



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN TÊN ĐỀ TÀI:
TRÊN CƠ SỞ NHẬN THỨC CÁC VẤN ĐỀ VỀ GIÁ TRỊ
THẶNG DƯ THEO QUAN ĐIỂM CỦA C. MÁC, ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP SUNHOUSE NHÓM 3
MÃ LỚP HỌC PHẦN: 232_RLCP1211_02
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS. HOÀNG VĂN MẠNH HÀ NỘI, 2024 MỤC LỤC
MỤC LỤC________________________________________________________
LỜI MỞ ĐẦU____________________________________________________1
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý thuyết về giá trị thặng dư theo quan điểm của C.Mác
_____________________________________________________________________2
1.1. Nguồn gốc của giá trị thặng dư_________________________________2
1.1.1. Công thức chung của tư bản_________________________________2
1.1.2. Hàng hóa - sức lao động____________________________________3
1.1.3. Sự sản xuất giá trị thặng dư__________________________________4
1.1.4. Tư bản bất biến và tư bản khả biến____________________________5
1.1.5. Tiền công________________________________________________6
1.1.6. Tuần hoàn và chu chuyển của tư bản___________________________7
1.1.7. Tư bản cố định và tư bản lưu động___________________________11
1.2. Bản chất của giá trị thặng dư_________________________________12
1.3. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư_________________________13
1.3.1. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối_________________13
1.3.2. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối________________14
CHƯƠNG 2: Vận dụng lý luận về giá trị thặng dư để đề xuất giải pháp phát
triển doanh nghiệp Sunhouse___________________________________________15
2.1. Tổng quan doanh nghiệp_____________________________________15
2.1.1. Giới thiệu chung về Sunhouse_______________________________15
2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển_____________________________15
2.1.4. Tầm nhìn và sứ mệnh của Sunhouse__________________________17
2.2. Thực trạng doanh nghiệp_____________________________________18
2.2.1. Danh mục hàng hóa của Sunhouse___________________________18
2.2.2. Nguồn nhân lực và các chính sách đãi ngộ của Sunhouse_________23
2.2.3. Các kỹ thuật công nghệ ứng dụng trong sản xuất của Tập đoàn
Sunhouse________________________________________________________25
2.3. Hạn chế___________________________________________________27
2.3.1. Dòng sản phẩm còn hạn chế________________________________27
2.3.2. Chất lượng sản phẩm không đồng đều________________________27
2.3.3. Sự phụ thuộc vào nguồn cung_______________________________28
2.3.4. Dịch vụ sau bán hàng chưa hiệu quả__________________________28
2.3.5. Công tác tuyển dụng nhân sự của công ty chưa đạt hiệu quả cao____29
2.3.6.Chính sách đãi ngộ và phát triển nguồn nhân lực còn nhiều bất cập__29
2.4. Giải pháp thúc đẩy sự phát triển của Sunhouse__________________29
2.4.1. Tối ưu hóa quy trình sản xuất_______________________________29
2.4.2. Đầu tư vào phát triển và quản lý nhân lực______________________30
2.4.3. Một số giải pháp khác_____________________________________31
KẾT LUẬN_____________________________________________________34
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO______________________________35 3 LỜI MỞ ĐẦU
Theo đánh giá của V.I Lênin, lý luận giá trị thặng dư là “hòn đá tảng của học
thuyết kinh tế của Mác” và học thuyết kinh tế của C. Mác là “nội dung căn bản của
chủ nghĩa Mác”. Để đạt mục đích làm giàu tối đa của mình nhà tư bản đã mua sức lao
động của công nhân kết hợp với tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm, thu về giá trị
thặng dư. Nhưng nhà tư bản bao giờ cũng chỉ trả một phần giá trị sức lao động cho
người công nhân thông qua hình thức tiền lương và bóc lột giá trị thặng dư do người
công nhân sáng tạo ra trong quá trình sản xuất.
Học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác ra đời trên cơ sở nghiên cứu phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa, đã vạch trần thực chất bóc lột tư bản chủ nghĩa và cội nguồn
đối lập kinh tế giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, vũ trang cho giai cấp vô sản lý
luận cách mạng sắc bén trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản. Việc nghiên cứu
lý luận giá trị thặng dư và ý nghĩa nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư có ý nghĩa quan
trọng, là chìa khóa dẫn đến những vấn đề khác trong phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa. Với lý do trên, nhóm chúng em đã tiến hành và nghiên cứu đề tài:
“Trên cơ sở nhận thức các vấn đề về giá trị thặng dư theo quan điểm của C. Mác, đề
xuất giải pháp phát triển doanh nghiệp Sunhouse”.
Trong quá trình thực hiện, nhóm đã tìm hiểu kĩ càng thông tin và tham khảo
nhiều tài liệu từ các nguồn uy tín nhưng vì trình độ còn hạn chế, khó có thể tránh khỏi
thiếu sót, rất mong có được sự quan tâm giúp đỡ cũng như đóng góp ý kiến từ giảng
viên để nhóm hoàn thiện bài tiểu luận. Xin trân trọng cảm ơn! 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ THEO QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC
1.1. Nguồn gốc của giá trị thặng dư
1.1.1. Công thức chung của tư bản
Công thức của tiền trong nền sản xuất
Tiền trong nền sản xuất hàng hóa giản đơn vận động trong quan hệ H-T-H’.
Tiền trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vận động trong quan hệ T-H-T’.
Điểm khác nhau cơ bản giữa hai hình thức vận động nêu trên thể hiện ở mục đích
của quá trình lưu thông.
Mục đích trong lưu thông hàng hóa giản đơn là giá trị sử dụng.
Mục đích trong lưu thông tư bản là giá trị lớn hơn vì nếu không thu được lượng
giá trị lớn hơn thì sự lưu thông này không có ý nghĩa. Do vậy, tư bản vận động theo
công thức: T-H-T’ (đây là công thức chung của tư bản). Các hình thái tư bản đều vận
động theo công thức này; trong đó T=T+ t (t>0). H – T – H’ T – H – T’ Có quá trình mua và bán Giống nhau
Có “Hàng” và “Tiền”
Có người mua và người bán Bán trước mua sau Mua trước bán sau Mục đích: GTSD (H’) Mục đích: GT (T’) Khác nhau Giới hạn lưu thông: Giới hạn lưu thông: Dừng lại Tiếp tục vận động Bảng so sánh 2 công thức
Nguồn gốc của giá trị thặng dư
Số tiền trội ra lớn hơn được gọi là giá trị thặng dư; số tiền ứng ra ban đầu với
mục đích thu được giá trị thặng dư trở thành tư bản. Tiền biến thành tư bản khi được
dùng để mang lại giá trị thặng dư. Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư.
Việc mua, bán hàng hóa thấp hơn hoặc bằng giá trị sẽ không có giá trị tăng thêm,
nếu người mua hàng hóa để bán hàng hóa đó cao hơn giá trị thì chỉ được lợi xét về
người bán, nhưng xét về người mua thì lại bị thiệt. Trong nền kinh tế thị trường, mỗi
người đều đóng vai trò là người bán và đồng thời cũng là người mua. Do đó, nếu được 5
lợi khi bán thì lại bị thiệt khi mua. Lưu thông (mua, bán thông thường) không tạo ra
giá trị tăng thêm xét trên phạm vi xã hội.
Nhà tư bản đã mua được một loại hàng hóa đặc biệt nào đó mà trong quá trình sử
dụng loại hàng hóa này, giá trị của nó không những được bảo tồn mà còn tạo ra được
giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó. Đó là hàng hóa sức lao động.
1.1.2. Hàng hóa - sức lao động
C. Mác viết: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực
thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và được
người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”.
Hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
-Người lao động được tự do về thân thể để có thể bán quyền sử dụng sức lao
động trong 1 thời gian nhất định.
-Người lao động không có đủ các tư liệu sản xuất cần thiết để tư kết hợp với sức
lao động của mình tạo ra hàng hóa để bán, cho nên họ phải bán sức lao động.
Thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính gồm: giá trị và giá trị sử dụng.
Giá trị của hàng hóa sức lao động cũng do số lượng lao động xã hội cần thiết để
sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định.
Sức lao động chỉ tồn tại như năng lực con người sống muốn tái sản xuất ra năng
lực đó người lao động phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định.
Do vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ
được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh
hoạt ấy. Diễn đạt theo cách khác, giá trị của hàng hóa sức lao động được đo lường gián
tiếp thông qua lượng giá trị của các tư liệu sinh hoạt để tái sản xuất ra sức lao động.
Giá trị của hàng hóa sức lao động do các bộ phận sau đây hợp thành:
-Một là, giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết (cả vật chất, tinh thần) để tái sản xuất ra sức lao động;
-Hai là, phí tổn đào tạo người lao động;
-Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết (vật chất và tinh thần) để nuôi
gia đình của người lao động.
Nếu đúng theo nguyên tắc ngang giá trong nền kinh tế thị trường thì giá cả của
hàng hóa sức lao động phải phản ánh lượng giá trị nêu trên. 6
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của người mua.
Người mua hàng hóa sức lao động mong muốn thỏa mãn nhu cầu có được giá trị
lớn hơn, giá trị tăng thêm. Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động được thể hiện
trong quá trình sử dụng sức lao động.
Sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt, mang yếu tố tinh thần và lịch sử. Giá
trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính năng đặc biệt mà không hàng hóa thông
thường nào có được, đó là trong khi sử dụng nó, không những giá trị của nó được bảo
tồn mà còn tạo ra được lượng giá trị lớn hơn. Đây chính là chìa khóa chỉ rõ nguồn gốc
của giá trị lớn hơn giá trị thặng dư nêu trên do hao phí sức lao động mà có, giúp giải
quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản.
1.1.3. Sự sản xuất giá trị thặng dư
Quá trình sản xuất giá trị thặng dư là sự thống nhất của quá trình tạo ra và làm tăng giá trị.
Để có được giá trị thặng dư, nền sản xuất xã hội phải đạt đến một trình độ nhất
định. Trình độ đó phản ánh việc người lao động chỉ phải hao phí một phần thời gian
lao động (trong thời gian lao động đã được thỏa thuận mua bán theo nguyên tắc ngang
giá) là có thể bù đắp được giá trị hàng hóa sức lao động, bộ phận này là thời gian lao động tất yếu.
Ngoài thời gian tất yếu đó, vẫn trong nguyên tắc ngang giá đã thỏa thuận, người
lao động phải làm việc trong sự quản lý của người mua hàng hóa sức lao động và sản
phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản, thời gian đó là thời gian lao động thặng dư.
Giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công
nhân tạo ra, là kết quả của lao động không công của công nhân cho nhà tư bản. Ký
hiệu giá trị thặng dư là m. Sở dĩ được gọi là dôi ra vì người lao động chỉ cần một phần
nhất định thời gian hao phí sức lao động đã được thỏa thuận theo nguyên tắc ngang giá
là đã đủ để bù đắp giá trị hàng hóa sức lao động của mình. Thỏa thuận này được phản
ánh ở một bản hợp đồng lao động giữa người mua và người bán hàng hóa sức lao
động. Tất nhiên, trên thực tế trong nền kinh tế thị trường, thỏa thuận này rất khó đạt
được mức ngang giá, nghĩa là tiền công của người bán sức lao động rất khó phản ánh
lượng giá trị đầy đủ theo ba yếu tố cấu thành giá trị. 7
Trong trường hợp việc quản lý doanh nghiệp cũng do người lao động được thuê
thì giá trị mới là thuần túy do lao động làm thuê tạo ra. Còn trong trường hợp người
mua hàng hóa sức lao động phải hao phí sức lao động dưới dạng quản lý thì giá trị mới
đó cũng có sự đóng góp một phần từ lao động quản lý với tư cách là lao động phức
tạp. Trên thực tế, đa số người mua sức lao động cũng phải tham gia quản lý và hao phí sức lao động.
Như vậy, đến đây có thể khái quát: tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư.
Quá trình sản xuất giá trị thặng dư, xét từ phía nhà tư bản, là quá trình ứng ra và
sử dụng tư bản với tư cách là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Để tiến hành sản xuất,
nhà tư bản phải ứng tư bản ra mua tư liệu sản xuất và sức lao động.
Để khẳng định rõ hơn nguồn gốc của giá trị thặng dư là do hao phí sức lao động
tạo ra, cần phân tích vai trò của tư liệu sản xuất trong mối quan hệ với người lao động
trong quá trình làm tăng giá trị. Việc phân tích này được C. Mác nghiên cứu dưới nội
hàm của hai thuật ngữ: tư bản bất biến và tư bản khả biến.
1.1.4. Tư bản bất biến và tư bản khả biến
Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản cần mua tư liệu sản xuất và hàng hóa sức lao
động. Tư bản bất biến - bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị
được lao động cụ thể của công nhân làm thuê bảo tồn và chuyển nguyên vẹn vào giá trị
sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi trong quá trình sản xuất, được C. Mác gọi là tư
bản bất biến (ký hiệu là c).
Tư bản bất biến không tạo ra giá trị thặng dư nhưng là điều kiện cần thiết để quá
trình tạo ra giá trị thặng dư được diễn ra.
Máy móc, nguyên, nhiên, vật liệu là điều kiện để cho quá trình làm tăng giá trị
được diễn ra. Không có máy móc, không có quá trình tổ chức kinh doanh thì đương
nhiên không có quá trình sản xuất giá trị thặng dư.
Ngày nay, máy móc được tự động hóa như người máy, thì người máy cũng chỉ có
vai trò là máy móc, chừng nào việc sử dụng sức lao động còn có lợi hơn cho người
mua hàng hóa sức lao động so với sử dụng người máy, thì chừng đó nhà tư bản còn sử
dụng sức lao động sống của người bán sức lao động làm thuê.
Tuy nhiên, cần lưu ý, việc ứng dụng thiết bị công nghệ tiên tiến vào sản xuất là
tiền đề để tăng năng suất lao động xã hội, do đó, máy móc, công nghệ tiên tiến rất cần
thiết cho quá trình làm tăng giá trị. 8
Tư bản khả biến - bộ phận tư bản dùng để mua hàng hóa sức lao động thì khác.
Giá trị của nó được chuyển cho công nhân làm thuê, biến thành tư liệu sinh hoạt cần
thiết và mất đi trong quá trình tái sản xuất sức lao động của công nhân làm thuê. Tuy
nhiên, trong quá trình sản xuất, công nhân làm thuê bằng lao động trừu tượng tạo ra
giá trị mới với lượng lớn hơn giá trị sức lao động.
C. Mác kết luận: Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái sức lao động không tái
hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng của công nhân làm thuê mà tăng lên, tức
là biến đổi về số lượng trong quá trình sản xuất, được Mác gọi là tư bản khả biến (ký hiệu là v).
Như vậy, đến đây, nếu gọi G là giá trị hàng hóa thì có thể công thức hóa về giá trị
hàng hóa dưới dạng như sau: G = c + (v+m) Trong đó:
(v+m) là bộ phận giá trị mới của hàng hóa, do hao phí lao động tạo ra;
c là giá trị của những tư liệu sản xuất đã được tiêu dùng, là bộ phận lao động quá
khứ đã được kết tinh trong máy móc, nguyên, nhiên, vật liệu. Bộ phận này được
chuyển vào giá trị sản phẩm mới.
Sự phân chia thành tư bản bất biến và tư bản khả biến có ý nghĩa quan trọng vì
giúp vạch rõ nguồn gốc duy nhất của giá trị thặng dư là do lao động không công của
người công nhân tạo ra. Tư bản bất biến tuy không trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư
nhưng nó có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, quyết định năng suất lao động của công nhân. 1.1.5. Tiền công
Tiền công đó chính là giá cả của hàng hóa sức lao động. Và với bản chất của giá
trị mới như nêu trên, thì tiền công là do chính hao phí sức lao động của người lao động
làm thuê tạo ra, nhưng nó lại thường được hiểu là do người mua sức lao động trả cho
người lao động làm thuê.
Cứ sau một thời gian lao động nhất định, người lao động làm thuê được trả một
khoản tiền công nhất định. Điều đó thậm chỉ làm cho người lao động cũng nhầm hiểu
là người mua sức lao động đã trả công cho mình. 9
Trái lại, nguồn gốc của tiền công chính là do hao phí sức lao động của người lao
động làm thuê tự trả cho mình thông qua sổ sách của người mua hàng hóa sức lao động mà thôi.
Cần nhấn mạnh điểm này để người lao động cũng như người chủ mua hàng hóa
sức lao động phải đặt địa vị của mỗi bên trong một quan hệ lợi ích thống nhất. Nếu tự
khởi nghiệp, lập doanh nghiệp và mua hàng hóa sức lao động thì cũng cần phải đối xử
với người lao động thực trách nhiệm vì người lao động đang là nguồn gốc cho sự giàu
có của mình. Trái lại, nếu phải bán hàng hóa sức lao động thì cần phải biết bảo vệ lợi
ích của bản thân trong quan hệ lợi ích với người mua hàng hóa sức lao động.
Lưu ý, khi khẳng định nguồn gốc của giá trị thặng dư là do lao động của người
lao động làm thuê hao phí tạo ra thì không có nghĩa là người mua hàng hóa sức lao
động đã thu được ngay giá trị thặng dư dưới dạng hình thái tiền.
Trái lại, để thu được giá trị thặng dư dưới hình thái tiền, C.Mác gọi là thực hiện
giá trị thặng dư, thì hàng hóa được sản xuất ra ấy phải được bán đi, nghĩa là nó phải
được thị trường chấp nhận. Khi hàng hóa không bán được, chủ doanh nghiệp sẽ bị phá sản.
Vì vậy, C.Mác nhấn mạnh, để có giá trị thặng dư, nhà tư bản không những cần
phải thực hiện quá trình sản xuất giá trị thặng dư, mà còn cần phải chuẩn bị các điều
kiện cần thiết cho quá trình đó và thực hiện giá trị, giá trị thặng dư chứa đựng trong
những hàng hóa đã được sản xuất ra. Tổng thể những hoạt động đó biểu hiện-sự vận
động tuần hoàn của tư bản.
Tiền công che đậy mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động thành thời gian
lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư, do đó tiền công che đậy mất bản chất
bóc lột của chủ nghĩa tư bản.
1.1.6. Tuần hoàn và chu chuyển của tư bản
Sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất biện chứng giữa quá trình sản xuất và
quá trình lưu thông. Lưu thông của tư bản, theo nghĩa rộng, là sự vận động của tư bản,
nhờ đó mà tư bản lớn lên và thu được giá trị thặng dư, cũng tức là sự tuần hoàn và chu chuyển của tư bản.
a) Tuần hoàn của tư bản.
Tư bản công nghiệp (với nghĩa các ngành sản xuất vật chất), trong quá trình tuần
hoàn đều vận động theo công thức: 10
Sự vận động này trải qua ba giai đoạn: hai giai đoạn lưu thông và một giai đoạn sản xuất.
-Giai đoạn thứ nhất - giai đoạn lưu thông:
Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường các yếu tố sản xuất để mua tư liệu sản xuất và sức lao động.
Quá trình lưu thông đó được biểu thị như sau:
Giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản tiền tệ, chức năng giai đoạn
này là mua các yếu tố cho quá trình sản xuất, tức là biến tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất.
-Giai đoạn thứ hai – giai đoạn sản xuất:
Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản sản xuất (TBSX), có
chức năng thực hiện sự kết hợp hai yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động để sản xuất
ra hàng hóa là trong giá trị của nó có giá trị thặng dư. Trong các giai đoạn tuần hoàn
của tư bản thì giai đoạn sản xuất có ý nghĩa quyết định nhất, vì nó gắn trực tiếp với
mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Kết thúc của giai đoạn thứ hai là tư bản sản xuất chuyển hóa thành tư bản hàng hóa.
-Giai đoạn thứ ba – giai đoạn lưu thông: H’ – T’
Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản hàng hóa, chức năng là
thực hiện giá trị của khối lượng hàng hóa đã sản xuất ra trong đó đã bao hàm một
lượng giá trị thặng dư. Trong giai đoạn này, nhà tư bản trở lại thị trường với tư cách là
người bán hàng. Hàng hóa của nhà tư bản được chuyển hóa thành tiền. 11
Kết thúc giai đoạn thứ ba, tư bản hàng hóa chuyển hóa thành tư bản tiền tệ. Đến
đây, mục đích của nhà tư bản đã được thực hiện, tư bản quay trở lại hình thái ban đầu
trong tay chủ của nó nhưng với số lượng lớn hơn trước.
Sự vận động của tư bản qua ba giai đoạn nói trên là sự vận động có tính tuần
hoàn: tư bản ứng ra dưới hình thái tiền và rồi đến khi quay trở về cũng dưới hình thái
tiền có kèm theo giá trị thặng dư. Quá trình đó tiếp tục được lặp đi, lặp lại không
ngừng gọi là sự vận động tuần hoàn của tư bản.
Vậy, tuần hoàn của tư bản là sự vận động liên tục của tư bản trải qua ba giai
đoạn, lần lượt mang ba hình thái khác nhau, thực hiện ba chức năng khác nhau để rồi
lại quay trở về hình thái ban đầu có kèm theo giá trị thặng dư.
Điều kiện để tuần hoàn của tư bản được diễn ra một cách bình thường: Tuần hoàn
của tư bản chỉ có thể tiến hành bình thường trong điều kiện các giai đoạn khác nhau
của nó không ngừng được chuyển tiếp. Mặc khác, tư bản phải nằm lại ở mỗi gia đoạn
tuần hoàn trong một thời gian nhất định. Hay nói cách khác, tuần hoàn của tư bản chỉ
tiến hành một cách bình thường khi hai điều kiện sau đây được thỏa mãn: một là, các
giai đoạn của chúng diễn ra liên tục; hai là, các hình thái tư bản cùng tồn tại và được
chuyển hóa một cách đều đặn. Vì vậy, tư bản là một sự vận động tuần hoàn của tư bản,
là sự vận động liên tục không ngừng.
Phù hợp với ba giai đoạn tuần hoàn của tư bản có ba hình thái của tư bản công
nghiệp: tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất và tư bản hàng hóa.
Để tái sản xuất diễn ra một cách bình thường thì tư bản xã hội cũng như từng tư
bản cá biệt đều tồn tại cùng một lúc dưới cả ba hình thái. Ba hình thái của tư bản
không phải là ba loại tư bản khác nhau, mà là ba hình thái của một tư bản công nghiệp
biểu hiện trong quá trình vận động của nó. Song cũng trong quá trình vận động ấy đã
chứa đựng khả năng tách rời của ba hình thái tư bản. Trong quá trình phát triển của
chủ nghĩa tư bản, khả năng tách rời đó đã làm xuất hiện tư bản thương nghiệp và tư
bản cho vay, hình thành các tập đoàn khác trong giai cấp tư bản: chủ công nghiệp, nhà
buôn, chủ ngân hàng, v.v. chia nhau giá trị thặng dư.
Nghiên cứu tuần hoàn của tư bản là nghiên cứu mặt chất trong sự vận động của
tư bản, còn mặt lượng của sự vận động được nghiên cứu ở chu chuyển của tư bản.
b) Chu chuyển của tư bản 12
Sự tuần hoàn của tư bản, nếu xét nó với tư cách là một quá trình định kỳ đổi mới
và thường xuyên lặp đi lặp lại thì gọi là chu chuyển của tư bản. Những tư bản khác
nhau chu chuyển với vận tốc khác nhau tùy theo thời gian sản xuất và lưu thông của
hàng hóa. Thời gian chu chuyển của tư bản bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông.
- Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm ở trong lĩnh vực sản xuất.
Thời gian sản xuất bao gồm: thời gian lao động, thời gian gián đoạn lao động và
thời gian dự trữ sản xuất. Thời gian sản xuất của tư bản dài hay ngắn là do tác động
của nhiều nhân tố như: tính chất của ngành sản xuất; quy mô hoặc chất lượng các sản
phẩm: sự tác động của quá trình tự nhiên đối với sản xuất; năng suất lao động và tình
trạng dự trữ các yếu tố sản xuất.
- Thời gian lưu thông là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông. Trong
thời gian lưu thông, tư bản không làm chức năng sản xuất, do đó không sản xuất ra
hàng hóa, cũng không sản xuất ra giá trị thặng dư. Thời gian lưu thông gồm có thời
gian mua và thời gian bán hàng hóa. Thời gian lưu thông dài hay ngắn phụ thuộc các
nhân tố sau đây: thị trường xa hay gần, tình hình thị trường xấu hay tốt, trình độ phát
triển của vận tải và giao thông.
Thời gian chu chuyển của tư bản càng rút ngắn thì càng tạo điều kiện cho giá trị
thặng dư được sản xuất ra nhiều hơn, tư bản càng lớn nhanh hơn.
Các loại tư bản khác nhau hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau thì số vòng
chu chuyển không giống nhau. Để so sánh tốc độ vận động của các tư bản khác nhau,
người ta tính số vòng chu chuyển của các loại tư bản đó trong một thời gian nhất định.
Tốc độ chu chuyển của tư bản là số vòng (lần) chu chuyển của tư bản trong một
năm. Ta có công thức số vòng chu chuyển của tư bản như sau: n = CH/ch
Trong đó: (n) là số vòng (hay lần) chu chuyển của tư bản; (CH) là thời gian trong
năm; (ch) là thời gian cho 1 vòng chu chuyển của tư bản.
Ví dụ: Một tư bản có thời gian 1 vòng chu chuyển là 6 tháng thì tốc độ chu chuyển trong năm là:
n = 12 tháng / 6 tháng = 2 vòng 13
Như vậy, tốc độ chu chuyển của tư bản tỷ lệ nghịch với thời gian 1 vòng chu
chuyển của tư bản. Muốn tăng tốc độ chu chuyển của tư bản phải giảm thời gian sản
xuất và thời gian lưu thông của nó.
1.1.7. Tư bản cố định và tư bản lưu động
Các bộ phận khác nhau của tư bản sản xuất không chu chuyển giống nhau. Căn
cứ vào phương thức chu chuyển khác nhau của từng bộ phận tư bản, người ta chia tư
bản sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động.
Tư bản cố định là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng máy móc, thiết bị,
nhà xưởng,... tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó bị khấu hao
từng phần và được chuyển dần từng phần theo mức độ hao mòn của nó trong thời gian sản xuất
Tư bản cố định được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất và nó bị hao
mòn dần trong quá trình sản xuất. Có hai loại hao mòn là hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình:
Hao mòn hữu hình là hao mòn về vật chất, hao mòn về cơ học có thể nhận thấy.
Hao mòn hữu hình do quá trình sử dụng và sự tác động của tự nhiên làm cho các bộ
phận của tư bản cố định dần dần hao mòn đi tới chỗ hỏng và phải được thay thế.
Hao mòn vô hình là sự hao mòn thuần túy về mặt giá trị. Hao mòn vô hình xảy ra
ngay cả khi máy móc còn tốt nhưng bị mất giá vì xuất hiện các máy móc hiện đại hơn,
rẻ hơn hoặc có giá trị tương đương nhưng công suất cao hơn. Để tránh hao mòn vô
hình, các nhà tư bản tìm cách kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động, tăng ca
kíp làm việc, v.v. nhằm tận dụng công suất của máy móc trong thời gian càng ngắn càng tốt.
Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định là một biện pháp quan trọng để tăng
quỹ khấu hao tài sản cố định, làm cho lượng tư bản sử dụng tăng lên, tránh được thiệt
hại hao mòn hữu hình do tự nhiên phá hủy và hao mòn vô hình gây ra. Nhờ đó mà có
điều kiện đổi mới thiết bị nhanh.
Tư bản lưu động là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng nguyên liệu, nhiên,
vật liệu phụ, sức lao động,... giá trị của nó được hoàn lại toàn bộ cho các nhà tư bản
sau mỗi quá trình sản xuất, khi hàng hóa được bán xong.
Tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn tư bản cố định. Việc tăng tốc độ chu
chuyển của tư bản lưu động có ý nghĩa quan trọng. Một mặt, tốc độ chu chuyển của tư 14
bản lưu động tăng lên sẽ làm tăng lượng tư bản lưu động được sử dụng trong năm, do
đó tiết kiệm được tư bản ứng trước; mặt khác, do tăng tốc độ chu chuyển của tư bản
lưu động khả biến làm cho tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư hàng năm tăng lên.
Căn cứ để phân chia tư bản sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động là
phương thức chuyển dịch giá trị khác nhau của từng bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất.
1.2. Bản chất của giá trị thặng dư
Nghiên cứu về nguồn gốc của giá trị thặng dư trên đây cho chúng ta thấy, giá trị
thặng dư, như vậy, là kết quả của sự hao phí sức lao động trong sự thống nhất của quá
trình tạo ra và làm tăng giá trị
Quá trình đó được diễn ra trong quan hệ xã hội giữa người mua hàng hóa sức lao
động với người bán hàng hóa sức lao động. Do đó, nếu giả định xã hội chỉ có hai giai
cấp, là giai cấp tư sản và giai cấp công nhân, thì giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị
trường tư bản chủ nghĩa mang bản chất kinh tế - xã hội là quan hệ giai cấp. Trong đó,
giai cấp các nhà tư bản làm giàu dựa trên cơ sở thuê mướn lao động của giai cấp công
nhân. Ở đó, mục đích của nhà tư bản là giá trị thặng dư, người lao động làm thuê phải
bán sức lao động cho nhà tư bản ấy.
Sinh thời, chứng kiến cảnh người lao động bị áp bức lao động với tiền công rẻ
mạc, trong khi nhà tư bản thì không ngừng giàu có, C.Mác nhận thấy có một sự bất
công sâu sắc về mặt xã hội. C.Mác gọi đó là quan hệ bóc lột, mặc dù về kinh tế, nhà tư
bản không vi phạm quy luật kinh tế về trao đổi ngang giá (ví dụ về sự sản xuất giá trị
thặng dư nêu trên cho thấy, nhà tư bản đã trả cho công nhân đúng bằng giá trị hàng hóa
sức lao động, nhà tư bản tuân thủ quy luật giá trị).
Sự giải thích khoa học của C.Mác ở đây đã vượt hẳn so với các nhà kinh tế trước
đó. Tính khoa học thể hiện ở chỗ, C.Mác đã mô tả được một thực tế, nhà tư bản đã
không vi phạm quy luật kinh tế về trao đổi ngang giá thông qua ký hợp đồng thỏa
thuận với người lao động làm thuê, song trong trao đổi ngang giá đó, giá trị thặng dư
vẫn được tạo ra cho nhà tư bản bằng lao động sống chứ không phải do máy móc sinh
ra. Trong điều kiện ngày nay, quan hệ đó vẫn đang diễn ra nhưng với trình độ và mức
độ rất khác, rất tinh vi và dưới hình thức văn minh hơn so với cách mà nhà tư bản đã
từng thực hiện trong thế kỉ XIX. 15
Tỷ suất giá trị thặng dư
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư
bản khả biến tương ứng để sản xuất ra giá trị thặng dư đó. Công thức tính tỷ suất giá trị thặng dư là: m’ = m/V x 100(%)
Trong đó: m’ là tỷ suất giá trị thặng dư; m là giá trị thặng dư V là tư bản khả biến.
Tỷ suất giá trị thặng dư cũng có thể tính theo tỷ lệ phần trăm giữa thời gian lao
động thặng dư (t’) và thời gian lao động tất yếu (t). m' = m/V x 100(%)
Khối lượng giá trị thặng dư là lượng giá trị thặng dư bằng tiền mà nhà tư bản thu
được. Công thức tính khối lượng giá trị thặng dư là: M = m'. V
Trong đó : M là khối lượng giá trị thặng dư,
V là tổng tư bản khả biến
Tỷ suất giá trị thặng dư phản ánh trình độ khai thác sức lao động làm thuê; khối
lượng giá trị thặng dư phản ánh quy mô giá trị thặng dư mà chủ sở hữu tư liệu sản xuất thu được.
1.3. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
1.3.1. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài tuyệt đối ngày
lao động ra khỏi giới hạn của thời gian lao động cần thiết.
Ví dụ, nếu ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động cần thiết là 4 giờ và thời
gian lao động thặng dư là 4 giờ; giả định mỗi giờ người công nhân tạo ra được một giá
trị mới là 100.000 đ thì tỷ suất giá trị thặng dư là: m’ = 4giờ x 100% = 100% 4giờ
và khối lượng giá trị thặng dư tuyệt đối thu được sẽ là:
M = t’ x 100.000 đ = 4 giờ x 100.000 đ = 400.000 đ
Muốn bóc lột được nhiều giá trị thặng dư tuyệt đối, nhà tư bản đã kéo dài ngày
lao động. Giả sử ngày lao động kéo dài thêm 2 giờ nữa và mọi điều kiện khác không
đổi thì tỷ suất giá trị thặng dư là: 16 m’ = 6giờ x 100% = 150% 4giờ
và khối lượng giá trị thặng dư tuyệt đối thu thêm được là:
2 giờ x 100.000 đ = 200.000 đ.
Để thu được nhiều giá trị thặng dư, nhà tư bản tìm cách kéo dài ngày lao động
nhưng gặp phải những giới hạn nhất định. Công nhân cần phải có thời gian để ăn, ngủ,
nghỉ ngơi... nhằm khôi phục lại khả năng lao động nên nhà tư bản không thể kéo dài
ngày lao động quá mức được. Hơn nữa, công nhân thường đấu tranh đòi rút ngắn ngày
lao động. Tuy nhiên, ngày lao động cũng không thể rút ngắn đến mức chỉ bằng thời
gian lao động cần thiết vì như thế sẽ không có giá trị thặng dư và không còn CNTB.
Giá trị thặng dư tuyệt đối có thể thu được bằng cách tăng cường độ lao động.
Cường độ lao động tăng lên cũng tương tự như kéo dài thời gian lao động vì chúng
đều làm tăng hao phí sức lao động của công nhân và từ đó làm tăng giá trị thặng dư.
1.3.2. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao
động cần thiết, nhờ đó mà kéo dài thời gian lao động thặng dư một cách tương ứng,
trong khi giới hạn của ngày lao động không thay đổi.
Trở lại ví dụ trên, ngày lao động 8 giờ, với 4 giờ lao động cần thiết và 4 giờ lao
động thặng dư thì m’ = 100%, và lượng giá trị thặng dư là 400.000 đ. Nếu độ dài của
ngày lao động không đổi, vẫn 8 giờ, nhưng thời gian cần thiết rút ngắn từ 4 giờ xuống
3 giờ thì thời gian thặng dư do đó kéo dài từ 4 giờ lên 5 giờ, thì m’ sẽ tăng từ 100% lên: m’ = 5giờ x 100% = 167% 3giờ
Thời gian lao động thặng dư tăng thêm 1 giờ, nhà tư bản có thêm 100.000 đ. Đó
là giá trị thặng dư tương đối.
Thực chất của việc sản xuất giá trị thặng dư tương đối là sự thay đổi tỷ lệ giữa
thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư. Cụ thể là rút ngắn thời
gian lao động cần thiết bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó mà tăng thêm
thời gian lao động không công cho nhà tư bản. Vì giá trị sức lao động do giá trị những
tư liệu tiêu dùng của công nhân và con cái họ quyết định cho nên muốn hạ thấp giá trị
sức lao động thì phải dựa vào tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra
những tư liệu tiêu dùng của công nhân. 17
Sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp bóc lột tinh vi vì công nhân
không thấy được là mình bị bóc lột. Tuy vậy, giá trị thặng dư tương đối vẫn chưa phải
là mục đích trực tiếp của nhà tư bản vì giá trị sức lao động do giá trị của nhiều loại
hàng hoá quyết định nên một nhà tư bản cá biệt không thể hạ thấp giá trị sức lao động
của công nhân được. Mục đích trực tiếp của nhà tư bản là giá trị thặng dư siêu ngạch. 18
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ ĐỂ ĐỀ
XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP SUNHOUSE
2.1. Tổng quan doanh nghiệp
2.1.1. Giới thiệu chung về Sunhouse
Sunhouse Group (tên đầy đủ: Công ty Cổ phần Tập đoàn Sunhouse, tiếng Anh:
Sunhouse Group, JSC) là công ty chuyên về các thiết bị gia dụng được thành lập tại
Việt Nam ngày 22 tháng 5 năm 2000. Tên ban đầu của doanh nghiệp này là Công ty
trách nhiệm hữu hạn Quốc Việt, tới năm 2010, công ty lấy tên như hiện tại.
Trong thời gian qua, Công ty cổ phần Tập đoàn SUNHOUSE đã vinh dự nhận
được Giải thưởng Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao cho nhóm hàng Kim khí Gia dụng.
Khi nhận được giải thưởng này, nhà máy sản xuất của SUNHOUSE tại Việt Nam nghĩ
rằng có thể sử dụng logo Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao trên tất cả các sản phẩm do
SUNHOUSE sản xuất tại Việt Nam gồm: nồi, chảo, nồi cơm điện.
Công ty cổ phần Tập đoàn Sunhouse là Tập đoàn lớn nhất Việt Nam chuyên sản
xuất và cung cấp trên thị trường các sản phẩm như đồ gia dụng, thiết bị nhà bếp, điện
lạnh, điện tử, máy lọc nước, điện dân dụng, thiết bị điện công nghiệp, điện gia dụng.
Hiện SUNHOUSE đang sở hữu 7 cụm nhà máy tại địa chỉ Khu Công nghiệp
Ngọc Liệp, đại lộ Thăng Long, Quốc Oai, Hà Nội.
Công ty cổ phần Tập đoàn Sunhouse là Tập đoàn lớn nhất Việt Nam chuyên sản
xuất và cung cấp trên thị trường các sản phẩm như đồ gia dụng, thiết bị nhà bếp, điện
lạnh, điện tử, máy lọc nước, điện dân dụng, thiết bị điện công nghiệp, điện gia dụng.
Ngoài ra, hãng còn có những dòng sản phẩm được sản xuất theo hình thức kinh
doanh OEM, đặt tại Trung Quốc. Hay những mặt hàng nhập khẩu Thái Lan, Hàn Quốc
được dán tem, ghi rõ nguồn gốc.
2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển Lịch sử hình thành
Công ty Cổ phần Tập đoàn SUNHOUSE tiền thân là Công ty TNHH Phú Thắng
được thành lập ngày 22/5/2000. Năm 2010, SUNHOUSE chính thức được lấy tên là
Công ty Cổ phần Tập đoàn SUNHOUSE, đầu tư vào nhiều lĩnh vực đa dạng (hàng gia
dụng, điện gia dụng, thiết bị nhà bếp, thiết bị điện công nghiệp, máy lọc nước, thiết bị
chiếu sáng…). Sau 20 năm hình thành và phát triển, Tập đoàn SUNHOUSE đã gia 19
nhập nhóm doanh nghiệp nghìn tỷ với doanh thu tăng trưởng bình đều đặn bình quân 25-30%.
SUNHOUSE không chỉ là cánh chim đầu đàn của ngành gia dụng Việt Nam mà
còn đang vươn tầm quốc tế, khẳng định tên tuổi tại nhiều thị trường khó tính. Với
mạng lưới 60.000 điểm bán, sản xuất kinh doanh hơn 500 nhóm sản phẩm gia dụng
thiết yếu, sản phẩm SUNHOUSE đã có mặt tại toàn bộ hệ thống siêu thị, trung tâm
thương mại, các cửa hàng truyền thống…trên 63 tỉnh thành Việt Nam; bước đầu đã
vươn ra các thị trường nước ngoài như Campuchia, Lào, Myanmar, Ai Cập, Thổ Nhĩ
Kỳ và thậm chí ngay cả các thị trường khó tính như Hong Kong, Brazil và Canada, Mexico…
Từ một doanh nghiệp nhỏ, nhờ sự nỗ lực hết mình của toàn thể CBCNV Tập
đoàn; sự kề vai sát cánh của quý khách hàng, quý đối tác; cùng tầm nhìn chiến lược rõ
ràng của Ban lãnh đạo, quan điểm phát triển bền vững và khát vọng vươn xa,
SUNHOUSE đã không ngừng trưởng thành và lớn mạnh. Trong 20 năm qua, Tập đoàn
SUNHOUSE vinh dự nhận được nhiều giải thưởng, chứng nhận danh giá như
"Thương hiệu quốc gia 2018, 2020"; "Hàng Việt Nam chất lượng cao" từ 2015 - 2020;
"Hàng Việt Nam được người tiêu dùng yêu thích", "Tin & Dùng"… trong nhiều năm liên tiếp.
Điều này là minh chứng cho những nỗ lực không ngừng nghỉ của Tập đoàn
SUNHOUSE trong việc đem đến cho người tiêu dùng những sản phẩm chất lượng,
phù hợp với nhu cầu và khả năng chi tiêu. Không chỉ phục vụ khách hàng trong nước,
sản phẩm của SUNHOUSE còn được xuất khẩu đi nhiều thị trường khó tính khác như
Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Châu Âu, Mexico...
Được đánh giá là một trong những Tập đoàn tư nhân lớn mạnh, có chiến lược
phát triển bền vững cùng tiềm lực hội nhập quốc tế SUNHOUSE đã làm nên những
điều kỳ diệu để tôn vinh thương hiệu Việt. Trên nền tảng những thành tích đã đạt được;
bằng sự đoàn kết, nỗ lực của toàn bộ CBCNV; niềm tự hào thương hiệu Việt và khát
vọng vươn xa, Tập đoàn SUNHOUSE đặt mục tiêu trở thành thương hiệu toàn cầu với
doanh thu trên 10.000 tỷ vào năm 2025, mở rộng thị trường xuất khẩu và khẳng định
tên tuổi trên bản đồ gia dụng thế giới.
Chưa hết người lãnh đạo của Tập đoàn Sunhouse, cũng chính là người sáng lập
thương hiệu là doanh nhân Nguyễn Xuân Phú hay còn gọi là Shark Phú. Hiện ông