-
Thông tin
-
Quiz
Quan điểm của Triết học Mác-Lênin về tri thức, vai trò của tri thức và sự vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên - Triết học Mác Lenin| Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Đại học Kinh tế Quốc dân với những kiến thức và thông tin bổ ích giúp các bạn định hướng và họp tập dễ dàng hơn. Mời bạn đọc đón xem. Chúc bạn ôn luyện thật tốt và đạt điểm cao trong kì thi sắp tới
Triết học Mác - Lenin( LLNL 1105) 512 tài liệu
Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Quan điểm của Triết học Mác-Lênin về tri thức, vai trò của tri thức và sự vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên - Triết học Mác Lenin| Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Đại học Kinh tế Quốc dân với những kiến thức và thông tin bổ ích giúp các bạn định hướng và họp tập dễ dàng hơn. Mời bạn đọc đón xem. Chúc bạn ôn luyện thật tốt và đạt điểm cao trong kì thi sắp tới
Môn: Triết học Mác - Lenin( LLNL 1105) 512 tài liệu
Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:














Tài liệu khác của Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN --------
BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề tài: “Quan điểm của Triết học Mác-Lênin về tri thức, vai trò của tri thức và sự vận dụng quan điểm đ
ó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên’’
Họ và tên: Nguyễn Thị Lan Mã số sinh viên: 25
Lớp tín chỉ: Triết học Mác – Lênin (121)_10
Giáo viên hướng dẫn: TS. Lê Thị Hồn g
Bắc Ninh, Ngày 13 Tháng 12 Năm 2021
Mục lục
Lời mở đầu ......................................................................................................1
Nội dung ..........................................................................................................2
A. Bàn luận về tri thức theo chủ nghĩa Mác-Lenin. .............................................2
I. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lenin về tri thức .............................................2
1. Định nghĩa tri thức……………………………………………….………2
2. Nguồn gốc của tri thức……………………………………………….......2
a. Nguồn gốc tự nhiên…………………………………………………..….2
b. Nguồn gốc xã hội…………………………………………………..……3
3. Bản chất của tri thức………………………………………………...…….3
II. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức ...............................................................5
1. vật chất quyết định ý thứ…………………………………………...…….5
2. Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất………...….5
III. Vai trò của tri thức…………………………………………………….……6
1. Vai trò của tri thức đối với kinh tế………………………………..……...6
2. Vai trò của tri thức đối với chính trị……………………………..………8
3. Vai trò của tri thức đối với văn hóa - giáo dục………………..…………8
B. Sự vận dụng tri thức trong nghiên cứu, học tập của sinh viên ........................9
Kết luận ........................................................................................................11
Tài liệu tham khảo ............................................................................................ LỜI MỞ ĐẦU
Ý thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của Triết học. Đó là
phương thức phản ánh cao nhất thế giới khách quan vào bộ óc con người và có tính
chất cải tạo sáng tạo. Theo cách hiểu này, chỉ có ý thức của con người mới là chức
năng của “khối vật chất phức tạp đặc biệt mà người ta gọi là bộ não con người” (Lê-
nin). Ý thức có vai trò và sự tác động vô cùng to lớn đối với cuộc sống xã hội chúng
ta. Vừa là kim chỉ nam cho mọi hoạt động thực tiễn vừa là động lực thực tiễn. Sự thành
công hay thất bại của hoạt động thực tiễn, tác động tích cực hay tiêu cực của ý thức đối
với sự phát triển của tự nhiên và xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạo của ý
thức. Tri thức, tình cảm và ý chí là ba nhân tố cấu thành nên ý thức. Chúng có mối
quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời, tác động qua lại với nhau và tác động
mạnh mẽ đến xã hội .Tuy nhiên, trong đó tri thức mới là yếu tố nền tảng nhất.
Nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, đang tiến lên công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Nên bước đầu còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất cũng như
năng lực của người lao động. Cùng với trình độ dân trí, số người có trình độ chuyên
môn cao cũng như số người có trình độ đại học và trên đại học còn ít. Nên trước tình
hình chung như vậy, chúng ta phải làm gì để tránh nguy cơ tụt hậu so với các nước,
phải làm gì để sánh vai với các cường quốc năm châu như lời Bác dạy? Câu hỏi đặt
ra cho chúng ta một vấn đề đó là sự lựa chọn bước đi và trình tự ưu tiên phát triển
Khoa học - Công nghệ. Có nghĩa là tri thức là cần thiết vì tri thức là một môn khoa
học mà chúng ta phải không ngừng hoàn thiện mỗi ngày. Là một sinh viên, cũng đóng
một vai trò rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu và phát triển đất nước.
Như vậy, đối với sự phát triển đời sống xã hội nói chung cũng như trong nghiên
cứu học tâp nói riêng, tri thức chính là chìa khóa vàng để mở lối đến cánh cửa tương
lai. Với tư cách là một sinh viên đại học, đồng thời là 1 công dân nước Cộng hòa Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam, em muốn tìm hiểu kỹ hơn về Triết học Mác-Lênin “Quan
điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về ý thức’’. Cụ thể hơn đó là đề tài “Quan
điểm của Triết học Mác-Lênin về tri thức, vai trò của tri thức và sự vận dụng quan
điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên’’. Em cũng mong muốn truyền tải
đến mọi người tầm quan trọng của tri thức trong nghiên cứu học tập của sinh viên. 1 NỘI DUNG
A. Bàn luận về tri thức theo chủ nghĩa Mác-L nin ê
I. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tri thức 1. Định nghĩ a tri thức
Trước khi đi sâu về tri thức, ta cần tìm hiểu về ý thức theo quan niệm của chủ
nghĩa Mác-Lênin. Theo các nhà Triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin, ý thức là hình
thức phản ảnh cao nhất của bộ óc người về hiện thực khách quan, qua những thành
tựu mới của khoa học tự nhiên, nhất là của sinh lý học - thần kinh hiện đại. Ý thức
cũng đồng thời chính là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ
óc con người. Con người hình thành ý thức thông qua các hoạt động thức tiễn.
Xét đến kết cấu của ý thức, chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng: “Ý thức là toàn bộ
những hoạt động tinh thần của con người bao gồm: tri thức, tình cảm, niềm tin, tư
tưởng… (tất cả chỉ tồn tại trong não người), trong đó trí thức là nhân tố cơ bản, cốt
lõi nhất của ý thức’’. Do đó, có thể cho rằng tri thức cũng là ý thức, và tri thức mang
những đặc trưng cơ bản của ý thức - yếu tố quan trọng nhất, là phương thức tồn tại của ý thức.
2. Nguồn gốc của tri thức
a. Nguồn gốc tự nhiên
Trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên, đặc biệt là sinh lý học thần
kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: ‘‘ý thức là một thuộc tính của vật chất ,
nhưng không phải của tất cả các dạng vật chất mà chỉ là của một dạng vật chất sống
có tổ chức cao là bộ não của con người’’ Còn bộ não con người là cơ quan vật chất
của ý thức và ý thức là chức năng của bộ não. Hoạt động có ý thức của con người
diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não. Khi não bị tổn thương, hoạt
động có ý thức trở nên bất thường hoặc rối loạn. Do đó không thể tách ý thức khỏi
hoạt động của não bộ.
Tuy nhiên, nếu chỉ tồn tại bộ não mà không có sự tác động của thế giới bên ngoài
để phản ánh tác động đó thì không thể có ý thức. Phản ánh là thuộc tính chung, phổ
biến của mọi đối tượng vật chất. Phản ánh chính là sự chép lại, chụp lại, kể lại một
cái gì đó. Đương nhiên, bộ óc người cũng có thuộc tính phản ánh. Nhưng phản ánh
của bộ óc con người có trình độ cao hơn, phức tạp hơn so với các dạng vật chất khác.
Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc vào cả vật tác động và vật nhận tác động. Đồng
thời, vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động.
Là hình thức phản ánh cao nhất trong thế giới hiện thực, ý thức bắt nguồn từ
thuộc tính này của vật chất mà phát triển thành. Ý thức hình thành là kết quả quá trình
phát triển lâu dài của thuộc tính phản ánh chung của vật chất, nội dung của nó là
thông tin về thế giới bên ngoài, về đối tượng được phản ánh. Ý thức phản ánh thế giới 2
bên ngoài vào bộ não con người. Không có ảnh hưởng của thế giới bên ngoài đến các
giác quan thì không có hoạt động ý thức nào có thể diễn ra thông qua não bộ. Như
vậy, bộ não con người cùng với thế giới bên ngoài tác động đến não. b. Nguồn gốc xã hội
Để ý thức ra đời thì tiền đề nguồn gốc tự nhiên là điều kiện tất yếu, nhưng chưa
đủ quyết định cho sự ra đời của ý thức. Lao động và ngôn ngữ chính là nhân tố cơ
bản nhất, trực tiếp tạo thành nguồn gốc xã hội của ý thức. Ý thức là sản phẩm của sự
phát triển xã hội, phụ thuộc vào xã hội và mang tính xã hội.
Nhờ lao động mà con người tác động lên các vật thể thực, buộc chúng phải bộc
lộ các thuộc tính, những kết cấu và quy luật vận động thành những hiện tượng nhất
định. Và những hiện tượng này tác động đến bộ não con người. Như vậy, ý thức chỉ
được xây dựng thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Nhờ những tác động
đến thế giới, con người khám phá ra những bí mật của thế giới và ngày càng làm
phong phú, sâu sắc hơn ý thức của mình về thế giới.
Tóm lại, lao động có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển ý
thức. Con người thoát ra khỏi động vật là có lao động. Vì vậy mà người ta nói ‘‘Một
kiến trúc sư tồi còn hơn một con ong giỏi’’; hay Ăng ghen nói ‘‘Trước hết là lao
động, sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, nó là hai sức kích thích
chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần chuyển biến
thành bộ óc người’’
Ngôn ngữ, do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà có ý thức. Ngôn ngữ
theo Các Mác là cái ‘‘vỏ vật chất’’ của tư duy, là hiện thực trực tiếp của ý thức. Không
có ngôn ngữ con người không thể có ý thức. Với sự x ấ
u t hiện của ngôn ngữ, tư tưởng
con người có khả năng biểu hiện thành ‘‘hiện thực trực tiếp’’, trở thành tín hiệu vật chất tác đ n
ộ g vào giác quan của con người. Do vậy, qua ngôn ngữ con người có thể
giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng, tình cảm cho nhau; từ đó mà ý thức cá nhân
trở thành ý thức xã hội và ngư c
ợ lại. Vì vậy, ngôn ngữ trở thành một phương tiện vật
chất không thể thiếu được tron
g quá trình hình thành, hoàn thiện hiện ý thức.
3. Bản chất của tri thức.
Tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi của ý thức, do đó bản chất của tri thức cũng
có những tính chất cơ bản giống như ý thức. Ý thức là sự phản cao nhất riêng có của
óc người về hiện thực khách quan trên cơ sở thực tiễn xã hội - lịch sử.
- Là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Như vây, ý thức chỉ là ‘‘hình ảnh’’ về hiện thực khách quan trong óc người.
Đây là đặc tính đầu tiên để nhận biết ý thức. Ý thức là cái phản ánh thế giới khách
quan, ý thức không phải là sự vật, mà chỉ là ‘‘hình ảnh’’ của sự vật ở trong óc người.
Về nội dung mà ý thức phản ánh là khách quan, còn hình thức phản ánh là chủ quan.
Ý thức là cái vật chất bên ngoài ‘‘di chuyển’’ vào trong đầu óc của con người và được
cải biến đi ở trong đó. 3
Kết quả phản ánh của ý thức tùy thuộc vào nhiều yếu tố: đối tượng phản ánh,
điều kiện lịch sử - xã hội, phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm sống của chủ thể phản
ánh. Cùng một đối tượng phản ánh nhưng với các chủ thể phản ánh khác nhau, có đặc
điểm tâm lý, tri thức, kinh nghiệm, thể chất khác nhau, trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau.
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nghĩa là: ý thức là hình
ảnh về thế giới khách quan, hình ảnh ấy bị thế giới khách quan quy định cả về nội
dung, cả về hình thức biểu hiện nhưng nó không còn y nguyên như thế giới khách
quan mà nó đã cải biến thông qua lăng kính chủ quan của con người. Theo Mác ‘‘ý
thức chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào trong đầu óc con người và
được cải biến đi trong đó’’
- Là quá trình phản ánh tích cực, năng động sang tạo hiện thực khách quan
Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức tạo ra vât chất. Sáng tạo của
ý thức là sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luật và trong khuôn khổ của sự phản
ánh, mà kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần. Sự sáng tạo của ý thức
không đối lâp, loại trừ, tách rời sự phản ánh; mà ngược lại thống nhất với phản ánh,
trên cơ sở phản ánh. Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất của ý thức. Ý
thức trong bất cứ trường hợp nào cũng là sự phản ánh và chính thực tiễn xã hội của
con người tạo ra sự phản ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của não bộ.
Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh ý thức được thể hiện ở khả năng
hoạt động tâm – sinh lý của con người trong việc định hướng tiếp nhận, chọn lọc, xử
lý thông tin, lưu giữ thông tin và trên cơ sở những thông tin đã có nó có thể tạo ra
những thông tin mới và phát hiện ý nghĩa của thông tin được tiếp nhận. Tính chất
năng động, sáng tạo của sự phản ánh ý thức còn được thể hiện ở quá trình con người
tạo ra những giả tưởng, giả thuyết, huyền thoại, trong đời sống tinh thần của mình
hoặc khái quát bản chất, quy luật khách quan, xây dựng các mô hình tư tưởng, tri thức
trong các hoạt động của con người.
- Là hiện tượng xã hội, ý thức hình thành, phát triển gắn liền với hoạt động thực tiễn xã hội.
Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội. Sự ra đời và tồn tại
của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối không chỉ của các quy
luật sinh học mà chủ yếu là của các quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội.
Vì thế giới không làm thỏa mãn con người, vì thế con người đã quyết định biến
đổi thế giới bằng hoạt động thực tiễn đa dạng, phong phú của mình. Thông qua thực
tiễn, con người làm biến đổi thế giới và qua đó chủ động khám phá không ngừng cả
bề rộng và chiều sâu của các đối tượng phản ánh.
Ý thức phản ánh này ngày càng sâu sắc, từng bước xâm nhập các tầng bản chất,
quy luật, điều kiện đem lại hiệu quả hoạt động thực tiễn. Trên cơ sở đó, bằng những 4
thao tác của tư duy trừu tượng đem lại những tri thức mới để chỉ đạo hoạt động thực
tiễn chủ động cải tạo thế giới trong hiện thực, sáng tạo ra ‘‘thiên nhiên thứ hai’’ in
đậm dấu ấn của con người.
II. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Theo quan điểm triết học Mác – Lênin, vật chất và ý thức có mối quan hệ biện
chứng, trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất.
1. Vật chất quyết định ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: ‘‘Vật chất có trước, ý thức có sau,
vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức’’ vì:
-Vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức. Các thành tựu của khoa học tự nhiên
hiện đại đã chứng minh giới tự nhiên có trước con người, vật chất là cái có trước, còn
ý thức là cái có sau, vật chất là tính thức nhất, ý thức là tính thứ hai. Vật chất tồn tại
khách quan, độc lập với ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức.
- Vật chất quyết định nội dung của ý thức. Ý thức dưới bất kì hình thức nào, đều
phản ánh hiện thực khách quan. Ý thức mà trong nội dung của nó là kết quả của sự
phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người.
Ví dụ: ở Việt Nam, nhận thức của các học sinh cấp một, hai, ba về công nghệ
thông tin còn kém sở dĩ như vậy là do về máy móc cũng như đội ngũ giáo viên giảng
dậy còn thiếu. Nhưng nếu vấn đề về cơ sở vật chất được đáp ứng thì trình độ công nghệ thông tin ủ
c a các em sẽ tốt hơn rất nhiều.
- Vật chất quyết định bản chất của ý thức. Thực tiễn là hoạt động vật chất có tính
cải biến thế giới của con người – là cơ sở để hình thành, phát triển ý thức, trong đó ý
thức của con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo, phản ánh để sáng tạo và sáng tạo trong phản ánh
- Vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức. Mọi sự tồn tại, phát
triển của ý thức đều gắn liền với quá trình biến đổi của vật chất, vật chất thay đổi thì
sớm hay muộn, ý thức cũng phải thay đổi theo. Trong đời sống xã hội, vai trò quyết
định của vật chất đối với ý thức được biểu hiện ở vai trò của kinh tế đối với chính trị,
đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần, tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội.
2. Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất.
- Tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ, ý thức là sự phản ánh thế
giới vật chất vào trong đầu óc con người, do vật chất sinh ra, nhưng khi đã ra đời thì
ý thức có “đời sống” riêng, có quy luật vận động, phát triển riêng, không lệ thuộc một
cách máy móc vào vật chất.
- Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực tiễn
của con người. Nhờ hoạt động thực tiễn, ý thức có thể làm biến đổi những điều kiện, 5
hoàn cảnh vật chất, thậm chí còn tạo ra “thiên nhiên thứ hai” phục vụ cho cuộc sống của con người.
- Vai trò của ý thức được thể hiện ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động, hành động của
con người, nó có thể quyết định làm cho hoạt động của con người đúng hay sai, thành công hay thất bại.
Ví dụ: Trong đời sống xã hội có câu: ‘‘có thực mới vực được đạo’’. Vật chất
quyết định nguồn gốc ý thức. Nghĩa là não người là dạng vật chất cao có tính chất
của vật chất là cơ quan phản ánh để hoàn thành ý thức.
- Xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất là trong thời đại ngày nay.
Tổng quan lại, quan hệ vật chất và ý thức là quan hệ hai chiều tác động biện
chứng qua lại, trong đó vật chất quyết định ý thức còn ý thức tác động trở lại thực
tiễn thông qua hoạt động nhận thức của con người.
III. Vai trò của tri thức
1.Vai trò của tri thức đối với kinh tế.
- Vai trò tri thức đối với sự phát triển kinh tế
+ Tri thức là nền tảng, là động lực để phát triển kinh tế, là nhân tố đóng vai trò
hết sức quan trọng trong việc góp phần tạo nên mọi thành tựu và tiến bộ trong lịch sử
phát triển của văn minh nhân loại. Tri thức là nhận thức và kinh nghiệm mà loài người
thu được trong quá trình cải tạo thế giới. Do vậy trong bất kì giai đoạn nào con người
cũng luôn ứng dụng tri thức vào việc phát triển kinh tế. Trong các hình thái kinh tế
khác nhau, mức độ tri thức được ứng dụng sâu rộng cũng khác nhau, cho nên tác dụng cũng khác nhau.
+ Trong ba thế kỉ qua, với những thành tựu kì diệu về phát triển khoa học và công
nghệ đã đưa loài người từ nên văn minh nông nghiệp vượt qua nền văn minh công
nghiệp và ngày nay đang tiến vào nên văn minh trí tuệ. Trong nền văn minh trí tuệ,
động lực thúc đẩy sản xuất và phát triển kinh tế không còn là vốn tài nguyên thiên
nhiên hay sức lao động nữa mà đơn giản là tri thức. Vì vậy nền văn minh trí tuệ, tri
thức trở thành động lực lớn nhất của nền kinh tế. Tri thức không giới hạn ở bất cứ
một lĩnh vực nào, nó được thể hiện ở mọi lĩnh vực, đặc biệt là tri thức có vai trò rất
quan trọng trong lĩnh vực kinh tế. Chính bởi vậy mà đất nước có nền kinh tế phát
triển hay không hầu như phụ thuộc vào vốn tri thức của con người.
Ví dụ : Điển hình là các nước Châu Phi, mặc dù là khu vực tài nguyên thiên
nhiên rất phong phú nhưng nền kinh tế phần lớn là kém phát triển. Điều này là do tri
thức còn kém, tỉ lệ người mù chữ còn cao khiến công tác khai thác tài nguyên thiên
nhiên gặp nhiều khó khăn. Ngược lại Nhật Bản là một đất nước có tài nguyên thiên
nhiên vô cùng nghèo nàn, hàng năm phải hứng chịu rất nhiều trận thiên tai như động
đất, sóng thần, … Dù vậy, Nhật Bản lại có nền kinh tế vô cùng phát triển, có giai 6
đoạn nền kinh tế Nhật Bản ‘‘phát triển thần kỳ’’. Một trong những nguyên nhân cơ
bản của sự phát triển đó chính là vốn tri thức rất lớn của con người Nhật Bản. Bởi
vậy họ rất sắc xảo, nhạy bén trong việc nắm bắt thị trường, đổi mới phương pháp kinh
doanh, sáng tạo trong phát triển khoa học, kỹ thuật, đem lại thắng lợi cho nền kinh tế đất nước.
- Tri thức có vai trò quyết định tới thành công hay thất bại của một tổ chức, doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt như ngày nay, các tổ chức, doanh nghiệp,
trong quá trình vận hành và phát triển sẽ không thể tránh khỏi những rủi ro, những
lần đứng trước bờ vực của phá sản. Thế nhưng với một nền móng tri thức tốt, các
doanh nghiệp có thể khai thác dữ liệu, xử lý thông tin, đưa ra những quyết định quan
trọng để giúp tổ chức thoát khỏi những nguy cơ đó. Như vậy tri thức đứng một vị trí
chiến lược quyết định sự thành bại của các tổ chức, doanh nghiệp
Ví dụ: Thật khó tin rằng Apple - một trong những công ty lớn nhất thế giới đã
từng rơi vào tình trạng đứng trước bờ vực phá sản vào năm 1997. Khi đó, Steve Jobs
đã làm điều mà ít người nghĩ đến khi ông có cuộc gọi với Bill Gates, ông chủ của đối
thủ truyền kiếp, Microsoft. Sau đó, Apple được đầu tư 150 triệu USD. Steve Jobs tiếp
đó đã thực hiện rất nhiều thay đổi tại công ty, loại bỏ các rào cản của sự phát triển,
tập trung vào thiết kế sản phẩm để tạo ra những thiết bị đột phá như iPhone, iPad.
Đưa Apple từ một công ty yếu kém, được định giá chỉ khoảng 3 tỷ USD dần trở thành
một công ty có giá trị nhất thế giới.
- Tri thức giúp rút ngắn khoảng cách giữa cách nước phát triển và đang phát triển
Sự xuất hiện kinh tế tri thức vừa là cơ hội những cũng đồng thời là thách thức
của những nước kém và đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Các nước như vậy
nên nhanh chóng tiếp cận nền kinh tế tri thức bằng cách tri thức hóa các ngành công
nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, đồng thời tiếp thu các công nghệ cao từ nước ngoài,
phát triển công nghệ bằng chính “chất xám” của công dân nước mình để nhanh chóng
hội nhập với thế giới. Qua nhiều năm, Việt Nam cũng có những bước chuyển mình
trong nền kinh tế rất rõ rệt khi những ngành cần nhiều lao động chân tay đã dần được
thay thế bằng máy móc để đem lại hiệu quả cao hơn.
Ví dụ: Việt Nam nước nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa. Nếu trước khi người
nông dân phải gặt bằng tay vất vả, phơi thóc phải trông mưa trông nắng; năng suất
thấp. Thế nhưng Việt Nam nhanh chóng tiếp thu được công nghệ cao từ nước ngoài,
đã nhập khẩu các máy móc giúp cho năng suất lao động tăng cao, đời sống nhân dân ấm no.
- Tri thức là lực lượng đặc trưng cho sản xuất hiện đại
Trong nền văn minh nông nghiệp thì sức lao động, đất đai và nhất là sức lao
động trở thành hàng hóa với tư cách là những yếu tố quan trọng trong sự phát triển
kinh tế - xã hội, góp phần chuyển xã hội phong kiến thành xã hội tư bản trong lịch 7
sử. Còn trong nền kinh tế tri thức, yếu tố của sự phát triển nền kinh tế - xã hội không
chỉ bao gồm vốn, đất đai và sức lao động mà chủ yếu dựa vào lao động trí tuệ gắn với
tri thức. Theo C.Mác, tri thức khoa học đã làm cho tư bản cố định như: nhà xưởng,
máy móc được dùng trong sản xuất chuyển hóa đến một mức độ nhất định nào đó thì
trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Nghĩa là, tri thức khoa học được ứng dụng,
được vật hóa thành máy móc, thành công cụ sản xuất của con người và được người
lao động sử dụng trong quá trình sản xuất. Do đó, nó trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
2. Vai trò của tri thức đối với chính trị.
Xã hội được phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu là nhờ một phần
rất lớn từ bộ máy chính trị nhà nước vốn được coi là đầu não của một quốc gia. Để
có thể điều hành xã hội đi đến thời đại mới, ngày một bước gần hơn với chế độ Xã
hội Chủ nghĩa thì bộ máy là sự đóng góp của vô vàn sự lĩnh hội về tri thức ở các lĩnh
vực khác nhau. Mỗi một lĩnh vực là một chân trời tri thức mà con người luôn khao
khát được vươn tới, được lĩnh hội một cách trọn vẹn và từ những hiểu biết đó họ kiến
tạo thành những ý tưởng, xây dựng những bước đi vững mạnh hơn, đưa ra những
chính sách thiết thực hơn nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của nhân dân. Chính
vì vậy mà bộ máy chính trị của mỗi quốc gia luôn phải tuyển chọn những con người
học rộng tài cao, đức độ trung thành với mục tiêu xã hội.
Ví dụ: Sự kiện ngày 5 tháng 6 năm 1911 – ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu
nước. Bác lên đường sang Pháp để học hỏi những điều mà Bác cho là “tinh hoa và
tiến bộ” từ các nước phương Tây nhằm thực hiện công cuộc giải phóng Việt Nam
khỏi ách thuộc địa của thực dân Pháp. Sau 30 năm bôn ba nước ngoài, ngày 28 tháng
1 năm 1941, Bác trở về nước và với vốn tri thức mà Bác đã tiếp thu và nghiên cứu
khi hoạt động ở nước ngoài, Bác đã trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và giành
thắng lợi hoàn toàn. Từ đó ta có thể thấy tri thức có vai trò quan trọng như thế nào đối với chính trị.
3. Vai trò của tri thức đối với Văn hóa - Giáo dục.
Tri thức cũng có vai trò rất lớn đến Văn hóa - Giáo dục của một quốc gia. Giáo
dục là nền tảng của xã hội. Một xã hội phát triển là xã hội ở đó con người được hoàn
thiện bản thân ở các lĩnh vực, đặc biệt là đóng góp cho nềngiáo dục ngày càng phát
triển, cải tiến trên mọi phương diện. Tri thức là “nguồn tài nguyên” vô giá của nhân
loại. Chúng ta phải có tri thức để hiểu biết về văn hóa các nước và tạo nên nền văn
hóa ngày càng lành mạnh ‘‘hòa nhập nhưng không hòa tan’’. Mỗi con người chúng
ta phải có những hiểu biết về tầm quan trọng của giáo dục, biết về nội dung, phương
pháp giáo dục của các nước khác để ngày một cải thiện nền văn hóa- giáo dục của Việt Nam. 8
Qua những mặt yếu kém của nền giáo dục Việt Nam, có tri thức giúp chúng ta
có sự hiểu biết để đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục của nước ta vừa theo kịp
nền tri thức của nhân loại lại vừa giữ gìn bản sắc văn hóa tốt của dân tộc Việt Nam.
B. Sự vận dụng tri thức trong nghiên cứu, học tập của sinh viên.
Như đã tìm hiểu, tri thức là sự hiểu biết, sáng tạo, là những khả năng, kỹ năng
có thể ứng dụng vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì vậy mà tri thức có
vai trò như là sản phẩm của hoạt động học tập và nghiên cứu của sinh viên. Sinh viên
là lớp người có khả năng tiếp thu nhanh những cái mới, nhạy cảm với những biến
động của tình hình kinh tế - xã hội. Cuộc sống trong trường đại học làm nảy sinh ở
sinh viên những nhu cầu mới như nhu cầu tìm hiểu để mở rộng kiến thức, nhu cầu tự
học, tự đào tạo, nhu cầu NCKH, nhu cầu tự khẳng định bản thân trước tâp thể sinh
viên và trước xã hội ,nhu cầu này ngày càng phát triển cao theo định hướng nghề
nghiệp trong quá trình học đại học.
Bản chất của quá trình nghiên cứu và học tập của sinh viên chính là quá trình
sinh viên tích lũy kiến thức chuyên ngành, kiến thức xã hội và các kỹ năng khác để
sau này có thể áp dụng vào những công việc thực tế giúp phát triển kinh tế- xã hội.
Tri thức là khi ta vận dụng kiến thức và sự tìm hiểu, phân tích vào các bài kiểm tra,
NCKH để có thể giúp mang lại kết quả tốt nhất. Nếu không có tri thức thì quá trình
nghiên cứu, học tập của sinh viên sẽ không có nội dung, không có mục đích. Sinh
viên sẽ không thể biết mình đang học gì, làm gì, có ý nghĩa như thế nào.
Tri thức có ở mọi nơi tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên nghiên cứu và học
tập. Sinh viên có thể nghiên cứu và học tập từ sách vở nơi tri thức được đúc kết và
ghi chép lại. Sinh viên có thể nghiên cứu, học tập từ sự truyền đạt của giảng viên-
một trong những phương pháp lưu truyền tri thức. Và thời đại công nghiệp 4.0 phát
triển, chúng ta đang dần số hóa, thế nên sinh viên có thể học tập, nghiên cứu ở trên
mạng internet. Thậm chí sinh viên có thể nghiên cứu, học tập từ đời sống xã hội thực
tế vì đó chính là nguồn tri thức vô tận và rất thiết thực. Và tri thức đã tạo ra những
sản phẩm nghiên cứu học tập, ví dụ như sản phẩm NCKH, hay đơn giản chính là bài
tập lớn em đang làm. Tri thức giúp em hệ thống lại kiến thức, suy nghĩ và phân tích
xem đi theo trình tự như thế nào để cố gắng đạt được kết quả tốt.
Tri thức không chỉ có vai trò là sản phẩm, là nguyên liệu trong quá trình nghiên
cứu và học tập của sinh viên mà nó còn giúp sinh viên nghiên cứu, học tập đúng đắn,
có định hướng. Có tri thức, sinh viên sẽ biết nghiên cứu và học tập những nền tri thức
tiên tiến hơn của nhân loại, biết nghiên cứu và học tập như thế nào để có thể tích lũy
được nhiều tri thức nhất, để không bị lãng phí quá trình nghiên cứu của mình khi còn
là sinh viên. Có tri thức, sinh viên có cái nhìn khách quan rộng hơn về thế giới bên
ngoài nên không chỉ tiếp thu kiến thức ở trong nước mà còn vươn tầm thế giới.
Tri thức giúp sinh viên không tiếp thu những quan điểm sai lệch với chuẩn mực
xã hội trong quá trình nghiên cứu và học tập bên ngoài xã hội. Khi đứng trước những 9
mâu thuẫn, bằng sự thông minh, sức sáng tạo và nghị lực, nhiều sinh viên biết tận
dụng mọi cơ hội, mọi khả năng để vượt qua những thử thách của cuộc sống sinh viên
và đi từ thành công trong học tập đến những thành công trong nghiên cứu khoa học,
trong hoạt động đoàn thể, do đó họ có thể tự tin bước vào đời. Và cũng vì có tri thức,
sinh viên sẽ tổng hợp, đánh giá được đâu là nguồn thông tin quan trọng, chính thống
để giúp cho quá trình học tập tốt hơn, tránh hiểu sai kiến thức hay tiếp cận những kiến thức đã cũ.
Như vậy, đối với riêng sinh viên, tri thức vô cùng cần thiết. Không có ai không
học mà lại thành tài cả. Tất cả mỗi người muốn có cuộc sống đủ đầy, muốn nâng cao
chất lượng đời sống và muốn sống có ích đều phải học tập. Bởi trí thức mang đến cho
ta những hiểu biết thuộc bản chất của các hiện tượng đời sống, giúp ta tìm hiểu sâu
về nguồn cội, về quá trình tiến hoá và cả những phát minh vĩ đại trên thế giới. Tri
thức đưa ta đến những vùng trời mới của sư hiểu biết, thôi thúc ta khám phá, sáng tạo
ra những cái mới cái hay. Tri thức giúp bản thân ngày càng hoàn thiện hơn, biết lựa
chọn những tinh hoa để tiếp nhận, rời xa những xấu xa, ích kỉ, nhỏ nhen tầm thường
trong cuộc sống, biết "gạn đục khơi trong", biết yêu thương nhiều hơn. Tri thức còn
là bản lề để mỗi người cố gắng cho tương lai, là nền móng vững chắc để phát triển trí
tuệ và kỹ năng thực hành, là ngọn đèn soi sáng trong đêm tối, là hành trang dẫn lối ta vào đời.
Và có thể thấy, trong nghiên cứu và học tập của sinh viên không thể thiếu tri
thức. Đối với mỗi sinh viên chúng ta rất nên quan tâm đến việc phát huy vai trò
của bản thân, đóng góp năng lực, trí tuệ, lao động, cho xã hội. Cống hiến hết
mình cho xứng đáng là con người của công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước
mạnh dựa trên cơ sở lý luận biện chứng của triết học Mac-Lênin, kết hợp với
nhiều phương pháp nghiên cứu để có được sự vận dụng tốt hơn những kiến thức của
Triết học trong việc tìm kiếm những tri thức. 10 KẾT LUẬN
Tri thức, tình cảm và ý chí là những nhân tố cấu thành ý thức, chúng có mối quan
hệ mật thiết với nhau. Đặc biệt, vai trò của tri thức ngày càng quan trọng. Đứng trước
thế kỉ 21 - thế kỉ có nhiều biến đổi sâu sắc, nhiệm vụ của chúng ta là: Tìm hiểu những
tri thức mới, cập nhật và làm chủ những tri thức.
Vận dụng tri thức giúp cho quá trình nghiên cứu và học tập của sinh viên đạt kết
quả cao nhất, thúc đẩy việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường,
mang một ý nghĩa vô cùng to lớn, có ý nghĩa thực tiễn cao. Sinh viên phải có được
phương pháp để tiếp thu tri thức thời đại, rồi vận dụng thật tốt những tri thức đó vào thực tế.
Lênin, một nhà triết học, nhà chính trị vĩ đại: “Tri thức là sức mạnh. Ai có tri thức
người đó có sức mạnh”. Vì thế, hãy trau dồi tri thức để không chỉ mang đến sức mạnh
cho chính mình, giúp cho quá trình học tập và nghiên cứu mà còn cho quốc gia, dân
tộc mình góp phần xây dựng một xã hội phồn vinh, tươi đẹp. Hãy là một vì sao lấp
lánh tài năng, bản lĩnh và một trái tim đẹp. 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. GS.TS Phạm Văn Đức - Chủ biên Giáo trình Triết học Mác – Lênin, NXB DHKTQD (2019). 2. Khotrithucso.com
https://khotrithucso.com/tai-lieu-chuyen-nganh/cacmon-dai-cuong/triet-hoc, truy cập ngày 26/3/2020.
3. PGS.TS Nguyễn Viết Thông – Tổng chủ biên Giáo trình những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật (2018). 12