BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------- --------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Đề tài:
PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VỚI KINH TẾ
GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG CHIA DI SẢN THỪA KẾ
Nhóm: 04
Lớp học phần: 2313TLAW0111
Giảng viên hướng dẫn: Cô Trần Hạnh Linh
Hà Nội, tháng 3 năm 2023
2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU………………………………………………………………….....02
PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………………………..
CÂU 1………………………………………………………………………………..
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VỚI KINH TẾ…………………………...03
CÂU 2……………………………………………………………………………….
BÀI TẬP CHIA THỪA KẾ………………………………………………………07
A. CHIA THỪA KẾ TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỀ BÀI YÊU CẦU…………….07
B. GIẢ SỬ ÔNG KHÁNH TỪ CHỐI NHẬN DI SẢN, VIỆC THỪA KẾ CÓ GÌ
KHÁC……………………………………………………………………………..08
CƠ SỞ LÝ THUYẾT……………………………………………………………..08
GIẢI BÀI TẬP……………………………………………………………………12
LỜI KẾT…………………………………………………………………………..13
2
LỜI MỞ ĐẦU
Khi hội ngày càng tiên tiến, ta thể nhận ra sự phát triển của một đất
nước gắn liền với mối quan hệ mật thiết của tình hình kinh tế chính trị, cùng các
chính sách pháp luật. Pháp luật do nhà nước ban hành, phản ánh ý chí nhà nước
của giai cấp thống trị, đồng thời pháp luật cũng được đặt ra để điều chỉnh các quan
hệ hội. Bởi vậy một đất nước sẽ không thể tồn tại phát triển ổn định nếu
thiếu pháp luật. Trong tình hình hiện nay, cùng với sự phát triển đất nước cũng như
hội nhập với quốc tế, vai trò của pháp luật ngày một quan trọng. Thị trường và luật
pháp, thị trường nhà nước pháp quyền; thương mại đạo đức,... phải phối hợp
một cách nhịp nhàng. Nếu như các quan hệ thị trường được xác lập trong pháp luật
đảm bảo tự do công bằng được vận hành trong hàng lang pháp thì không
sự đối lập nào giữa thị trường, thương mại pháp luật. Sự phát triển của thị
trường - pháp luật trong điều kiện đó chính biểu hiện của quá trình dân chủ
thống nhất.
Bên cạnh đó khi kinh tế tăng trưởng, mức sống con người cao hơn, của cải
cũng nhiều hơn, mỗi người lại càng quan tâm đến tài sản cũng như việc bảo vệ tài
sản của nh. Việc phân chia, tranh chấp đã không còn quá xa lạ, xảy ra từ gia
đình, dòng họ cho đến quan tổ chức. Hiểu được nỗi lo ngại này, nhà nước Việt
Nam đã cho ra các bộ luật hay quyền hạn để việc phân chia được rạch ròi, êm xuôi
nhất.
Nhận thức được đây đều những vấn đề quan trọng, nhóm 4 chúng em xin
đem đến đề tài “ và giải quyếtPhân tích mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế”
một tình huống phân chia tài sản để đem đến cho mọi người cái nhìn khách quan
hơn.
Bài thảo luận được hoàn thành nhờ sự đóng góp, xây dựng của tất cả
thành viên trong nhóm. Do còn nhiều điểm hạn chế nên bài làm thể những
thiếu sót, mong cô tận tình góp ý để chúng em hoàn thiện và rút kinh nghiệm.
Em xin chân thành cảm ơn!
2
CÂU 1: Phân tích mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế. Cho ví dụ.
1. Các khái niệm
Pháp luật hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp
thống trị trong xã hội và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội. Có thể pháp luật
xuất hiện từ khi chế độ hữu về tài sản sự phân hóa hội thành giai cấp xuất
hiện, giữa các giai cấp lợi ích đối kháng không thể điều hòa được. Trong khi
giai cấp thống trị bao giờ cũng muốn hướng hành vi của mọi người vào lợi ích
riêng của họ. Do đó khi nắm trong tay các phương tiện quyền lực, giai cấp thống tr
chọn lọc giữ lại, thừa nhận các trật tự chuẩn mực phù hợp với lợi ích của họ
biến chúng thành các trật tự hội, các quy tắc xử sự chung bắt buộc mọi thành
viên trong xã hội phải tuân theo nhằm phục vụ lợi ích riêng của giai cấp thống trị.
Kinh tếtổng hợp các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người
hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại
sản phẩm hàng hóa dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con
người trong một hội với một nguồn lực khan hiếm. Nói đến kinh tế suy cho
cùng là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích.
Pháp luật một trong những yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng hội,
luôn có mối quan hệ chặt chẽ với kinh tế một trong những yếu tố thuộc sở hạ
tầng xã hội. Pháp luật chịu sự tác động của kinh tếnó cũng ảnh hưởng tới sự
phát triển của kinh tế. Đúng như C.Mác đã khẳng định: “Phương thức sản xuất đời
sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt hội, chính trị tinh thần nói
chung”. Mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế cùng phức tạp, bởi vậy cần
xem xét nó trên nhiều bình diện khác nhau.
2. Mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế
Trong mối quan hệ giữa hai yếu tố này, kinh tế luôn giữ vai trò quyết định,
quan hệ kinh tế sẽ quyết định nội dung pháp luật, hình thức sự phát triển của
pháp luật. Bởi phụ thuộc vào kinh tế nên nội dung hình thức của pháp luật
thường phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển
kinh tế. Mọi sự thay đổi trong kinh tế - hội thì sớm hay muộn cũng sẽ dẫn đến
sự thay đổi tương ứng trong hệ thống pháp luật của đất nước.
Thứ nhất: cơ cấu nền kinh tế, hệ thống kinh tế quyết định thành phần cơ cấu
hệ thống các ngành luật. sở kinh tế như tính chất, nội dung của các quan hệ
kinh tế, chế quản kinh tế,... sẽ quyết định sự ra đời, nội dung sự phát triển
của pháp luật.
Thứ hai:nh chất, nội dung của các quan hệ kinh tế, của cơ chế kinh tế quyết
định tính chất, nội dung của các quan hệ pháp luật, tính chất phương pháp điều
chỉnh của pháp luật.
Thứ ba: chế độ kinh tế, thành phần kinh tế tác động quyết định tới sự hình
thành, tồn tại các quan, tổ chức thể chế pháp lý, phương thức hoạt động của
các cơ quan bảo vệ pháp luật và thủ tục pháp lý.
Thứ tư: Sự thay đổi của nền kinh tế sẽ dẫn đến sự thay đổi của pháp luật.
Pháp luật luôn phản ánh trình độ phát triển của kinh tế. Pháp luật không thể cao
hơn hay thấp hơn trình độ phát triển của kinh tế.
Mối quan hệ này càng rõ ràng hơn khi liên hệ thực tế nước ta hiện nay:
Thứ nhất, điều kiện kinh tế hội ảnh hưởng rất quan trọng đến lợi ích
và do đó, tác động đến tư tưởng, quan điểm, thái độ, niềm tin của các tầng lớp nhân
dân đối với pháp luật. Khi nền kinh tế – xã hội phát triển, đời sống vật chất của các
tầng lớp dân được cải thiện, lợi ích kinh tế được đảm bảo thì nhân dân sẽ phấn
khởi tin tưởng vào đường lối kinh tế, chính sách pháp luật, sự lãnh đạo của Đảng
hoạt động điều hành, quản của Nhà Nước. Khi đó, niềm tin của các chủ thể
đối với pháp luật được củng cố. Hoạt động thực hiện pháp luật sẽ mang tính tích
cực , thuận chiều, phù hợp với các giá trị, chuẩn mực pháp luật hiện hành.
Khi kinh tế phát triển, đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện, các cán bộ,
công chức nhà nước, các tầng lớp nhân dân điều kiện mua sắm các phương tiện
nghe, nhìn, điều kiện thỏa mãn các nhu cầu thông tin pháp luật đa dạng cập
nhật. Các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ dễ dàng đến được với đông
đảo cán bộ nhân dân; nhu cầu tìm hiểu, trang bị thông tin, kiến thức pháp luật
trở thành nhu cầu thị giác, thường trực trong suy nghĩ hành động của họ. Điều
đó giúp cho hoạt động thực hiên pháp luật của các chủ thể mang tính tích cực, tự
giác. Còn khi kinh thế chậm phát triển, thu nhập thấp, tình trạng thất nghiệp gia
tăng, lợi ích kinh tế không được đảm bảo, đời sống của cán bộ nhân dân gặp khó
khăn thì tưởng sẽ diễn biến phức tạp, cái xấu hội nảy sinh, tác động tiêu
cực tới việc thực hiện pháp luật. Đây chính mảnh đất tưởng cho sự xuất hiện
các loại hành vi vi phạm pháp luật, đi ngược lại với giá trị, chuẩn mực pháp luật,
như tệ quan lieu, cửa quyền, nhũng nhiễu, tham nhũng trong cán bộ, viên chức nhà
nước; buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế từ phía các doanh nghiệp; trộm cắp,
cướp giật, buôn bán ma túy,… trong các thành phần xã hội bất hảo.
Thứ hai, chế kinh tế cũng ảnh hưởng tới hoạt động thực hiện pháp
luật. Cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp trước đây đã tạo ra tâm lý thụ động, ỷ lại;
do đó, nhận thức pháp luật hoạt động thực hiện pháp luật thường mang tính
phiến diện, một chiều theo kiểu mệnh lệnh chấp hành mệnh lệnh. chế kinh tế
thị trường định hướng hội chủ nghĩa hiện nay với những mặt tích cực của sẽ
tạo ra duy năng động, sang tạo, coi trọng uy tín, chất lượng, hiệu quả của hoạt
động kinh tế; từ đó sẽ tác động tích cực hơn tới ý thức pháp luật hành vi thực
hiện pháp luật của các chủ thế trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt
tiêu dùng. Nhưng mặt trái của kinh tế thị trường cũng sẽ tạo ra tâm sùng bái
đồng tiền, coi tiền là tất cả, bất chấp các giá trị đạo đức, pháp luật; đồng thời sẽ tạo
ra những quan niệm, hành vi sai lệch trong thực hiện pháp luật, lấy đồng tiền làm
thước đo để đánh giá các quan hệ giữa người với người . Đây lại nguyên nhân
phát sinh các hành vi trái pháp luật, môi trường cho các loại tội phạm nảy sinh
và phát triển. hội ngày nay đang càng ngày càng phát triển, đang trong quá trình
hội nhập quốc tế, đòi hỏi nền pháp luật Việt Nam cũng phải thay đổi, bổ sung
chú trọng hơn về vấn đề kinh tế, chính vậy kinh tế càng phát triển lại tác
động vào hoạt động thực hiện pháp luật của người dân. sự tiến bộ trong pháp
luật thì mới có sự chấp hành đúng đắn của nhân dân và ngược lại, kinh tế suy thoái
thì đồng nghĩa với việc pháp luật không được thực hiện nghiêm minh.
dụ 1: Trong thời bao cấp hầu hết sinh hoạt kinh tế đều được Nhà nước
bao cấp, diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch hóa, một đặc điểm của nền kinh tế các
nước thuộc Khối hội chủ nghĩa thời kỳ đó. Theo đó thì kinh tế nhân bị xóa
bỏ, nhường chỗ cho khối kinh tế tập thể và kinh tế do nhà nước chỉ huy. Trong thời
kỳ bao cấp ra đời pháp luật thời kỳ bao cấp với chế độ tem phiếu để quản hàng
hóa.
Cũng chính trong mối quan hệ với kinh tế, pháp luật không chỉ thụ động phụ
thuộc vào kinh tế còn tác động trở lại đối với kinh tế. Pháp luật phương
tiện để quản kinh tế, thực hiện các chính sách kinh tế, các mục tiêu kinh tế.
Thông qua pháp luật, nhà nước hoạch định các chính sách kinh tế trật tự hóa các
hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế, định hướng cho các
quan hệ kinh tế phát triển theo những mục đích của nhà nước. Với cách công
cụ quản của nhà nước, nếu nội dung hình thức của pháp luật phản ánh đúng
trình độ phát triển kinh tế, thể hiện được ý chí lợi ích của lực lượng tiến bộ
trong hội thì pháp luật sẽ tác động tích cực tới kinh tế; ngược lại thì tác động
tiêu cực tới kinh tế.
Tác động tích cực: Nếu pháp luật được ban hành phù hợp với các quy luật
kinh tế - hội thì tác động tích cực đến sự phát triển các quá trình kinh
tế, cũng như cơ cấu của nền kinh tế, ở đây, sự tác động cùng chiều giữa pháp
luật các quá trình kinh tế hội (chẳng hạn khi pháp luật thừa nhận nền
kinh tế nhiều thành phần, vận động theochế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa,sự quản lí của nhà nước tạo điều kiện giải phóng mọi năng lực
sản xuất xã hội...).
Khi pháp luật thể hiện phù hợp với nền kinh tế: Pháp luật thể hiện ý chỉ của
giai cấp thống trị lực lượng tiến bộ trong hội, phản ánh đúng trình độ kinh tế
dẫn tới kinh tế phát triển, pháp luật tạo hành lang tốt cho kinh tế phát triển
Ví dụ 2: Pháp luật tư sản thời kì đầu, sau thắng lợi của cách mạng tư sản đã
thể hiện nội dung tiến bộ so với pháp luật phong kiến tác động tích cực
góp phần xóa bỏ những quan hệ kinh tế - hội lỗi thời lạc hậu, cũng cổ thúc
đẩy sự phát triển của những quan hệ kinh tế - xã hội mới hình thành trong xã hội tư
bản chủ nghĩa. Nhung đến thời đế quốc chủ nghĩa đã tác động tiêu cực đến
các quá trình kinh tế, chính trị, hội gây nhiều phản ứng mạnh mẽ, đe dọa trật tự
hội bản. Để khắc phục nhược điểm đó các nhà nước bản đã nhiều lần điều
chỉnh, phải thay đổi đường lối để pháp luật thích ủng được tình hình. Pháp luật
hội chủ nghĩa thể hiện ý chỉ của giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân lao động
dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, phản ánh đúng đắn trình độ phát triển của chế
độ kinh tế hội chủ nghĩa. Cho nên pháp luật hội chủ nghĩa nội dung tiến
bộ và giữ vai trò tích cực trong việc tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội
Tác động tiêu cực: khi pháp luật không phù hợp với các quy luật pháp triển
kinh tế - hội được ban hành do ý chí chủ quan của con người thì sẽ
kìm hãm toàn bộ nền kinh tế. hoặc một bộ phận của nền kinh tế (cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp, bằng các mệnh lệnh, quy định hành chính đối với
các hoạt động kinh tế, đã làm nền kinh tế bị trì trệ dẫn đến khủng hoảng)
Tuy nhiên, trong bước quá độ chuyển từ chế kinh tế này sang cấu
kinh tế khác, các quan hệ kinh tế chưa hoàn toàn mất đi, quan hệ kinh tế mới
đang hình thành phát triển nhưng chưa ổn định thì pháp luật thể tác động
kích thích sự phát triển kinh tế những mặt, lĩnh vực này nhưng lại kìm hãm sự
phát triển kinh tế ở những mặt, lĩnh vực khác.
dụ 3: pháp luật của hội phong kiến trong thời cuối lạc hậu, không
phù hợp với nền sản xuất công nghiệp.
CÂU 2: Ông Quốc Hằng hai vợ chồng, tài sản chung 2 tỷ
đồng. Họ 2 con chung Nam (sinh năm 2001), Tuấn (sinh năm 2005).
Do cuộc sống chung không hạnh phúc, ông Quốc và bà Hằng đã ly thÂn. Nam
là đứa con hư hỏng, đã có lần đánh ông Quốc gây thương tích và bị Tòa kết án
về hành vi này.
Năm 2019, ông Quốc bị tai nạn xe máy. Trước khi chết trong bệnh viện,
ông có để lại di chúc miệng (trước nhiều người làm chứng) là để lại toàn bộ tài
sản của mình cho ông bác ruột Khánh, Hằng đã kiện ra tòa yêu cầu
không chia tài sản thừa kế cho ông Khánh.
a) Chia di sản thừa kế trong trường hợp trên?
Theo điều 627. Hình thức của di chúc
Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn
bản thì có thể di chúc miệng
Theo điều 629. Di chúc miệng
Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa không thể lập di chúc
bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
Theo điều 630. Di chúc hợp pháp
Di chúc miệng được coi hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí
cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng ngay sau khi người
di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng tên
hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng
thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc quan
thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
vậy theo 3 điều trên trước khi chết (trước nhiều người làm chứng) ông Quốc
đã để lại toàn bộ tài sản cho bác ruột Khánh nên tất cả tài sản thừa kế của
Khánh.
b) Giả sử ông Khánh từ chối nhận di sản. việc chia thừa kế trên
khác?
Phần 1. Cơ sở lý thuyết
I. Từ chối nhận di sản thừa kế
1. Quyền từ chối nhận di sản thừa kế
Theo Căn cứ Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015, người thừa kế quyền từ
chối nhận di sản:
“1. Người thừa kếquyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối
nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người
khác.
2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản gửi đến người
quản di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân
chia di sản để biết.
3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di
sản”.
Như vậy, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản được thừa kế theo di chúc
hoặc thừa kế theo pháp luật (trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực
hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác). Khi từ chối nhận di sản thì
người thừa kế phải lập văn bản từ chối trước thời điểm phân chia di sản.
Vậy ông Khánh có quyền từ chối nhận di sản do ông Quốc để lại.
2. Phần di sản do người thừa kế từ chối nhận sẽ được chia thừa kế
theo pháp luật
Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định những trường hợp thừa kế theo
pháp luật như sau:
“1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm
với người lập di chúc; quan, t chức được hưởng thừa kế theo di chúc
không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc không
quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
b) Phần di sản liên quan đến phần của di chúc không hiệu lực pháp
luật;
c) Phần di sản liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ
không quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết
cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến quan, tổ chức được
hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa
kế”.
Căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 nêu trên, phần di sản liên quan đến
người được thừa kế theo di chúc nhưng họ từ chối nhận di sản thì phần di sản này
được thừa kế theo pháp luật.
II. Di chúc miệng
1. Di chúc miệng là gì?
Theo Điều 627 và Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
- Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc
bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.
- Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa không thể lập di
chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
2. Di chúc miệng khi nào thì có hiệu lực?
2.1 Khi nào thì được phép lập di chúc miệng
Theo quy định tại khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc miệng
được coi là hợp pháp khi đáp ứng các điều kiện sau:
- Người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất
hai người làm chứng.
- Ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm
chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ.
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện
ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc quan thẩm
quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
2.2 Điều kiện đối với người lập di chúc
Trong hoàn cảnh nguy kịch, tai nạn hoặc bị cái chết đe dọa ,... người lập di
chúc có thể được phép để lại di chúc miệng, tuy nhiên vẫn phải đáp ứng đầy đủ các
điều kiện về năng lực lập di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể:
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc
- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo
đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
- Di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được lập thành
văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
- Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ
phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
2.3 Điều kiện đối với người làm chứng
Người làm chứng đối với di chúc miệng phải đáp ứng điều kiện đối với
người lập di chúc theo Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015:
Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau:
- Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.
- Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người khó
khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Những người thừa kế theo pháp luật của người lập di chúc theo quy định tại
Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 gồm:
+ Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ
nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
+ Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, nội, ông ngoại, ngoại,
anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết
người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
+ Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác
ruột, chú ruột, cậu ruột, ruột, ruột của người chết; cháu ruột của
người chết người chết bác ruột, chú ruột, cậu ruột, ruột, ruột;
chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
III. Những người không được hưởng di sản
Theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, những người sau đây không được
quyền hưởng di sản, cũng như quyền thừa kế nhà đất, bao gồm:
Trường hợp 1: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm
phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó.
Trường hợp 2: Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để
lại di sản.
Trường hợp 3: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người
thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó
có quyền hưởng.
Trường hợp 4: Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để
lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc,
che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của
người để lại di sản.
Tuy nhiên, những người này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản
đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.
Trường hợp 5: Con đã thành niên khả năng lao động toàn bộ di sản
được thừa kế theo di chúc hợp pháp nhưng không cho người con đó hưởng thừa kế
Theo khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba
suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật,
trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho
hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động”.
Từ quy định trên, nếu con đã thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên) khả năng
lao động không được hưởng di sản sản thừa kế khi:
- Người lập di chúc không cho người đó hưởng thừa kế theo di chúc.
- Toàn bộ di sản quyền sử dụng đất, nhà được thừa kế theo di chúc hợp
pháp.
Phần 2. Giải quyết bài toán
Bước 1: Xác định di sản thừa kế
Ông Quốc Hằng 2 vợ chồng, tài sản chung 2 tỷ đồng, di sản
thừa kế ở đây là phần tài sản trong khối tài sản chung của 2 ông bà.
- Ta có:
Di sản của ông Quốc =
Tài sản chung vợ chồng
2
=
2Tỷ
2
= 1 Tỷ (đồng)
Vậy di sản thừa kế của ông Quốc là 1 tỷ đồng.
Bước 2: Chia di sản thừa kế theo pháp luật
Nếu người thừa kế từ bỏ quyền thừa kế của mình hợp pháp theo quy định
của pháp luật thì di sản bị từ chối đó sẽ được chia theo pháp luật cho những đồng
thừa kế còn lại (Theo quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015) Vậy ông Khánh
- người thừa kế theo di chúc của ông Quốc để lại đã từ chối nhận di sản nên trong
trường hợp này di sản bị từ chối đó sẽ được chia theo pháp luật.
● Xác định những người thừa kế theo pháp luật được chia:
Về nguyên tắc, những người hưởng di sản thừa kế theo pháp luật được xếp
thành các hàng thừa kế theo thứ tự ưu tiên 1,2,3. Vậy nên trong trường hợp này, di
sản thừa kế sẽ được chia cho hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: Vợ của ông Quốc là
bà Hằng, con trai thứ hai của ông Quốc là Tuấn
● Những người sau đây không được chia:
+ - con trai cả của ông Quốc: đứa con hỏng, đã lần đánh ôngNam
Quốc gây thương tích bị Tòa kết án về hành vi này. Đây hành vi cố ý xâm
phạm tính mạng, sức khỏe của người để lại di sản ông Quốc nên Nam sẽ không
quyền được hưởng di sản do ông Quốc để lại (Trường hợp 3 Điều 621 Bộ luật
Dân sự 2015)
+ - bác ruột của ông Quốc: là người từ chối nhận di sản thừa kếÔng Khánh
nên không nằm trong danh sách những người được hưởng di sản do ông Quốc để
lại.
Di sản thừa kế được chia lúc này là:
Bà Hằng = Tuấn =
1
2
di sản thừa kế =
1Tỷ
2
= 500 triệu
Kết luận: Trường hợp ông Khánh từ chối nhận di sản thì di sản thừa kế của ông
Quốc sẽ được chia cho bà Hằng và Tuấn mỗi người 500 triệu đồng.
PHẦN KẾT
thể khẳng định kinh tế pháp luật hai yếu t luôn đi liền gắn
không tách rời với nhau, kinh tế giữ vai trò quyết định, quan hệ kinh tế sẽ quyết
định nội dung pháp luật, hình thức sự phát triển của pháp luật. Bởi phụ thuộc
vào kinh tế nên nội dung và hình thức của pháp luật thường phản ánh đúng trình độ
phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế. Mọi sự thay đổi trong
kinh tế - hội thì sớm hay muộn cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi tương ứng trong hệ
thống pháp luật của đất nước. Chỉ khi hai yếu tố này thống nhất hòa hợp, đất nước
mới phát triển, hội mới đi lên con người sẽ được sống trong môi trường tân
tiến, hiên đại, văn minh nhất.
Môi trường càng văn minh hiện đại, quyền con người càng được đặc biệt
chú trọng cao hơn. Quyền thừa kế của công dân đã sớm được đề cập trong Hiến
pháp 1996, trải qua nhiều lần sừa đổi, đến nay những điều luật đã ngày càng được
hoàn thiện, khắc phục được nhiều điểm chưa phù hợp. Qua bài tập tiểu luận chúng
em nhận thấy việc nắm các kiến thức pháp luật rất quan trọng để thể bảo
vệ quyền cũng như lợi ích của bản thân mình những người xung quanh. Đặc
biệt, hình thức nào việc xác định phân chia di sản cũng sẽ phúc tạp
nhiều tình huống xảy ra.
Do mặt kiến thức vẫn chưa được hoàn thiện, không thể tránh khỏi hoàn toàn
sai sót, mong giảng viên thể góp ý, bổ sung giúp chúng em hoàn thiện bài của
nhóm.
Em xin trân thành cảm ơn !

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG Đề tài:
PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VỚI KINH TẾ
GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG CHIA DI SẢN THỪA KẾ Nhóm: 04
Lớp học phần: 2313TLAW0111
Giảng viên hướng dẫn: Cô Trần Hạnh Linh
Hà Nội, tháng 3 năm 2023 2 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU………………………………………………………………….....02
PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………………………..
CÂU 1………………………………………………………………………………..
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VỚI KINH TẾ…………………………...03
CÂU 2……………………………………………………………………………….
BÀI TẬP CHIA THỪA KẾ………………………………………………………07
A. CHIA THỪA KẾ TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỀ BÀI YÊU CẦU…………….07
B. GIẢ SỬ ÔNG KHÁNH TỪ CHỐI NHẬN DI SẢN, VIỆC THỪA KẾ CÓ GÌ
KHÁC……………………………………………………………………………..08
CƠ SỞ LÝ THUYẾT……………………………………………………………..08
GIẢI BÀI TẬP……………………………………………………………………12
LỜI KẾT…………………………………………………………………………..13 2 LỜI MỞ ĐẦU
Khi xã hội ngày càng tiên tiến, ta có thể nhận ra sự phát triển của một đất
nước gắn liền với mối quan hệ mật thiết của tình hình kinh tế chính trị, cùng các
chính sách pháp luật. Pháp luật là do nhà nước ban hành, phản ánh ý chí nhà nước
của giai cấp thống trị, đồng thời pháp luật cũng được đặt ra để điều chỉnh các quan
hệ xã hội. Bởi vậy một đất nước sẽ không thể tồn tại và phát triển ổn định nếu
thiếu pháp luật. Trong tình hình hiện nay, cùng với sự phát triển đất nước cũng như
hội nhập với quốc tế, vai trò của pháp luật ngày một quan trọng. Thị trường và luật
pháp, thị trường và nhà nước pháp quyền; thương mại và đạo đức,... phải phối hợp
một cách nhịp nhàng. Nếu như các quan hệ thị trường được xác lập trong pháp luật
đảm bảo tự do và công bằng được vận hành trong hàng lang pháp lý thì không có
sự đối lập nào giữa thị trường, thương mại và pháp luật. Sự phát triển của thị
trường - pháp luật trong điều kiện đó chính là biểu hiện của quá trình dân chủ thống nhất.
Bên cạnh đó khi kinh tế tăng trưởng, mức sống con người cao hơn, của cải
cũng nhiều hơn, mỗi người lại càng quan tâm đến tài sản cũng như việc bảo vệ tài
sản của mình. Việc phân chia, tranh chấp đã không còn quá xa lạ, xảy ra từ gia
đình, dòng họ cho đến cơ quan tổ chức. Hiểu được nỗi lo ngại này, nhà nước Việt
Nam đã cho ra các bộ luật hay quyền hạn để việc phân chia được rạch ròi, êm xuôi nhất.
Nhận thức được đây đều là những vấn đề quan trọng, nhóm 4 chúng em xin
đem đến đề tài “Phân tích mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế” và giải quyết
một tình huống phân chia tài sản để đem đến cho mọi người cái nhìn khách quan hơn.
Bài thảo luận được hoàn thành là nhờ sự đóng góp, xây dựng của tất cả
thành viên trong nhóm. Do còn nhiều điểm hạn chế nên bài làm có thể có những
thiếu sót, mong cô tận tình góp ý để chúng em hoàn thiện và rút kinh nghiệm. Em xin chân thành cảm ơn! 2
CÂU 1: Phân tích mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế. Cho ví dụ. 1. Các khái niệm
Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp
thống trị trong xã hội và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội. Có thể pháp luật
xuất hiện từ khi chế độ tư hữu về tài sản và sự phân hóa xã hội thành giai cấp xuất
hiện, giữa các giai cấp có lợi ích đối kháng không thể điều hòa được. Trong khi
giai cấp thống trị bao giờ cũng muốn hướng hành vi của mọi người vào lợi ích
riêng của họ. Do đó khi nắm trong tay các phương tiện quyền lực, giai cấp thống trị
chọn lọc giữ lại, thừa nhận các trật tự chuẩn mực phù hợp với lợi ích của họ và
biến chúng thành các trật tự xã hội, các quy tắc xử sự chung bắt buộc mọi thành
viên trong xã hội phải tuân theo nhằm phục vụ lợi ích riêng của giai cấp thống trị.
Kinh tế là tổng hợp các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và xã
hội – liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại
sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con
người trong một xã hội với một nguồn lực khan hiếm. Nói đến kinh tế suy cho
cùng là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích.
Pháp luật là một trong những yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội, nó
luôn có mối quan hệ chặt chẽ với kinh tế là một trong những yếu tố thuộc cơ sở hạ
tầng xã hội. Pháp luật chịu sự tác động của kinh tế và nó cũng có ảnh hưởng tới sự
phát triển của kinh tế. Đúng như C.Mác đã khẳng định: “Phương thức sản xuất đời
sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói
chung”. Mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế là vô cùng phức tạp, bởi vậy cần
xem xét nó trên nhiều bình diện khác nhau.
2. Mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế
Trong mối quan hệ giữa hai yếu tố này, kinh tế luôn giữ vai trò quyết định,
quan hệ kinh tế sẽ quyết định nội dung pháp luật, hình thức và sự phát triển của
pháp luật. Bởi phụ thuộc vào kinh tế nên nội dung và hình thức của pháp luật
thường phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển
kinh tế. Mọi sự thay đổi trong kinh tế - xã hội thì sớm hay muộn cũng sẽ dẫn đến
sự thay đổi tương ứng trong hệ thống pháp luật của đất nước.
Thứ nhất: cơ cấu nền kinh tế, hệ thống kinh tế quyết định thành phần cơ cấu
hệ thống các ngành luật. Cơ sở kinh tế như tính chất, nội dung của các quan hệ
kinh tế, cơ chế quản lí kinh tế,... sẽ quyết định sự ra đời, nội dung và sự phát triển của pháp luật.
Thứ hai: tính chất, nội dung của các quan hệ kinh tế, của cơ chế kinh tế quyết
định tính chất, nội dung của các quan hệ pháp luật, tính chất phương pháp điều chỉnh của pháp luật.
Thứ ba: chế độ kinh tế, thành phần kinh tế tác động quyết định tới sự hình
thành, tồn tại các cơ quan, tổ chức và thể chế pháp lý, phương thức hoạt động của
các cơ quan bảo vệ pháp luật và thủ tục pháp lý.
Thứ tư: Sự thay đổi của nền kinh tế sẽ dẫn đến sự thay đổi của pháp luật.
Pháp luật luôn phản ánh trình độ phát triển của kinh tế. Pháp luật không thể cao
hơn hay thấp hơn trình độ phát triển của kinh tế.
Mối quan hệ này càng rõ ràng hơn khi liên hệ thực tế nước ta hiện nay:
Thứ nhất, điều kiện kinh tế – xã hội có ảnh hưởng rất quan trọng đến lợi ích
và do đó, tác động đến tư tưởng, quan điểm, thái độ, niềm tin của các tầng lớp nhân
dân đối với pháp luật. Khi nền kinh tế – xã hội phát triển, đời sống vật chất của các
tầng lớp dân cư được cải thiện, lợi ích kinh tế được đảm bảo thì nhân dân sẽ phấn
khởi tin tưởng vào đường lối kinh tế, chính sách pháp luật, sự lãnh đạo của Đảng
và hoạt động điều hành, quản lý của Nhà Nước. Khi đó, niềm tin của các chủ thể
đối với pháp luật được củng cố. Hoạt động thực hiện pháp luật sẽ mang tính tích
cực , thuận chiều, phù hợp với các giá trị, chuẩn mực pháp luật hiện hành.
Khi kinh tế phát triển, đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện, các cán bộ,
công chức nhà nước, các tầng lớp nhân dân có điều kiện mua sắm các phương tiện
nghe, nhìn, có điều kiện thỏa mãn các nhu cầu thông tin pháp luật đa dạng và cập
nhật. Các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ dễ dàng đến được với đông
đảo cán bộ và nhân dân; nhu cầu tìm hiểu, trang bị thông tin, kiến thức pháp luật
trở thành nhu cầu thị giác, thường trực trong suy nghĩ và hành động của họ. Điều
đó giúp cho hoạt động thực hiên pháp luật của các chủ thể mang tính tích cực, tự
giác. Còn khi kinh thế chậm phát triển, thu nhập thấp, tình trạng thất nghiệp gia
tăng, lợi ích kinh tế không được đảm bảo, đời sống của cán bộ nhân dân gặp khó
khăn thì tư tưởng sẽ diễn biến phức tạp, cái xấu có cơ hội nảy sinh, tác động tiêu
cực tới việc thực hiện pháp luật. Đây chính là mảnh đất lý tưởng cho sự xuất hiện
các loại hành vi vi phạm pháp luật, đi ngược lại với giá trị, chuẩn mực pháp luật,
như tệ quan lieu, cửa quyền, nhũng nhiễu, tham nhũng trong cán bộ, viên chức nhà
nước; buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế từ phía các doanh nghiệp; trộm cắp,
cướp giật, buôn bán ma túy,… trong các thành phần xã hội bất hảo.
Thứ hai, cơ chế kinh tế cũng có ảnh hưởng tới hoạt động thực hiện pháp
luật. Cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp trước đây đã tạo ra tâm lý thụ động, ỷ lại;
do đó, nhận thức pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật thường mang tính
phiến diện, một chiều theo kiểu mệnh lệnh – chấp hành mệnh lệnh. Cơ chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay với những mặt tích cực của nó sẽ
tạo ra tư duy năng động, sang tạo, coi trọng uy tín, chất lượng, hiệu quả của hoạt
động kinh tế; từ đó sẽ tác động tích cực hơn tới ý thức pháp luật và hành vi thực
hiện pháp luật của các chủ thế trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt
và tiêu dùng. Nhưng mặt trái của kinh tế thị trường cũng sẽ tạo ra tâm lý sùng bái
đồng tiền, coi tiền là tất cả, bất chấp các giá trị đạo đức, pháp luật; đồng thời sẽ tạo
ra những quan niệm, hành vi sai lệch trong thực hiện pháp luật, lấy đồng tiền làm
thước đo để đánh giá các quan hệ giữa người với người . Đây lại là nguyên nhân
phát sinh các hành vi trái pháp luật, là môi trường cho các loại tội phạm nảy sinh
và phát triển. Xã hội ngày nay đang càng ngày càng phát triển, đang trong quá trình
hội nhập quốc tế, đòi hỏi nền pháp luật Việt Nam cũng phải thay đổi, bổ sung và
chú trọng hơn về vấn đề kinh tế, chính vì vậy kinh tế càng phát triển nó lại tác
động vào hoạt động thực hiện pháp luật của người dân. Có sự tiến bộ trong pháp
luật thì mới có sự chấp hành đúng đắn của nhân dân và ngược lại, kinh tế suy thoái
thì đồng nghĩa với việc pháp luật không được thực hiện nghiêm minh.
Ví dụ 1: Trong thời bao cấp hầu hết sinh hoạt kinh tế đều được Nhà nước
bao cấp, diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch hóa, một đặc điểm của nền kinh tế các
nước thuộc Khối xã hội chủ nghĩa thời kỳ đó. Theo đó thì kinh tế tư nhân bị xóa
bỏ, nhường chỗ cho khối kinh tế tập thể và kinh tế do nhà nước chỉ huy. Trong thời
kỳ bao cấp ra đời pháp luật thời kỳ bao cấp với chế độ tem phiếu để quản lý hàng hóa.
Cũng chính trong mối quan hệ với kinh tế, pháp luật không chỉ thụ động phụ
thuộc vào kinh tế mà nó còn tác động trở lại đối với kinh tế. Pháp luật là phương
tiện để quản lý kinh tế, thực hiện các chính sách kinh tế, các mục tiêu kinh tế.
Thông qua pháp luật, nhà nước hoạch định các chính sách kinh tế trật tự hóa các
hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế, định hướng cho các
quan hệ kinh tế phát triển theo những mục đích của nhà nước. Với tư cách là công
cụ quản lý của nhà nước, nếu nội dung và hình thức của pháp luật phản ánh đúng
trình độ phát triển kinh tế, thể hiện được ý chí và lợi ích của lực lượng tiến bộ
trong xã hội thì pháp luật sẽ tác động tích cực tới kinh tế; ngược lại thì tác động tiêu cực tới kinh tế.
Tác động tích cực: Nếu pháp luật được ban hành phù hợp với các quy luật
kinh tế - xã hội thì nó tác động tích cực đến sự phát triển các quá trình kinh
tế, cũng như cơ cấu của nền kinh tế, ở đây, sự tác động cùng chiều giữa pháp
luật và các quá trình kinh tế xã hội (chẳng hạn khi pháp luật thừa nhận nền
kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, có sự quản lí của nhà nước tạo điều kiện giải phóng mọi năng lực sản xuất xã hội...).
Khi pháp luật thể hiện phù hợp với nền kinh tế: Pháp luật thể hiện ý chỉ của
giai cấp thống trị là lực lượng tiến bộ trong xã hội, phản ánh đúng trình độ kinh tế
dẫn tới kinh tế phát triển, pháp luật tạo hành lang tốt cho kinh tế phát triển
Ví dụ 2: Pháp luật tư sản thời kì đầu, sau thắng lợi của cách mạng tư sản đã
thể hiện rõ nội dung tiến bộ so với pháp luật phong kiến và có tác động tích cực
góp phần xóa bỏ những quan hệ kinh tế - xã hội lỗi thời lạc hậu, cũng cổ và thúc
đẩy sự phát triển của những quan hệ kinh tế - xã hội mới hình thành trong xã hội tư
bản chủ nghĩa. Nhung đến thời kì đế quốc chủ nghĩa nó đã tác động tiêu cực đến
các quá trình kinh tế, chính trị, xã hội gây nhiều phản ứng mạnh mẽ, đe dọa trật tự
xã hội tư bản. Để khắc phục nhược điểm đó các nhà nước tư bản đã nhiều lần điều
chỉnh, phải thay đổi đường lối để pháp luật thích ủng được tình hình. Pháp luật xã
hội chủ nghĩa thể hiện ý chỉ của giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân lao động
dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, phản ánh đúng đắn trình độ phát triển của chế
độ kinh tế xã hội chủ nghĩa. Cho nên pháp luật xã hội chủ nghĩa có nội dung tiến
bộ và giữ vai trò tích cực trong việc tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội
Tác động tiêu cực: khi pháp luật không phù hợp với các quy luật pháp triển
kinh tế - xã hội được ban hành do ý chí chủ quan của con người thì nó sẽ
kìm hãm toàn bộ nền kinh tế. hoặc một bộ phận của nền kinh tế (cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp, bằng các mệnh lệnh, quy định hành chính đối với
các hoạt động kinh tế, đã làm nền kinh tế bị trì trệ dẫn đến khủng hoảng)
Tuy nhiên, trong bước quá độ chuyển từ cơ chế kinh tế này sang cơ cấu
kinh tế khác, các quan hệ kinh tế cũ chưa hoàn toàn mất đi, quan hệ kinh tế mới
đang hình thành và phát triển nhưng chưa ổn định thì pháp luật có thể tác động
kích thích sự phát triển kinh tế ở những mặt, lĩnh vực này nhưng lại kìm hãm sự
phát triển kinh tế ở những mặt, lĩnh vực khác.
Ví dụ 3: pháp luật của xã hội phong kiến trong thời kì cuối lạc hậu, không
phù hợp với nền sản xuất công nghiệp.
CÂU 2: Ông Quốc và bà Hằng là hai vợ chồng, có tài sản chung là 2 tỷ
đồng. Họ có 2 con chung là Nam (sinh năm 2001), và Tuấn (sinh năm 2005).
Do cuộc sống chung không hạnh phúc, ông Quốc và bà Hằng đã ly thÂn. Nam
là đứa con hư hỏng, đã có lần đánh ông Quốc gây thương tích và bị Tòa kết án về hành vi này.

Năm 2019, ông Quốc bị tai nạn xe máy. Trước khi chết trong bệnh viện,
ông có để lại di chúc miệng (trước nhiều người làm chứng) là để lại toàn bộ tài
sản của mình cho ông bác ruột là Khánh, Bà Hằng đã kiện ra tòa yêu cầu
không chia tài sản thừa kế cho ông Khánh.

a) Chia di sản thừa kế trong trường hợp trên?
Theo điều 627. Hình thức của di chúc
Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn
bản thì có thể di chúc miệng
 Theo điều 629. Di chúc miệng
Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc
bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
 Theo điều 630. Di chúc hợp pháp
Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí
cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người
di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên
hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng
thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có
thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Vì vậy theo 3 điều trên trước khi chết (trước nhiều người làm chứng) ông Quốc
đã để lại toàn bộ tài sản cho bác ruột là Khánh nên tất cả tài sản thừa kế là của Khánh.
b) Giả sử ông Khánh từ chối nhận di sản. việc chia thừa kế trên có gì khác?
Phần 1. Cơ sở lý thuyết
I. Từ chối nhận di sản thừa kế
1. Quyền từ chối nhận di sản thừa kế
Theo Căn cứ Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản:
“1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối
nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người
quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân
chia di sản để biết.

3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản”.
Như vậy, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản được thừa kế theo di chúc
hoặc thừa kế theo pháp luật (trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực
hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác). Khi từ chối nhận di sản thì
người thừa kế phải lập văn bản từ chối trước thời điểm phân chia di sản.
Vậy ông Khánh có quyền từ chối nhận di sản do ông Quốc để lại.
2. Phần di sản do người thừa kế từ chối nhận sẽ được chia thừa kế theo pháp luật
Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định những trường hợp thừa kế theo pháp luật như sau:
“1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây: a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm
với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc
không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có
quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;
c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ
không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết
cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được
hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”.

Căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 nêu trên, phần di sản có liên quan đến
người được thừa kế theo di chúc nhưng họ từ chối nhận di sản thì phần di sản này
được thừa kế theo pháp luật. II. Di chúc miệng 1. Di chúc miệng là gì?
Theo Điều 627 và Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
- Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc
bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.
- Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di
chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
2. Di chúc miệng khi nào thì có hiệu lực?
2.1 Khi nào thì được phép lập di chúc miệng
Theo quy định tại khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc miệng
được coi là hợp pháp khi đáp ứng các điều kiện sau:
- Người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất
hai người làm chứng.
- Ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm
chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ.
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện
ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm
quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

2.2 Điều kiện đối với người lập di chúc
Trong hoàn cảnh nguy kịch, tai nạn hoặc bị cái chết đe dọa ,... người lập di
chúc có thể được phép để lại di chúc miệng, tuy nhiên vẫn phải đáp ứng đầy đủ các
điều kiện về năng lực lập di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể:
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc
- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo

đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
- Di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được lập thành
văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
- Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ
phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
2.3 Điều kiện đối với người làm chứng
Người làm chứng đối với di chúc miệng phải đáp ứng điều kiện đối với
người lập di chúc theo Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015:
Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau:
- Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.
- Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó
khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Những người thừa kế theo pháp luật của người lập di chúc theo quy định tại
Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 gồm:
+ Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ
nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
+ Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại,
anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà
người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

+ Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác
ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của
người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột;
chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

III. Những người không được hưởng di sản
Theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, những người sau đây không được
quyền hưởng di sản, cũng như quyền thừa kế nhà đất, bao gồm:
Trường hợp 1: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm
phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó.

Trường hợp 2: Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.
Trường hợp 3: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người
thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng.
Trường hợp 4: Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để
lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc,
che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của
người để lại di sản.

Tuy nhiên, những người này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản
đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.
Trường hợp 5: Con đã thành niên có khả năng lao động và toàn bộ di sản
được thừa kế theo di chúc hợp pháp nhưng không cho người con đó hưởng thừa kế
Theo khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba
suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật,
trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho
hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động”.

Từ quy định trên, nếu con đã thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên) có khả năng
lao động không được hưởng di sản sản thừa kế khi:
- Người lập di chúc không cho người đó hưởng thừa kế theo di chúc.
- Toàn bộ di sản là quyền sử dụng đất, nhà ở được thừa kế theo di chúc hợp pháp.
Phần 2. Giải quyết bài toán
Bước 1: Xác định di sản thừa kế

Ông Quốc và bà Hằng là 2 vợ chồng, có tài sản chung là 2 tỷ đồng, di sản
thừa kế ở đây là phần tài sản trong khối tài sản chung của 2 ông bà. - Ta có:
Di sản của ông Quốc = Tàisản chungvợ chồng = 2Tỷ = 1 Tỷ (đồng) 2 2
Vậy di sản thừa kế của ông Quốc là 1 tỷ đồng.
Bước 2: Chia di sản thừa kế theo pháp luật
Nếu người thừa kế từ bỏ quyền thừa kế của mình hợp pháp theo quy định
của pháp luật thì di sản bị từ chối đó sẽ được chia theo pháp luật cho những đồng
thừa kế còn lại (Theo quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015) Vậy ông Khánh
- người thừa kế theo di chúc của ông Quốc để lại đã từ chối nhận di sản nên trong
trường hợp này di sản bị từ chối đó sẽ được chia theo pháp luật.
● Xác định những người thừa kế theo pháp luật được chia:
Về nguyên tắc, những người hưởng di sản thừa kế theo pháp luật được xếp
thành các hàng thừa kế theo thứ tự ưu tiên 1,2,3. Vậy nên trong trường hợp này, di
sản thừa kế sẽ được chia cho hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: Vợ của ông Quốc là
bà Hằng, con trai thứ hai của ông Quốc là Tuấn

● Những người sau đây không được chia:
+ Nam - con trai cả của ông Quốc: là đứa con hư hỏng, đã có lần đánh ông
Quốc gây thương tích và bị Tòa kết án về hành vi này. Đây là hành vi cố ý xâm
phạm tính mạng, sức khỏe của người để lại di sản là ông Quốc nên Nam sẽ không
có quyền được hưởng di sản do ông Quốc để lại (Trường hợp 3 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015)
+ Ông Khánh - bác ruột của ông Quốc: là người từ chối nhận di sản thừa kế
nên không nằm trong danh sách những người được hưởng di sản do ông Quốc để lại.
Di sản thừa kế được chia lúc này là:
Bà Hằng = Tuấn = 1 di sản thừa kế = 1Tỷ = 500 triệu 2 2
Kết luận: Trường hợp ông Khánh từ chối nhận di sản thì di sản thừa kế của ông
Quốc sẽ được chia cho bà Hằng và Tuấn mỗi người 500 triệu đồng. PHẦN KẾT
Có thể khẳng định kinh tế và pháp luật là hai yếu tố luôn đi liền và gắn bó
không tách rời với nhau, kinh tế giữ vai trò quyết định, quan hệ kinh tế sẽ quyết
định nội dung pháp luật, hình thức và sự phát triển của pháp luật. Bởi phụ thuộc
vào kinh tế nên nội dung và hình thức của pháp luật thường phản ánh đúng trình độ
phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế. Mọi sự thay đổi trong
kinh tế - xã hội thì sớm hay muộn cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi tương ứng trong hệ
thống pháp luật của đất nước. Chỉ khi hai yếu tố này thống nhất hòa hợp, đất nước
mới phát triển, xã hội mới đi lên và con người sẽ được sống trong môi trường tân
tiến, hiên đại, văn minh nhất.
Môi trường càng văn minh hiện đại, quyền con người càng được đặc biệt
chú trọng cao hơn. Quyền thừa kế của công dân đã sớm được đề cập trong Hiến
pháp 1996, trải qua nhiều lần sừa đổi, đến nay những điều luật đã ngày càng được
hoàn thiện, khắc phục được nhiều điểm chưa phù hợp. Qua bài tập tiểu luận chúng
em nhận thấy việc nắm rõ các kiến thức pháp luật là rất quan trọng để có thể bảo
vệ quyền cũng như lợi ích của bản thân mình và những người xung quanh. Đặc
biệt, dù ở hình thức nào việc xác định và phân chia di sản cũng sẽ phúc tạp và có
nhiều tình huống xảy ra.
Do mặt kiến thức vẫn chưa được hoàn thiện, không thể tránh khỏi hoàn toàn
sai sót, mong giảng viên có thể góp ý, bổ sung giúp chúng em hoàn thiện bài của nhóm.
Em xin trân thành cảm ơn !