












Preview text:
lOMoAR cPSD| 61457685
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề tài: “Quan điểm biện chứng duy vật về mối quan hệ biện chứng giữa
bản chất và hiện tượng và ý nghĩa của việc nghiên cứu quan điểm đó trong
nghiên cứu, học tập của sinh viên”
Họ và tên: Đoàn Bảo Khiêm Mã số sinh viên: 28 Lớp TC: LLNL1105(122)_15
GV hướng dẫn: TS. Lê Thị Hồng
Hà Nội, tháng 01 năm 2023 lOMoAR cPSD| 61457685 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
NỘI DUNG ..................................................................................................................... 3
Chương 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về bản chất và hiện tượng ................. 3
1.1. Khái niệm bản chất và ví dụ ..................................................................................... 3
1.2. Khái niệm hiện tượng và ví dụ ................................................................................. 3
1.3. Mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng ................................................................ 3
1.3.1. Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng ........................................................... 3
1.3.2. Tính mâu thuẫn của sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng ........................... 4
1.4.Ý nghĩa phương pháp luận ........................................................................................ 5
Chương 2. Vận dụng mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng vào đời sống thực tiễn
......................................................................................................................................... 6
của sinh viên hiện nay ..................................................................................................... 6
2.1. Sự thống nhất và mâu thuẫn giữa học tập nghiên cứu và rèn luyện ........................ 6
2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả học tập nghiên cứu ..................................................... 8
KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 9
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 10 lOMoAR cPSD| 61457685 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thực tế trong cuộc sống, chúng ta thấy rằng khi xem xét bất kỳ sự vật, hiện tượng
nào xảy ra trong tự nhiên và xã hội đều có những khía cạnh bên ngoài mà giác quan con
người có thể nhận thức và đánh giá chính xác được. Nhưng bên cạnh đó cũng có những
khía cạnh, những mối liên hệ bên trong bị ẩn đi đằng sau sự vật mà chỉ có thể dùng nhận
thức lý tính hay còn gọi là tư duy trừu tượng để phân tích thật kỹ mới có thể kết luận
chính xác được. Các khía cạnh xuất hiện bên ngoài được gọi là hiện tượng, và những
khía cạnh bên trong được gọi là bản chất. Trên thực tế, mọi sự vật và mọi quá trình luôn
tồn tại hai khía cạnh này và chúng luôn vận động và phát triển cùng nhau.
Vì vậy, khi xem xét các sự vật, quá trình trong tự nhiên và xã hội, chúng ta cần
phân biệt được đâu là bản chất, đâu là hiện tượng để tránh nhầm lẫn dẫn đến nhìn nhận
sai về sự vật và quá trình đó. Quá trình từ bản chất đến hiện tượng giúp con người rút ra
những kết luận đúng đắn nhất. Vì vậy muốn nhận thức một cánh chính xác về đối tượng
thì không nên dừng lại ở vài hiện tượng đơn lẻ mà cần phải phân tích, tổng hợp nhiều
hiện tượng một cách chặt chẽ để tìm ra bản chất thực sự của nó. Và khi đã hiểu được
định nghĩa về bản chất và hiện tượng, chúng ta lại đặt ra một câu hỏi: Nó có ý nghĩa như
thế nào khi vận dụng vào thực tế ? Đó là lý do nhóm chúng em chọn của đề tài sau:
“Quan điểm biện chứng duy vật về mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện
tượng và ý nghĩa của việc nghiên cứu quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của
sinh viên” làm chủ đề cho bài tập luận của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong tổng quan tình hình nghiên cứu, nhóm chúng em tập trung vào nghiên cứu
Triết học Mác Lênin, phép biện chứng duy vật nói chung và cặp phạm trù bản chất và
hiện tượng nói riêng. Đồng thời tập trung nghiên cứu chính cuộc sống học tập, tình cảm
làm việc, mối quan hệ của bản thân các thành viên trong nhóm nói riêng và các bạn sinh viên nói chung.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi đề tài3.1.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là hiểu được cặp phạm trù bản chất và hiện tượng của
phép biện chứng duy vật. Từ đó vận dụng vào thực tiễn cuộc sống học tập làm việc của
sinh viên. Góp phần nâng cao hiệu quả học tập, làm việc của sinh viên.
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Phân tích cặp phạm trù “Bản chất và hiện tượng”. Hiểu được bản chất là gì và hiện
tượng là gì, có thể tìm được những ví dụ cụ thể để minh họa cho phần lý luận đã được
học. Tiếp được mối quan hệ đấu tranh và thống nhất giữa bản chất và hiện tượng.
Tìm hiểu thực trạng những vấn đề khó khăn, những trải nghiệm thực tế của sinh
viên trong quá trình học tập, rèn luyện, nghiên cứu; trong tình yêu đời sống tinh thần;
trong quá trình giao tiếp và các mối quan hệ. lOMoAR cPSD| 61457685
Đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của sinh viên đối
với vấn đề học tập, tình yêu, công việc của mình.
3. 3.Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề những khó khăn, những tình huống mà
bản thân mỗi sinh viên gặp phải trong vấn đề học tập, nghiên cứu, việc làm, các mối
quan hệ trong cuộc sống hàng ngày trong giai đoạn hiện nay
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương pháp luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để thực
hiện luận án là: phương pháp lịch sử và logic; thống kê, tổng hợp và phân tích đánh giá;
so sánh đối chiếu; khái quát hóa
5. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài5.1.Ý nghĩa lý luận
Tiểu luận góp phần làm rõ các vấn đề lý luận cặp phạm trù của phép biện chứng
duy vật bản chất và hiện tượng. Đồng thời, chỉ ra thực trạng của những vấn đề mà bản
thân mỗi sinh viên gặp phải trong quá trình học tập, làm việc, phát triển các mối quan
hệ tình cả. Trên cơ sở đó, tìm giải pháp nâng cao hiệu quả hành động của sinh viên
Tiểu luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo để tiếp tục đi sâu nghiên cứu những
xu hướng hành vi, những khó khăn mà sinh viên gặp phải trong cuộc sống học tập, làm
việc, yêu đương hiện nay
5. 2.Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của tiểu luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc
định hướng hành vi cho sinh viên, giải quyết những khó khăn mà sinh viên gặp phải
Tiểu luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy
các các môn liên quan đến tâm lý thái độ của sinh viên .
6. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm ba phần chính: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận.
Trong đó phần nội dung gồm có 2 phần chính:
Chương 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về bản chất và hiện tượng
Chương 2. Vận dụng mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng vào đời sống thực
tiễn của sinh viên hiện nay lOMoAR cPSD| 61457685 NỘI DUNG
Chương 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về bản chất và hiện tượng
1.1. Khái niệm bản chất và ví dụ
Bản chất là phạm trù dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ
tất nhiên, tương đối ổn định bên trong, quy định sự tồn tại, vận động, phát triển của đối
tượng và thể hiện mình qua các hiện tượng tương ứng của đối tượng. Ví dụ như bản chất
của con người là sự tổng hòa của các mối quan hệ xã hội. Do đó, một con người thực sự
phải có các mối quan hệ xã hội. Các mối quan hệ đó rất đa dạng và phong phú chẳng
hạn như quan hệ huyết thống, quan hệ bạn bè, quan hệ đồng nghiệp
Ví dụ như, bản chất của con người là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên
hệ tất nhiên tương đối ổn định bên trong cuộc sống. Nếu bất cứ người nào không có bất
cứ mối quan hệ xã hội nào, dù nhỏ nhất, thì người đó chưa phải là con người theo đúng
nghĩa. Còn những đặc điểm về cấu trúc sinh học của con người như đều có chân tay,
đầu, … đó là cái chung, nhưng không phải là bản chất của con người.
1.2. Khái niệm hiện tượng và ví dụ
Hiện tượng là phạm trù chỉ những biểu hiện của các mặt, các mối liên hệ tất nhiên
tương đối ổn định ở bên ngoài; là mặt dễ biến đổi hơn và là hình thức thể hiện của bản
chất đối tượng. Ta có thể thấy, các hiện tượng xã hội, như hiện tượng kinh tế, chính trị,
tư tưởng, hoặc quan hệ và hoạt động kinh tế của con người hay xã hội, vv... đều là sự
thể hiện bên ngoài của bản chất con người hoặc xã hội.
Ví dụ như màu da cụ thể của một người nào đó là trắng, vàng hay đen… chỉ là hiện
tượng, là vẻ bề ngoài.
Hay hiện tượng của xã hội tư bản là sự mâu thuẫn giữa tính xã hội lực lượng sản
xuất và tính chất chiếm hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất. Hay nói cách khác là sự
mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản.
1.3. Mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng
Bản chất và hiện tượng đều có thực, tồn tại khách quan dù cho con người có nhận
thực được hay không bởi bất kỳ sự vật nào cũng được tạo nên từ những yếu tố nhất định.
Các yếu tố ấy tham gia vào những mối liên hệ qua lại, đan xen chằng chịt với nhau,
trong đó có những mối liên hệ tất nhiên,tương đối ổn định. Bản thân mỗi sự vật đều luôn
tồn tại khách quan. Mà những mối liên hệ đó lại ở bên trong sự vật, tạo nên bản chất của
sự vật. Vậy nên, bản chất tồn tại khách quan. Còn hiện tượng lại là phản ánh của bản
chất biểu hiện ra bên ngoài để chúng ta nhìn thấy, nên hiện tượng cũng tồn tại khách
quan. Bên cạnh đó, quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng còn được thể hiện
rõ nét hơn qua sự mâu thuẫn: tồn tại hai mặt vừa thống nhất, vừa đối lập
1.3.1. Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng.
Nhấn mạnh mối liên hệ không tách rời giữa bản chất và hiện tượng, Lênin viết:
“Bản chất hiện ra. Hiện tượng là có tính bản chất”. Sự thống nhất đó được thể hiện ở chỗ: lOMoAR cPSD| 61457685
Thứ nhất, bản chất bao giờ cũng biểu hiện qua hiện tượng, còn hiện tượng bao giờ
cũng là sự biểu hiện của bản chất. Không có bản chất nào tồn tại một cách thuần túy,
không cần có hiện tượng. Ngược lại cũng không có hiện tượng nào lại không phải là
biểu hiện của bản chất nhất định.
Thứ hai, bất kỳ bản chất nào cũng được bộc lộ qua những hiện tượng tương ứng,
bất kỳ hiện tượng nào cũng là sự bộc lộ của bản chất ở mức độ nào đó nhiều hoặc ít. Nói
cách khác, bản chất và hiện tượng về căn bản phù hợp với nhau. Ví dụ, bản chất của chủ
nghĩa đế quốc là xâm lược, bóc lột nhân dân các nước, gây mất trật tự an ninh về mặt
chính trị. Bản chất đó biểu hiện ở chỗ: viện trợ kinh tế, viện trợ có tính chất nhân đạo,
hợp tác văn hóa,du lịch.
Thứ ba, bản chất khác nhau sẽ bộc lộ ra thành những loại hiện tượng khác nhau.
Khi bản chất thay đổi thì hiện tượng biểu hiện nó cũng thay đổi theo. Khi bản chất biến
mất thì hiện tượng biểu hiện nó cũng sẽ biến mất.
Qua đó ta có thể nhận thấy: nhờ có sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng, giữa
cái quy định sự vận động và phát triển của sự vật với những biểu hiện đa dạng của nó
mà ta có thể tìm ra cái chung trong nhiều biểu tượng cá biệt, tìm ra quy luật phát triển
của những hiện tượng ấy.
1.3.2. Tính mâu thuẫn của sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng.
Điều tuyệt đối trong hoàn vũ chính là tất cả đều tương đối, nên sự thống nhất giữa
bản chất và hiện tượng chỉ có mối quan hệ biện chứng, tức là sự tương đối hay nói khác
hơn trong cái thống nhất ấy đã bao gồm sự khác biệt.
Nói cách khác, tuy bản chất và hiện tượng thống nhất với nhau về căn bản phù hợp
với nhau, nhưng chúng không bao giờ phù hợp với nhau hoàn toàn.Bởi vì bản chất của
sự vật bao giờ cũng được thể hiện ra thông qua tương tác của sự vật ấy với các sự vật
xung quanh; các sự vật xung quanh này trong quá trình tương tác đã ảnh hưởng đến hiện
tượng, khiến hiện tượng có những thay đổi nhất định. Kết quả là hiện tượng tuy biểu
hiện bản chất nhưng không còn là sự biểu hiện y nguyên bản chất nữa. Sự không hoàn
toàn trùng khớp đó khiến cho sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng là một sự thống
nhất mang tính mâu thuẫn. Tính mâu thuẫn của sự thống nhất giữa bản chất và hiện
tượng thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, bản chất phản ánh cái tất yếu, cái chung quyết định sự tồn tại và phát
triển của sự vật, cùng một bản chất có thể biểu hiện ra ngoài bằng vô số hiện tượng khác
nhau tùy theo sự biến đổi của điều kiện và hoàn cảnh. Nội dung cụ thể của mỗi hiện
tượng phụ thuộc không những vào bản chất, mà còn vào hoàn cảnh cụ thể, trong đó bản
chất được biểu hiện cho nên bao giờ cũng thể hiện sâu sắc hơn hiện tượng.
Ngược lại hiện tượng phản ánh cái riêng, cái cá biệt cho nên luôn phong phú và đa dạng hơn bản chất.
Thứ hai, bản chất là mặt bên trong ẩn giấu sâu xa của hiện thực khách quan. Còn
hiện tượng là mặt bên ngoài của hiện thực khách quan ấy. Các hiện tượng là sự biểu hiện
của bản chất, về cơ bản phù hợp với bản chất nhưng không bao giờ phù hợp hoàn toàn, lOMoAR cPSD| 61457685
chúng biểu hiện bản chất không phải dưới dạng y nguyên như bản chất vốn có mà dưới
hình thức đã được cải biến,nhiều khi xuyên tạc nội dung thực sự của bản chất. Vì vậy,
khi xem xét sự vật,ta không thể dừng lại ở biểu hiện bề ngoài mà phải đi sâu vào tìm
hiểu bản chất của nó.
Thứ ba, bản chất tương đối ổn định, biến đổi chậm. Còn hiện tượng không ổn định,
nó luôn luôn trôi qua, biến đổi nhanh hơn so với bản chất. Đó là do nội dung của hiện
tượng không chỉ được quyết định bởi bản chất của sự vật,mà còn bởi những điều kiện
tồn tại bên ngoài của nó, bởi tác động quay lại của nó với các sự vật. Các điều kiện tồn
tại bên ngoài cũng như sự tác động quay lại của sự vật này với các sự vật khác xung
quanh lại thường xuyên biến đổi. Vì vậy, hiện tượng cũng thường xuyên biến đổi, trong
khi đó bản chất vẫn giữ nguyên. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là bản chất luôn giữ
nguyên như cũ từ lúc ra đời cho đến lúc mất đi. Bản chất cũng biến đổi,nhưng là biến
đổi rất chậm so với hiện tượng.
1.4.Ý nghĩa phương pháp luận
Như V.I.Lênin đã viết: "Tư tưởng của người ta đi sâu một cách vô hạn, từ hiện
tượng đến bản chất, từ bản chất cấp một, nếu có thể nói như vậy, đến bản chất cấp hai,
vv... cứ như thế mãi", nên qua tìm hiểu cặp phạm trù bản chất và hiện tượng ta rút ra
được các kết luận sau: Trong hoạt động nhận thức, để hiểu đầy đủ và đúng đắn về sự
vật, phải đi sâu tìm hiểu bản chất, không chỉ dừng ở hiện tượng, bởi bản chất là cái ở
bên trong hiện tượng. Còn trong hoạt động thực tiễn cần dựa vào bản chất chứ không
phải dựa vào hiện tượng.
Bên cạnh đó, khi kết luận về bản chất của sự vật, cần tránh những nhận định chủ
quan, tùy tiện. Vì bản chất tồn tại một cách khách quan ngay ở trong bản thân sự vật
nên chỉ có thể tìm ra bản chất sự vật ở bên trong chính sự vật ấy chứ không thể ở bên ngoài nó.
Ngoài ra, bản chất không tồn tại thuần túy mà bao giờ cũng bộc lộ ra ngoài thông
qua các hiện tượng tương ứng của mình nên chỉ có thể tìm ra cái bản chất trên cơ sở
nghiên cứu các hiện tượng. Cần lưu ý, trong quá trình nhận thức bản chất của sự vật phải
xem xét nhiều hiện tượng khác nhau từ nhiều góc độ khác nhau. Và đặc biệt, để cải tạo
sự vật phải thay đổi bản chất của nó chứ không chỉ thay đổi hiện tượng. Bởi thay đổi
được bản chất thì hiện tượng sẽ thay đổi theo. Có thể thấy, đây là một quá trình vô cùng
phức tạp, do đó cần kiên nhẫn, không chủ quan, nóng vội và hết sức thận trọng khi kết
luận về bản chất của sự vật.
Như vậy, ta thấy cặp phạm trù bản chất và hiện tượng là một cặp phạm trù quan
trọng, thể hiện tính khoa học và đúng đắn. Xuất phát từ các đặc điểm của chúng, mỗi
chúng ta cần nhìn nhận các vấn đề một cách khách quan, khoa học thông qua tìm hiểu
đầy đủ, toàn diện các hiện tượng bên ngoài. Từ đó đưa ra các kết luận, nhận thức đúng
đắn về bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng. lOMoAR cPSD| 61457685
Chương 2. Vận dụng mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng vào đời sống thực
tiễn của sinh viên hiện nay
2.1. Sự thống nhất và mâu thuẫn giữa học tập nghiên cứu và rèn luyện
Từ việc nghiên cứu nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù “bản
chất và hiện tượng”, ta có thể rút ra một vài kết luận có ý nghĩa phương pháp luận với
việc học tập và rèn luyện của những sinh viên năm nhất còn đang gặp khó khăn, chưa
thích nghi được với môi trường mới.
So với chương trình học ở phổ thông, thời gian giảng dạy và học từng môn ở Đại
học giảm xuống một cách đáng kể. Trong mỗi một năm học, hầu hết các môn học phổ
thông sẽ kéo dài trong toàn bộ năm học đó, khoảng 35 tuần, vì thế khối lượng kiến thức
được chia dàn trải hơn khiến học sinh dễ dàng tiếp nhận hơn. Ở Đại học một môn học
chỉ kéo dài từ 5 đến 15 tuần. Khối lượng kiến thức lớn được giảng dạy trong khoảng
thời gian ngắn khiến sinh viên gặp không ít những khó khăn trong năm đầu tiên, khi
chưa thể thích nghi hoàn toàn với môi trường đại học, chưa thể theo kịp bài giảng trên
trường cũng như phương thức học tập vô cùng khác so với trước đây. Bởi vậy nhiều sinh
viên năm nhất dần trở nên sao nhãng trong việc học, điểm số bị ảnh hưởng trực tiếp dẫn
đến thái độ tiêu cực được thể hiện rõ ràng qua các hiện tượng sau:Không tích cực tham
gia đóng góp ý kiến trong các giờ học; ngại hỏi, ngại trao đổi với giảng viên cũng như
các sinh viên khác; không hoàn thành tốt các bài tập được giao;… Để rồi dần dần mất
đi niềm yêu thích, sự hứng thú với việc học; băn khoăn về sự lựa chọn của bản thân khi
bước vào cánh cửa đại học mà có thể đưa ra những quyết định sai lầm như bỏ học giữa chừng,...
Sự vận động và phát triển của từng sự vật, hiện tượng được quy định bởi bản chất
của sự vật, hiện tượng đó. Bản chất của việc sinh viên năm nhất gặp phải những khó
khăn, trở ngại trong quá trình học tập và rèn luyện của mình nằm ở việc chưa tiếp thu
được kiến thức một cách đúng và đủ cũng như phương pháp học tập chưa hiệu quả hay
ý thức, thái độ học tập còn kém. Những kiến thức ấy được tiếp nhận không chỉ qua sách
vở, qua thầy cô mà còn qua những hoạt động ngoại khóa, qua việc tham gia các câu lạc
bộ trong và ngoài trường để giao lưu học hỏi; tự mình tìm hiểu, chủ động tích luỹ những
tri thức mới;... Những kiến thức và kinh nghiệm ấy được tiếp thu ra sao, ở mức độ như
thế nào sẽ được thể hiện qua kết quả học tập (hiện tượng)sau mỗi kỳ thi, cụ thể qua điểm
số, số hạng, thành tích: Kết quả tốt đồng nghĩa với việc sinh viên tiếp thu kiến thức tốt,
giao tiếp tốt, tự tin khi phát biểu ý kiến và ngược lại, kết quả chưa tốt nghĩa là phần
nhiều lượng kiến thức ấy chưa được tiếp thu và sinh viên vẫn còn thụ động trong việc
học tập của bản thân. Nếu sinh viên dành quá ít thời gian cho việc học, kết quả sẽ bị ảnh
hưởng xấu, và nếu sinh viên dành toàn bộ thời gian của mình cho học tập (nghĩa là học
tập thiếu khoa học), không những gây tác động xấu tới sức khỏe mà còn mất đi cơ hội
giao lưu, học hỏi những kiến thức không thể tìm thấy trên sách vở, dần khép mình với
môi trường bên ngoài từ đó đem lại những kết quả không như mong muốn. Qua đây ta
thấy được, bản chất bao giờ cũng biểu hiện qua hiện tượng, còn hiện tượng bao giờ cũng
là biểu hiện của bản chất. lOMoAR cPSD| 61457685
Giữa bản chất và hiện tượng luôn tồn tại sự thống nhất cũng như tính mâu thuẫn
của sự thống nhất. Giữa bản chất và hiện tượng của quá trình học tập và rèn luyện của
sinh viên năm nhất cũng tương tự như vậy.
Sự thống nhất trong quá trình học tập và rèn luyện được thể hiện qua việc sinh
viên phải có kiến thức đúng mới có thể đạt kết quả tốt, phải có kinh nghiệm đủ mới có
thể vận dụng hiệu quả. Không yếu tố nào có thể tồn tại một cách thuần tuý khi thiếu bản
chất, chỉ có hiện tượng và ngược lại, chỉ có bản chất mà không có hiện tượng. Muốn đạt
điểm giỏi, thứ hạng cao thì phải trang bị, tích lũy được vốn kiến thức nhất định, dành
được lượng thời gian cân đối với phương pháp học hợp lý, khoa học chứ không thể ngẫu
nhiên đạt được thành tích tốt mà không nhờ tới một quá trình dài trau dồi, học hỏi. Qua
đây,ta có thể thấy sự thống nhất giữa việc sinh viên có kết quả không tốt với việc sinh
viên chưa tiếp thu đúng, đủ kiến thức của từng môn học trong quá trình học tập và rèn
luyện của một số sinh viên năm nhất. Bởi không hiểu hết được bản chất của kiến thức,
không nắm rõ được nội dung của bài học nên không thể theo kịp bài giảng trên trường,
không thể áp dụng vào các bài tập thực hành từ đó dẫn đến kết quả học tập kém. Không
chỉ kết quả học tập ảnh hưởng mà niềm yêu thích, hứng thú với học tập hay thái độ, ý
thức học tập cũng chịu ảnh hưởng lớn. Từ đó, ta càng có thể khẳng định bất kỳ bản chất
nào cũng được bộc lộ qua những hiện tượng tương ứng ở mức độ dù ít hay nhiều. Đã
không nắm chắc nội dung bài học lại không có phương pháp học tập phù hợp, thái độ
học tập kém nên kết quả học tập ngày một tụt dốc (hiện tượng). Hơn thế nữa, bất kỳ bản
chất nào cũng được bộc lộ qua những hiện tượng tương ứng, bất kỳ hiện tượng nào cũng
là sự bộc lộ của bản chất ở mức độ nào đó nhiều hoặc ít.
Tuy nhiên, bên cạnh sự thống nhất còn tồn tại tính mâu thuẫn của sự thống nhất
mà như Các Mác từng nói “Nếu hiện tượng và bản chất của sự vật là nhất trí với nhau
thì tất thảy khoa học sẽ trở nên thừa” bởi cùng một bản chất có thể biểu hiện ra ngoài
bằng vô số hiện tượng khác nhau. Sinh viên có vốn kiến thức đúng, đủ nhưng lại có
những trường hợp hi hữu không đạt được kết quả cao, thành tích tốt như mong muốn.
Ngược lại, có những sinh viên không có vốn kiến thức đúng, đủ nhưng vẫn có khả năng,
dù là rất nhỏ, đạt điểm tốt nhờ những hành vi gian lận trong thi cử, hay là may mắn nhờ
học tủ, may mắn khi “khoanh bừa” trong bài làm trắc nghiệm. Bởi vậy cho nên không
phải lúc nào hiện tượng cũng thể hiện bản chất một cách y nguyên như bản chất vốn có.
Những kiến thức, kinh nghiệm ấy như đã nói không phải lúc nào cũng được thể hiện
trọn vẹn, toàn diện bởi điểm số đôi khi chỉ có thể phản ánh được phần nào chất lượng
học tập của từng sinh viên.
Trong khi một số sinh viên năm nhất gặp trở ngại, khó khăn trong việc theo kịp
tiến độ bài giảng, tiếp thu trọn vẹn lượng kiến thức mới một cách đúng, đủ nhưng lại có
thái độ học tập vô cùng kém: không tự mình cố gắng,nỗ lực trong học tập; không đặt ra
mục tiêu, động lực để khắc phục hạn chế của bản thân; không chịu học hỏi, thay đổi
phương pháp học tập phù hợp;...Tuy nhiên, ngược lại với những bạn sinh viên trên, có
những sinh viên năm nhất dù cũng gặp trở ngại, khó khăn tương tự nhưng luôn cố gắng,
nỗ lực thay đổi: xác định những vấn đề của bản thân để tìm cho mình cách học hiệu quả lOMoAR cPSD| 61457685
nhất, để đặt ra mục tiêu phấn đấu cũng như giải pháp cho từng vấn đề… Dù thế nào
cũng vẫn luôn nỗ lực không ngừng trong việc học tập và rèn luyện của bản thân. Việc
ngại tìm hiểu những điều mới là một sự cản trở rất lớn đối với việc học tập. Đối với
những sinh viên năm nhất, việc thay đổi môi trường học tập là điều khó khăn nhất nên
sinh viên cần phải tìm cách học mới phù hợp và hiệu quả với bản thân thì mới có thể học tốt được.
Có những sinh viên dù chưa hiểu bài hay chỉ mới hiểu bề mặt bản chất nhưng lại
ngại hỏi thầy cô, ngại hỏi bạn bè để hiểu sâu rộng vấn đề hơn.Ngược lại, có những sinh
viên lại rất hăng hái phát biểu, hỏi bài thầy cô hoặc trao đổi với bạn bè để có thể biết rõ
hơn về kiến thức mới, về bài học chưa hiểu.
Có những sinh viên học chưa tốt nhưng lại đưa ra những lời bao biện như:nhà có
nhiều việc, bận đi làm thêm, bận những công việc ở câu lạc bộ,... mà không chịu cố gắng
cũng như cân đối giữa việc học và những vấn đề khác.Ngược lại, những sinh viên học
khá, giỏi lại có thể cân đối giữa việc học với những vấn đề riêng; có thể sắp xếp thời
gian hợp lý để hoàn thành mọi việc mà không hề than phiền.
Bản chất là cái bên trong còn hiện tượng là những thứ được thể hiện ra bên ngoài.
Việc sinh viên học tốt hay không tốt (bản chất) là cái ở bên trong họ, được thể hiện thông
qua kết quả học tập, quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên đó (hiện tượng). Bản
chất là cái luôn ổn định, ít biến đổi còn hiện tượng thường xuyên biến đổi. Từ việc chưa
tốt đến học tốt là cả một quá trình, có thể thấy sự biến đổi của nó khá chậm nhưng việc
sinh viên đó chăm học hay là lười, luôn tìm tòi học tập hay chỉ ăn chơi,.. luôn biến đổi
không ngừng trong quá trình học của sinh viên.
2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả học tập nghiên cứu
Trong quá trình phát triển của một đối tượng, bản chất sẽ biến đổi tạo ra sự chuyển
hóa của đối tượng từ dạng này sang dạng khác, khiến cho các phương pháp được áp
dụng vào dạng bản chất cũ hơn cũng phải thay đổi bằng các phương pháp mới, phù hợp
với bản chất đã thay đổi. Áp dụng vào quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên năm
nhất nói riêng và sinh viên nói chung,có thể thấy rằng:
Thứ nhất, khi chúng ta có kết quả học tập chưa tốt thì phải xem lại ngay bản thân
đang gặp những vướng mắc, hạn chế nào để có thể thay đổi phương pháp học tập phù
hợp hơn, chấn chỉnh ý thức học tập nghiêm túc hơn. Nếu trong suốt quá trình học sinh
viên ngại hỏi, ngại bày tỏ ý kiến, ngại trao đổi trực tiếp với giảng viên khiến kết quả học
tập bị ảnh hưởng thì thái độ học tập phải tích cực hơn, hăng hái hơn trong việc hỏi và
trả lời các câu hỏi. Nếu sinh viên lười học, dành quá nhiều thời gian cho những vấn đề
cá nhân thì phải căn chỉnh thời gian cho hợp lý hơn để không ảnh hưởng tới kết quả học
tập mà vẫn có thể cân đối thời gian cho các công việc khác. Hay có những bạn sinh viên
dành phần lớn thời gian để học nhưng lại áp dụng sai phương pháp học tập, thiếu logic
khiến quá trình tiếp thu bài còn chưa tới, hiểu sai hoặc thậm chí không biết cách áp dụng
kiến thức lý thuyết để thực hành thì phải thay đổi phương pháp học sao cho phù hợp với
bản thân cũng như các vấn đề bản thân còn đang mắc phải để dần khắc phục, hoàn thiện lOMoAR cPSD| 61457685
hơn như: đọc hiểu giáo trình,tài liệu trước và sau mỗi buổi học, chú ý lắng nghe bài
giảng trên lớp hay tìm tới sự giúp đỡ của giảng viên hay các sinh viên khác về những
vấn đề còn chưa tường tận…
Thứ hai, một số sinh viên, đặc biệt với sinh viên năm nhất có tâm lý “nghỉ ngơi,
thư giãn” sau một quá trình dài ôn tập, chuẩn bị cho Kỳ thi Trung học phổ thông Quốc
gia để rồi trượt dài trong sự thụ động, lười biếng mà dần dần bỏ quên chính mình với
những phấn đấu, nỗ lực của trước đây. Bởi vậy cho nên phải luôn nghiêm khắc với bản
thân, đặt ra mục tiêu cũng như phương pháp học tập hiệu quả cùng ý thức, thái độ nghiêm túc.
Thứ ba, cũng có những sinh viên sau một thời gian học tập dù đạt được kết quả cao
như mong muốn nhưng bắt đầu có biểu hiện sức khỏe kém như: sụt cân,hay buồn ngủ,
mệt mỏi, mỏi mắt, đau lưng, nhức vai,... do học quá nhiều mà không chú ý tới việc chăm
sóc sức khỏe của mình. Những sinh viên có hiện tượng như vậy thì cần phải cân đối giữa
việc học với vấn đề sức khỏe của bản thân Cuối cùng, những sinh viên còn ngại giao
lưu, làm quen với môi trường mới cũng phải có những thay đổi trong quá trình rèn luyện
bản thân: rèn sự tự tin, năng động với tâm thế sẵn sàng học hỏi, sẵn sàng tham gia các
hoạt động ngoại khóa,…
Thứ tư, sinh viên cần tránh những nhận định chủ quan, tuỳ tiện bởi quá trình nhận
thức về bản chất và hiện tượng của vấn đề là vô cùng phức tạp.Không nên chỉ vì điểm
số, kết quả thấp (một phần của hiện tượng) mà đưa ra kết luận cho rằng bản thân không
có khả năng cải thiện, không còn phù hợp với việc họp tập. Việc đưa ra nhận định tuỳ
tiện như vậy có thể khiến sinh viên dần buông bỏ, thờ ơ rồi mất niềm tin vào chính mình,
ảnh hưởng trực tiếp tới tương lai sau này. Bởi vậy, sinh viên năm nhất dù đối mặt với
khó khăn nào cũng cần phải giữ cho mình sự kiên nhẫn, không chủ quan, nóng vội và
hết sức thận trọng khi đưa ra kết luận về bản chất của vấn đề. Luôn để bản thân có cái
nhìn toàn diện ở mọi hiện tượng khách quan rằng: không chỉ qua điểm số có thể đánh
giá khả năng mà còn qua ý thức, thái độ học tập để từ đó phát huy những điểm còn chưa tốt. KẾT LUẬN
Tổng kết lại, chúng ta đã tìm hiểu về quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về cặp
phạm trù: “bản chất và hiện tượng” thông qua khái niệm, mối quan hệ biện chứng và ý
nghĩa phương pháp luận. Qua đó ứng dụng cặp phạm trù ấy để đưa ra cách giải quyết
một vấn đề của thực tiễn là việc học tập và rèn luyện của sinh viên năm nhất hiện nay.
Ta có thể thấy, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về cặp phạm trù “bản chất và
hiện tượng” được đề cập đến ở nhiều góc cạnh và mức độ khác nhau,rất thực tế và linh
hoạt. Bản chất bao giờ cũng bộc lộ qua hiện tượng, ví dụ:“Khôn ngoan hiện ra nét mặt,
què quặt hiện ra chân tay”. Nét mặt là hiện tượng biểu hiện cho bản chất khôn ngoan.
Không chỉ có vậy, bản chất và hiện tượng thường thống nhất nhau, chẳng hạn: “Chim
khôn hót tiếng rảnh rang/Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe”. Tuy nhiên, cũng có lOMoAR cPSD| 61457685
khi hiện tượng mâu thuẫn, giả tạo với bản chất, ví như: “Miệng nam mô, bụng bồ dao
găm”. Trong nhận thức, có thể căn cứ vào hiện tượng để suy luận về bản chất sự vật:
“Đàn bà không biết nuôi heo là đàn bà nhác, đàn ông không biết buộc lạt là đàn ông hư”.
Thế nhưng, cũng đừng vội vàng trông mặt mà bắt hình dong một cách chắc chắn, tất yếu
vì nhiều khi hiện tượng phản ánh sai lệch bản chất. Do vậy, đừng thấy đỏ đã nhanh kết
luận là chín, không phải tất cả những gì lấp lánh đều là vàng mà nên có nhiều thời gian
trải nghiệm xem xét cẩn thận, phải: “Thức lâu mới biết đêm dài, ở lâu mới biết lòng
người dở hay”. Từ những kiến thức ấy, chúng em đã vận dụng cặp phạm trù “bản chất
và hiện tượng” vào việc nhận thức và đưa ra giải pháp phù hợp để giải quyết vấn đề khó
khăn trong học tập, rèn luyện của sinh viên năm nhất hiện nay đồng thời rút ra những
bài học quý giá cho chính mình.
Do trình độ kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên trong quá trình tìm hiểu và
hoàn thành vẫn còn thiếu sót. Bởi vậy, chúng em mong nhận được những lời nhận xét,
đánh giá, đóng góp ý kiến của cô để rút ra những điểm không phù hợp từ đó thay đổi để hoàn thiện hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin ( Dành cho sinh viên
đại học, cao đẳng khối không chuyên ngành Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh), Bộ
Giáo dục và đào tạo, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia.
2. Giáo trình Triết học Mác – Lênin, (Dùng trong các trường Đại học cao đẳng), Bộ
Giáo dục và đào tạo, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, 2019 3.Những khó
khăn tân sinh viên nhất định sẽ gặp phải http://vxtcollege.edu.vn/nhung-kho-
khan-tan-sinh-vien-nhat-dinh-se-gap-phai
4.10 vấn đề sinh viên thường gặp phải trong thời gian học đại học
https://hcmussh.edu.vn/news/item/6645 5. Sinh viên cần làm gì
để phát triển bản thân https://tharong.com/sinh-vien-can-lam-gi- de-phat-trien-ban-than
6.Tình yêu là gì? Những định nghĩa chuẩn nhất về Tình yêu?
https://chanhtuoi.com/tinh-yeu-la-gi-nhung-dinh-nghia-chuan-nhat-ve-tinh- yeup4997.html
7. yêu chân chính là gì? Biểu hiện ra sao
https://topz.vn/tinh-yeu-chan-chinh-la-gi-p29637.html
8.12 cách nâng cao hiệu quả công việc tốt nhất cho nhân viên
https://blog.okrs.vn/hieu-suat-cong-viec/nang-cao-hieu-qua-cong-viec.html
9.Làm thế nào để nâng cao hiệu suất cá nhân trong công việc?
https://blog.gapowork.vn/lam-the-nao-de-nang-cao-hieu-suat-ca-nhan-trong-congviec/ lOMoAR cPSD| 61457685
10.Mối quan hệ là gì? Tầm quan trọng của các mối quan hệ https://viecoi.vn/cam-
nang-nghe-nghiep/chi-tiet-tam-quan-trong-cua-cac-moi-quan-hexa-hoi-739.html