2. Quản chuỗi cung ứng
2.1. Chuỗi cung ứng chu kỳ chuỗi cung ứng
Phân phối chỉ một phần của chuỗi bán hàng phức hợp hay chuỗi cung ứng.
Một chuỗi cung ứng bao gồm mọi bước xử cần để đáp ứng yêu cầu của khách
hàng. Trong đó bao gồm các nhà cung cấp nhà sản xuất hàng hóa/ dịch vụ, các nhà
phân phối hay trung gian, các đơn vị vận tải kho bãi, cả chính khách hàng cũng
được xét đến trong chuỗi cung ứng.
Một chuỗi cung ứng bao gồm bốn chu kỳ chính:
- Chu kỳ mua hàng bao gồm quy trình marketing, bán hàng, dịch vụ hoặc hỗ
trợ sau bán. Các bước thành phần sẽ dẫn khách hàng tới khả năng đánh giá, đặt
hàng, nhận hàng, sử dụng sản phẩm dịch vụ họ mong đợi.
- Chu kỳ bổ sung dự trữ của chuỗi cung ứng chu kỳ bổ sung thêm hàng hóa
lưu kho. Cùng với việc lựa chọn kênh phân phối (trực tiếp, gián tiếp), hoạt
động logistics trong phân phối cũng phải được xác định. Cần phải xác định
xem liệu những hoạt động hỗ trợ cho việc cung cấp bổ sung hàng hóa sẽ
được thực hiện theo dạng truyền thống, trực tuyến, hay theo dạng phối hợp.
- Trong chu kỳ sản xuất, phương pháp chế tạo sản phẩm sẽ được hình
thành. Khác với chu kỳ sản xuất truyền thống (sản xuất hàng loạt hay sản
xuất theo tiêu chuẩn), những phương thức mới như sản xuất theo đơn đặt hàng
hoặc sản xuất đúng thời điểm(JIT) đang ngày càng trở nên phổ biến hơn.
Thông qua việc sử dụng các hệ thống lập kế hoạch hệ thống sản xuất sự
hỗ trợ của máy tính, các sản phẩm được thiết kế cho từng khách hàng nhân
(sản xuất theo yêu cầu quy lớn) thể được thực hiện với mức chi phí
không quá cao so với mức chi phí sản xuất theo quy lớn với cùng một tiêu
chuẩn.
- Trong chu kỳ mua nguyên vật liệu nếu việc mua hàng trực tuyến nằm trong
chuỗi cung ứng, thì đều thể sử dụng các hình mua hàng bên bán làm
trung tâm, hay bên mua làm trung tâm, hoặc sàn giao dịch điện tử.
2.2. hình tham chiếu chuỗi cung ứng SCOR
hình tham chiếu hoạt động chuỗi cung ứng được phát triển dựa trên ý
tưởng hệ thống hóa những dạng chuỗi cung ứng phức tạp đa dạng để thể kiểm
soát thông qua các quy trình chuẩn. Cùng với việc tả các hoạt động mỗi bước
trong quy trình, hình tham chiếu hoạt động chuỗi cung ứng (SCOR=Supply Chain
Operations Reference) còn gồm cả các thước đo kết quả, quy trình chuẩn, phần
mềm chức năng.
hình tham chiếu SCOR chia toàn bộ hoạt động trong chuỗi cung ứng thành bốn
bộ phận bản: hoạch định (P=Plan), mua hàng (S=Source), sản xuất (M=Make),
giao hàng (D=Delivery).
Các bước từ (1) đến (4) kết hợp với nhau đặt ra các yêu cầu cho từng quy trình bộ phận cụ thể như: khách
hàng gửi đơn hàng (1), đơn hàng này sẽ được nhận quy trình giao nhận D. Từ đó tạo ra yêu cầu cho quy trình
sản xuất (2). Trong quy trình sản xuất M, việc phân bổ nguyên vật liệu sẽ được thực hiện (3), phát sinh yêu
cầu cho bộ phận vật gửi đặt mua nguyên liệu cho nhà cung cấp (4). Khi đó, quy trình mua hàng S sẽ được
triển khai. các bước từ (5) đến (8), dòng vật liệu trong chuỗi cung ứng vẽ trên hình 6.6 chạy ngược chiều với
dòng thông tin. Nhà cung cấp giao vật liệu được yêu cầu (5). Quy trình mua hàng S đáp ứng quy trình sản xuất
dựa trên yêu cầu phân bổ vật liệu bước (6). quy trình sản xuất M, sản phẩm dịch vụ thực sự được tạo ra
bước (7). bước (8), quy trình giao nhận D thực hiện nhiệm vụ đóng gói, gửi sản phẩm được đặt hàng tới
cho khách. Nhiều quy trình bộ phận trong chuỗi cung ứng không chỉ được khởi động bằng việc nhận
đơn hàng của khách. các quy trình công việc đã được lập kế hoạch từ trước, chúng phải chuẩn bị
khởi động trước khi đơn hàng, đặc biệt các quy trình mua vật liệu sản xuất mất nhiều thời gian.
Việc hoạch định cho các quy trình bộ phận trong chuỗi sẽ được thực hiện như sau: dựa theo dự báo
thị trường (9), các phương án mua hàng thích hợp (10) được xác định khi các hội mua nguyên vật liệu (11)
được phân tích thương lượng với nhà cung cấp phù hợp. Tương tự, dữ liệu quan trọng cho dòng sản xuất sẽ
được đưa vào quy trình hoạch định bước (12), hỗ trợ cho việc xác định hoạt động giao hàng (13) với
các nhà phân phối đáng tin cậy. Cùng lúc đó, dữ liệu hoạch định, sản xuất, giao nhận (ở các bước 11-13) sẽ
tạo nên việc lập kế hoạch theo chiều ngang cho chuỗi cung ứng.
Để đảm bảo chất lượng chuỗi cung ứng, các yếu tố then chốt như dịch vụ khách
hàng, dịch vụ giao hàng, cùng với chi phí sản xuất logistics trong chuỗi cung ứng
được đánh giá liên tục thông qua các kết quả đo lường phù hợp. Dữ liệu thu thập được
sẽ được tổng hợp báo cáo. Việc phân tích chi tiết nhóm khách hàng được phục vụ
không bị lỗi không chậm trễ đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa quá trình
thực hiện đơn hàng. Ngoài ra, các kết quả khác cũng được sử dụng để đánh giá chất
lượng chuỗi cung ứng, bao gồm:
- Năng suất tạo giá trị: Đo lường hiệu quả chuyển đổi các nguồn lực đầu vào
(nguyên vật liệu, lao động, vốn) thành giá trị gia tăng cho sản phẩm hoặc dịch
vụ. dụ, thể đo lường giá trị gia tăng trên mỗi đơn vị chi phí, hoặc tỷ lệ
lợi nhuận gộp. Năng suất tạo giá trị cao thể hiện chuỗi cung ứng hoạt động
hiệu quả mang lại lợi nhuận cao.
- Số lượng hàng tồn kho: Đánh giá mức độ hàng tồn kho so với nhu cầu thực tế.
Lượng hàng tồn kho quá lớn thể dẫn đến chi phí lưu trữ cao, hàng hóa bị lỗi
thời, giảm khả năng thanh khoản. Ngược lại, số lượng hàng tồn kho quá nhỏ
thể gây ra tình trạng thiếu hàng, ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu
khách hàng. Các chỉ số thường được sử dụng để đánh giá bao gồm vòng quay
hàng tồn kho, số ngày tồn kho, tỷ lệ hàng tồn kho trên doanh thu.
- Chu kỳ quay vòng vốn: Thể hiện tốc độ chuyển đổi vốn đầu thành doanh
thu. Chu kỳ quay vốn cao cho thấy doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quả tạo
ra doanh thu nhanh chóng. Chỉ số này thường được tính bằng cách chia doanh
thu thuần cho tổng tài sản.
Việc theo dõi phân tích các con số này một cách thường xuyên giúp doanh
nghiệp xác định được điểm mạnh điểm yếu của chuỗi cung ứng, từ đó đưa ra các
biện pháp cải tiến phù hợp. dụ, nếu phạm vi hàng tồn kho quá lớn, doanh nghiệp
thể áp dụng các phương pháp quản tồn kho tiên tiến như Just-in-Time (JIT) hoặc
Lean Manufacturing để giảm thiểu lượng hàng tồn kho chi phí lưu trữ. Hoặc, nếu
năng suất tạo giá trị thấp, doanh nghiệp thể xem xét cải tiến quy trình sản xuất, tối
ưu hóa chi phí nguyên vật liệu, hoặc nâng cao kỹ năng cho người lao động. Bằng cách
liên tục đo lường cải tiến, doanh nghiệp thể xây dựng một chuỗi cung ứng linh
hoạt, hiệu quả đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường.
hình SCOR của Vinamilk
Vinamilk, một trong những công ty sữa hàng đầu Việt Nam, đã áp dụng hình
SCOR để tối ưu hóa chuỗi cung ứng của mình, từ khâu sản xuất đến phân phối sản
phẩm đến người tiêu dùng.
- : Vinamilk sử dụng các công cụ phương pháp dự báo Plan (Lập kế hoạch)
hiện đại để dự đoán nhu cầu thị trường về các sản phẩm sữa. Việc này giúp
công ty chủ động trong việc lập kế hoạch sản xuất đảm bảo nguồn cung ứng
đáp ứng đủ nhu cầu. Dựa trên dự báo nhu cầu, Vinamilk lập kế hoạch sản xuất
chi tiết cho từng nhà máy, đảm bảo công suất hoạt động tối ưu đáp ứng kịp
thời nhu cầu thị trường.
- Source (Thu mua): Vinamilk nguồn cung sữa nguyên liệu đa dạng, bao
gồm cả nhập khẩu thu mua trong nước. Điều này giúp công ty giảm thiểu rủi
ro từ biến động thị trường đảm bảo nguồn cung ổn định. Ngoài ra, Vinamilk
thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt cho sữa nguyên liệu, từ khâu
thu mua đến vận chuyển lưu trữ. Công ty cũng thường xuyên kiểm tra chất
lượng sữa để đảm bảo đạt chuẩn.
- : Vinamilk đầu vào công nghệ sản xuất hiện đại tiên Make (Sản xuất)
tiến, đảm bảo chất lượng sản phẩm năng suất cao. Các nhà máy của
Vinamilk đều đạt các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vệ sinh thực phẩm môi
trường. Vinamilk còn hệ thống kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt trong suốt
quá trình sản xuất, từ nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm cuối cùng. Công ty
cũng không ngừng nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới cải tiến quy
trình sản xuất nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa
dạng của người tiêu dùng.
- : Vinamilk mạng lưới phân phối rộng khắp trên cả Delivery (Giao hàng)
nước, bao gồm các kênh bán hàng truyền thống hiện đại. Điều này giúp sản
phẩm của Vinamilk đến tay người tiêu dùng một cách nhanh chóng thuận
tiện. Hơn nữa, công ty hệ thống logistics hiện đại để quản vận chuyển
sản phẩm. Vinamilk cũng áp dụng các công nghệ thông tin để theo dõi tối ưu
hóa quá trình giao hàng.
- : Vinamilk hệ thống xử hàng trả lại từ các Return (Xử hàng trả lại)
cửa hàng nhà phân phối nếu sản phẩm lỗi hoặc không đạt tiêu chuẩn. Quy
trình này giúp công ty duy trì chất lượng sản phẩm uy tín thương hiệu.
- : Vinamilk chú trọng đến các quy định về an toàn thực phẩm, Enable (Hỗ trợ)
quản chất lượng, bảo vệ môi trường. Công ty cũng sử dụng các hệ thống
quản chuỗi cung ứng hiện đại để hỗ trợ việc ra quyết định tối ưu hóa quy
trình.

Preview text:

2. Quản lý chuỗi cung ứng
2.1. Chuỗi cung ứng và chu kỳ chuỗi cung ứng
Phân phối chỉ là một phần của chuỗi bán hàng phức hợp hay chuỗi cung ứng.
Một chuỗi cung ứng bao gồm mọi bước xử lý cần có để đáp ứng yêu cầu của khách
hàng. Trong đó bao gồm các nhà cung cấp và nhà sản xuất hàng hóa/ dịch vụ, các nhà
phân phối hay trung gian, các đơn vị vận tải và kho bãi, và cả chính khách hàng cũng
được xét đến trong chuỗi cung ứng.
Một chuỗi cung ứng bao gồm bốn chu kỳ chính:
- Chu kỳ mua hàng bao gồm quy trình marketing, bán hàng, và dịch vụ hoặc hỗ
trợ sau bán. Các bước thành phần sẽ dẫn khách hàng tới khả năng đánh giá, đặt
hàng, nhận hàng, và sử dụng sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi.
- Chu kỳ bổ sung dự trữ của chuỗi cung ứng là chu kỳ bổ sung thêm hàng hóa
lưu kho. Cùng với việc lựa chọn kênh phân phối (trực tiếp, gián tiếp), hoạt
động logistics trong phân phối cũng phải được xác định. Cần phải xác định
xem liệu những hoạt động hỗ trợ cho việc cung cấp và bổ sung hàng hóa sẽ
được thực hiện theo dạng truyền thống, trực tuyến, hay theo dạng phối hợp.
- Trong chu kỳ sản xuất, phương pháp chế tạo sản phẩm sẽ được hình
thành. Khác với chu kỳ sản xuất truyền thống (sản xuất hàng loạt hay sản
xuất theo tiêu chuẩn), những phương thức mới như sản xuất theo đơn đặt hàng
hoặc sản xuất đúng thời điểm(JIT) đang ngày càng trở nên phổ biến hơn.
Thông qua việc sử dụng các hệ thống lập kế hoạch và hệ thống sản xuất có sự
hỗ trợ của máy tính, các sản phẩm được thiết kế cho từng khách hàng cá nhân
(sản xuất theo yêu cầu ở quy mô lớn) có thể được thực hiện với mức chi phí
không quá cao so với mức chi phí sản xuất theo quy mô lớn với cùng một tiêu chuẩn.
- Trong chu kỳ mua nguyên vật liệu nếu việc mua hàng trực tuyến nằm trong
chuỗi cung ứng, thì đều có thể sử dụng các mô hình mua hàng bên bán làm
trung tâm, hay bên mua làm trung tâm, hoặc sàn giao dịch điện tử.
2.2. Mô hình tham chiếu chuỗi cung ứng SCOR
Mô hình tham chiếu hoạt động chuỗi cung ứng được phát triển dựa trên ý
tưởng hệ thống hóa những dạng chuỗi cung ứng phức tạp và đa dạng để có thể kiểm
soát thông qua các quy trình chuẩn. Cùng với việc mô tả các hoạt động ở mỗi bước
trong quy trình, mô hình tham chiếu hoạt động chuỗi cung ứng (SCOR=Supply Chain
Operations Reference) còn gồm cả các thước đo kết quả, quy trình chuẩn, và phần mềm chức năng.
Mô hình tham chiếu SCOR chia toàn bộ hoạt động trong chuỗi cung ứng thành bốn
bộ phận cơ bản: hoạch định (P=Plan), mua hàng (S=Source), sản xuất (M=Make), và giao hàng (D=Delivery).
Các bước từ (1) đến (4) kết hợp với nhau đặt ra các yêu cầu cho từng quy trình bộ phận cụ thể như: khách
hàng gửi đơn hàng (1), đơn hàng này sẽ được nhận ở quy trình giao nhận D. Từ đó tạo ra yêu cầu cho quy trình
sản xuất (2). Trong quy trình sản xuất M, việc phân bổ nguyên vật liệu sẽ được thực hiện (3), phát sinh yêu
cầu cho bộ phận vật tư gửi đặt mua nguyên liệu cho nhà cung cấp (4). Khi đó, quy trình mua hàng S sẽ được
triển khai. Ở các bước từ (5) đến (8), dòng vật liệu trong chuỗi cung ứng vẽ trên hình 6.6 chạy ngược chiều với
dòng thông tin. Nhà cung cấp giao vật liệu được yêu cầu (5). Quy trình mua hàng S đáp ứng quy trình sản xuất
dựa trên yêu cầu phân bổ vật liệu bước (6). Ở quy trình sản xuất M, sản phẩm và dịch vụ thực sự được tạo ra
bước (7). Ở bước (8), quy trình giao nhận D thực hiện nhiệm vụ đóng gói, và gửi sản phẩm được đặt hàng tới
cho khách. Nhiều quy trình bộ phận trong chuỗi cung ứng không chỉ được khởi động bằng việc nhận
đơn hàng của khách. Mà các quy trình và công việc đã được lập kế hoạch từ trước, chúng phải chuẩn bị và
khởi động trước khi có đơn hàng, đặc biệt là các quy trình mua vật liệu và sản xuất mất nhiều thời gian.
Việc hoạch định cho các quy trình bộ phận trong chuỗi sẽ được thực hiện như sau: dựa theo dự báo
thị trường (9), các phương án mua hàng thích hợp (10) được xác định khi các cơ hội mua nguyên vật liệu (11)
được phân tích và thương lượng với nhà cung cấp phù hợp. Tương tự, dữ liệu quan trọng cho dòng sản xuất sẽ
được đưa vào quy trình hoạch định ở bước (12), hỗ trợ cho việc xác định hoạt động giao hàng (13) với
các nhà phân phối đáng tin cậy. Cùng lúc đó, dữ liệu hoạch định, sản xuất, và giao nhận (ở các bước 11-13) sẽ
tạo nên việc lập kế hoạch theo chiều ngang cho chuỗi cung ứng.
Để đảm bảo chất lượng chuỗi cung ứng, các yếu tố then chốt như dịch vụ khách
hàng, dịch vụ giao hàng, cùng với chi phí sản xuất và logistics trong chuỗi cung ứng
được đánh giá liên tục thông qua các kết quả đo lường phù hợp. Dữ liệu thu thập được
sẽ được tổng hợp và báo cáo. Việc phân tích chi tiết nhóm khách hàng được phục vụ
không bị lỗi và không chậm trễ đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa quá trình
thực hiện đơn hàng. Ngoài ra, các kết quả khác cũng được sử dụng để đánh giá chất
lượng chuỗi cung ứng, bao gồm:
- Năng suất tạo giá trị: Đo lường hiệu quả chuyển đổi các nguồn lực đầu vào
(nguyên vật liệu, lao động, vốn) thành giá trị gia tăng cho sản phẩm hoặc dịch
vụ. Ví dụ, có thể đo lường giá trị gia tăng trên mỗi đơn vị chi phí, hoặc tỷ lệ
lợi nhuận gộp. Năng suất tạo giá trị cao thể hiện chuỗi cung ứng hoạt động
hiệu quả và mang lại lợi nhuận cao.
- Số lượng hàng tồn kho: Đánh giá mức độ hàng tồn kho so với nhu cầu thực tế.
Lượng hàng tồn kho quá lớn có thể dẫn đến chi phí lưu trữ cao, hàng hóa bị lỗi
thời, và giảm khả năng thanh khoản. Ngược lại, số lượng hàng tồn kho quá nhỏ
có thể gây ra tình trạng thiếu hàng, ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu
khách hàng. Các chỉ số thường được sử dụng để đánh giá bao gồm vòng quay
hàng tồn kho, số ngày tồn kho, và tỷ lệ hàng tồn kho trên doanh thu.
- Chu kỳ quay vòng vốn: Thể hiện tốc độ chuyển đổi vốn đầu tư thành doanh
thu. Chu kỳ quay vốn cao cho thấy doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quả và tạo
ra doanh thu nhanh chóng. Chỉ số này thường được tính bằng cách chia doanh
thu thuần cho tổng tài sản.
Việc theo dõi và phân tích các con số này một cách thường xuyên giúp doanh
nghiệp xác định được điểm mạnh và điểm yếu của chuỗi cung ứng, từ đó đưa ra các
biện pháp cải tiến phù hợp. Ví dụ, nếu phạm vi hàng tồn kho quá lớn, doanh nghiệp có
thể áp dụng các phương pháp quản lý tồn kho tiên tiến như Just-in-Time (JIT) hoặc
Lean Manufacturing để giảm thiểu lượng hàng tồn kho và chi phí lưu trữ. Hoặc, nếu
năng suất tạo giá trị thấp, doanh nghiệp có thể xem xét cải tiến quy trình sản xuất, tối
ưu hóa chi phí nguyên vật liệu, hoặc nâng cao kỹ năng cho người lao động. Bằng cách
liên tục đo lường và cải tiến, doanh nghiệp có thể xây dựng một chuỗi cung ứng linh
hoạt, hiệu quả và đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường. Mô hình SCOR của Vinamilk
Vinamilk, một trong những công ty sữa hàng đầu Việt Nam, đã áp dụng mô hình
SCOR để tối ưu hóa chuỗi cung ứng của mình, từ khâu sản xuất đến phân phối sản
phẩm đến người tiêu dùng.
- Plan (Lập kế hoạch): Vinamilk sử dụng các công cụ và phương pháp dự báo
hiện đại để dự đoán nhu cầu thị trường về các sản phẩm sữa. Việc này giúp
công ty chủ động trong việc lập kế hoạch sản xuất và đảm bảo nguồn cung ứng
đáp ứng đủ nhu cầu. Dựa trên dự báo nhu cầu, Vinamilk lập kế hoạch sản xuất
chi tiết cho từng nhà máy, đảm bảo công suất hoạt động tối ưu và đáp ứng kịp
thời nhu cầu thị trường.
- Source (Thu mua): Vinamilk có nguồn cung sữa nguyên liệu đa dạng, bao
gồm cả nhập khẩu và thu mua trong nước. Điều này giúp công ty giảm thiểu rủi
ro từ biến động thị trường và đảm bảo nguồn cung ổn định. Ngoài ra, Vinamilk
thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt cho sữa nguyên liệu, từ khâu
thu mua đến vận chuyển và lưu trữ. Công ty cũng thường xuyên kiểm tra chất
lượng sữa để đảm bảo đạt chuẩn.
- Make (Sản xuất): Vinamilk đầu tư vào công nghệ sản xuất hiện đại và tiên
tiến, đảm bảo chất lượng sản phẩm và năng suất cao. Các nhà máy của
Vinamilk đều đạt các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vệ sinh thực phẩm và môi
trường. Vinamilk còn có hệ thống kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt trong suốt
quá trình sản xuất, từ nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm cuối cùng. Công ty
cũng không ngừng nghiên cứu và phát triển các sản phẩm mới và cải tiến quy
trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa
dạng của người tiêu dùng.
- Delivery (Giao hàng): Vinamilk có mạng lưới phân phối rộng khắp trên cả
nước, bao gồm các kênh bán hàng truyền thống và hiện đại. Điều này giúp sản
phẩm của Vinamilk đến tay người tiêu dùng một cách nhanh chóng và thuận
tiện. Hơn nữa, công ty có hệ thống logistics hiện đại để quản lý và vận chuyển
sản phẩm. Vinamilk cũng áp dụng các công nghệ thông tin để theo dõi và tối ưu hóa quá trình giao hàng.
- Return (Xử lý hàng trả lại): Vinamilk có hệ thống xử lý hàng trả lại từ các
cửa hàng và nhà phân phối nếu có sản phẩm lỗi hoặc không đạt tiêu chuẩn. Quy
trình này giúp công ty duy trì chất lượng sản phẩm và uy tín thương hiệu.
- Enable (Hỗ trợ): Vinamilk chú trọng đến các quy định về an toàn thực phẩm,
quản lý chất lượng, và bảo vệ môi trường. Công ty cũng sử dụng các hệ thống
quản lý chuỗi cung ứng hiện đại để hỗ trợ việc ra quyết định và tối ưu hóa quy trình.