Quan điểm của Triết học Mac-Lênin về tri thức, vai trò của tri thức và sự vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên | Bài tập lớn môn triết học mác - lênin

Quan điểm của Triết học Mac-Lênin về tri thức, vai trò của tri thức và sự vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên | Tiểu luận môn triết học mác - lênin được siêu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuận bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đón xem!

Trường:

Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu

Thông tin:
13 trang 7 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Quan điểm của Triết học Mac-Lênin về tri thức, vai trò của tri thức và sự vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên | Bài tập lớn môn triết học mác - lênin

Quan điểm của Triết học Mac-Lênin về tri thức, vai trò của tri thức và sự vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên | Tiểu luận môn triết học mác - lênin được siêu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuận bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đón xem!

47 24 lượt tải Tải xuống
lOMoARcPSD| 23022540
lOMoARcPSD| 23022540
MỤC LỤC
I/ MỞ ĐU.......................................................................................................1
II/ NỘI DUNG CHÍNH...............................................................................1
2.1 Quan điểm của Triết học Mac-Lênin về tri thức..........1
2.2 Vai trò của tri thức trong đời sống - xã hội ................................................. 6
2.2.1 Vai trò của tri thức đối với Kinh tế – Kinh tế tri thức ............................. 7
2.2.2. Vai trò tri thức đối với chính trị .............................................................. 9
2.2.3. Vai trò tri thức đối với văn hóa-giáo dục .............................................. 11
2.3 Vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên ............ 11
III/ KẾT LUẬN.............................................................................................11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHO..............................................11
Danh mục viết tắt
CNXH Chủ nghĩa xã hội
I/ MỞ ĐU
Tri thức đã từ lâu trong lịch sử, có thể nói từ khi con người bắt đầu
duy thì lúc đó tri thức. Trải qua một thời gian dài phát triển của lịch sử, cho đến
những thập kỷ gần đây tri thức vai trò của đối với sphát triển kinh tế-xã
hội mới được đề cặp nhiều. Vậy tri thức là gì? Vai trò của tri thức ra sao?..Trên
sở đó em đã chọn đề tài: “Quan điểm của Triết học Mac-Lênin về tri thức, vai trò
của tri thức sự vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh
viên” để làm đề tài nghiên cứu cho mình. Tuy nhiên do vốn tri thức của bản thân
còn một shạn chế nên bài làm thể vẫn còn tồn tại một số sai sót. Vì vậy em
rất mong nhận được ý kiến đóng góp tthầy (cô) để bản thân được hoàn thiện
hơn cũng như bài làm đạt kết quả tt.
lOMoARcPSD| 23022540
Em xin chân thành cảm ơn!
II/ NỘI DUNG CHÍNH
2.1 Quan điểm của Triết học Mac-Lênin về tri thức
rất nhiều cách định nghĩa về tri thức nhưng thể hiểu “Tri thức là sự hiểu
biết, sáng tạo những khả năng, kỹ năng để ứng dụng nó (hiểu biết sáng tạo) vào
việc tạo ra cái mới nhằm mục đích phát triển kinh tế-xã hội”. Tri thức bao gồm tất
cả những thông tin, số liệu, bản vẽ, tưởng tượng (sáng tạo), khả năng, kỹ năng
quan niệm vgiá trị và những sản phẩm mang tính tượng trưng hội khác. Tri
thức có vai trất lớn đối với đời sống-xã hội. Kinh tế thế giới đang bước vào một
thời đại mới, một trình độ mới. Đó là trình đ“Nhân tố quan trọng nhất việc
chiếm hữu, phân phối nguồn trí lực việc sáng tạo, phân phối sử dụng tri thức
trong các ngành thuật cao”. Tiêu chí chủ yếu của lấy tri thức, trí óc làm
yếu tố then chốt để phát triển kinh tế và tồn tại trực tiếp giống như các yếu tố sức
lao động và tài nguyên. Đó là thời đại mà “Tri thức đã trở thành động lực chủ yếu
của sự phát triển xã hội”, ”Tri thức là tài nguyên là tư bản”,...
Nghiên cứu toàn diện sâu sắc đồng thời tiếp thu pphán, chọn lọc toàn
bộ tri thức nhân loại đã sáng tạo ra nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng đặc điểm
nổi bật trong phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Mác.
Trước Mác, các nhà tư tưởng hoặc kế thừa một cách rập khuôn, giáo điều
hoặc phủ định sạch trơn, do vậy lịch sử tưởng nhân loại trước Mác đều
những hạn chế nhất định. Mác và Ăng-ghen đã vượt lên tất cả những hạn chế của
lịch sử tưởng trước đó bằng cách kế thừa toàn bộ tinh hoa tri thức nhân loại,
đồng thời pphán, phủ định những hạn chế của những tưởng đó sáng tạo
ra chủ nghĩa mới mang bản chất khoa học và cách mạng, đó là Chủ nghĩa Mác.
Trước Mác, Hê-ghen và Phoi-ơ-bắc đại diện cho hai trường phái triết học đối
lập nhau: Hê-ghen đại biểu cho trường phái duy tâm nhưng “hạt nhân hợp lý”
trong triết học của ông là phương pháp biện chứng cách mạng (phép biện chứng);
lOMoARcPSD| 23022540
Phoi-ơ-bắc đại diện cho trường phái duy vật nhưng hạn chế trong triết học của ông
phương pháp siêu hình (phép siêu hình). Mác đứng trên lập trường duy vật cách
mạng của Phoi-ơ-bắc nhưng phê phán phép siêu hình của ông ta; Mác cũng phủ
định lập trường duy tâm của Hê-ghen nhưng tiếp thu “hạt nhân hợp lý” trong triết
học của ông phép biện chứng cách mạng. Nhờ đó, triết học Mác sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa duy vật phép biện chứng: Chủ nghĩa duy vật
chủ nghĩa duy vật biện chứng còn phép biện chứng phép biện chứng duy vật,
hoàn toàn khác về chất so với chủ nghĩa duy tâm biện chứng của Hê-ghen và chủ
nghĩa duy vật siêu hình của Phoi-ơ-bắc. n nữa, trước c, các nhà triết học ch
yếu giải thích thế giới, triết học Mác không chỉ giải thích thế giới sứ mệnh
cao cả hơn là cải tạo thế giới.
Học thuyết về kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học cũng tương
tự như vậy. Mác đã kế thừa phê phán những tư tưởng kinh tế chính trị học cổ
điển Anh và tư tưởng chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp... Trên cơ sở đó, ông đã
tìm ra quy luật giá trị thặng dư và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Trong diễn văn tại Đại hội III toàn Nga của Đoàn Thanh niên Cộng sản Nga
diễn ra ngày 2-10-1920, Lênin đã truyền thụ phương pháp kế thừa tri thức nhân
loại của Mác cho thế hệ trẻ và mong muốn thế hệ trẻ sẽ là người kế tục xứng đáng
sự nghiệp cách mạng vẻ vang đó. Trong khuôn khổ bài này, tôi xin nêu hai biểu
hiện đặc sắc trong phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Mác:
Một là, Mác đã nghiên cứu toàn diện và sâu sắc toàn bộ tri thức nhân loại đã
sáng tạo ra. Lênin khẳng định: “Tất cả những cái mà xã hội loài người đã sáng tạo
ra, Mác đã nghiền ngẫm lại một cách phê phán, không hbsót một điểm nào”.
Muốn trở thành người cộng sản, nhất là đối với thanh niên, thế hệ trẻ thì phải
không ngừng học tập, nghiên cứu để tri thức toàn diện, phong phú sâu sắc.
Lênin nhấn mạnh: “Người ta chỉ thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu
trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức nhân loại đã
tạo ra”.
lOMoARcPSD| 23022540
Theo chỉ dẫn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh Đảng ta đã nghiên cứu, đã kế
thừa toàn bộ tri thức nhân loại sáng tạo ra, trên cơ sở đó lựa chọn con đường phát
triển đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đó con đường cách mạng
sản nhằm giải phóng dân tộc tiến thẳng lên chủ nghĩa hội (CNXH), bqua
giai đoạn phát triển của chủ nghĩa bản. Sự lựa chọn đó đã dứt khoát từ năm
1930 kiên định thực hiện, kể cả khi hệ thống CNXH hiện thực Liên Xô
các nước Đông Âu sụp đổ, đặt CNXH trước sự phê phán gay gắt chưa từng thấy,
từ nhiều hướng. Trong muôn vàn khó khăn đó, tại Đại hội VII, Đảng ta đã quyết
nghị và thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH
(Cương lĩnh 1991): Khẳng định ý chí sắt đá, không lay chuyển nổi mục tiêu
CNXH Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn, toàn Đảng,
toàn dân ta quyết tâm theo đuổi đến cùng con đường dẫn tới mục tiêu ấy. Nhân
dân ta, dưới ngọn cờ của Đảng, phát huy cao độ truyền thống anh hùng bất khuất
của dân tộc, đã chiến đấu hy sinh ròng mấy chục năm trời, hoàn thành vbản
những nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đã chuyển sang
thực hiện những nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên CNXH, không nay lại
rẽ sang con đường khác ngược với mục tiêu đã lựa chọn.
Hai là, trên cơ sở phê phán những khuyết điểm, hạn chế, Mác đã tiếp thu
chọn lọc những tinh hoa tri thức nhân loại. Đây là đặc sắc trong phương pháp kế
thừa tri thức nhân loại của Mác. Lênin nhấn mạnh: “Tất cả những cái hội
loài người đã sáng tạo ra, Mác đã nghiền ngẫm lại, đã phân tích, phê phán đã
căn cứ phong trào công nhân để kiểm tra lại”. Thật vậy, Mác đã phê phán những
hạn chế, khuyết điểm tri thức nhân loại đã sáng tạo ra, nhất là những tiền đề
luận trực tiếp lúc bấy giờ triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học cổ điển
Anh CNXH không tưởng Pháp để xây dựng nên học thuyết mới hoàn chỉnh với
ba bộ phận cấu thành gồm triết học, kinh tế chính trị học và CNXH khoa học.
Con đường tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu hiện sinh
động cho phương pháp kế thừa tri thức nhân loại. Người rất khâm phục tinh thần
yêu nước của các bậc tiền bối nhưng không tán thành con đường cứu nước của họ,
lOMoARcPSD| 23022540
bởi phong trào cứu nước tlập trường Cần Vương đến lập trường sản, tiểu
sản, qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại. Người chọn con đường khác
để tìm ra đi theo Chủ nghĩa Mác, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh
đạo cách mạng giành độc lập dân tộc, đánh thắng thực dân Pháp đế quốc Mỹ
xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước đưa cả nước
đi lên CNXH.
Con đường đi lên CNXHnước ta bỏ qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa
tư bản là sáng tạo đặc sắc của Việt Nam. Bỏ qua ở đây là bỏ qua quan hệ sản xuất
bóc lột tư bản chủ nghĩa, bỏ qua kiến trúc thượng tầng bản chủ nghĩa, bỏ qua
những thói hư, tật xấu của hội tư bản. Còn tiếp thu những thành tựu phát triển
của lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ, tiếp thu văn minh nhân
loại đạt được trong giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản. Đồng chí Nguyễn
Đức Kiên-Tổ trưởng Tổ vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ khẳng định: “Mỗi
một dân tộc họ chọn một con đường khác nhau chúng ta lựa chọn con đường
xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng CNXH. đây nó sáng tạo chỗ chúng
ta tận dụng được tất cả những thành tựu của trí tuệ con người đchúng ta đạt được
mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Bỏ qua chủ nghĩa
bản, bỏ qua những vấn đề bất cập để tiến thẳng n CNXH thì chính khía
cạnh ấy và khi người đứng đầu(1) tuyên bố như thế thì giúp cho người điều
hành trực tiếp có động lực và có niềm tin để họ có thể đi tắt, đón đầu”.
2.2 Vai trò của tri thức trong đời sống - xã hội
Tri thức đã và đang ngày càng trở lên quan trọng đối với đời sống xã hội. Nó
tác động trực tiếp đến các lĩnh vực của hội: kinh tế, chính trị, văn hóa giáo
dục…
lOMoARcPSD| 23022540
2.2.1 Vai trò của tri thức đối với Kinh tế – Kinh tế tri thức
Nền kinh tế tri thức nền kinh tế trong đó quá trình thu nhận truyền bá, sử
dụng, khai thác, sáng tạo tri thức trở thành thành phần chủ đạo trong quá trình tạo
ra của cải.
Kinh tế tri thức nhiều đặc điểm bản khác biệt so với các nền kinh tế
trước đó:
Tri thức khoa học-công nghệ cùng với lao động kỹ năng cao là cơ sỏ
chủyếu và phát triển rất mạnh
Nguồn vốn quan trọng nhất, quý nhất là tri thức, nguồn vốn trí tuệ.
Sáng tạođổi mới thướng xuyên là động lực chủ yếu nhất thúc đảy
sụphát triển.
Nền kinh tế mang tính học tập.
Nền kinh tế lấy thị trường toàn cầu là môi trường hoạt động chính.
Nền kinh tế phát triển bền vững do được nuôi dưỡng bằng nguồn
nănglượng vô tận và năng động là tri thức.
Thực tiễn hai thập niên qua đã khẳng định, dưới tác động của cách mạng khoa
học công nghệ toàn cầu hóa, kinh tế tri thức đang hình thành nhiều nước
phát triển và sẽ trở thành một xu thế quốc tế lớn trong một, hai thập niên tới.
Sự xuất hiện của các hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên tri thức.
Nền kinh tế tri thức nền kinh tế lấy sản xuất và kinh doanh tri thức làm nội
dung chủ yếu. Tương lai của bất cứ doanh nghiệp nào cũng không chỉ phụ thuộc
vào việc sử dụng tiền bạc, nguyên vật liệu, nguồn nhân lực máy móc thiết
bị…mà còn phụ thuộc vào việc xử lý và sử dụng những thông tin nội bộ và thông
lOMoARcPSD| 23022540
tin từ môi trường kinh doanh. Cách tốt nhất để tăng năng suất tìm hiểu kiến thức
chuyên môn hãng được, sử dụng vì mục đích thương mại những kiến
thức này cần được phát triển không ngừng.
Giá trị của những công ty công nghệ cao như các công ty sản xuất phần mềm
các công ty công nghệ sinh học không chỉ nằm trong những tài sản vật chất hữu
hình, mà còn nằm trong những tài sản vô hình, như tri thức và các bằng sáng chế.
Để trở thành một công ty được dẫn dắt bởi tri thức, các công ty phải biết nhận ra
những thay đổi của tỉ trọng vốn trí tuệ trong tổng giá trị kinh doanh. Vốn ttuệ
của công ty, tri thức, quyết phương pháp đội ngũ nhân viên công nhân
cũng nkhả năng của công ty để liên tục hoàn thiện phương pháp sản xuất một
nguồn lợi thế cạnh tranh. Hiện các bằng chứng đáng lưu ý chỉ ra phần gtrị
hình của các công ty công nghệ cao dịch vụ đã vượt xa phần gtrị hữu hình
của các tài sản vật thể của các công ty đó, như các toà nhà hay thiết bị.
Nền kinh tế tri thức sẽ ngày càng làm xuất hiện nhiều sản phẩm thông minh.
Đó là những sản phẩm có khả năng gạn lọc và giải thích các thông tin để người sử
dụng thể hành động một cách hiệu quả hơn. Ngay cả một chiếc bánh kẹp thịt
cũng có thể trở thành một sản phẩm mới dựa trên tri thức bằng cách làm cho khách
hàng biết cách sử dụng những thông tin về dinh dưỡng. Số lượng ka-lo và chất béo
được in lên hóa đơn hoặc thậm ctrình bày thông tin đó trước khi khách đặt hàng.
Thậm chí những sản phẩm thông minh vừa thể truyền đạt thông tin về sản
phẩm vừa khuyên khách hàng nên làm gì từ tình hình vừa được thông tin.
Vốn tri thức –vai trò của nó trong kinh tế tri thức
Vốn tri thức tri thức được dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh với mục
đích sinh lợi(tăng thêm giá trị).
Vốn tri thức là một yếu tố nổi bật nhất trong hàm sản xuất. Trong văn minh
nông nghiệp thì sức lao động, đất đai vốn những yếu tố của sản xuất công
nghiệp, vốn, đất đai nhất sức lao động trở thành hàng hóa với cách
lOMoARcPSD| 23022540
những yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế-xã hội, góp phần chuyển
hội phong kiến thành xã hội tư bản trong lịch sử. Còn trong kinh tế tri thức, yếu tố
của sự phát triển nền kinh tế-xã hội không chỉ bao gồm vốn tiền tệ, đất đai và dựa
trên lao động giản đơn mà chủ yếu dựa trên lao động trí tuệ gắn với tri thức. Như
vốn tri thức trở thành yếu tố thứ nhất trong hàm sản xuất thay yếu tố sức lao
động vốn tiền tệ và đất đai.
Vốn tri thức thực sự trở thành nguồn gốc động lực cho sự phát triển kinh tếxã
hội. Nước Mỹ nói riêng c nước thuộc tchức OECD nói chung nhiều năm
qua tăng trưởng ổn định với tốc độ cao là nhờ có sự phát triển của các ngành kinh
tế dựa trên tri thức như các ngành công nghệ thông tin, viễn thông, vũ trụ, đầu tư,
ngân hàng, tài chính, chứng khoán, bảo hiểm…Đồng thời chuyển đầu vốn tri
thức từ các ngành truyền thống sang các ngành hàm lượng tri thức cao. Ở các
nước nền kinh tế đang phát triển, đu càng nhiều vốn tri thức thì mang lại
giá trị gia tăng cang lớn, tỷ xuất lợi nhuận càng cao.
Vốn tri thức trong kinh tế tri thức đóng vai trò quyết định sự thành công hay
thất bại của doanh nghiệp. Vốn tri thức ở đây bao gồm các công nhân tri thức, các
nhà quản lý có trình độ cao, các công nghệ mới.
Vốn tri thức đóng vai trò to lớn trong việc rút ngắn khoảng cách phát triển
giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển. Sự xuất hiện kinh tế tri thức
vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các nước kém và đang phát triển, trong đó
có Việt Nam. Các quốc gia kém và đang phát triển phải nhanh chóng tiếp cận với
kinh tế tri thức, thông qua tri thức hóa các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch
vụ, đặc biệt sớm hình thành các công nghệ cao để nhanh chóng đưa nền kinh tế
đất nước đuổi kịp các nước phát triển.
2.2.2. Vai trò tri thức đối với chính trị
Tri thức đem lại cho con người những sự hiểu biết, kiến thức. Người tri
thức khả năng duy lý luận, khả năng phân tích tiếp cận vấn đề một cách
lOMoARcPSD| 23022540
sát thực, đúng đắn. Điều này rất quan trọng, một đất nước rất cần những con người
như vây đđiều hành công việc chính trị. quyết định đến vận mệnh của một
quốc gia. Đại hội VI của Đảng đã đánh dấu một sự chuyển hướng mạnh mẽ trong
nhận thức về nguồn lực con người. Đại hội nhấn mạnh: Phát huy yếu tcon người
lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt đông” chiến
lược phát triển con người đang chiến lược cấp bách. Chúng ta cần có những giải
pháp trong việc đào tạo cán bộ và hệ thống tổ chức :
Tuyển chọn những người học rộng tài cao, đức độ trung thành với mục tiêu
hội chủ nghĩa, thuộc các lĩnh vực, tập trung đào tạo, bồi dưỡng cho họ những
tri thức còn thiếu yếu đbố trí vào các quan tham mưu hoạch định đường
lối chính sách của Đảng pháp luật của nhà nước với những qui định cụ thể về
chế độ trách nhiệm quyền hạn và lợi ích.
Sắp xếp các quan nghiên cứu khoa học –công nghệ giáo dục-đào tạo
thành một hệ thống có mối liên hệ gắn kết với nhau theo liên ngành, tạo điều kiện
thuận lợi tối đa cho hợp tác nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực
tiễn. Hợp nhất các viện nghiên cứu chuyên ngành vào trường đại học gắn kết
trường đại học và các công ty, xí nghiệp. Các cơ quan nghiên cứu và đào tao được
nhận đề tài, chỉ tiêu đào tạo theo chương trình, kế hoạch và kinh phí dựa trên luận
chứng khả thi được trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan.
Hàng năm theo định kỳ có những cuộc gặp chung giữa những người trọng
trách các nhà khoa học đầu ngành của các quan giáo dục-đào tạo trung
tâm khoa học lớn của quốc gia, liên hiệp các hội khoa học Việt Nam…với sự chủ
tri của đồng trí chủ tịch, stham gia của các thành viên Hội đồng giáo dục -đào
tạo và khoa học-công nghệ quốc gia về những ý kiến tư vấn, khuyến nghị của tập
thể các nhà khoa học với Đảng nhà nước vđịnh hướng phát triển giáo dục-đào
tạo. Phát triển khoa học –công nghệ, cách tuyển chon và giao chương trình đề tài,
giới thiệu những nhà khoa học tài năng để viết giáo khoa, giáo trình, làm chủ nhiệm
lOMoARcPSD| 23022540
chương trình, đề i tham gia các hội đồng xét duyệt, thẩm định nghiệm thu các
chương trình, đề tài khoa học cấp Nhà nước.
Liên hiệp các hội khoa học Việt Nam cần thường xuyên phát huy trí tuệ
của các nhà khoa học, dân chủ thảo luận để đưa ra được những ý kiến vấn,
những khuyến nghị xác thực có giá trị với Đảng, Nhà nước và động viên tập hợp
lực lượng các hội viên tiến quân mạnh mẽ vào c lĩnh vực khoa học công nghệ
đất nước đang mong chờ để sớm thoát khỏi tình trạng nghèo kém phát triển.
2.2.3. Vai trò tri thức đối với văn hóa-giáo dục
Tri thức cũng vai trò rất lớn đến văn hóa -giáo dục của một quốc gia.
giúp con người được khả năng tiếp cận, lĩnh hội những kiến thức, ý thức của
con người được nâng cao. Và do đó nền văn hóa ngày càng lành mạnh. Có những
hiểu biết về tầm quan trọng của giáo dục. Từ đó xây dựng đất nước ngày càng lớn
mạnh, phồn vinh.
2.3 Vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên.
- Như đã m hiểu, tri thức sự hiểu biết, sáng tạo, những khả năng, k
năng thể ứng dụng vào mục đích phát triển kinh tế - hội. Chính vậy mà tri
thức vai trò như sản phẩm của hoạt động học tập và nghiên cứu của sinh viên.
Bản chất của quá trình nghiên cứu học tập của sinh viên chính là quá trình sinh
viên tích lũy kiến thức chuyên ngành, kiến thức xã hội và các kỹ năng để sau này
thể áp dụng vào những công việc thực tế giúp phát triển kinh tếxã hội. Nếu
không có tri thức thì quá trình nghiên cứu, học tập của sinh viên sẽ không nội
dung, không mục đích thể nói dễ hiểu rằng quá trình nghiên cứu học
tập của sinh viên là quá trình tích lũy tri thức.
- Tri thức mọi nơi tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên nghiên cứu
học tập. Sinh viên thể nghiên cứu học tập tsách vở nơi tri thức được đúc
kết ghi chép lại. Sinh viên thể nghiên cứu, học tập từ sự truyền đạt của giảng
viên- một trong những phương pháp lưu truyền tri thức. Thậm chí sinh viên thể
lOMoARcPSD| 23022540
nghiên cứu, học tập từ đời sống xã hội thực tế vì đó chính là nguồn tri thức vô tận
và rất thiết thực.
- Tri thức không chỉ vai trò sản phẩm, nguyên liệu trong quá trình
nghiên cứu và học tập của sinh viên còn giúp sinh viên nghiên cứu, học tập
đúng đắn, định hướng. tri thức, sinh viên sẽ biết nghiên cứu và học tập
những nền tri thức tiên tiến hơn của nhân loại, biết nghiên cứu và học tập như thế
nào để thể tích lũy được nhiều tri thức nhất, để không bị lãng phí quá trình
nghiêncứu của mình khi còn sinh viên. Tri thức giúp sinh viên không tiếp thu
những quan điểm sai lệch với chuẩn mực xã hội trong quá trình nghiên cứu học
tập bên ngoài xã hội.
Như vậy có thể thấy, trong nghiên cứu học tập của sinh viên không thể thiếu tri
thức.
III/ KẾT LUẬN
Trong bất kì xã hội hay thời kỳ nào thì vai trò của trí thức đều vô cùng quan
trọng. Tri thức một nhân tố cùng thiết yếu tạo n sự giàu mạnh của một
quốc gia, dân tộc, nền tảng cho sự phát triển. Đặc biệt, trong xã hội ngày nay,
tri thức thực sự ngày càng khẳng định được vai trò lớn của mình đối với đời sống
con người.
lOMoARcPSD| 23022540
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình triết học Mac-Lênin; Bộ giáo dục và đào tạo;NXB Chính trị Quc
gia Sự Tht.
2. Trang web: hps://www.studocu.com/;
hp://truongchinhtrils.vn/
| 1/13

Preview text:

lOMoAR cPSD| 23022540 lOMoAR cPSD| 23022540
MỤC LỤC
I/ MỞ ĐẦU.......................................................................................................1
II/ NỘI DUNG CHÍNH...............................................................................1
2.1 Quan điểm của Triết học Mac-Lênin về tri thức..........1
2.2 Vai trò của tri thức trong đời sống - xã hội ................................................. 6
2.2.1 Vai trò của tri thức đối với Kinh tế – Kinh tế tri thức ............................. 7
2.2.2. Vai trò tri thức đối với chính trị .............................................................. 9
2.2.3. Vai trò tri thức đối với văn hóa-giáo dục .............................................. 11
2.3 Vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên ............ 11
III/ KẾT LUẬN.............................................................................................11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................11
Danh mục viết tắt CNXH Chủ nghĩa xã hội I/ MỞ ĐẦU
Tri thức đã có từ lâu trong lịch sử, có thể nói từ khi con người bắt đầu có tư
duy thì lúc đó có tri thức. Trải qua một thời gian dài phát triển của lịch sử, cho đến
những thập kỷ gần đây tri thức và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế-xã
hội mới được đề cặp nhiều. Vậy tri thức là gì? Vai trò của tri thức ra sao?..Trên cơ
sở đó em đã chọn đề tài: “Quan điểm của Triết học Mac-Lênin về tri thức, vai trò
của tri thức và sự vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh
viên” để làm đề tài nghiên cứu cho mình. Tuy nhiên do vốn tri thức của bản thân
còn một số hạn chế nên bài làm có thể vẫn còn tồn tại một số sai sót. Vì vậy em
rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ thầy (cô) để bản thân được hoàn thiện
hơn cũng như bài làm đạt kết quả tốt. lOMoAR cPSD| 23022540
Em xin chân thành cảm ơn! II/ NỘI DUNG CHÍNH
2.1 Quan điểm của Triết học Mac-Lênin về tri thức
Có rất nhiều cách định nghĩa về tri thức nhưng có thể hiểu “Tri thức là sự hiểu
biết, sáng tạo và những khả năng, kỹ năng để ứng dụng nó (hiểu biết sáng tạo) vào
việc tạo ra cái mới nhằm mục đích phát triển kinh tế-xã hội”. Tri thức bao gồm tất
cả những thông tin, số liệu, bản vẽ, tưởng tượng (sáng tạo), khả năng, kỹ năng
quan niệm về giá trị và những sản phẩm mang tính tượng trưng xã hội khác. Tri
thức có vai trò rất lớn đối với đời sống-xã hội. Kinh tế thế giới đang bước vào một
thời đại mới, một trình độ mới. Đó là trình độ mà “Nhân tố quan trọng nhất là việc
chiếm hữu, phân phối nguồn trí lực và việc sáng tạo, phân phối và sử dụng tri thức
trong các ngành kĩ thuật cao”. Tiêu chí chủ yếu của nó là lấy tri thức, trí óc làm
yếu tố then chốt để phát triển kinh tế và tồn tại trực tiếp giống như các yếu tố sức
lao động và tài nguyên. Đó là thời đại mà “Tri thức đã trở thành động lực chủ yếu
của sự phát triển xã hội”, ”Tri thức là tài nguyên là tư bản”,...
Nghiên cứu toàn diện và sâu sắc đồng thời tiếp thu có phê phán, chọn lọc toàn
bộ tri thức nhân loại đã sáng tạo ra nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng là đặc điểm
nổi bật trong phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Mác.
Trước Mác, các nhà tư tưởng hoặc là kế thừa một cách rập khuôn, giáo điều
hoặc là phủ định sạch trơn, do vậy lịch sử tư tưởng nhân loại trước Mác đều có
những hạn chế nhất định. Mác và Ăng-ghen đã vượt lên tất cả những hạn chế của
lịch sử tư tưởng trước đó bằng cách kế thừa toàn bộ tinh hoa tri thức nhân loại,
đồng thời phê phán, phủ định những hạn chế của những tư tưởng đó và sáng tạo
ra chủ nghĩa mới mang bản chất khoa học và cách mạng, đó là Chủ nghĩa Mác.
Trước Mác, Hê-ghen và Phoi-ơ-bắc đại diện cho hai trường phái triết học đối
lập nhau: Hê-ghen là đại biểu cho trường phái duy tâm nhưng “hạt nhân hợp lý”
trong triết học của ông là phương pháp biện chứng cách mạng (phép biện chứng); lOMoAR cPSD| 23022540
Phoi-ơ-bắc đại diện cho trường phái duy vật nhưng hạn chế trong triết học của ông
là phương pháp siêu hình (phép siêu hình). Mác đứng trên lập trường duy vật cách
mạng của Phoi-ơ-bắc nhưng phê phán phép siêu hình của ông ta; Mác cũng phủ
định lập trường duy tâm của Hê-ghen nhưng tiếp thu “hạt nhân hợp lý” trong triết
học của ông là phép biện chứng cách mạng. Nhờ đó, triết học Mác có sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng: Chủ nghĩa duy vật là
chủ nghĩa duy vật biện chứng còn phép biện chứng là phép biện chứng duy vật, nó
hoàn toàn khác về chất so với chủ nghĩa duy tâm biện chứng của Hê-ghen và chủ
nghĩa duy vật siêu hình của Phoi-ơ-bắc. Hơn nữa, trước Mác, các nhà triết học chủ
yếu là giải thích thế giới, triết học Mác không chỉ giải thích thế giới mà sứ mệnh
cao cả hơn là cải tạo thế giới.
Học thuyết về kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học cũng tương
tự như vậy. Mác đã kế thừa có phê phán những tư tưởng kinh tế chính trị học cổ
điển Anh và tư tưởng chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp... Trên cơ sở đó, ông đã
tìm ra quy luật giá trị thặng dư và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Trong diễn văn tại Đại hội III toàn Nga của Đoàn Thanh niên Cộng sản Nga
diễn ra ngày 2-10-1920, Lênin đã truyền thụ phương pháp kế thừa tri thức nhân
loại của Mác cho thế hệ trẻ và mong muốn thế hệ trẻ sẽ là người kế tục xứng đáng
sự nghiệp cách mạng vẻ vang đó. Trong khuôn khổ bài này, tôi xin nêu hai biểu
hiện đặc sắc trong phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Mác:
Một là, Mác đã nghiên cứu toàn diện và sâu sắc toàn bộ tri thức nhân loại đã
sáng tạo ra. Lênin khẳng định: “Tất cả những cái mà xã hội loài người đã sáng tạo
ra, Mác đã nghiền ngẫm lại một cách có phê phán, không hề bỏ sót một điểm nào”.
Muốn trở thành người cộng sản, nhất là đối với thanh niên, thế hệ trẻ thì phải
không ngừng học tập, nghiên cứu để có tri thức toàn diện, phong phú và sâu sắc.
Lênin nhấn mạnh: “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu
trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”. lOMoAR cPSD| 23022540
Theo chỉ dẫn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nghiên cứu, đã kế
thừa toàn bộ tri thức nhân loại sáng tạo ra, trên cơ sở đó lựa chọn con đường phát
triển đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đó là con đường cách mạng vô
sản nhằm giải phóng dân tộc và tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), bỏ qua
giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản. Sự lựa chọn đó đã dứt khoát từ năm
1930 và kiên định thực hiện, kể cả khi hệ thống CNXH hiện thực ở Liên Xô và
các nước Đông Âu sụp đổ, đặt CNXH trước sự phê phán gay gắt chưa từng thấy,
từ nhiều hướng. Trong muôn vàn khó khăn đó, tại Đại hội VII, Đảng ta đã quyết
nghị và thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH
(Cương lĩnh 1991): Khẳng định ý chí sắt đá, không gì lay chuyển nổi mục tiêu
CNXH mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn, toàn Đảng,
toàn dân ta quyết tâm theo đuổi đến cùng con đường dẫn tới mục tiêu ấy. Nhân
dân ta, dưới ngọn cờ của Đảng, phát huy cao độ truyền thống anh hùng bất khuất
của dân tộc, đã chiến đấu hy sinh ròng rã mấy chục năm trời, hoàn thành về cơ bản
những nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đã chuyển sang
thực hiện những nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên CNXH, không có lý gì nay lại
rẽ sang con đường khác ngược với mục tiêu đã lựa chọn.
Hai là, trên cơ sở phê phán những khuyết điểm, hạn chế, Mác đã tiếp thu có
chọn lọc những tinh hoa tri thức nhân loại. Đây là đặc sắc trong phương pháp kế
thừa tri thức nhân loại của Mác. Lênin nhấn mạnh: “Tất cả những cái mà xã hội
loài người đã sáng tạo ra, Mác đã nghiền ngẫm lại, đã phân tích, phê phán và đã
căn cứ phong trào công nhân để kiểm tra lại”. Thật vậy, Mác đã phê phán những
hạn chế, khuyết điểm mà tri thức nhân loại đã sáng tạo ra, nhất là những tiền đề lý
luận trực tiếp lúc bấy giờ là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học cổ điển
Anh và CNXH không tưởng Pháp để xây dựng nên học thuyết mới hoàn chỉnh với
ba bộ phận cấu thành gồm triết học, kinh tế chính trị học và CNXH khoa học.
Con đường tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu hiện sinh
động cho phương pháp kế thừa tri thức nhân loại. Người rất khâm phục tinh thần
yêu nước của các bậc tiền bối nhưng không tán thành con đường cứu nước của họ, lOMoAR cPSD| 23022540
bởi phong trào cứu nước từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư
sản, qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại. Người chọn con đường khác
để tìm ra và đi theo Chủ nghĩa Mác, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh
đạo cách mạng giành độc lập dân tộc, đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên CNXH.
Con đường đi lên CNXH ở nước ta bỏ qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa
tư bản là sáng tạo đặc sắc của Việt Nam. Bỏ qua ở đây là bỏ qua quan hệ sản xuất
bóc lột tư bản chủ nghĩa, bỏ qua kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, bỏ qua
những thói hư, tật xấu của xã hội tư bản. Còn tiếp thu những thành tựu phát triển
của lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ, tiếp thu văn minh mà nhân
loại đạt được trong giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản. Đồng chí Nguyễn
Đức Kiên-Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ khẳng định: “Mỗi
một dân tộc họ chọn một con đường khác nhau và chúng ta lựa chọn con đường
xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng CNXH. Ở đây nó sáng tạo ở chỗ chúng
ta tận dụng được tất cả những thành tựu của trí tuệ con người để chúng ta đạt được
mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Bỏ qua chủ nghĩa
tư bản, bỏ qua những vấn đề bất cập để tiến thẳng lên CNXH thì nó chính là ở khía
cạnh ấy và khi người đứng đầu(1) mà tuyên bố như thế thì nó giúp cho người điều
hành trực tiếp có động lực và có niềm tin để họ có thể đi tắt, đón đầu”.
2.2 Vai trò của tri thức trong đời sống - xã hội
Tri thức đã và đang ngày càng trở lên quan trọng đối với đời sống xã hội. Nó
tác động trực tiếp đến các lĩnh vực của xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa giáo dục… lOMoAR cPSD| 23022540
2.2.1 Vai trò của tri thức đối với Kinh tế – Kinh tế tri thức
Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó quá trình thu nhận truyền bá, sử
dụng, khai thác, sáng tạo tri thức trở thành thành phần chủ đạo trong quá trình tạo ra của cải.
Kinh tế tri thức có nhiều đặc điểm cơ bản khác biệt so với các nền kinh tế trước đó: –
Tri thức khoa học-công nghệ cùng với lao động kỹ năng cao là cơ sỏ
chủyếu và phát triển rất mạnh –
Nguồn vốn quan trọng nhất, quý nhất là tri thức, nguồn vốn trí tuệ. –
Sáng tạo và đổi mới thướng xuyên là động lực chủ yếu nhất thúc đảy sụphát triển. –
Nền kinh tế mang tính học tập. –
Nền kinh tế lấy thị trường toàn cầu là môi trường hoạt động chính. –
Nền kinh tế phát triển bền vững do được nuôi dưỡng bằng nguồn
nănglượng vô tận và năng động là tri thức.
Thực tiễn hai thập niên qua đã khẳng định, dưới tác động của cách mạng khoa
học – công nghệ và toàn cầu hóa, kinh tế tri thức đang hình thành ở nhiều nước
phát triển và sẽ trở thành một xu thế quốc tế lớn trong một, hai thập niên tới.
Sự xuất hiện của các hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên tri thức.
Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế lấy sản xuất và kinh doanh tri thức làm nội
dung chủ yếu. Tương lai của bất cứ doanh nghiệp nào cũng không chỉ phụ thuộc
vào việc sử dụng tiền bạc, nguyên vật liệu, nguồn nhân lực và máy móc thiết
bị…mà còn phụ thuộc vào việc xử lý và sử dụng những thông tin nội bộ và thông lOMoAR cPSD| 23022540
tin từ môi trường kinh doanh. Cách tốt nhất để tăng năng suất là tìm hiểu kiến thức
chuyên môn mà hãng có được, sử dụng vì mục đích thương mại và những kiến
thức này cần được phát triển không ngừng.
Giá trị của những công ty công nghệ cao như các công ty sản xuất phần mềm
và các công ty công nghệ sinh học không chỉ nằm trong những tài sản vật chất hữu
hình, mà còn nằm trong những tài sản vô hình, như tri thức và các bằng sáng chế.
Để trở thành một công ty được dẫn dắt bởi tri thức, các công ty phải biết nhận ra
những thay đổi của tỉ trọng vốn trí tuệ trong tổng giá trị kinh doanh. Vốn trí tuệ
của công ty, tri thức, bí quyết và phương pháp đội ngũ nhân viên và công nhân
cũng như khả năng của công ty để liên tục hoàn thiện phương pháp sản xuất là một
nguồn lợi thế cạnh tranh. Hiện có các bằng chứng đáng lưu ý chỉ ra phần giá trị vô
hình của các công ty công nghệ cao và dịch vụ đã vượt xa phần giá trị hữu hình
của các tài sản vật thể của các công ty đó, như các toà nhà hay thiết bị.
Nền kinh tế tri thức sẽ ngày càng làm xuất hiện nhiều sản phẩm thông minh.
Đó là những sản phẩm có khả năng gạn lọc và giải thích các thông tin để người sử
dụng có thể hành động một cách hiệu quả hơn. Ngay cả một chiếc bánh kẹp thịt
cũng có thể trở thành một sản phẩm mới dựa trên tri thức bằng cách làm cho khách
hàng biết cách sử dụng những thông tin về dinh dưỡng. Số lượng ka-lo và chất béo
được in lên hóa đơn hoặc thậm chí trình bày thông tin đó trước khi khách đặt hàng.
Thậm chí có những sản phẩm thông minh vừa có thể truyền đạt thông tin về sản
phẩm vừa khuyên khách hàng nên làm gì từ tình hình vừa được thông tin.
Vốn tri thức –vai trò của nó trong kinh tế tri thức
Vốn tri thức là tri thức được dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh với mục
đích sinh lợi(tăng thêm giá trị).
Vốn tri thức là một yếu tố nổi bật nhất trong hàm sản xuất. Trong văn minh
nông nghiệp thì sức lao động, đất đai và vốn là những yếu tố của sản xuất công
nghiệp, vốn, đất đai và nhất là sức lao động trở thành hàng hóa với tư cách là lOMoAR cPSD| 23022540
những yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế-xã hội, góp phần chuyển xã
hội phong kiến thành xã hội tư bản trong lịch sử. Còn trong kinh tế tri thức, yếu tố
của sự phát triển nền kinh tế-xã hội không chỉ bao gồm vốn tiền tệ, đất đai và dựa
trên lao động giản đơn mà chủ yếu dựa trên lao động trí tuệ gắn với tri thức. Như
vốn tri thức trở thành yếu tố thứ nhất trong hàm sản xuất thay vì yếu tố sức lao
động vốn tiền tệ và đất đai.
Vốn tri thức thực sự trở thành nguồn gốc động lực cho sự phát triển kinh tếxã
hội. Nước Mỹ nói riêng và các nước thuộc tổ chức OECD nói chung nhiều năm
qua tăng trưởng ổn định với tốc độ cao là nhờ có sự phát triển của các ngành kinh
tế dựa trên tri thức như các ngành công nghệ thông tin, viễn thông, vũ trụ, đầu tư,
ngân hàng, tài chính, chứng khoán, bảo hiểm…Đồng thời chuyển đầu tư vốn tri
thức từ các ngành truyền thống sang các ngành có hàm lượng tri thức cao. Ở các
nước có nền kinh tế đang phát triển, đầu tư càng nhiều vốn tri thức thì mang lại
giá trị gia tăng cang lớn, tỷ xuất lợi nhuận càng cao.
Vốn tri thức trong kinh tế tri thức đóng vai trò quyết định sự thành công hay
thất bại của doanh nghiệp. Vốn tri thức ở đây bao gồm các công nhân tri thức, các
nhà quản lý có trình độ cao, các công nghệ mới.
Vốn tri thức đóng vai trò to lớn trong việc rút ngắn khoảng cách phát triển
giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển. Sự xuất hiện kinh tế tri thức
vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các nước kém và đang phát triển, trong đó
có Việt Nam. Các quốc gia kém và đang phát triển phải nhanh chóng tiếp cận với
kinh tế tri thức, thông qua tri thức hóa các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch
vụ, đặc biệt sớm hình thành các công nghệ cao để nhanh chóng đưa nền kinh tế
đất nước đuổi kịp các nước phát triển.
2.2.2. Vai trò tri thức đối với chính trị
Tri thức đem lại cho con người những sự hiểu biết, kiến thức. Người có tri
thức là có khả năng tư duy lý luận, khả năng phân tích tiếp cận vấn đề một cách lOMoAR cPSD| 23022540
sát thực, đúng đắn. Điều này rất quan trọng, một đất nước rất cần những con người
như vây để điều hành công việc chính trị. Nó quyết định đến vận mệnh của một
quốc gia. Đại hội VI của Đảng đã đánh dấu một sự chuyển hướng mạnh mẽ trong
nhận thức về nguồn lực con người. Đại hội nhấn mạnh: “Phát huy yếu tố con người
và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt đông” chiến
lược phát triển con người đang là chiến lược cấp bách. Chúng ta cần có những giải
pháp trong việc đào tạo cán bộ và hệ thống tổ chức :
Tuyển chọn những người học rộng tài cao, đức độ trung thành với mục tiêu
xã hội chủ nghĩa, thuộc các lĩnh vực, tập trung đào tạo, bồi dưỡng cho họ những
tri thức còn thiếu và yếu để bố trí vào các cơ quan tham mưu hoạch định đường
lối chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước với những qui định cụ thể về
chế độ trách nhiệm quyền hạn và lợi ích.
Sắp xếp các cơ quan nghiên cứu khoa học –công nghệ và giáo dục-đào tạo
thành một hệ thống có mối liên hệ gắn kết với nhau theo liên ngành, tạo điều kiện
thuận lợi tối đa cho hợp tác nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực
tiễn. Hợp nhất các viện nghiên cứu chuyên ngành vào trường đại học và gắn kết
trường đại học và các công ty, xí nghiệp. Các cơ quan nghiên cứu và đào tao được
nhận đề tài, chỉ tiêu đào tạo theo chương trình, kế hoạch và kinh phí dựa trên luận
chứng khả thi được trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan.
Hàng năm theo định kỳ có những cuộc gặp chung giữa những người có trọng
trách và các nhà khoa học đầu ngành của các cơ quan giáo dục-đào tạo và trung
tâm khoa học lớn của quốc gia, liên hiệp các hội khoa học Việt Nam…với sự chủ
tri của đồng trí chủ tịch, sự tham gia của các thành viên Hội đồng giáo dục -đào
tạo và khoa học-công nghệ quốc gia về những ý kiến tư vấn, khuyến nghị của tập
thể các nhà khoa học với Đảng và nhà nước về định hướng phát triển giáo dục-đào
tạo. Phát triển khoa học –công nghệ, cách tuyển chon và giao chương trình đề tài,
giới thiệu những nhà khoa học tài năng để viết giáo khoa, giáo trình, làm chủ nhiệm lOMoAR cPSD| 23022540
chương trình, đề tài và tham gia các hội đồng xét duyệt, thẩm định nghiệm thu các
chương trình, đề tài khoa học cấp Nhà nước.
Liên hiệp các hội khoa học Việt Nam cần thường xuyên và phát huy trí tuệ
của các nhà khoa học, dân chủ thảo luận để đưa ra được những ý kiến tư vấn,
những khuyến nghị xác thực có giá trị với Đảng, Nhà nước và động viên tập hợp
lực lượng các hội viên tiến quân mạnh mẽ vào các lĩnh vực khoa học và công nghệ
mà đất nước đang mong chờ để sớm thoát khỏi tình trạng nghèo và kém phát triển.
2.2.3. Vai trò tri thức đối với văn hóa-giáo dục
Tri thức cũng có vai trò rất lớn đến văn hóa -giáo dục của một quốc gia. Nó
giúp con người có được khả năng tiếp cận, lĩnh hội những kiến thức, ý thức của
con người được nâng cao. Và do đó nền văn hóa ngày càng lành mạnh. Có những
hiểu biết về tầm quan trọng của giáo dục. Từ đó xây dựng đất nước ngày càng lớn mạnh, phồn vinh.
2.3 Vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên.
- Như đã tìm hiểu, tri thức là sự hiểu biết, sáng tạo, là những khả năng, kỹ
năng có thể ứng dụng vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì vậy mà tri
thức có vai trò như là sản phẩm của hoạt động học tập và nghiên cứu của sinh viên.
Bản chất của quá trình nghiên cứu và học tập của sinh viên chính là quá trình sinh
viên tích lũy kiến thức chuyên ngành, kiến thức xã hội và các kỹ năng để sau này
có thể áp dụng vào những công việc thực tế giúp phát triển kinh tếxã hội. Nếu
không có tri thức thì quá trình nghiên cứu, học tập của sinh viên sẽ không có nội
dung, không có mục đích vì có thể nói dễ hiểu rằng quá trình nghiên cứu và học
tập của sinh viên là quá trình tích lũy tri thức.
- Tri thức có ở mọi nơi tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên nghiên cứu và
học tập. Sinh viên có thể nghiên cứu và học tập từ sách vở nơi tri thức được đúc
kết và ghi chép lại. Sinh viên có thể nghiên cứu, học tập từ sự truyền đạt của giảng
viên- một trong những phương pháp lưu truyền tri thức. Thậm chí sinh viên có thể lOMoAR cPSD| 23022540
nghiên cứu, học tập từ đời sống xã hội thực tế vì đó chính là nguồn tri thức vô tận và rất thiết thực.
- Tri thức không chỉ có vai trò là sản phẩm, là nguyên liệu trong quá trình
nghiên cứu và học tập của sinh viên mà nó còn giúp sinh viên nghiên cứu, học tập
đúng đắn, có định hướng. Có tri thức, sinh viên sẽ biết nghiên cứu và học tập
những nền tri thức tiên tiến hơn của nhân loại, biết nghiên cứu và học tập như thế
nào để có thể tích lũy được nhiều tri thức nhất, để không bị lãng phí quá trình
nghiêncứu của mình khi còn là sinh viên. Tri thức giúp sinh viên không tiếp thu
những quan điểm sai lệch với chuẩn mực xã hội trong quá trình nghiên cứu và học tập bên ngoài xã hội.
Như vậy có thể thấy, trong nghiên cứu và học tập của sinh viên không thể thiếu tri thức. III/ KẾT LUẬN
Trong bất kì xã hội hay thời kỳ nào thì vai trò của trí thức đều vô cùng quan
trọng. Tri thức là một nhân tố vô cùng thiết yếu tạo nên sự giàu mạnh của một
quốc gia, dân tộc, là nền tảng cho sự phát triển. Đặc biệt, trong xã hội ngày nay,
tri thức thực sự ngày càng khẳng định được vai trò lớn của mình đối với đời sống con người. lOMoAR cPSD| 23022540
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình triết học Mac-Lênin; Bộ giáo dục và đào tạo;NXB Chính trị Quốc gia Sự Thật. 2. Trang web: https://www.studocu.com/; http://truongchinhtrils.vn/