*Phân tích quan niệm:
-Quan niệm đã nêu ra cấu trúc của văn hóa, bao gồm:
+Văn hóa vật chất
+Văn hóa tinh thần
+Tổng hợp phương thức sinh hoạt
- Quan niệm bàn đến đặc trưng của văn hóa: tính vị nhân sinh, được thể hiện hai phương diện: con
người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, đồng thời cũng là chủ thể hưởng thụ văn hóa.
- Nhấn mạnh chức năng của văn hóa, trong đó có hai chức năng quan trọng là: duy trì đời sống xã hội,
phục vụ đời sống của con người và từ đó nâng cao giá trị của cuộc sống.
- Nhìn nhận các vấn đề trong quan hệ logic tổng hợp.
- Về hình thức: phát biểu mang tính chất quan niệm, không phải học thuật.
2.Phân biệt văn minh – hiến – vật:
-Văn minh: nền văn hóa phát triển ở mức độ cao (đặc trưng), nó có những đặc trưng cho cả một xã hội
rộng lớn, một thời đại và cả nhân loại.
-Văn hiến: là những truyển thống văn hóa lâu đời còn lưu giữ được.
-Văn vật: truyển thống văn hóa biểu hiện ở các giá trị vật chất như nhân tài di tích, công trình, hiện
vật.
Văn minh
Văn hiến
Văn vật
Văn hóa
Thiên về giá trị vật
chất-kĩ thuật
Thiên về giá trị tinh
thần
Thiên về giá trị vật
chất
Chứa cả giá trị tinh thần
và vật chất
chỉ trình độ phát
triển
Có bề dày lịch sử
có tính quốc tế
Có tính dân tộc
lOMoARcPSD| 61463864
gắn nhiều hơn với
phương Tây đô
thị
Gắn bó nhiều hơn
với phương đông
nông nghiệp
Vd: Văn minh gắn
với sự phát triển của
các công nghệ, hệ
thống tổ chức xã hội,
hệ thống pháp lý,
cải tiến trong đời
sống vật chất.
Vd: Nền văn hiến
xây dựng từ truyền
thống văn học, các
tác phẩm lớn như
"Truyện Kiều" của
Nguyễn Du, "Sách
Đại Nam thực
lục"…
vd: Các di tích như
Kinh thành Huế,
chùa Một Cột
Nội, các tượng Phật
cổ, hoặc các hiện vật
khảo cổ học như bia
đá, gốm sứ cổ.
Vd: Văn hóa Việt Nam
bao gồm các yếu tố như
ngôn ngữ Tiếng
Việt, trang phục áo dài,
các món ăn truyền
thống như phở, bánh
chưng, lễ hội Tết
Nguyên Đán.
3.Đặc trưng văn hóa: 4 đặc trưng
- Một là, tính hệ thống. Văn hóa bao gồm nhiều thành phần khác nhau như: ngôn ngữ, tôn giáo, nghệ
thuật, pháp luật, đạo đức, phong tục, tập quán… Những yếu tố này không tồn tại độc lập luôn mối
quan hệ chặt chẽ tương tác, ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau trong một chỉnh thể hthống. Mỗi thay đổi
trong một phần của hệ thống văn hóa thể dẫn đến sự thay đổi trong các phần khác. Văn hóa một hệ
thống mở, luôn vận động, biến đổi, phát triển theo thời gian. Đặc trưng này để phân biệt hệ thống với tập
hợp.
- Hai là, tính giá trị. Văn hóa bao gồm các giá trị (giá trị thuộc về đời sống vật chất, giá trị thuộc về
đời sống tinh thần) trthành thước đo về mức độ nhân bản của xã hội và con người. Trong lịch sử phát triển
của nhân loại có giá trị của văn hóa để tồn tại và có giá trị của văn hóa để phát triển.
- Ba là, tính lịch sử. n hóa bao giờ cũng được hình thành qua một quá trình được tích lũy qua
nhiều thế hệ, là những thành tựu do cộng đồng người trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và
xã hội. Văn hóa có một bề dày truyền thống, một chiều sâu giá trị và các trầm tích văn hóa.
- Bốn là, tính nhân sinh. Văn hóa là một hiện tượng thuộc về xã hội loài người, gắn liền với hoạt động
thực tiễn của con người, những giá trị do một cộng đồng người sáng tạo ra, thuộc về con người, trong
con người mang dấu ấn người. Điều đó cho thấy, con người vừa chủ thể của văn hóa, đồng thời
khách thể của văn hóa, lại vừa là sản phẩm văn hóa.
4.Chức năng văn hóa: 4 chức năng
-Một là, chức năng tổ chức hội: n hóa thường xuyên m tăng sự ổn định hội, cung cấp cho
xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.
lOMoARcPSD| 61463864
+ ví dụ: Lễ hội cưới hỏi trong văn hóa Việt Nam đều có chung một mục đích là tổ chức và xác lập quan
hệ giữa hai gia đình, và đôi vợ chồng. Lễ cưới không chlà sự kết nối giữa hai người mà còn là sự kết nối
giữa các gia đình, thông qua việc thể hiện sự tôn trọng, lòng hiếu thảo sự chấp nhận các chuẩn mực
hội như việc xin dâu, lễ vật, nghi thức cưới hỏi.
-Hai là, chức năng điều chỉnh hội: giúp hội cân bằng trạng thái động, không ngừng tự hoàn
thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp địnhớng các chuẩn mực, làm động lực cho
sự phát triển của xã hội.
+ VD: Trong văn hóa Việt Nam, những quy định như tôn trọng người lớn tuổi, kính trên nhường
dưới là những chuẩn mực điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ xã hội.
-Ba là, chức năng giao tiếp: văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người với con người, tác dụng
liên kết họ lại với nhau. Nếu ngôn ngữ là hình thức giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó.
+VD: Chúc Tết trong văn hóa Việt Nam. Lời chúc Tết không chỉ là lời cầu chúc may mắn, bình an mà
còn là cách thể hiện sự quan tâm, lòng kính trọng và tình cảm đối với người khác. Mỗi lời chúc thể hiện sự
giao tiếp đầy tình cảm và mối quan hệ thân thiết trong xã hội Việt.
-Bốn là, chức năng giáo dục: văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng giá trị ổn định
(truyền thống) còn bằng cả những giá trị đang hình thành. Hai loại giá trị này tạo thành một hệ thống
chuẩn mực con người hướng tới. Nh văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân
cách (trồng người). Từ chức năng giáo dục văn hóa phát sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử.
+ VD: Trong văn hóa Việt Nam, các câu chuyện dân gian như "Sự tích Bánh Chưng, Bánh Dày" hay
"Cây tre trăm đốt" không chỉ mang giá trị giải trí mà còn giáo dục thế hệ trẻ về lòng yêu nước, lòng hiếu
thảonhững đức tính tốt đẹp của con người. Những câu chuyện này đã và đang được truyền lại qua các
thế hệ, giúp hình thành nhân cách và giáo dục đạo đức cho trẻ em Việt Nam.
5.Loại hình văn hóa gốc nông nghiệp:
*Đặc trưng:
- Đặc trưng gốc ( khí hậu): Nắng nóng lắm, mưa ẩm nhiều. Nghề chính là trồng trọt.
- Ứng xử với môi trường tự nhiên: Sống định cư, thái độ tôn trọng, ước mong sống hoà hợp với
thiên nhiên.
- Lối nhận thức, tư duy: Thiên về tổng hợp và biện chứng; chủ quan, cảm tính và kinh nghiệm.
- Tổ chức cộng đồng: + Nguyên tắc: Trọng tình, trọng đức, trọng văn, trọng nữ.
+ Cách thức: Linh hoạt và dân chủ, trọng tập thể.
- Ứng xử với môi trường xã hội: Dung hợp trong tiếp nhận; mềm dẻo hiếu hoà trong đối phó.
*Phân tích:
lOMoARcPSD| 61463864
Do vị trí địa lý nằm ở góc tận cùng phía Đông-Nam Châu Á nên Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc
nông nghiệp trồng trọt điển hình. Tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt
đều được thể hiện rất rõ nét trong đặc trưng văn hóa Việt Nam.
-Thứ nhất, trong ứng xử với môi trường tự nhiên luôn có ý thức tôn trọngsống hòa hợp với thiên
nhiên, tôn sùng thiên nhiên, thể hiện đức hiếu sinh
dân Việt Nam chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, trong cách ứng xử với tự nhiên, do nghề trồng trọt
buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, đơm hoa, kết trái và thu hoạch, từ đó ưa thích lối
sống ổn định, cho rằng” An cư lạc nghiệp” . Do sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên cư dân nông nghiệp có
ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên. Người Việt Nam mở miệng ra nói nhtrời”,
“lạy trời”… Các tín ngưỡng và lễ hội sùng bái tự nhiên rất phổ biến ở các tộc người trên khắp mọi vùng đât
nước.
-Thứ hai, về mặt nhận thức đã hình thành một lối duy tổng hợp biện chứng, trọng quan hệ, trọng
tình, thiên về kinh nghiệm, trực giác, cảm tính và duy linh (linh cảm).
Vì nghề nông, nhất là nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc vào nhiều yếu tố thiên nhiên
như : thời tiết, nước, khậu,... trông trời, trông đất, trông mây; trông mưa, trông gió, trông ngày, trông
đêm…” nên về mặt nhận thức, hình thành nên lối duy tổng hợp- biện chứng, nặng về kinh nghiệm chủ
quan cảm tính: sống u lên lão làng, trăm hay không bằng tay quenNgười làm nông quan tâm không
phải từng yếu tố riêng lẻ những mối quan hệ giữa chúng. Người Việt tích lũy được một kho kinh
nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ này: Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; Được mùa lúa thì úa
mùa cau, được mùa cau thì đau mùa lúa; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm…
-Thứ ba, trong tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa tổ chức hội theo nguyên tắc trọng
tình, chuộng sự hòa thuận, tương trợ, quan tâm đến láng giềng: lành đùm rách; Bầu ơi thương lấy
cùng…; các quan hệ ứng xử thường đặt tình cao hơn lý: Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình.
+ Lối sống trọng tình đưa đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng Mẫu đề cao nguyên lý Mẹ. Người Việt
coi: Nhất vợ nhì trời; Lệnh ông không bằng cồng bà… Người phụ nữ cũng được xem người vai trò
quyết định trong việc giáo dục con cái: Phúc đức tại mẫu; Con dại cái mang…
+ Lối tư duy tổng hợp – biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông nghiệp cộng với nguyên
tắc trọng tình đã dẫn đên lối sống linh hoạt, luôn thay đổi để thích hợp với từng hoàn cảnh: Ở bầu thì tròn,
ở ống thì dài; Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy; …
+ Nguyên tắc trọng tình cũng sở của tâm hiếu hòa, chuộng sự bình đẳng, dân chủ, đề cao tính
cộng đồng, tính tập thể. Người nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể, luôn có tập thể sau lưng.
-Thứ tư, trong lối ứng xử với môi trường hội, duy tổng hợp phong cách linh hoạt còn quy
định thái độ dung hợp trong tiếp nhận: ở Việt Nam không những không có chiến tranh tôn giáo mà mọi tôn
lOMoARcPSD| 61463864
giáo đều được tiếp nhận. Đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược người Việt Nam luôn hết sức mềm dẻo,
hiếu hòa.
Như vậy, hầu như tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt đều được
thể hiện rõ nét trong cách tố chức đời sống, phương thức tư duy, lối ứng xử của người Việt truyền thống.
- Tuy nhiên, mặt trái của tính linh hoạt trọng tình dẫn đến thái độ tùy tiện, coi thường tính
nguyên tắc, ý thức tổ chức kỷ luật kém tật co giãn giờ giấc, sự thiếu tôn trọng pháp luật, tệ đi “ cửa sau” để
giải quyết công việc( Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế). Văn minh nông nghiệp kéo dài đã làm chậm sự
phát triển của tiến trình lịch sử Việt Nam, không tạo ra được những tiền đề và điều kiện để bức ra khỏi cái
khung phong kiến phương Đông, làm hạn chế tính năng động, sáng tạo của con người Việt Nam và dẫn đến
sự trì trệ của xã hội Việt Nam.
6.Tọa độ văn hóa:
*Hệ tọa độ văn hóa:
- Không gian văn hóa: Những không gian lãnh thổ với các đặc trưng của nó, là nơi mà chủ nhân/ chủ
thể văn hóa đã nhận tác động để từ đó kiến tạo nên nền văn hóa riêng của mình. => Không gian địa
không gian văn hóa không hoàn toàn trùng khít lên nhau.
Vùng văn hóa: Những vùng lãnh thổ tương đồng về mặt tự nhiên; cộng đồng dân những mối
liên hệ về nguồn gốc, sự tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã những những
giao lưu ảnh hưởng qua lại. Biểu hiện thành những đặc trưng chung rong văn hóa vật chất văn hóa tinh
thần có thể phân biệt với vùng văn hóa khác -Thời gian văn hóa:
+Thời gian văn hóa diễn trình văn hóa bắt đầu từ khi chủ nhân văn hóa tác động đến không gian
văn hóa => Thời gian văn hóa không đồng nhất với lịch sử quốc gia/ dân tộc
+ Thời gian văn hóa của một nền văn hóa và mối quan hệ lịch sử văn hóa của một dân tộc
+ Thời gian văn hóa và chủ thể văn hóa: Tuy hai mà một -
Chủ thể văn hóa
+Vấn đề xác định chủ thể văn hóa, chủ thể gốc và diễn trình hình thành quốc gia dân tộc
+ Xác định đặc điểm của chủ thể văn hóa: chủ nhân trung tâm và đồng chủ nhân *Tọa
độ văn hóa Việt nam:
- Không gian văn hóa:
phạm vi hẹp, không gian gốc của văn hoá Việt Nam nằm trong khu vực trú của người Bách Việt
với đáy là sông Dương Tử và đỉnh là vùng bắc Trung bộ Việt Nam. Đây là cái nôi của nền nông nghiệp lúa
nước, của nghệ thuật đúc đồng với trống đồng Đông Sơn bcõi đất nước của họ Hồng Bàng theo
truyền thuyết.
lOMoARcPSD| 61463864
Ở phạm vi rộng hơn, không gian văn hoá Việt Nam nằm trong khu vực trú của người Indonesia lục
địa với cạnh đáy là sông Dương Tử ở phía bắc và đỉnh là đồng bằng sông Mekong ở phía nam.
Xét từ trong cội nguồn, không gian văn hoá Việt Nam vốn được định hình trên nền của không gian văn
hoá khu vực Đông Nam Á. Khu vực này như một hình tròn bao quát cả Đông Nam Á lục địa và hải đảo. Từ
sau công nguyên khu vực Đông Nam Á bthu hẹp do sự bành trướng của Trung Quốc phía nam sông
Dương Tử.
- Vùng văn hóa: Phân vùng văn hóa trong lãnh thổ VN hiện tại gồm 6 vùng: tây bắc, việt bắc,
bắc bộ, trung bộ, tây nguyên và nam bộ. Tính thống nhất trong đa dạng do tuyệt đại bộ phận cư dân đều
bắt nguồn từ cùng một gốc nhân chủng, ngôn ngữ và văn hóa- đó là cơ sở làm nên sự khu biệt văn hóa
VN với Trung Hoa.
- Thời gian văn hóa và chủ thể văn hóa
- Thời kì tiền sử, sơ sử
- Thời kì hình thành quốc gia, dân tộc
- Thời kì phong kiến tự chủ
=> Thời gian văn hóa Việt Nam được tính từ khi con người bắt đầu có mặt trên lãnh thổ Việt Nam =>
Tương ứng theo đó là Lịch sử Văn hóa Việt Nam
B.Diễn trình văn hóa Việt Nam
1.Văn minh Đại Việt:
a. khái niệm:
- Văn minh Đại Việt nền văn minh rực rỡ, kế thừa văn minh Văn Lang Âu Lạc, tồn tại phát
triển chủ yếu trong thời độc lập, tự chủ của quốc gia Đại Việt, trải qua hơn 1000 năm đấu tranh chống
Bắc thuộc.
- Văn minh Đại Việt hình thành qua:
+ Quá trình sinh sống, lao động thích ứng với điều kiện tự nhiên cuộc đấu tranh trong hơn 1000
năm Bắc thuộc để giành độc lập và bảo tồn văn hóa dân tộc.
+ Quá trình chống giặc ngoại xâm bảo vệ tổ quốc tạo điều kiện cho nền văn minh Đại Việt phát triển
rực rỡ.
+ Văn minh Đại Việt tiếp thu chọn lọc những thành tựu văn minh bên ngoài về tưởng, chính trị,
giáo dục...
b. Đặc điểm:
- Phát triển nông nghiệp lúa nước từ rất sớm.
- Xã hội xuất phát từ cơ sở “làng xã” tạo thêm tính “cố kết cộng đồng.
- Phật giáo và Nho giáo được đề cao củng cố kỷ cương, khuôn mẫu của xã hội.
lOMoARcPSD| 61463864
- Phát triển không đều giữa nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. c.Thành tựu:
* chính trị:
- Mô hình quân chủ Trung ương tập quyền đạt đến đỉnh cao vào thời Lê sơ.
+ Trung ương: quyền lực tập chung chủ yếu vào tay nhà vua, giúp việc cho vua có quan lại và đại thần.
+ Địa phương: Chia thành các đạo, bên dưới đạo là phủ, huyện, xã.
- Nhìn chung, mô hình bộ máy nhà nước Đại Việt đều phát triển theo hình thức trên, tuy nhiên tùy vào
từng thời kỳ sẽ có ít nhiều thay đổi.
- Một số cuộc cải cách về mặt chính trị trong giai đoạn Đại Việt: cải cách Hồ Quý Ly (thế kỷ XV), cải
cách Lê Thánh Tông (1462), cải cách Minh Mạng (1831-1832).
*Kinh tế:
-Nông nghiệp:
+ Lúa nước là cây lương tự chính.
+ Thành lập các cơ quan chuyên trách, bảo vệ sức kéo, khai hoang, áp dụng kĩ thuật tiến bộ, du nhập và
cải tạo giống cây mới.
-Thủ công nghiệp:
+ Dệt, gốm, sứ, luyện kim.
+ Các nghề: đục gỗ, chạm khắc đá, giấy, sơn mài, kim hoàn….
+Cục Bách tác: sản xuất các hàng độc quyền của triều đình: tiền, vũ khí, trang phục.
-Thương nghiệp:
+Thời Lý: trang Vân Đồn (Quảng Ninh)
+ Thế kỉ XVII, các công ty như Công ty Đông Ấn Lan, Công ty Đông Ấn Anh thương nhân Trung
Quốc, Nhật Bản, Đông Nam Á… đến Đại Việt buôn bán.
d.Một số kết tinh giá trị:
-Duy trì và phát triển nhà nước Phong kiến tự chủ theo thiết chế nhà nước Trung Hoa:
Lý do: Lựa chọn mang tính thời đại - phù hợp với các điều kiện đặc trưng chung của nhân loại lúc bấy
giờ - theo mô hình nhà nước phong kiến Phương Đông. Tiếp xúc tiếp biến với văn hóa Trung Hoa.
-Xây dựng, nh thành học phong Đại Việt (xây dựng nền học thuật phong kiến Việt Nam): tính Tổng
hợp, tính liên ngành, thiên hướng xã hội
+ Quân sự: Kết hợp các tri thức quân sự của Trung Hoa + Kinh nghiệm chiến tranh Vệ quốc tưởng
quân sự Việt Nam: Sức mạnh đoàn kết toàn dân + sức mạnh tinh thần đoàn kết + hình thế i sông, thành
trì lòng dân, chiến tranh du kích.
+ Phát triển: Nho học –Phật học: trong đó Phật học nền tảng học thuật đầu tiên, Lê: phát triển Nho
Việt.
lOMoARcPSD| 61463864
+ Y lý: Y học + Dược học: “Nam dược trị Nam nhân”.
+ Nông học: Hình thành sách nh chất thuật về canh tác, kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm thuần
dưỡng cây lúa, chăn nuôi (Vân Đài loại ngữ - Lê Qúy Đôn)
+ Toán học: Đại thành toán Pháp – Lương Thế Vinh, Lập thành toán pháp: Vũ Hữu…
+ Địa lý: Hàng ngàn tập “Dư địa chí”
+ Tư tưởng: Biên khảo về Dịch học – bắt nguồn từ Dịch học Trung Hoa – được các nhà nho Việt Nam
ứng dụng vào một số vấn đề cụ thể
-Giáo dục khoa cử - chHán - chữ Nôm: hình thành truyền thống cần học, mẫn học, hiếu học, tôn
cần học, tôn sư trọng đạo. Dùng chữ Hán để tạo lập nền văn hiến Đại Việt. Chữ Nôm trở thành công cụ để
bảo vệ tiếng Việt – chế tác quan trọng độc bản.
-Đô thị cổ - thương cảng: Kinh thành Thăng Long kinh thành Huế - Các thành trì. Thương cảng Vân
Đồn Nhà Trần, từ TK 16 trở đi là thương cảng Hội An => Thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển
-Định hình mạnh mẽ của tinh thần văn hóa dân tộc – khát vọng tự chủ dân tộc.
2.Văn hóa thời cận đại: (dấu ấn, ảnh hưởng của văn hóa phương tây trong tiếp biến văn hóa)
a. Văn hóa cận đại: được xác định trong khoảng cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, tức là từ
khoảng năm 1858 (khi Pháp bắt đầu xâm lược và chiếm đóng Việt Nam) đến năm 1945 (khi Cách mạng
tháng Tám thành công và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời). Trong thời kỳ này, nền văn hóa Việt
Nam chịu sự ảnh hưởng lớn từ văn hóa phương Tây, nhưng cũng có sự phản kháng và sáng tạo để giữ gìn
những giá trị văn hóa dân tộc.
b. Dấu ấn, ảnh hưởng của văn hóa phương Tây trong tiếp biến văn hóa:
- Trên bình diện văn hóa vật chất:
+ Trên lĩnh vực đô thị: từ cuối XIX, đô thị Việt Nam từ mô hình cổ truyền với chức năng tâm chính trị
đã chuyển sang phát triển theo hình đô thị công-thương nghiệp ctrọng chức năng kinh tế. các đô
thị lớn dần hình thành một tầng lớp sản dân tộc, nhiều ngành công nghiệp khác nhau ra đời (khai mỏ, chế
biến nông lâm sản…). Xuất hiện các kiến trúc đô thkết hợp khá tài tình phong cách phương Tây với tính
cách dân tộc. Các tòa nhà đã sử dụng hệ thống mái ngói, bố cục kiểu tam quan, lẩu hình bát giác…; đưa c
mái hiên, mái che cửa sổ ra xa để tránh nắng chiếu và mưa hắt
+ Trên lĩnh vực giao thông: hàng chục vạn dân đinh đã được huy động xây dựng hệ thống đường bộ
đến các đồn điền, hầm mỏ,… Hệ thống đường sắt với những đường hầm xuyên núi, những cây cầu lớn ngày
được kéo dài (cầu Long Biên). -Trên bình diện văn hóa tinh thần:
+ Văn tự-ngôn ngữ: khi truyền đạo cho người Việt Nam khó khăn đầu tiên mà các giáo sĩ vấp phải là
sự khác biệt về ngôn ngữ và văn tự. Bởi vậy họ đã dùng bộ chữ cái Latinh thêm các dấu phụ để ghi tiếng
lOMoARcPSD| 61463864
Việt tạo nên chữ quốc ngữ. Tuy chữ quốc ngữ ban đầu chỉ là công cụ truyền đạo của các giáo sĩ nhưng do
có ưu điểm là dễ học nên đã được các nhà nho tiến bộ tích cực truyền bá để phổ cập giáo dục và nâng cao
dân trí.
+Báo chí: do việc thâm nhập của văn hóa phương Tây dẫn đến sự ra đời của báo chí. Việc này trước hết
nhằm phục vụ cho nhu cầu thông tin cai trị của thực dân Pháp. Gia Định báo tờ báo đầu tiên được phát
hành bằng chữ quốc ngữ, sau đó Sài Gòn Nội lần lượt xuất hiện nhiều tờ báo khác bằng chữ quốc
ngữ chữ Hán. Báo chí đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, thức tỉnh ý thức dân tộc và tăng
cường tính năng động của người Việt Nam.
+Văn học: sự tiếp xúc với phương Tây đã làm nảy sinh trong lĩnh vực văn học thể loại tiểu thuyết hiện
đại cái truyền thống Việt Nam không có. Khởi đầu tiểu thuyết của Nguyễn Trọng Quản viết bằng
chữ quốc ngữ in Sài Gòn năm 1887 với nhan đề “truyện thầy lazardo phiền”,tiếp đó hàng loạt tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Công Hoan,... Chất văn xuôi nh cách nhân phương tây n ảnh
hưởng vào cả một nh vực có truyền thống lâu đời như thơ dẫn đến sự bùng nổ của dòng thơ mới với những
tên tuổi như Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận và những năm 30.
Sự tiếp xúc văn hóa phương Tây cũng khiến cho tiếng việtbiến động mạnh: hàng loạt các từ ngữ
được vay mượn để diễn tả những khái niệm mới đã đi vào đời sống thường ngày như xà phòng (savon), ga
(gaz),… Những hiện tượng ngữ pháp đặc thù cho ngôn ngữ phương Tây (thể bị động, kiến trúc danh từ,…)
cũng được du nhập vào tiếng việt.
+Nghệ thuật: Nghệ thuật hội họa xuất hiện c thể loại vay mượn từ phương Tây như tranh sơn dầu,
tranh bột màu với bút pháp tả thực. Bút phát tả thực của Phương tây còn xuất hiện trên sân khấu với thể loại
kịch nói và tác động tới sự ra đời của nghệ thuật cải lương. Nghệ thuật thanh sắc tổng hợp cổ truyền bắt đầu
phân hóa thành hàng loạt bộ môn như ca, múa, kịch,…
+Giáo dục: Sự thay đổi lớn nhất trong hệ thống giáo dục Việt Nam sự du nhập của nền giáo dục
phương Tây, đặc biệt do chính quyền thực dân Pháp xây dựng. c trường học phương Tây được thành
lập, từ trường tiểu học đến đại học, như Đại học Đông Dương (năm 1906) Trường Trung học Albert
Sarraut (năm 1916). Những cơ sở giáo dục này mang đậm ảnh hưởng của hệ thống giáo dục Pháp.
Hệ thống giáo dục mới: Phương pháp giáo dục của Pháp chú trọng vào việc giảng dạy các môn khoa
học tự nhiên, toán học, lịch sử, triết học văn học phương Tây, điều này đã hình thành một tầng lớp trí
thức mới có khả năng tiếp thu các kiến thức phương Tây tạo ra những cải cách xã hội, mặc dù hệ thống
này có mục đích phục vụ cho chính quyền thực dân.
Phong trào cải cách giáo dục: Trong khi học hỏi từ phương Tây, những trí thức yêu ớc như Phan
Châu Trinh với phong trào Duy tân, Phan Bội Châu với phong trào Đông du, đã đấu tranh đòi cải cách giáo
lOMoARcPSD| 61463864
dục và đưa các yếu tố giáo dục phương Tây vào để xây dựng một nền giáo dục dân tộc hiện đại, đồng thời
nâng cao dân trí và tinh thần tự cường cho người dân.
tưởng khai sáng: Các tưởng về tự do, bình đẳng, bác ái, nhân quyền được tiếp thu mạnh mẽ
trong giới trí thức, trở thành động lực thúc đẩy phong trào đấu tranh giành độc lập cải cách hội. Các
nhà cách mạng, như Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh), đã tiếp thu thuyết Marx-Lenin để vận dụng vào
đấu tranh giành độc lập.
Văn hóa cận đại Việt Nam có những dấu ấn sâu đậm, đặc biệt trong các lĩnh vực giáo dục, nghệ thuật,
tôn giáo, ngôn ngữ các phong trào hội. bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi văn hóa phương Tây qua sự
xâm lược của thực dân Pháp, nhưng Việt Nam không chỉ tiếp nhận còn sáng tạo, kết hợp những yếu tố
phương Tây với bản sắc dân tộc, tạo ra một nền văn hóa đặc trưng của thời kỳ chuyển giao, đặt nền tảng
cho những thay đổi lớn trong lịch sử Việt Nam sau này.
C.Thành tố văn hóa
1.Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên:
*Nguồn gốc:
- Thứ nhất : Ở Việt Nam tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên nguồn gốc từ xa xưa, trước hết phải
đề cập đến chế độ phụ quyền. Khi bước vào chế độ phụ quyền, vai trò của người đàn ông trở nên quan
trọng trong hoạt động kinh tế và sinh hoạt của gia đình. Con cái mang họ cha và con trai kế tiếp ý thức
về ủy quyền trong gia đình của mình. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên bắt nguồn từ đấy.
- Thứ hai : Đó là sự ảnh hưởng từ ba dòng tôn giáo chính ở Việt Nam:
+ Nho giáo: Theo như Khổng Tử, sự sống của con người không phải do tạo hóa sinh ra càng không phải
do bản thân tự tạo ra nhờ cha mẹ, sự sống của cha mẹ lại gắn với ông cứ như vậy thế hệ sau kế
tiếp thế hệ trước, vì thế mà thế hệ sau phải biết ơn thế hệ trước. Từ quan niệm hiếu trong Khổng giáo, người
Việt tiếp nhận thể hiện qua cái bàn thờ tổ tiên. Trải qua nhiều thế hệ tiếp nối nhau, người Việt đã thể
hiện việc hiếu đạo thành một tập tục gọi thcúng tổ tiên.Cùng với tưởng tôn quân, quyền huynh thế
phụ đã củng cố thêm tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở nước ta ngày một thể chế hóa.
+ Đạo giáo: Nếu như Khổng giáo đặt nền tảng luận về đạo đức, về trật tự kỉ cương hội cho n
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt thì Đạo giáo góp phần củng cố niềm tin vào sự tồn tại năng lực
siêu nhiên của linh hồn những người đã chết thông qua một số nghi lễ thờ cúng như: gọi hồn, bùa chú, ma
chay, tang lễ, mồ mả và đốt vàng mã.
+ Phật giáo: Phật giáo ảnh hưởng rất lớn đến sự giữ gìn phát triển tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Việt Nam trước hết là quan niệm của Phật giáo về cái chết, kiếp luân hồi và nghiệp báo. Những tư tưởng cơ
bản của Phật giáo nh hưởng lớn tới tục thờ cúng tổ tiên nhưng không phải sự sao chép hoàn toàn.
Người Việt Nam quan niệm rằng cha mẹ tổ tiên luôn lo lắng, quan tâm cho con cái ngay cả khi họ đã chết.
lOMoARcPSD| 61463864
Người sống chăm lo đến linh hồn người chết, vong hồn người chết sẽ quan tâm đến sự sống của người đang
sống.
- Thứ ba: Bắt nguồn từ điều kiện nhận thức và các yếu tố tâm lí khác:
+ Về nhận thức: Trong nhận thức dân gian, người Việt quan niệm rằng, con người có 2 phần: phần xác
và phần hồn. Hai phần này vừa gắn bó, vừa tách biệt, chúng gắn bó với nhau. Khi con người còn sống, hồn
nhập vào xác điều khiển hành vi của con người. Khi con người chết, phần hồn rời khỏi xác, thể xác của họ
hoà vào cát bụi, phần hồn vẫn tồn tại và chuyển sang sống ở một thế giới khác.
+ Về các yếu tố tâm lý khác:
Sự sợ hãi: Trong cuộc sống con người thường gặp phải những khó khăn, trở ngại, ốm đau, bệnh tật…
Họ thiếu tự tin vào bản thân nên họ cần tới sự giúp đỡ, che chở của các thế lực khác nhau, nhất là từ ông bà
tổ tiên từ thế giới bên kia. Từ quan niệm dân gian về linh hồn, người ta cho rằng, nếu không cúng tế linh
hồn ông tổ tiên đầy đủ thì những linh hồn này trở thành ma đói sẽ mang lại rủi ro, quấy nhiễu cuộc
sống của những người đang sống.
Sự kính trọng, biết ơn: Yếu tố tâm vai trò quyết định trong việc duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên của người Việt đó là sự tôn kính, biết ơn đối với các thế hệ trước, là tình yêu và lòng hiếu thảo của con
cháu đối với ông bà cha mẹ.
*Nghi lễ thờ cúng tổ tiên:
+Trong tục thờ cúng tổ tiên, người việt coi trọng hơn cả là việc cúng giỗ vào ngày mất (kị nhật), bởi lẽ
người ta tin rằng đó là ngày con người đi vào cõi vĩnh hằng. Ngoài ngày giỗ, việc thờ cúng tổ tiên còn được
tiến hành đều đặn vào những ngày mồng Một, ngày Rằm, dịp lễ tết và bất khi nào trong nhà việc (dựng
vợ, gả chồng, làm nhà, sinh con, đi xa…).
+Bàn thờ tổ tiên: Hầu hết các gia đình người Việt đều bàn thờ tổ tiên, đặt tại vị trí trang trọng nhất
trong nhà, thường là nơi cao ráo, sạch sẽ như phòng khách, phòng thờ, hay trong một gian riêng biệt của
nhà. Trên bàn thờ thường có các di vật như di ảnh của tổ tiên, bát hương, nến, hoa quả, và các đồ lễ khác.
+Lễ vật dâng cúng: người việt quan niệm dương sao âm vậy cho nên cúng tổ tiên bằng hương hoa, trà
rượu cả đồ ăn lẫn đồ mặc, đồ dùng, tiền nong (làm bằng giấy gọi là vàng mã). Rượu thể có hoặc không
nhưng li nước lã thì nhất thiết không bao giờ thiếu. Bởi vì nước là thứ quý nhất (sau đất) của dân trồng lúa
nước. Sau khi tàn tuần hương, đồ vàng mã được đem đốt, chén rượu cúng đem rót xuống đống tàn vàng-
như vậy người chết mới nhận được đồ cúng tế. Đối với người việt những đồ thờ như hương án, bát hương,
đài rượu, bình hoa,… là những vật gia bảo thiêng liêng, dù nghèo khó mấy cũng không được bán.
* Nghi lễ thờ cúng tổ tiên trong đời sống tinh thần người Việt Giỗ
tổ Hùng Vương : Dân gian có câu :
Dù ai đi ngược về xuôi,
lOMoARcPSD| 61463864
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.
Việc thờ cúng tổ tiên điều thiêng liêng nhưng không chỉ diễn ra trong mỗi gia đình, ng họ của
mình…Nó còn sự biểu hiện của một thứ tình cảm thiêng liêng đối với quốc gia - dân tộc. Mỗi dân tộc
đều một nguồn gốc, cội rễ của mình. Lịch sử đã khắc ghi các thế hệ vua Hùng nối tiếp nhau dựng lên
nước Văn Lang của người Việt cổ với nền văn minh lúa nước và nền văn minh sông Hồng rực rỡ đã tạo nên
bản sắc văn hóa dân tộc phong phú và độc đáo, đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ và dài lâu của dân
tộc Việt Nam. Vùng đất xưa, nơi các vua Hùng lập nghiệp và nằm xuống trở thành Đất Tổ. Người Việt Nam
chúng ta hôm nay hành hương tìm về Đất Tổ chính tìm về cội nguồn dân tộc, là thể hiện đạo uống nước
nhớ nguồn.
*Giá trị văn hóa của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên:
+ Tục thờ cúng tổ tiên dạy cho con người biết thực hiện chữ hiếu, kính trọng ông bà, tổ tiên họ không
còn nữa, đồng thời thể hiện tính nhân n của dân tộc Việt, những người đã khuất không bị lãng quên trong
tâm tưởng của những người còn lại, chứng tỏ dân tộc Việt là một dân tộc đặc biệt mang trong máu một thứ
tình cảm không thể tìm thấy ở các dân tộc châu Âu.
+ Tưởng nhớ tới Tổ tiên, người Việt Nam luôn bảo nhau phải sống sao cho xứng đáng với sự vọng
của Tổ tiên. Các thế hệ cháu con, sau khi đã công thành danh toại thường trở về “vinh quy bái tổ” trước các
vong linh ông bà Tổ tiên. Người Việt Nam luôn cần cù, sáng tạo trong việc tạo dựng cuộc sống. Đức tính
cần cù, sáng tạo trong lao động cũng được hình thành và khẳng định một phần thông qua ý thức về Tổ tiên,
cội nguồn.
+ Đối với cộng đồng, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên còn là sợi dây liên kết giữa những người sống hiện tại
như anh em, bà con làng xóm, giúp mọi người gắn bó với nhau hơn, hun đúc tình yêu quê hương đất nước.
+ Cuối cùng đó ý nghĩa duy trì nh thân trong quan hệ thân tộc.Những ngày lễ, ngày tết hoặc ngày
kỹ niệm một người thân qua đời, những dịp để con cháu các nơi khác hội tụ lại để gặp gỡ hàn huyên,
kết chặt mối thâm tình, đồng thời thăm nom ông bà cha mẹ, nếu như họ còn sống. Đây là một việc làm thiết
thực và cao quý nhất trong việc thể hiện chữ hiếu của một dân tộc giàu tình cảm như người Việt.
-Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn tồn tại một số hạn chế trong tín ngưỡng này:
+ Tình trạng lạm dụng và thương mại hóa các nghi lễ thờ cúng, nhiều gia đình và các cơ sở kinh doanh
lợi dụng tín ngưỡng để tổ chức các dịch vụ cúng tế với mức giá cao,bày biện lễ vật đắt tiền Điều này làm
mất đi tính chân thành và đơn giản của lễ cúng tổ tiên, đồng thời gây lãng phí và đôi khi làm lệch hướng
những giá trị tinh thần đích thực.
+ Xuất hiện các biểu hiện mê tín dị đoan, thiếu hiểu biết và chỉ chú trọng vào hình thức mà thiếu lòng
thành kính…Chưa kể việc đốt vàng mã quá nhiều gây mất vệ sinh, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
lOMoARcPSD| 61463864
2.Nho giáo với văn hóa Việt nam: *Sự
ra đời
+ Nho giáo hệ thống giáo của các nhà nho nhằm tổ chức hội hiệu quả.Những sở của
được hình thành từ thời Tây Chu,đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán,sau đó Khổng Tử phát triển
tư tưởng của Chu Công,hệ thống hóa lại và tích cực truyền bá.
+sách kinh điển của Nho giáo gồm ngũ kinh (kinh thi,kinh thư,kinh lễ,kinh dịch,kinh xuân thu)
+Sau khi Khổng Tử mất, học trò tập hợp lại lời dạy của thầy và soạn ra Luân ngữ. Học trò xuất sắc của
ông là Tăng Sâm dựa vào lời thầy soạn ra cuốn sách Đại học dạy phép làm người quân tử. Sau đó học trò
khác Khổng Cấp viết ra Trung Dung nhằm phát triển ởng của Khổng Tử về cách sống dung hòa,
không thiên lệch.Vào khoảng năm 390-305TCN có Mạnh Tử là người bảo vệ xuất sắc tư tưởng của Khổng
Tử, những lời của ông được học trò biên soạn thành sách về sau hợp lại được goi là Tứ Thư.
Như vậy, Mạnh Tử đã khép lại giai đoạn quan trọng-giai đoạn hình thành Nho giáo đó là Nho giáo
nguyên thủy hay còn gọi là tư tưởng Khổng-Mạnh.
*Quá trình xâm nhập
+ Nho giáo du nhập vào VN trong thời kì Bắc thuộc, chủ yếu ảnh hưởng đến những người thuộc tầng
lớp trên trong XH, vì là VH do kẻ xâm lược áp đặt nên chưa có chỗ đứng trong xã hội VN
+ TK XI: Nho giáo định hình, chế độ tam giáo đồng nguyên
Năm 1070: Thánh Tông cho lập Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử “Nho giáo được chính thức
tiếp nhận”
Năm 1075: Mở khoa thi Nho học đầu tiên, chính thức khai sinh cho lịch sử thi cử Nho giáo lâu dài
Việt Nam.
Năm 1076: nhà Lý cho lập Quốc tử giám ngay giữa kinh thành và “chọn quan viên văn chức, người nào
biết chữ cho vào Quốc tử giám”. Từ đây, con em quý tộc họ Lý chính thức được đào tạo chủ yếu theo Nho
giáo
Thời nhà Trần: khuynh hướng dung hòa tam giáo (Nho-Phật-Đạo)
- TK XV: Nhà Lê đưa Nho giáo trở thành quốc giáo Nho giáo độc tôn
- TK XVI – XVIII: XH biến động, nho giáo suy yếu - TK XIX: nhà Nguyễn độc
tôn nho giáo – thất bại – suy tàn
* Đặc điểm Nho giáo ở Việt Nam:
- Khai thác những yếu tố là thế mạnh của Nho giáo
+ Học cách tổ chức triều đình và hệ thống pháp luật
+ Hệ thống thi cử tuyển chọn người tài được vận dung từ thời Lý, hoàn thiện vào thời Trần hoàn
chỉnh vào thời Lê.
lOMoARcPSD| 61463864
+ Sử dụng chữ Hán làm văn tự chính thức trong giao dịch hành chính, trên sở chữ Hán đã sáng tạo
ra chữ Nôm trong sáng tác văn chương
-Nho giáo bị biến đổi nhiều ở VN để phù hợp với truyền thống VH dân tộc:
+ Nho giáo không chỉ để giữ yên ngai vàng và bành chướng xâm lăng mà nhu cầu duy trì sự ổn định
có cả ở dân và triều đình, cả trong đối nội và đối ngoại. Thể hiện qua:
-Biện pháp kinh tế: nhẹ lương nặng bổng
-Biện pháp tinh thần: trọng đức khinh tài
+ Trọng tình người: tâm đắc với chữ “Nhân” hơn cả
- Truyền thống n chủ của VH nông nghiệp, mềm hóa cho phù hợp với tâm lí tình cảm của người Việt,
trở thành những giá trị văn hóa gắn liền với nếp sống, pttq ở Việt Nam.
VD: Trọng nam khinh nữ, nhưng người vợ vẫn là “nội tướng”
-Tiếp thu chữ hiếu, bình đẳng giữa cha mẹ: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong
nguồn chảy ra”
+ Tư tưởng trung quân: trung quân gắn liền với ái quốc, đất ớc dân tộc cái quyết định (không đề
cao tuyệt đối vai trò cá nhân thủ lĩnh)
VD: Lê Hoàn thay nhà Đinh, Lý Công Uẩn thay nhà Tiền Lê, Trần Cảnh thay nhà Lý
+ Trọng văn: do chịu nh ởng của VH nông nghiệp phương nam nên rất coi trọng văn, kẻ sĩ, trong
khi Trung Hoa chỉ coi quan văn = quan võ. Người Việt dù luôn phải đối phó với chiến tranh nhưng ít quan
tâm đến các thi chỉ ham học chữ, thi văn. Nhìn Nho giáo 1 công cVH, con đường làm n
nghiệp lớn
+ Thái độ đối với nghề buôn: trọng nông ức thương duy trì nền nông nghiệp âm tính (tính cộng đồng
tự trị), tránh mọi nguy cơ đồng hóa
Chúng ta không thể phủ nhận rằng Nho giáo đã tham gia góp phần vào sự đúc nặn nên diện mạo tinh
thần dân tộc và văn hóa dân tộc. Dù có những điểm chưa tích cực nhưng trãi qua năm tháng sàn lọc những
tư tưởng triết học của Nho giáo đã thấm nhuần trong lòng con người Việt Nam.
3.Phật giáo với văn hóa việt nam
Nguồn gốc:
- Ra đời khoảng thế kỉ VI TCN tại Ấn Độ
- Người sáng lập là Siddhartha Gautama hay còn được gọi Tất Đạt Đạ / Thích Ca Mâu Ni (652-544
TCN).
+ Là thái tử nhưng bất bình với sự phân chia đẳng cấp, kì thị màu da và đồng cảm với nỗi khổ của
muôn dân tìm con đường giải thoát
lOMoARcPSD| 61463864
+ Rời nhà lúc 29 tuổi, đến 35 tuổi thì giác ngộ được tưởng, tìm ra hướng giải thoát. Trong suốt 40
năm còn lại của cuộc đời đi các nơi để truyền bá tư tưởng của mình.
- Phật giáo vào Việt Nam bằng hai con đường ứng vào hai thời kì
+ Từ các thuyền buôn Ấn Độ (khoảng thế kỉ I TCN), được bình dân hóa, dân gian hóa, bản địa hóa sâu
sắc, hòa nhuyễn với tâm thức của người Việt, góp phần làm nên đời sống tâm thức của người Việt.
+ Được truyền vào Việt Nam từ Trung Quốc (bắt đầu từ khoảng thế kỉ IX – X, đi vào cung đình từ tầng
lớp trí thức) (Phật giáo Đại thừa – Phật giáo Bác học -> Hình thành học phong uyên áo của Phật giáo)
- Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam:
+Tính tổng hợp:
+ Hòa nhập với tín ngưỡng dân gian:
VD: - Hệ thống chùa Tứ pháp vẫn chỉ là những miếu dân gian thờ các vị thần tự nhiên: Mây - Mưa -
Sấm - Chớp và thờ đá
- Lối kiến trúc chùa: tiền Phật hậu Thần, đưa cả thần thánh, thành hoàng, thổ địa, c anh hùng n
tộc vào thờ trong chùa. Hầu như không chùa nào không để bia hậu, bát nhang cho các linh hồn đã khuất.
+Tổng hợp các tông phái với nhau: không có tông phái Phật giáo nào là thuần khiết VD:
- phối hợp Thiền Tông với Tịnh Độ tông.
- Bắc: Chùa có nhiều pho tượng Phật, bồ tát, la hán của các tông phái khác nhau. Tượng Phật
Thích ca có tới 5 dạng: Thích ca sơ sinh (Thích Ca Cứu Long), Tuyết Sơn, Thích Ca đứng thuyết
pháp, Thích Ca ngồi tòa sen, Thích Ca nhập niết bàn (lúc sắp mất)
- Nam: chùa mang hình thức Tiểu thừa (thờ Thích Ca, sư mặc áo vàng) nhưng lại theo giáo lý
Đại thừa (cạnh Phật Thích Ca lớn có nhiều tượng nhỏ, ngoài áo vàng có đồ nâu lam)
+ Tổng hợp chặt chẽ với các tôn giáo khác, Phật với Nho, với Đạo. + Kết hợp việc đạo
với việc đời
VD: Các cao tăng được mời tham chính hoặc cố vấn trong những việc hệ trọng
- Vua Đinh Tiên Hoàng phong đại sư Khuông Việt làm tăng thống, tiếp sứ thần nhà Tống
- Vua Lê Đại Hành hỏi ý kiến sư Vạn Hạnh trước khi xuất quân đánh Tống
Khuynh hướng thiên về nữ tính (Đặc trưng bản chất của VH nông nghiệp) +
Các vị Phật Ấn Độ xuất thân là đàn ông, sang VN thành Phật Ông, Phật Bà VD:
- Bồ tát Quan Thế Âm Phật Bà Quan Âm với nghìn mắt nghìn tay + Chùa
chiền mang tên các bà: Chùa Bà Dâu, chùa Bà Đá, chùa Bà Đanh,...
+ Tuyệt đại bộ phận Phật tử tại gia là các bà: “Trẻ vui nhà, già vui chùa”
lOMoARcPSD| 61463864
- Tạo ra lịch sử Phật giáo cho riêng mình: nàng Man, cô gái làng Dâu Bắc Ninh, một trong những đệ
tử đầu tiên của Phật giáo, trở thành Phật Mẫu, đứa con gái của nàng hóa thân vào đá và trở thành Phật T
với ngày sinh là ngày Phật Đản 8/4.
- Coi trọng việc sống phúc đức, trung thực hơn đi chùa: “Thứ nhất tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ
3 tu chùa”hay “Dù xây 9 bậc phù đồ, không = làm phúc cứu cho 1 người”; Coi trọng truyền thống thờ cha
mẹ, ông bà hơn là thờ Phật; đồng nhất cha mẹ, ông bà với Phật
- Đức Phật được đồng nhất với những vị thần trong tín ngưỡng cứu giúp mọi người, làm mây mưa
sấm chớp để mùa màng tốt tươi, ban cho người hiếm muộn có con, ban lộc cho bình dân để làm ăn phát
đạt, cứu độ người chết và giúp họ siêu thoát.
- Chùa thiết kế theo phong cách ngôi nhà cổ truyền với hình thức mái cong ba gian hai chái, năm
gian hai chái, trở thành công trình công cộng quan trọng thứ hai của mỗi làng.
- Ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống văn hóa Người Việt:
+ Được truyền vào Viêt Nam từ rất sớm, Phật giáo đã sớm bén rễ vào đời sống n hóa Việt, đồng
hành cùng đời sống nhân dân qua nhiều biến cố - thăng trầm của lịch sử. Tâm thức Việt Nam: một tâm
thức Phật giáo. thể dễ thấy điều này qua các thuật ngữ phổ biến: “từ bi hỷ xả” (trong Phật học được
gọi là “tứ vô lượng tâm”); “tu nhân – tích đức”, “cứu nhân độ thế”, hay các câu thành ngữ như: “ở hiền gặp
lành”, “gieo gió gặt bão” (thuyết nhân quả)
+ Hình thành truyền thống văn hiến của Việt Nam: hệ thống kinh điển thi kệ. Phật giáo tự thân là một
hệ tưởng lớn, với hệ thống kinh điển đồ sộ. Sự phong phú về giáo lý, phong phú về quan điểm kiến
giải giáo lý đã tạo thành một hệ thống học phong Phật giáo uyên áo, cao diệu, đóng góp đặc biệt đối với nền
văn hiến dân tộc. Các thiền sư đồng thời cũng các nhà thơ, nhà tưởng với nhiều trước tác có giá trị.
Tiêu biểu thể kể đến như: Thiền uyển tập anh (tác phẩm Phật giáo cổ nhất đến nay còn sót lại). Chỉ tiếc
rằng, 20 năm Minh thuộc rất nhiều tài liệu quý giá đã theo ngọn lửa tàn độc của ngoại xâm một đi
không trở lại, nếu không, hẳn chúng ta sẽ còn được chứng kiến một nền học phong Phật giáo Việt Nam rực
rỡ
+ Hệ thống tư tưởng Phật học giúp củng cố hình thành nhãn quan học thuật, nhãn quan tư tưởng cho
văn hóa Việt Nam.
+ Hình thành nhiều truyền thống phong tục tập quán tốt đẹp: tín ngưỡng, lễ hội, kiến trúc, âm nhac,
nâng cao đời sống tâm hồn, tinh thần, đời sống tâm thức của Người Việt. Ta có: lễ rằm tháng bảy: lễ vu lan
(xuất phát từ Kinh Vu Lan Bồn): nhắc nhở về lòng hiếu sự báo ân, các kiến trúc Phật giáo độc đáo như:
chùa Trăm Gian, chùa Tháp Bút, chùa Bửu Long, tháp Báo Ân… Không quá lễ nghi để đến mức khắc
như Nho giáo, không quá phóng khoáng để trở thành phóng túng, xa rời thực tế như Đạo gia, Phật giáo đề
cao lý trung đạo – con đường cân bằng, việc đạo – việc đời song nh, tương trợ, hệ thống giáo lý nhân bản,
lOMoARcPSD| 61463864
tiến bộ, khoan dung, đcao các giá trị đạo đức, phù hợp với truyền thống dân tộc: như đạo hiếu, tình yêu
Tổ quốc, lòng từ bi, hạnh nhẫn nhục, sự vị tha, ít ham muốn vô lý… đã nhanh chóng được quần chúng đón
nhận, trở thành một phần quan trọng trong luân lý đạo đức giữa đời thường.
+ Phật giáo cùng những hệ thống tín ngưỡng ởng tôn giáo thiết lập một tôn giáo chính thống
cội rễ cắm sâu bền chặt vào đất đai văn hóa Việt. (Ví dụ: Thời Lý – Trần: Phật giáo là quốc giáo)
Phật Giáo từ lâu đã thâm nhập vào tâm hồn, nếp nghĩ, lối sống của dân tộc Việt Nam, kết hợp hài
hòa với tín ngưỡng dân tộc và đã trở thành bản chất và bản sắc của dân tộc Việt Nam.
4.Phong tục tập quán:
a. khái niệm:
- Phong tục toàn bộ những hoạt động trong sinh hoạt của con người được hình thành tạo lập
trong quá trình lịch sử ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác. Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ nhưng cũng không tùy tiện
như hoạt động sống thường ngày. Nó trở thành một tập quán xã hội ơng đối bền vững và ơng đối thống
nhất.
- Phong tục tập quán những hành vi ứng xử, thói quen, nếp sinh hoạt tương đối ổn định thuộc về
đời sống của con người được công nhận bởi một cộng đồng, quần thể và được lưu truyền từ thế hệ này qua
thế hệ khác.
Ví dụ: Phong tục lễ hội, văn hoá, sinh hoạt, cưới xin, ma chay… b.
Chức năng của phong tục.
- Phong tục tập quán có những chức năng quan trọng trong đời sống xã hội.
+ Phong tục tập quán chính việc hướng dẫn hành vi ứng xử của con người trong một nhóm hội.
Thông qua phong tục tập quán cũng sẽ góp phần giáo dục nhận thức cho thế hệ trẻ, xây dựng tình cảm
kỹ năng sống, hành vi ban đầu cho con người.
+ chất keo gắn các thành viên trong nhóm ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới hoạt động, đời sống của
các cá nhân và nhóm;
+ Là tiêu chuẩn thước đo đánh giá về mặt đạo đức, xã hội các thành viên trong nhóm và giữa các nhóm
xã hội với nhau;
+ Là hình thức lưu giữ những nét sinh hoạt văn hoá độc đáo của đời sống văn hoá nhóm. c.
Một số phong tục tiêu biểu:
PHONG TỤC TẾT NGUYÊN ĐÁN
PHONG TỤC HÔN NHÂN
PHONG TỤC TANG MA
lOMoARcPSD| 61463864
D.Văn hóa phát triển
1.Vai trò của văn hóa trong sự phát triển
+Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội
-Đào tạo con người theo các giá trị chân-thiện-
-Hình thành trong phẩm chất mọi thành viên trong hội ý thức phát huy các tiềm ng về thể lực, trí
lực và nhân cách
-Tích cực xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh để đủ sức đề kháng đẩy lùi các tiêu cực
hội, bài trừ những văn hóa phản tiến bộ.
+Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội
-Sự phát triển của một dân tộc gắn liền với cái mới nhưng không tách rời cội nguồn, văn hóa
-Con người là nhân tố có vai trò quan trọng và là không thể thiếu trong sự phát triển của kinh tế, xã hội
-Văn hóa có khả năng tiếp thu và cải biên những yếu tố văn hóa ngoại sinh để biến thành ngoại lực thúc
đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội
-Văn hóa sẽ giải phóng và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người trong mọi lĩnh vực đời sống
xã hội mà trước hết là kinh tế
+Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển
-Mục tiêu của sự phát triển ở nước ta: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Trong
chiến lược phát triển kinh tế 2011-2020:
-Xác định: phát huy tối đa nhân tố con người, con người chủ thể, nguồn lực chủ yếu mục tiêu
của sự phát triển”
-Yêu cầu: Tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện công bằng xã hội, không
ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”.
Văn a vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người và xây dựng
hội mới.Văn hóa giúp mở rộng hiểu biết, ng cao dân trí, giúp bồi dưỡng tưởng đúng đắn và tình cảm
cao đẹp cho con người, cho nhân dân Việt Nam lí tưởng độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, đồng thời
bồi dưỡng phong cách, lối sống lành mạnh, hướng con người đến chân-thiện-mĩ để hoàn thiện bản thân.
2.Giữ gìn bản sắc văn hóa trong thời kì hội nhập
a. khái niệm và biểu hiện:
- Bản sắc văn hóa dân tộc khái niệm nội hàm rộng, với những giá trị đặc trưng mang tính bền
vững trừu ợng. Thuật ngữ này chỉ sắc thái, vẻ đẹp và đặc trưng của một nền văn hóa, một dân tộc, được
hình thành và phát triển ới tác động của các yếu tố lịch sử, tự nhiên, xã hội...; từ đó có thể nhận diện được
một nền văn hóa và phân biệt nền văn hóa này với nền văn hóa khác.
lOMoARcPSD| 61463864
- Khi nói đến bản sắc n hóa dân tộc thì không chỉ đề cập văn hóa dân gian, văn hóa truyền thống do
các cộng đồng dân tộc sáng tạo ra trong quá trình sinh tồn, còn bao hàm cả phong tục tập quán, ngôn
ngữ, lời ăn tiếng nói, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực tự cường…
- Thời hội nhập toàn cầu, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc càng được quan m, bởi qtrình
phát triển luôn diễn ra sự giao u, tiếp biến văn hóa. nhiên sự xung đột giữa các giá trị văn a bên
ngoài với các giá trị văn hóa truyền thống không thể tránh khỏi. Dân tộc nào gìn giữ được bản sắc của
mình, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa ngoại sinh để chuyển hóa thành yếu tố nội sinh, thì bản
sắc văn hóa của dân tộc đó sẽ mãi trường tồn.
- Chủ tịch Hồ CMinh từng khẳng định: "Văn hóa Việt Nam nh hưởng lẫn nhau của văn hóa
Đông phương Tây phương mà chung đúc lại… Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để
tạo ra một nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa văn a nay, trau dồi
cho văn hóa Việt Nam có tinh thần thuần túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ". b. Thực trạng:
- Thế hệ genz dần đánh mất đi bản sắc văn hoá Việt Nam
VH ngôn ngữ
VH âm nhạc
VH thời trang
VH tôn giáo
c. Biện pháp khắc phục:
- Bản sắc văn hóa dân tộc những đặc trưng về văn hóa của quốc gia đó, nét làm cho đất nước
mình không bị nhầm lẫn với bất kì đất nước nào khác
- Mỗi cá nhân đặc biệt học sinh chúng ta phải tìm hiểu những bản sắc văn hóa vốn có của dân tộc,
giữ gìn và phát huy những giá trị đó với bạn bè năm châu.
- Tham gia nhiều hơn những hoạt động để tuyên truyền, mang đến cho học sinh nguồn tri thức về bản
sắc văn hóa dân tộc.
- Phải đặt trách nhiệm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc lên hàng đầu.
- Tích cực trau dồi hiểu biết của mình về những giá trị văn hóa tốt đẹp của nước nhà.
- Luôn đề cao văn hóa dân tộc, giữ gìn những truyền thống văn hóa tốt đẹp, không bắt chước văn hóa
dân tộc nước ngoài. Cần tạo ra một môi trường văn hóa lành mạnh, mang đậm đà bản sắc dân tộc. Biết tiết
kiệm, trân trọng giá trị lao động và đặc biệt là cần xây dựng cho mình lối sống giản dị cao đẹp.
-Vd: Khi "Ký ức vui vẻ" lên sóng mùa đầu tiên trên kênh VTV3 từ tháng 12/2018, khán gingay lập
tức hào hứng đón nhận bởi chương trình gợi những hoài niệm, những ký ức của nhiều người, nhiều gia đình,
nhiều thế hệ từ những năm 1960-2000. Thời thanh xuân tưởng như đã lãng quên, nhiều đồ dùng xưa cũ,
nhiều bài hát tưởng như đã là dĩ vãng… được sống lại trong "Ký ức vui vẻ". Và… chao ôi là nhớ, thương!
lOMoARcPSD| 61463864

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61463864 A.Khái luận chung
1.Định nghĩa văn hóa: văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.
VD: văn hóa Phục Hưng, văn hóa Đông Sơn …
*Quan niệm về văn hóa của Hồ Chí Minh:”Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người
mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ
thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng toàn bộ những
sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với
biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
*Phân tích quan niệm:
-Quan niệm đã nêu ra cấu trúc của văn hóa, bao gồm: +Văn hóa vật chất +Văn hóa tinh thần
+Tổng hợp phương thức sinh hoạt
- Quan niệm bàn đến đặc trưng của văn hóa: tính vị nhân sinh, được thể hiện ở hai phương diện: con
người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, đồng thời cũng là chủ thể hưởng thụ văn hóa.
- Nhấn mạnh chức năng của văn hóa, trong đó có hai chức năng quan trọng là: duy trì đời sống xã hội,
phục vụ đời sống của con người và từ đó nâng cao giá trị của cuộc sống.
- Nhìn nhận các vấn đề trong quan hệ logic tổng hợp.
- Về hình thức: phát biểu mang tính chất quan niệm, không phải học thuật.
2.Phân biệt văn minh – hiến – vật:
-Văn minh: nền văn hóa phát triển ở mức độ cao (đặc trưng), nó có những đặc trưng cho cả một xã hội
rộng lớn, một thời đại và cả nhân loại.
-Văn hiến: là những truyển thống văn hóa lâu đời còn lưu giữ được.
-Văn vật: truyển thống văn hóa biểu hiện ở các giá trị vật chất như nhân tài và di tích, công trình, hiện vật. Văn minh Văn hiến Văn vật Văn hóa Thiên về giá trị vật
Thiên về giá trị tinh Thiên về giá trị vật
Chứa cả giá trị tinh thần chất-kĩ thuật thần chất và vật chất chỉ trình độ phát Có bề dày lịch sử triển có tính quốc tế Có tính dân tộc lOMoAR cPSD| 61463864 gắn bó nhiều hơn với Gắn bó nhiều hơn phương Tây đô với phương đông thị nông nghiệp
Vd: Văn minh gắn Vd: Nền văn hiến vd: Các di tích như Vd: Văn hóa Việt Nam
với sự phát triển của xây dựng từ truyền Kinh thành Huế, bao gồm các yếu tố như các công nghệ, hệ chùa Một Cột ở Hà thống văn học, các ngôn ngữ Tiếng
thống tổ chức xã hội, Nội, các tượng Phật
hệ thống pháp lý, và tác phẩm lớn như cổ, hoặc các hiện vật Việt, trang phục áo dài,
cải tiến trong đời "Truyện Kiều" của khảo cổ học như bia các món ăn truyền sống vật chất.
Nguyễn Du, "Sách đá, gốm sứ cổ. thống như phở, bánh Đại Nam thực chưng, lễ hội Tết Nguyên Đán. lục"…
3.Đặc trưng văn hóa: 4 đặc trưng
- Một là, tính hệ thống. Văn hóa bao gồm nhiều thành phần khác nhau như: ngôn ngữ, tôn giáo, nghệ
thuật, pháp luật, đạo đức, phong tục, tập quán… Những yếu tố này không tồn tại độc lập mà luôn có mối
quan hệ chặt chẽ và tương tác, ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau trong một chỉnh thể hệ thống. Mỗi thay đổi
trong một phần của hệ thống văn hóa có thể dẫn đến sự thay đổi trong các phần khác. Văn hóa là một hệ
thống mở, luôn vận động, biến đổi, phát triển theo thời gian. Đặc trưng này để phân biệt hệ thống với tập hợp.
- Hai là, tính giá trị. Văn hóa bao gồm các giá trị (giá trị thuộc về đời sống vật chất, giá trị thuộc về
đời sống tinh thần) trở thành thước đo về mức độ nhân bản của xã hội và con người. Trong lịch sử phát triển
của nhân loại có giá trị của văn hóa để tồn tại và có giá trị của văn hóa để phát triển.
- Ba là, tính lịch sử. Văn hóa bao giờ cũng được hình thành qua một quá trình và được tích lũy qua
nhiều thế hệ, là những thành tựu do cộng đồng người trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và
xã hội. Văn hóa có một bề dày truyền thống, một chiều sâu giá trị và các trầm tích văn hóa.
- Bốn là, tính nhân sinh. Văn hóa là một hiện tượng thuộc về xã hội loài người, gắn liền với hoạt động
thực tiễn của con người, là những giá trị do một cộng đồng người sáng tạo ra, thuộc về con người, ở trong
con người và mang dấu ấn người. Điều đó cho thấy, con người vừa là chủ thể của văn hóa, đồng thời là
khách thể của văn hóa, lại vừa là sản phẩm văn hóa.
4.Chức năng văn hóa: 4 chức năng
-Một là, chức năng tổ chức xã hội: văn hóa thường xuyên làm tăng sự ổn định xã hội, cung cấp cho
xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. lOMoAR cPSD| 61463864
+ ví dụ: Lễ hội cưới hỏi trong văn hóa Việt Nam đều có chung một mục đích là tổ chức và xác lập quan
hệ giữa hai gia đình, và đôi vợ chồng. Lễ cưới không chỉ là sự kết nối giữa hai người mà còn là sự kết nối
giữa các gia đình, thông qua việc thể hiện sự tôn trọng, lòng hiếu thảo và sự chấp nhận các chuẩn mực xã
hội như việc xin dâu, lễ vật, nghi thức cưới hỏi.
-Hai là, chức năng điều chỉnh xã hội: giúp xã hội cân bằng trạng thái động, không ngừng tự hoàn
thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho
sự phát triển của xã hội.
+ VD: Trong văn hóa Việt Nam, những quy định như tôn trọng người lớn tuổi, kính trên nhường
dưới là những chuẩn mực điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ xã hội.
-Ba là, chức năng giao tiếp: văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người với con người, có tác dụng
liên kết họ lại với nhau. Nếu ngôn ngữ là hình thức giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó.
+VD: Chúc Tết trong văn hóa Việt Nam. Lời chúc Tết không chỉ là lời cầu chúc may mắn, bình an mà
còn là cách thể hiện sự quan tâm, lòng kính trọng và tình cảm đối với người khác. Mỗi lời chúc thể hiện sự
giao tiếp đầy tình cảm và mối quan hệ thân thiết trong xã hội Việt.
-Bốn là, chức năng giáo dục: văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng giá trị ổn định
(truyền thống) mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành. Hai loại giá trị này tạo thành một hệ thống
chuẩn mực mà con người hướng tới. Nhờ nó văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân
cách (trồng người). Từ chức năng giáo dục văn hóa phát sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử.
+ VD: Trong văn hóa Việt Nam, các câu chuyện dân gian như "Sự tích Bánh Chưng, Bánh Dày" hay
"Cây tre trăm đốt" không chỉ mang giá trị giải trí mà còn giáo dục thế hệ trẻ về lòng yêu nước, lòng hiếu
thảo
những đức tính tốt đẹp của con người. Những câu chuyện này đã và đang được truyền lại qua các
thế hệ, giúp hình thành nhân cách và giáo dục đạo đức cho trẻ em Việt Nam.
5.Loại hình văn hóa gốc nông nghiệp: *Đặc trưng: -
Đặc trưng gốc ( khí hậu): Nắng nóng lắm, mưa ẩm nhiều. Nghề chính là trồng trọt. -
Ứng xử với môi trường tự nhiên: Sống định cư, thái độ tôn trọng, ước mong sống hoà hợp với thiên nhiên. -
Lối nhận thức, tư duy: Thiên về tổng hợp và biện chứng; chủ quan, cảm tính và kinh nghiệm. -
Tổ chức cộng đồng: + Nguyên tắc: Trọng tình, trọng đức, trọng văn, trọng nữ.
+ Cách thức: Linh hoạt và dân chủ, trọng tập thể. -
Ứng xử với môi trường xã hội: Dung hợp trong tiếp nhận; mềm dẻo hiếu hoà trong đối phó. *Phân tích: lOMoAR cPSD| 61463864
Do vị trí địa lý nằm ở góc tận cùng phía Đông-Nam Châu Á nên Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc
nông nghiệp trồng trọt điển hình. Tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt
đều được thể hiện rất rõ nét trong đặc trưng văn hóa Việt Nam.
-Thứ nhất, trong ứng xử với môi trường tự nhiên luôn có ý thức tôn trọng và sống hòa hợp với thiên
nhiên, tôn sùng thiên nhiên, thể hiện đức hiếu sinh
Cư dân Việt Nam chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, trong cách ứng xử với tự nhiên, do nghề trồng trọt
buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, đơm hoa, kết trái và thu hoạch, từ đó ưa thích lối
sống ổn định, cho rằng” An cư lạc nghiệp” . Do sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên cư dân nông nghiệp có
ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên. Người Việt Nam mở miệng ra là nói “ nhờ trời”,
“lạy trời”… Các tín ngưỡng và lễ hội sùng bái tự nhiên rất phổ biến ở các tộc người trên khắp mọi vùng đât nước.
-Thứ hai, về mặt nhận thức đã hình thành một lối tư duy tổng hợp biện chứng, trọng quan hệ, trọng
tình, thiên về kinh nghiệm, trực giác, cảm tính và duy linh (linh cảm).
Vì nghề nông, nhất là nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc vào nhiều yếu tố thiên nhiên
như : thời tiết, nước, khí hậu,... “ trông trời, trông đất, trông mây; trông mưa, trông gió, trông ngày, trông
đêm…” nên về mặt nhận thức, hình thành nên lối tư duy tổng hợp- biện chứng, nặng về kinh nghiệm chủ
quan cảm tính: sống lâu lên lão làng, trăm hay không bằng tay quen… Người làm nông quan tâm không
phải là từng yếu tố riêng lẻ mà là những mối quan hệ giữa chúng. Người Việt tích lũy được một kho kinh
nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ này: Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; Được mùa lúa thì úa
mùa cau, được mùa cau thì đau mùa lúa; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm…
-Thứ ba, trong tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa tổ chức xã hội theo nguyên tắc trọng
tình, chuộng sự hòa thuận, tương trợ, quan tâm đến láng giềng: Lá lành đùm lá rách; Bầu ơi thương lấy bí
cùng…; các quan hệ ứng xử thường đặt tình cao hơn lý: Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình.
+ Lối sống trọng tình đưa đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng Mẫu đề cao nguyên lý Mẹ. Người Việt
coi: Nhất vợ nhì trời; Lệnh ông không bằng cồng bà… Người phụ nữ cũng được xem là người có vai trò
quyết định trong việc giáo dục con cái: Phúc đức tại mẫu; Con dại cái mang…
+ Lối tư duy tổng hợp – biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông nghiệp cộng với nguyên
tắc trọng tình đã dẫn đên lối sống linh hoạt, luôn thay đổi để thích hợp với từng hoàn cảnh: Ở bầu thì tròn,
ở ống thì dài; Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy; …
+ Nguyên tắc trọng tình cũng là cơ sở của tâm lí hiếu hòa, chuộng sự bình đẳng, dân chủ, đề cao tính
cộng đồng, tính tập thể. Người nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể, luôn có tập thể sau lưng.
-Thứ tư, trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt còn quy
định thái độ dung hợp trong tiếp nhận: ở Việt Nam không những không có chiến tranh tôn giáo mà mọi tôn lOMoAR cPSD| 61463864
giáo đều được tiếp nhận. Đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược người Việt Nam luôn hết sức mềm dẻo, hiếu hòa.
→Như vậy, hầu như tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt đều được
thể hiện rõ nét trong cách tố chức đời sống, phương thức tư duy, lối ứng xử của người Việt truyền thống.
- Tuy nhiên, mặt trái của tính linh hoạt và trọng tình là nó dẫn đến thái độ tùy tiện, coi thường tính
nguyên tắc, ý thức tổ chức kỷ luật kém tật co giãn giờ giấc, sự thiếu tôn trọng pháp luật, tệ đi “ cửa sau” để
giải quyết công việc( Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế). Văn minh nông nghiệp kéo dài đã làm chậm sự
phát triển của tiến trình lịch sử Việt Nam, không tạo ra được những tiền đề và điều kiện để bức ra khỏi cái
khung phong kiến phương Đông, làm hạn chế tính năng động, sáng tạo của con người Việt Nam và dẫn đến
sự trì trệ của xã hội Việt Nam.
6.Tọa độ văn hóa:
*Hệ tọa độ văn hóa:
- Không gian văn hóa: Những không gian lãnh thổ với các đặc trưng của nó, là nơi mà chủ nhân/ chủ
thể văn hóa đã nhận tác động để từ đó kiến tạo nên nền văn hóa riêng của mình. => Không gian địa lí và
không gian văn hóa không hoàn toàn trùng khít lên nhau.
Vùng văn hóa: Những vùng lãnh thổ có tương đồng về mặt tự nhiên; cộng đồng cư dân có những mối
liên hệ về nguồn gốc, có sự tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã có những những
giao lưu ảnh hưởng qua lại. Biểu hiện thành những đặc trưng chung rong văn hóa vật chất và văn hóa tinh
thần có thể phân biệt với vùng văn hóa khác -Thời gian văn hóa:
+Thời gian văn hóa là diễn trình văn hóa bắt đầu từ khi chủ nhân văn hóa có tác động đến không gian
văn hóa => Thời gian văn hóa không đồng nhất với lịch sử quốc gia/ dân tộc
+ Thời gian văn hóa của một nền văn hóa và mối quan hệ lịch sử văn hóa của một dân tộc
+ Thời gian văn hóa và chủ thể văn hóa: Tuy hai mà một - Chủ thể văn hóa
+Vấn đề xác định chủ thể văn hóa, chủ thể gốc và diễn trình hình thành quốc gia dân tộc
+ Xác định đặc điểm của chủ thể văn hóa: chủ nhân trung tâm và đồng chủ nhân *Tọa
độ văn hóa Việt nam: - Không gian văn hóa:
Ở phạm vi hẹp, không gian gốc của văn hoá Việt Nam nằm trong khu vực cư trú của người Bách Việt
với đáy là sông Dương Tử và đỉnh là vùng bắc Trung bộ Việt Nam. Đây là cái nôi của nền nông nghiệp lúa
nước, của nghệ thuật đúc đồng với trống đồng Đông Sơn và là bờ cõi đất nước của họ Hồng Bàng theo truyền thuyết. lOMoAR cPSD| 61463864
Ở phạm vi rộng hơn, không gian văn hoá Việt Nam nằm trong khu vực cư trú của người Indonesia lục
địa với cạnh đáy là sông Dương Tử ở phía bắc và đỉnh là đồng bằng sông Mekong ở phía nam.
Xét từ trong cội nguồn, không gian văn hoá Việt Nam vốn được định hình trên nền của không gian văn
hoá khu vực Đông Nam Á. Khu vực này như một hình tròn bao quát cả Đông Nam Á lục địa và hải đảo. Từ
sau công nguyên khu vực Đông Nam Á bị thu hẹp do sự bành trướng của Trung Quốc ở phía nam sông Dương Tử. -
Vùng văn hóa: Phân vùng văn hóa trong lãnh thổ VN hiện tại gồm 6 vùng: tây bắc, việt bắc,
bắc bộ, trung bộ, tây nguyên và nam bộ. Tính thống nhất trong đa dạng do tuyệt đại bộ phận cư dân đều
bắt nguồn từ cùng một gốc nhân chủng, ngôn ngữ và văn hóa- đó là cơ sở làm nên sự khu biệt văn hóa VN với Trung Hoa. -
Thời gian văn hóa và chủ thể văn hóa -
Thời kì tiền sử, sơ sử -
Thời kì hình thành quốc gia, dân tộc -
Thời kì phong kiến tự chủ
=> Thời gian văn hóa Việt Nam được tính từ khi con người bắt đầu có mặt trên lãnh thổ Việt Nam =>
Tương ứng theo đó là Lịch sử Văn hóa Việt Nam
B.Diễn trình văn hóa Việt Nam
1.Văn minh Đại Việt:
a. khái niệm:
- Văn minh Đại Việt là nền văn minh rực rỡ, kế thừa văn minh Văn Lang – Âu Lạc, tồn tại và phát
triển chủ yếu trong thời độc lập, tự chủ của quốc gia Đại Việt, trải qua hơn 1000 năm đấu tranh chống Bắc thuộc.
- Văn minh Đại Việt hình thành qua:
+ Quá trình sinh sống, lao động và thích ứng với điều kiện tự nhiên và cuộc đấu tranh trong hơn 1000
năm Bắc thuộc để giành độc lập và bảo tồn văn hóa dân tộc.
+ Quá trình chống giặc ngoại xâm bảo vệ tổ quốc tạo điều kiện cho nền văn minh Đại Việt phát triển rực rỡ.
+ Văn minh Đại Việt tiếp thu có chọn lọc những thành tựu văn minh bên ngoài về tư tưởng, chính trị, giáo dục...
b. Đặc điểm:
- Phát triển nông nghiệp lúa nước từ rất sớm.
- Xã hội xuất phát từ cơ sở “làng xã” tạo thêm tính “cố kết cộng đồng.
- Phật giáo và Nho giáo được đề cao củng cố kỷ cương, khuôn mẫu của xã hội. lOMoAR cPSD| 61463864
- Phát triển không đều giữa nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. c.Thành tựu: * chính trị:
- Mô hình quân chủ Trung ương tập quyền đạt đến đỉnh cao vào thời Lê sơ.
+ Trung ương: quyền lực tập chung chủ yếu vào tay nhà vua, giúp việc cho vua có quan lại và đại thần.
+ Địa phương: Chia thành các đạo, bên dưới đạo là phủ, huyện, xã.
- Nhìn chung, mô hình bộ máy nhà nước Đại Việt đều phát triển theo hình thức trên, tuy nhiên tùy vào
từng thời kỳ sẽ có ít nhiều thay đổi.
- Một số cuộc cải cách về mặt chính trị trong giai đoạn Đại Việt: cải cách Hồ Quý Ly (thế kỷ XV), cải
cách Lê Thánh Tông (1462), cải cách Minh Mạng (1831-1832). *Kinh tế: -Nông nghiệp:
+ Lúa nước là cây lương tự chính.
+ Thành lập các cơ quan chuyên trách, bảo vệ sức kéo, khai hoang, áp dụng kĩ thuật tiến bộ, du nhập và
cải tạo giống cây mới. -Thủ công nghiệp:
+ Dệt, gốm, sứ, luyện kim.
+ Các nghề: đục gỗ, chạm khắc đá, giấy, sơn mài, kim hoàn….
+Cục Bách tác: sản xuất các hàng độc quyền của triều đình: tiền, vũ khí, trang phục. -Thương nghiệp:
+Thời Lý: trang Vân Đồn (Quảng Ninh)…
+ Thế kỉ XVII, các công ty như Công ty Đông Ấn Hà Lan, Công ty Đông Ấn Anh và thương nhân Trung
Quốc, Nhật Bản, Đông Nam Á… đến Đại Việt buôn bán.
d.Một số kết tinh giá trị:
-Duy trì và phát triển nhà nước Phong kiến tự chủ theo thiết chế nhà nước Trung Hoa:
Lý do: Lựa chọn mang tính thời đại - phù hợp với các điều kiện đặc trưng chung của nhân loại lúc bấy
giờ - theo mô hình nhà nước phong kiến Phương Đông. Tiếp xúc tiếp biến với văn hóa Trung Hoa.
-Xây dựng, hình thành học phong Đại Việt (xây dựng nền học thuật phong kiến Việt Nam): tính Tổng
hợp, tính liên ngành, thiên hướng xã hội
+ Quân sự: Kết hợp các tri thức quân sự của Trung Hoa + Kinh nghiệm chiến tranh Vệ quốc →Tư tưởng
quân sự Việt Nam: Sức mạnh đoàn kết toàn dân + sức mạnh tinh thần đoàn kết + hình thế núi sông, thành
trì lòng dân, chiến tranh du kích.
+ Phát triển: Nho học –Phật học: trong đó Phật học là nền tảng học thuật đầu tiên, Lê: phát triển Nho Việt. lOMoAR cPSD| 61463864
+ Y lý: Y học + Dược học: “Nam dược trị Nam nhân”.
+ Nông học: Hình thành sách có tính chất kĩ thuật về canh tác, kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm thuần
dưỡng cây lúa, chăn nuôi (Vân Đài loại ngữ - Lê Qúy Đôn)
+ Toán học: Đại thành toán Pháp – Lương Thế Vinh, Lập thành toán pháp: Vũ Hữu…
+ Địa lý: Hàng ngàn tập “Dư địa chí”
+ Tư tưởng: Biên khảo về Dịch học – bắt nguồn từ Dịch học Trung Hoa – được các nhà nho Việt Nam
ứng dụng vào một số vấn đề cụ thể
-Giáo dục khoa cử - chữ Hán - chữ Nôm: hình thành truyền thống cần học, mẫn học, hiếu học, tôn sư
cần học, tôn sư trọng đạo. Dùng chữ Hán để tạo lập nền văn hiến Đại Việt. Chữ Nôm trở thành công cụ để
bảo vệ tiếng Việt – chế tác quan trọng độc bản.
-Đô thị cổ - thương cảng: Kinh thành Thăng Long – kinh thành Huế - Các thành trì. Thương cảng Vân
Đồn Nhà Trần, từ TK 16 trở đi là thương cảng Hội An => Thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển
-Định hình mạnh mẽ của tinh thần văn hóa dân tộc – khát vọng tự chủ dân tộc.
2.Văn hóa thời cận đại: (dấu ấn, ảnh hưởng của văn hóa phương tây trong tiếp biến văn hóa) a.
Văn hóa cận đại: được xác định trong khoảng cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, tức là từ
khoảng năm 1858 (khi Pháp bắt đầu xâm lược và chiếm đóng Việt Nam) đến năm 1945 (khi Cách mạng
tháng Tám thành công và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời). Trong thời kỳ này, nền văn hóa Việt
Nam chịu sự ảnh hưởng lớn từ văn hóa phương Tây, nhưng cũng có sự phản kháng và sáng tạo để giữ gìn
những giá trị văn hóa dân tộc. b.
Dấu ấn, ảnh hưởng của văn hóa phương Tây trong tiếp biến văn hóa:
- Trên bình diện văn hóa vật chất:
+ Trên lĩnh vực đô thị: từ cuối XIX, đô thị Việt Nam từ mô hình cổ truyền với chức năng tâm chính trị
đã chuyển sang phát triển theo mô hình đô thị công-thương nghiệp chú trọng chức năng kinh tế. Ở các đô
thị lớn dần hình thành một tầng lớp tư sản dân tộc, nhiều ngành công nghiệp khác nhau ra đời (khai mỏ, chế
biến nông lâm sản…). Xuất hiện các kiến trúc đô thị kết hợp khá tài tình phong cách phương Tây với tính
cách dân tộc. Các tòa nhà đã sử dụng hệ thống mái ngói, bố cục kiểu tam quan, lẩu hình bát giác…; đưa các
mái hiên, mái che cửa sổ ra xa để tránh nắng chiếu và mưa hắt…
+ Trên lĩnh vực giao thông: hàng chục vạn dân đinh đã được huy động xây dựng hệ thống đường bộ
đến các đồn điền, hầm mỏ,… Hệ thống đường sắt với những đường hầm xuyên núi, những cây cầu lớn ngày
được kéo dài (cầu Long Biên). -Trên bình diện văn hóa tinh thần:
+ Văn tự-ngôn ngữ: khi truyền đạo cho người Việt Nam khó khăn đầu tiên mà các giáo sĩ vấp phải là
sự khác biệt về ngôn ngữ và văn tự. Bởi vậy họ đã dùng bộ chữ cái Latinh thêm các dấu phụ để ghi tiếng lOMoAR cPSD| 61463864
Việt tạo nên chữ quốc ngữ. Tuy chữ quốc ngữ ban đầu chỉ là công cụ truyền đạo của các giáo sĩ nhưng do
có ưu điểm là dễ học nên đã được các nhà nho tiến bộ tích cực truyền bá để phổ cập giáo dục và nâng cao dân trí.
+Báo chí: do việc thâm nhập của văn hóa phương Tây dẫn đến sự ra đời của báo chí. Việc này trước hết
nhằm phục vụ cho nhu cầu thông tin cai trị của thực dân Pháp. Gia Định báo là tờ báo đầu tiên được phát
hành bằng chữ quốc ngữ, sau đó ở Sài Gòn và Hà Nội lần lượt xuất hiện nhiều tờ báo khác bằng chữ quốc
ngữ chữ Hán. Báo chí đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, thức tỉnh ý thức dân tộc và tăng
cường tính năng động của người Việt Nam.
+Văn học: sự tiếp xúc với phương Tây đã làm nảy sinh trong lĩnh vực văn học thể loại tiểu thuyết hiện
đại là cái mà truyền thống Việt Nam không có. Khởi đầu là tiểu thuyết của Nguyễn Trọng Quản viết bằng
chữ quốc ngữ in ở Sài Gòn năm 1887 với nhan đề “truyện thầy lazardo phiền”,tiếp đó là hàng loạt tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Công Hoan,... Chất văn xuôi tính cách cá nhân phương tây còn ảnh
hưởng vào cả một lĩnh vực có truyền thống lâu đời như thơ dẫn đến sự bùng nổ của dòng thơ mới với những
tên tuổi như Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận và những năm 30.
Sự tiếp xúc văn hóa phương Tây cũng khiến cho tiếng việt có biến động mạnh: hàng loạt các từ ngữ
được vay mượn để diễn tả những khái niệm mới đã đi vào đời sống thường ngày như xà phòng (savon), ga
(gaz),… Những hiện tượng ngữ pháp đặc thù cho ngôn ngữ phương Tây (thể bị động, kiến trúc danh từ,…)
cũng được du nhập vào tiếng việt.
+Nghệ thuật: Nghệ thuật hội họa xuất hiện các thể loại vay mượn từ phương Tây như tranh sơn dầu,
tranh bột màu với bút pháp tả thực. Bút phát tả thực của Phương tây còn xuất hiện trên sân khấu với thể loại
kịch nói và tác động tới sự ra đời của nghệ thuật cải lương. Nghệ thuật thanh sắc tổng hợp cổ truyền bắt đầu
phân hóa thành hàng loạt bộ môn như ca, múa, kịch,…
+Giáo dục: Sự thay đổi lớn nhất trong hệ thống giáo dục Việt Nam là sự du nhập của nền giáo dục
phương Tây, đặc biệt là do chính quyền thực dân Pháp xây dựng. Các trường học phương Tây được thành
lập, từ trường tiểu học đến đại học, như Đại học Đông Dương (năm 1906) và Trường Trung học Albert
Sarraut
(năm 1916). Những cơ sở giáo dục này mang đậm ảnh hưởng của hệ thống giáo dục Pháp.
Hệ thống giáo dục mới: Phương pháp giáo dục của Pháp chú trọng vào việc giảng dạy các môn khoa
học tự nhiên, toán học, lịch sử, triết học và văn học phương Tây, điều này đã hình thành một tầng lớp trí
thức mới có khả năng tiếp thu các kiến thức phương Tây và tạo ra những cải cách xã hội, mặc dù hệ thống
này có mục đích phục vụ cho chính quyền thực dân.
Phong trào cải cách giáo dục: Trong khi học hỏi từ phương Tây, những trí thức yêu nước như Phan
Châu Trinh với phong trào Duy tân, Phan Bội Châu với phong trào Đông du, đã đấu tranh đòi cải cách giáo lOMoAR cPSD| 61463864
dục và đưa các yếu tố giáo dục phương Tây vào để xây dựng một nền giáo dục dân tộc hiện đại, đồng thời
nâng cao dân trí và tinh thần tự cường cho người dân.
Tư tưởng khai sáng: Các tư tưởng về tự do, bình đẳng, bác ái, nhân quyền được tiếp thu mạnh mẽ
trong giới trí thức, trở thành động lực thúc đẩy phong trào đấu tranh giành độc lập và cải cách xã hội. Các
nhà cách mạng, như Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh), đã tiếp thu lý thuyết Marx-Lenin để vận dụng vào
đấu tranh giành độc lập.
→Văn hóa cận đại Việt Nam có những dấu ấn sâu đậm, đặc biệt trong các lĩnh vực giáo dục, nghệ thuật,
tôn giáo, ngôn ngữ và các phong trào xã hội. Dù bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi văn hóa phương Tây qua sự
xâm lược của thực dân Pháp, nhưng Việt Nam không chỉ tiếp nhận mà còn sáng tạo, kết hợp những yếu tố
phương Tây với bản sắc dân tộc, tạo ra một nền văn hóa đặc trưng của thời kỳ chuyển giao, đặt nền tảng
cho những thay đổi lớn trong lịch sử Việt Nam sau này.
C.Thành tố văn hóa
1.Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: *Nguồn gốc: -
Thứ nhất : Ở Việt Nam tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên có nguồn gốc từ xa xưa, trước hết phải
đề cập đến chế độ phụ quyền. Khi bước vào chế độ phụ quyền, vai trò của người đàn ông trở nên quan
trọng trong hoạt động kinh tế và sinh hoạt của gia đình. Con cái mang họ cha và con trai kế tiếp ý thức
về ủy quyền trong gia đình của mình. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên bắt nguồn từ đấy. -
Thứ hai : Đó là sự ảnh hưởng từ ba dòng tôn giáo chính ở Việt Nam:
+ Nho giáo: Theo như Khổng Tử, sự sống của con người không phải do tạo hóa sinh ra càng không phải
do bản thân tự tạo ra mà nhờ cha mẹ, sự sống của cha mẹ lại gắn với ông bà và cứ như vậy thế hệ sau kế
tiếp thế hệ trước, vì thế mà thế hệ sau phải biết ơn thế hệ trước. Từ quan niệm hiếu trong Khổng giáo, người
Việt tiếp nhận và thể hiện qua cái bàn thờ tổ tiên. Trải qua nhiều thế hệ tiếp nối nhau, người Việt đã thể
hiện việc hiếu đạo thành một tập tục gọi là thờ cúng tổ tiên.Cùng với tư tưởng tôn quân, quyền huynh thế
phụ đã củng cố thêm tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở nước ta ngày một thể chế hóa.
+ Đạo giáo: Nếu như Khổng giáo đặt nền tảng lý luận về đạo đức, về trật tự kỉ cương xã hội cho tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt thì Đạo giáo góp phần củng cố niềm tin vào sự tồn tại và năng lực
siêu nhiên của linh hồn những người đã chết thông qua một số nghi lễ thờ cúng như: gọi hồn, bùa chú, ma
chay, tang lễ, mồ mả và đốt vàng mã.
+ Phật giáo: Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến sự giữ gìn và phát triển tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở
Việt Nam trước hết là quan niệm của Phật giáo về cái chết, kiếp luân hồi và nghiệp báo. Những tư tưởng cơ
bản của Phật giáo có ảnh hưởng lớn tới tục thờ cúng tổ tiên nhưng không phải là sự sao chép hoàn toàn.
Người Việt Nam quan niệm rằng cha mẹ tổ tiên luôn lo lắng, quan tâm cho con cái ngay cả khi họ đã chết. lOMoAR cPSD| 61463864
Người sống chăm lo đến linh hồn người chết, vong hồn người chết sẽ quan tâm đến sự sống của người đang sống. -
Thứ ba: Bắt nguồn từ điều kiện nhận thức và các yếu tố tâm lí khác:
+ Về nhận thức: Trong nhận thức dân gian, người Việt quan niệm rằng, con người có 2 phần: phần xác
và phần hồn. Hai phần này vừa gắn bó, vừa tách biệt, chúng gắn bó với nhau. Khi con người còn sống, hồn
nhập vào xác điều khiển hành vi của con người. Khi con người chết, phần hồn rời khỏi xác, thể xác của họ
hoà vào cát bụi, phần hồn vẫn tồn tại và chuyển sang sống ở một thế giới khác.
+ Về các yếu tố tâm lý khác:
Sự sợ hãi: Trong cuộc sống con người thường gặp phải những khó khăn, trở ngại, ốm đau, bệnh tật…
Họ thiếu tự tin vào bản thân nên họ cần tới sự giúp đỡ, che chở của các thế lực khác nhau, nhất là từ ông bà
tổ tiên từ thế giới bên kia. Từ quan niệm dân gian về linh hồn, người ta cho rằng, nếu không cúng tế linh
hồn ông bà tổ tiên đầy đủ thì những linh hồn này trở thành ma đói và sẽ mang lại rủi ro, quấy nhiễu cuộc
sống của những người đang sống.
Sự kính trọng, biết ơn: Yếu tố tâm lý có vai trò quyết định trong việc duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên của người Việt đó là sự tôn kính, biết ơn đối với các thế hệ trước, là tình yêu và lòng hiếu thảo của con
cháu đối với ông bà cha mẹ.
*Nghi lễ thờ cúng tổ tiên:
+Trong tục thờ cúng tổ tiên, người việt coi trọng hơn cả là việc cúng giỗ vào ngày mất (kị nhật), bởi lẽ
người ta tin rằng đó là ngày con người đi vào cõi vĩnh hằng. Ngoài ngày giỗ, việc thờ cúng tổ tiên còn được
tiến hành đều đặn vào những ngày mồng Một, ngày Rằm, dịp lễ tết và bất kì khi nào trong nhà có việc (dựng
vợ, gả chồng, làm nhà, sinh con, đi xa…).
+Bàn thờ tổ tiên: Hầu hết các gia đình người Việt đều có bàn thờ tổ tiên, đặt tại vị trí trang trọng nhất
trong nhà, thường là nơi cao ráo, sạch sẽ như phòng khách, phòng thờ, hay trong một gian riêng biệt của
nhà. Trên bàn thờ thường có các di vật như di ảnh của tổ tiên, bát hương, nến, hoa quả, và các đồ lễ khác.
+Lễ vật dâng cúng: người việt quan niệm dương sao âm vậy cho nên cúng tổ tiên bằng hương hoa, trà
rượu và cả đồ ăn lẫn đồ mặc, đồ dùng, tiền nong (làm bằng giấy gọi là vàng mã). Rượu có thể có hoặc không
nhưng li nước lã thì nhất thiết không bao giờ thiếu. Bởi vì nước là thứ quý nhất (sau đất) của dân trồng lúa
nước. Sau khi tàn tuần hương, đồ vàng mã được đem đốt, chén rượu cúng đem rót xuống đống tàn vàng- có
như vậy người chết mới nhận được đồ cúng tế. Đối với người việt những đồ thờ như hương án, bát hương,
đài rượu, bình hoa,… là những vật gia bảo thiêng liêng, dù nghèo khó mấy cũng không được bán.
* Nghi lễ thờ cúng tổ tiên trong đời sống tinh thần người Việt Giỗ
tổ Hùng Vương : Dân gian có câu :
Dù ai đi ngược về xuôi, lOMoAR cPSD| 61463864
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.
Việc thờ cúng tổ tiên là điều thiêng liêng nhưng không chỉ diễn ra trong mỗi gia đình, dòng họ của
mình…Nó còn là sự biểu hiện của một thứ tình cảm thiêng liêng đối với quốc gia - dân tộc. Mỗi dân tộc
đều có một nguồn gốc, cội rễ của mình. Lịch sử đã khắc ghi các thế hệ vua Hùng nối tiếp nhau dựng lên
nước Văn Lang của người Việt cổ với nền văn minh lúa nước và nền văn minh sông Hồng rực rỡ đã tạo nên
bản sắc văn hóa dân tộc phong phú và độc đáo, đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ và dài lâu của dân
tộc Việt Nam. Vùng đất xưa, nơi các vua Hùng lập nghiệp và nằm xuống trở thành Đất Tổ. Người Việt Nam
chúng ta hôm nay hành hương tìm về Đất Tổ chính là tìm về cội nguồn dân tộc, là thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn.
*Giá trị văn hóa của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên:
+ Tục thờ cúng tổ tiên dạy cho con người biết thực hiện chữ hiếu, kính trọng ông bà, tổ tiên dù họ không
còn nữa, đồng thời thể hiện tính nhân văn của dân tộc Việt, những người đã khuất không bị lãng quên trong
tâm tưởng của những người còn lại, chứng tỏ dân tộc Việt là một dân tộc đặc biệt mang trong máu một thứ
tình cảm không thể tìm thấy ở các dân tộc châu Âu.
+ Tưởng nhớ tới Tổ tiên, người Việt Nam luôn bảo nhau phải sống sao cho xứng đáng với sự kì vọng
của Tổ tiên. Các thế hệ cháu con, sau khi đã công thành danh toại thường trở về “vinh quy bái tổ” trước các
vong linh ông bà Tổ tiên. Người Việt Nam luôn cần cù, sáng tạo trong việc tạo dựng cuộc sống. Đức tính
cần cù, sáng tạo trong lao động cũng được hình thành và khẳng định một phần thông qua ý thức về Tổ tiên, cội nguồn.
+ Đối với cộng đồng, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên còn là sợi dây liên kết giữa những người sống hiện tại
như anh em, bà con làng xóm, giúp mọi người gắn bó với nhau hơn, hun đúc tình yêu quê hương đất nước.
+ Cuối cùng đó là ý nghĩa duy trì tình thân trong quan hệ thân tộc.Những ngày lễ, ngày tết hoặc ngày
kỹ niệm một người thân qua đời, là những dịp để con cháu ở các nơi khác hội tụ lại để gặp gỡ hàn huyên,
kết chặt mối thâm tình, đồng thời thăm nom ông bà cha mẹ, nếu như họ còn sống. Đây là một việc làm thiết
thực và cao quý nhất trong việc thể hiện chữ hiếu của một dân tộc giàu tình cảm như người Việt.
-Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn tồn tại một số hạn chế trong tín ngưỡng này:
+ Tình trạng lạm dụng và thương mại hóa các nghi lễ thờ cúng, nhiều gia đình và các cơ sở kinh doanh
lợi dụng tín ngưỡng để tổ chức các dịch vụ cúng tế với mức giá cao,bày biện lễ vật đắt tiền Điều này làm
mất đi tính chân thành và đơn giản của lễ cúng tổ tiên, đồng thời gây lãng phí và đôi khi làm lệch hướng
những giá trị tinh thần đích thực.
+ Xuất hiện các biểu hiện mê tín dị đoan, thiếu hiểu biết và chỉ chú trọng vào hình thức mà thiếu lòng
thành kính…Chưa kể việc đốt vàng mã quá nhiều gây mất vệ sinh, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. lOMoAR cPSD| 61463864
2.Nho giáo với văn hóa Việt nam: *Sự ra đời
+ Nho giáo là hệ thống giáo lí của các nhà nho nhằm tổ chức xã hội có hiệu quả.Những cơ sở của nó
được hình thành từ thời Tây Chu,đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán,sau đó Khổng Tử phát triển
tư tưởng của Chu Công,hệ thống hóa lại và tích cực truyền bá.
+sách kinh điển của Nho giáo gồm ngũ kinh (kinh thi,kinh thư,kinh lễ,kinh dịch,kinh xuân thu)
+Sau khi Khổng Tử mất, học trò tập hợp lại lời dạy của thầy và soạn ra Luân ngữ. Học trò xuất sắc của
ông là Tăng Sâm dựa vào lời thầy soạn ra cuốn sách Đại học dạy phép làm người quân tử. Sau đó học trò
khác là Khổng Cấp viết ra Trung Dung nhằm phát triển tư tưởng của Khổng Tử về cách sống dung hòa,
không thiên lệch.Vào khoảng năm 390-305TCN có Mạnh Tử là người bảo vệ xuất sắc tư tưởng của Khổng
Tử, những lời của ông được học trò biên soạn thành sách về sau hợp lại được goi là Tứ Thư.
Như vậy, Mạnh Tử đã khép lại giai đoạn quan trọng-giai đoạn hình thành Nho giáo đó là Nho giáo
nguyên thủy hay còn gọi là tư tưởng Khổng-Mạnh.
*Quá trình xâm nhập
+ Nho giáo du nhập vào VN trong thời kì Bắc thuộc, chủ yếu ảnh hưởng đến những người thuộc tầng
lớp trên trong XH, vì là VH do kẻ xâm lược áp đặt nên chưa có chỗ đứng trong xã hội VN
+ TK XI: Nho giáo định hình, chế độ tam giáo đồng nguyên
Năm 1070: Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử “Nho giáo được chính thức tiếp nhận”
Năm 1075: Mở khoa thi Nho học đầu tiên, chính thức khai sinh cho lịch sử thi cử Nho giáo lâu dài ở Việt Nam.
Năm 1076: nhà Lý cho lập Quốc tử giám ngay giữa kinh thành và “chọn quan viên văn chức, người nào
biết chữ cho vào Quốc tử giám”. Từ đây, con em quý tộc họ Lý chính thức được đào tạo chủ yếu theo Nho giáo
→Thời nhà Trần: khuynh hướng dung hòa tam giáo (Nho-Phật-Đạo)
- TK XV: Nhà Lê đưa Nho giáo trở thành quốc giáo Nho giáo độc tôn
- TK XVI – XVIII: XH biến động, nho giáo suy yếu - TK XIX: nhà Nguyễn độc
tôn nho giáo – thất bại – suy tàn
* Đặc điểm Nho giáo ở Việt Nam:
- Khai thác những yếu tố là thế mạnh của Nho giáo
+ Học cách tổ chức triều đình và hệ thống pháp luật
+ Hệ thống thi cử tuyển chọn người tài được vận dung từ thời Lý, hoàn thiện vào thời Trần và hoàn chỉnh vào thời Lê. lOMoAR cPSD| 61463864
+ Sử dụng chữ Hán làm văn tự chính thức trong giao dịch hành chính, trên cơ sở chữ Hán đã sáng tạo
ra chữ Nôm trong sáng tác văn chương
-Nho giáo bị biến đổi nhiều ở VN để phù hợp với truyền thống VH dân tộc:
+ Nho giáo không chỉ để giữ yên ngai vàng và bành chướng xâm lăng mà nhu cầu duy trì sự ổn định
có cả ở dân và triều đình, cả trong đối nội và đối ngoại. Thể hiện qua:
-Biện pháp kinh tế: nhẹ lương nặng bổng
-Biện pháp tinh thần: trọng đức khinh tài
+ Trọng tình người: tâm đắc với chữ “Nhân” hơn cả
- Truyền thống dân chủ của VH nông nghiệp, mềm hóa cho phù hợp với tâm lí tình cảm của người Việt,
trở thành những giá trị văn hóa gắn liền với nếp sống, pttq ở Việt Nam.
VD: Trọng nam khinh nữ, nhưng người vợ vẫn là “nội tướng”
-Tiếp thu chữ hiếu, bình đẳng giữa cha và mẹ: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
+ Tư tưởng trung quân: trung quân gắn liền với ái quốc, đất nước dân tộc là cái quyết định (không đề
cao tuyệt đối vai trò cá nhân thủ lĩnh)
VD: Lê Hoàn thay nhà Đinh, Lý Công Uẩn thay nhà Tiền Lê, Trần Cảnh thay nhà Lý
+ Trọng văn: do chịu ảnh hưởng của VH nông nghiệp phương nam nên rất coi trọng văn, kẻ sĩ, trong
khi Trung Hoa chỉ coi quan văn = quan võ. Người Việt dù luôn phải đối phó với chiến tranh nhưng ít quan
tâm đến các kì thi võ mà chỉ ham học chữ, thi văn. Nhìn Nho giáo là 1 công cụ VH, con đường làm nên nghiệp lớn
+ Thái độ đối với nghề buôn: trọng nông ức thương duy trì nền nông nghiệp âm tính (tính cộng đồng và
tự trị), tránh mọi nguy cơ đồng hóa
→Chúng ta không thể phủ nhận rằng Nho giáo đã tham gia góp phần vào sự đúc nặn nên diện mạo tinh
thần dân tộc và văn hóa dân tộc. Dù có những điểm chưa tích cực nhưng trãi qua năm tháng sàn lọc những
tư tưởng triết học của Nho giáo đã thấm nhuần trong lòng con người Việt Nam.
3.Phật giáo với văn hóa việt nam
Nguồn gốc:
- Ra đời khoảng thế kỉ VI TCN tại Ấn Độ
- Người sáng lập là Siddhartha Gautama hay còn được gọi là Tất Đạt Đạ / Thích Ca Mâu Ni (652-544 TCN).
+ Là thái tử nhưng bất bình với sự phân chia đẳng cấp, kì thị màu da và đồng cảm với nỗi khổ của
muôn dân tìm con đường giải thoát lOMoAR cPSD| 61463864
+ Rời nhà lúc 29 tuổi, đến 35 tuổi thì giác ngộ được tư tưởng, tìm ra hướng giải thoát. Trong suốt 40
năm còn lại của cuộc đời đi các nơi để truyền bá tư tưởng của mình.
- Phật giáo vào Việt Nam bằng hai con đường ứng vào hai thời kì
+ Từ các thuyền buôn Ấn Độ (khoảng thế kỉ I TCN), được bình dân hóa, dân gian hóa, bản địa hóa sâu
sắc, hòa nhuyễn với tâm thức của người Việt, góp phần làm nên đời sống tâm thức của người Việt.
+ Được truyền vào Việt Nam từ Trung Quốc (bắt đầu từ khoảng thế kỉ IX – X, đi vào cung đình từ tầng
lớp trí thức) (Phật giáo Đại thừa – Phật giáo Bác học -> Hình thành học phong uyên áo của Phật giáo)
- Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam: +Tính tổng hợp:
+ Hòa nhập với tín ngưỡng dân gian:
VD: - Hệ thống chùa Tứ pháp vẫn chỉ là những miếu dân gian thờ các vị thần tự nhiên: Mây - Mưa - Sấm - Chớp và thờ đá
- Lối kiến trúc chùa: tiền Phật hậu Thần, đưa cả thần thánh, thành hoàng, thổ địa, các anh hùng dân
tộc vào thờ trong chùa. Hầu như không chùa nào không để bia hậu, bát nhang cho các linh hồn đã khuất.
+Tổng hợp các tông phái với nhau: không có tông phái Phật giáo nào là thuần khiết VD:
- phối hợp Thiền Tông với Tịnh Độ tông.
- Bắc: Chùa có nhiều pho tượng Phật, bồ tát, la hán của các tông phái khác nhau. Tượng Phật
Thích ca có tới 5 dạng: Thích ca sơ sinh (Thích Ca Cứu Long), Tuyết Sơn, Thích Ca đứng thuyết
pháp, Thích Ca ngồi tòa sen, Thích Ca nhập niết bàn (lúc sắp mất)
- Nam: chùa mang hình thức Tiểu thừa (thờ Thích Ca, sư mặc áo vàng) nhưng lại theo giáo lý
Đại thừa (cạnh Phật Thích Ca lớn có nhiều tượng nhỏ, ngoài áo vàng có đồ nâu lam)
+ Tổng hợp chặt chẽ với các tôn giáo khác, Phật với Nho, với Đạo. + Kết hợp việc đạo với việc đời
VD: Các cao tăng được mời tham chính hoặc cố vấn trong những việc hệ trọng
- Vua Đinh Tiên Hoàng phong đại sư Khuông Việt làm tăng thống, tiếp sứ thần nhà Tống
- Vua Lê Đại Hành hỏi ý kiến sư Vạn Hạnh trước khi xuất quân đánh Tống
Khuynh hướng thiên về nữ tính (Đặc trưng bản chất của VH nông nghiệp) +
Các vị Phật Ấn Độ xuất thân là đàn ông, sang VN thành Phật Ông, Phật Bà VD:
- Bồ tát Quan Thế Âm Phật Bà Quan Âm với nghìn mắt nghìn tay + Chùa
chiền mang tên các bà: Chùa Bà Dâu, chùa Bà Đá, chùa Bà Đanh,...
+ Tuyệt đại bộ phận Phật tử tại gia là các bà: “Trẻ vui nhà, già vui chùa” lOMoAR cPSD| 61463864
- Tạo ra lịch sử Phật giáo cho riêng mình: nàng Man, cô gái làng Dâu Bắc Ninh, một trong những đệ
tử đầu tiên của Phật giáo, trở thành Phật Mẫu, đứa con gái của nàng hóa thân vào đá và trở thành Phật Tổ
với ngày sinh là ngày Phật Đản 8/4.
- Coi trọng việc sống phúc đức, trung thực hơn là đi chùa: “Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ
3 tu chùa”hay “Dù xây 9 bậc phù đồ, không = làm phúc cứu cho 1 người”; Coi trọng truyền thống thờ cha
mẹ, ông bà hơn là thờ Phật; đồng nhất cha mẹ, ông bà với Phật
- Đức Phật được đồng nhất với những vị thần trong tín ngưỡng cứu giúp mọi người, làm mây mưa
sấm chớp để mùa màng tốt tươi, ban cho người hiếm muộn có con, ban lộc cho bình dân để làm ăn phát
đạt, cứu độ người chết và giúp họ siêu thoát.
- Chùa thiết kế theo phong cách ngôi nhà cổ truyền với hình thức mái cong có ba gian hai chái, năm
gian hai chái, trở thành công trình công cộng quan trọng thứ hai của mỗi làng.
- Ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống văn hóa Người Việt:
+ Được truyền vào Viêt Nam từ rất sớm, Phật giáo đã sớm bén rễ vào đời sống Văn hóa Việt, đồng
hành cùng đời sống nhân dân qua nhiều biến cố - thăng trầm của lịch sử. Tâm thức Việt Nam: là một tâm
thức Phật giáo. Có thể dễ thấy điều này qua các thuật ngữ phổ biến: “từ bi hỷ xả” – (trong Phật học được
gọi là “tứ vô lượng tâm”); “tu nhân – tích đức”, “cứu nhân độ thế”, hay các câu thành ngữ như: “ở hiền gặp
lành”, “gieo gió gặt bão” (thuyết nhân quả)
+ Hình thành truyền thống văn hiến của Việt Nam: hệ thống kinh điển thi kệ. Phật giáo tự thân là một
hệ tư tưởng lớn, với hệ thống kinh điển đồ sộ. Sự phong phú về giáo lý, và phong phú về quan điểm kiến
giải giáo lý đã tạo thành một hệ thống học phong Phật giáo uyên áo, cao diệu, đóng góp đặc biệt đối với nền
văn hiến dân tộc. Các thiền sư – đồng thời cũng là các nhà thơ, nhà tư tưởng với nhiều trước tác có giá trị.
Tiêu biểu có thể kể đến như: Thiền uyển tập anh (tác phẩm Phật giáo cổ nhất đến nay còn sót lại). Chỉ tiếc
rằng, 20 năm Minh thuộc – rất nhiều tài liệu quý giá đã theo ngọn lửa tàn độc của ngoại xâm mà một đi
không trở lại, nếu không, hẳn chúng ta sẽ còn được chứng kiến một nền học phong Phật giáo Việt Nam rực rỡ
+ Hệ thống tư tưởng Phật học giúp củng cố hình thành nhãn quan học thuật, nhãn quan tư tưởng cho văn hóa Việt Nam.
+ Hình thành nhiều truyền thống phong tục tập quán tốt đẹp: tín ngưỡng, lễ hội, kiến trúc, âm nhac,
nâng cao đời sống tâm hồn, tinh thần, đời sống tâm thức của Người Việt. Ta có: lễ rằm tháng bảy: lễ vu lan
(xuất phát từ Kinh Vu Lan Bồn): nhắc nhở về lòng hiếu – sự báo ân, các kiến trúc Phật giáo độc đáo như:
chùa Trăm Gian, chùa Tháp Bút, chùa Bửu Long, tháp Báo Ân… Không quá lễ nghi để đến mức hà khắc
như Nho giáo, không quá phóng khoáng để trở thành phóng túng, xa rời thực tế như Đạo gia, Phật giáo đề
cao lý trung đạo – con đường cân bằng, việc đạo – việc đời song hành, tương trợ, hệ thống giáo lý nhân bản, lOMoAR cPSD| 61463864
tiến bộ, khoan dung, đề cao các giá trị đạo đức, phù hợp với truyền thống dân tộc: như đạo hiếu, tình yêu
Tổ quốc, lòng từ bi, hạnh nhẫn nhục, sự vị tha, ít ham muốn vô lý… đã nhanh chóng được quần chúng đón
nhận, trở thành một phần quan trọng trong luân lý đạo đức giữa đời thường.
+ Phật giáo cùng những hệ thống tín ngưỡng tư tưởng tôn giáo thiết lập một tôn giáo chính thống có
cội rễ cắm sâu bền chặt vào đất đai văn hóa Việt. (Ví dụ: Thời Lý – Trần: Phật giáo là quốc giáo)
→ Phật Giáo từ lâu đã thâm nhập vào tâm hồn, nếp nghĩ, lối sống của dân tộc Việt Nam, kết hợp hài
hòa với tín ngưỡng dân tộc và đã trở thành bản chất và bản sắc của dân tộc Việt Nam.
4.Phong tục tập quán: a. khái niệm:
- Phong tục là toàn bộ những hoạt động trong sinh hoạt của con người được hình thành và tạo lập
trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác. Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ nhưng cũng không tùy tiện
như hoạt động sống thường ngày. Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững và tương đối thống nhất.
- Phong tục tập quán là những hành vi ứng xử, thói quen, nếp sinh hoạt tương đối ổn định thuộc về
đời sống của con người được công nhận bởi một cộng đồng, quần thể và được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Ví dụ: Phong tục lễ hội, văn hoá, sinh hoạt, cưới xin, ma chay… b.
Chức năng của phong tục.
- Phong tục tập quán có những chức năng quan trọng trong đời sống xã hội.
+ Phong tục tập quán chính là việc hướng dẫn hành vi ứng xử của con người trong một nhóm xã hội.
Thông qua phong tục tập quán cũng sẽ góp phần giáo dục nhận thức cho thế hệ trẻ, xây dựng tình cảm và
kỹ năng sống, hành vi ban đầu cho con người.
+ Là chất keo gắn bó các thành viên trong nhóm ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới hoạt động, đời sống của các cá nhân và nhóm;
+ Là tiêu chuẩn thước đo đánh giá về mặt đạo đức, xã hội các thành viên trong nhóm và giữa các nhóm xã hội với nhau;
+ Là hình thức lưu giữ những nét sinh hoạt văn hoá độc đáo của đời sống văn hoá nhóm. c.
Một số phong tục tiêu biểu:
PHONG TỤC TẾT NGUYÊN ĐÁN • PHONG TỤC HÔN NHÂN • PHONG TỤC TANG MA lOMoAR cPSD| 61463864
D.Văn hóa phát triển
1.Vai trò của văn hóa trong sự phát triển
+Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội
-Đào tạo con người theo các giá trị chân-thiện-mĩ
-Hình thành trong phẩm chất mọi thành viên trong xã hội ý thức phát huy các tiềm năng về thể lực, trí lực và nhân cách
-Tích cực xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh để có đủ sức đề kháng đẩy lùi các tiêu cực xã
hội, bài trừ những văn hóa phản tiến bộ.
+Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội
-Sự phát triển của một dân tộc gắn liền với cái mới nhưng không tách rời cội nguồn, văn hóa
-Con người là nhân tố có vai trò quan trọng và là không thể thiếu trong sự phát triển của kinh tế, xã hội
-Văn hóa có khả năng tiếp thu và cải biên những yếu tố văn hóa ngoại sinh để biến thành ngoại lực thúc
đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội
-Văn hóa sẽ giải phóng và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người trong mọi lĩnh vực đời sống
xã hội mà trước hết là kinh tế
+Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển
-Mục tiêu của sự phát triển ở nước ta: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Trong
chiến lược phát triển kinh tế 2011-2020:
-Xác định: phát huy tối đa nhân tố con người, con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”
-Yêu cầu: Tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện công bằng xã hội, không
ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”.
→Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người và xây dựng
xã hội mới.Văn hóa giúp mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí, giúp bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm
cao đẹp cho con người, cho nhân dân Việt Nam lí tưởng độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, đồng thời
bồi dưỡng phong cách, lối sống lành mạnh, hướng con người đến chân-thiện-mĩ để hoàn thiện bản thân.
2.Giữ gìn bản sắc văn hóa trong thời kì hội nhập
a. khái niệm và biểu hiện:
- Bản sắc văn hóa dân tộc là khái niệm có nội hàm rộng, với những giá trị đặc trưng mang tính bền
vững và trừu tượng. Thuật ngữ này chỉ sắc thái, vẻ đẹp và đặc trưng của một nền văn hóa, một dân tộc, được
hình thành và phát triển dưới tác động của các yếu tố lịch sử, tự nhiên, xã hội...; từ đó có thể nhận diện được
một nền văn hóa và phân biệt nền văn hóa này với nền văn hóa khác. lOMoAR cPSD| 61463864
- Khi nói đến bản sắc văn hóa dân tộc thì không chỉ đề cập văn hóa dân gian, văn hóa truyền thống do
các cộng đồng dân tộc sáng tạo ra trong quá trình sinh tồn, mà còn bao hàm cả phong tục tập quán, ngôn
ngữ, lời ăn tiếng nói, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực tự cường…
- Thời hội nhập toàn cầu, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc càng được quan tâm, bởi quá trình
phát triển luôn diễn ra sự giao lưu, tiếp biến văn hóa. Dĩ nhiên sự xung đột giữa các giá trị văn hóa bên
ngoài với các giá trị văn hóa truyền thống là không thể tránh khỏi. Dân tộc nào gìn giữ được bản sắc của
mình, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa ngoại sinh để chuyển hóa thành yếu tố nội sinh, thì bản
sắc văn hóa của dân tộc đó sẽ mãi trường tồn.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Văn hóa Việt Nam là ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa
Đông phương và Tây phương mà chung đúc lại… Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để
tạo ra một nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi
cho văn hóa Việt Nam có tinh thần thuần túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ". b. Thực trạng:
- Thế hệ genz dần đánh mất đi bản sắc văn hoá Việt Nam • VH ngôn ngữ • VH âm nhạc • VH thời trang • VH tôn giáo
c. Biện pháp khắc phục:
- Bản sắc văn hóa dân tộc là những đặc trưng về văn hóa của quốc gia đó, là nét làm cho đất nước
mình không bị nhầm lẫn với bất kì đất nước nào khác
- Mỗi cá nhân đặc biệt là học sinh chúng ta phải tìm hiểu những bản sắc văn hóa vốn có của dân tộc,
giữ gìn và phát huy những giá trị đó với bạn bè năm châu.
- Tham gia nhiều hơn những hoạt động để tuyên truyền, mang đến cho học sinh nguồn tri thức về bản sắc văn hóa dân tộc.
- Phải đặt trách nhiệm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc lên hàng đầu.
- Tích cực trau dồi hiểu biết của mình về những giá trị văn hóa tốt đẹp của nước nhà.
- Luôn đề cao văn hóa dân tộc, giữ gìn những truyền thống văn hóa tốt đẹp, không bắt chước văn hóa
dân tộc nước ngoài. Cần tạo ra một môi trường văn hóa lành mạnh, mang đậm đà bản sắc dân tộc. Biết tiết
kiệm, trân trọng giá trị lao động và đặc biệt là cần xây dựng cho mình lối sống giản dị cao đẹp.
-Vd: Khi "Ký ức vui vẻ" lên sóng mùa đầu tiên trên kênh VTV3 từ tháng 12/2018, khán giả ngay lập
tức hào hứng đón nhận bởi chương trình gợi những hoài niệm, những ký ức của nhiều người, nhiều gia đình,
nhiều thế hệ từ những năm 1960-2000. Thời thanh xuân tưởng như đã lãng quên, nhiều đồ dùng xưa cũ,
nhiều bài hát tưởng như đã là dĩ vãng… được sống lại trong "Ký ức vui vẻ". Và… chao ôi là nhớ, là thương! lOMoAR cPSD| 61463864