














Preview text:
lOMoAR cPSD| 61457685 LỜI MỞ ĐẦU ***
Theo quan điểm của Triết học Mác Lê-nin: “Vật chất và ý thức tồn tại trong
mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau thông qua hoạt động thực
tiễn; trong mối quan hệ đó, vật chất giữ vai trò quyết định đối với ý thức. Vật chất
là nguồn gốc của ý thức, ý thức là sự phản ánh đối với vật chất.”. Bởi vậy, mối
quan hệ giữa vật chất và ý thức là “Vấn đề cơ bản của mọi triết học, đặc biệt là
triết học hiện đại.”
Sự ra đời của quan niệm duy vật biện chứng đã có tác động to lớn đối với thực
tiễn của thế giới con người chúng ta. Song, những vấn đề triết học về mối quan
hệ biện chứng giữa ý thức và vật chất luôn cần thiết, là cơ sở, là phương hướng
cho các hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội.
Trong thực tế, quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và
ý thức đóng vai trò vô cùng quan trọng. Vậy nên, em đã chọn đề tài bài tập lớn
số 3: “Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý
thức. Ý nghĩa phương pháp luận và liên hệ với thực tiễn.” để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này. lOMoAR cPSD| 61457685
PHẦN A. MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là “Vấn đề cơ bản của mọi Triết học, đặc
biệt là của Triết học hiện đại.”
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng, vật chất là
nguồn gốc của ý thức và tác động qua lại lẫn nhau. Suy đến cùng, vật chất giữ vai trò quyết định.
Từ quan niệm trên cho thấy, để giải quyết đúng, thành công và có hiệu quả,
mọi vấn đề của nhận thức và thực tiễn cần phải xuất phát từ thực tế khách quan,
đồng thời nỗ lực phát huy các nhân tố chủ quan trong phạm vi khách quan.
I. Vật chất và ý thức 1. Phạm trù “vật chất”
1.1. Quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Mác về “vật chất”
Thời cổ đại: “Vật chất” được quan niệm là một hoặc một trong số chất tự có
trong giới tự nhiên; một hoặc một số thực thể, cụ thể, cảm tính đầu tiên đóng vai
trò là cơ sở hình thành nên toàn bộ sự tồn tại đa dạng trong thế giới
Thời cận đại Tây Âu: “Vật chất” được quan niệm là tất cả những gì có thuộc
tính của vật thể như: được tạo nên từ nguyên tử, có thuộc tính khối lượng, có thể
cảm nhận được bằng các giác quan,…
Song, hầu hết các quan điểm, định nghĩa về vật chất đều chưa bao quát hết
mọi tồn tại vật chất, chưa tiếp cận đủ các vấn đề cơ bản của Triết học.
1.2. Định nghĩa về “vật chất” của Lênin
V.I.Lênin đã khẳng định: “Vật chất là phạm trù Triết học, dùng để chỉ thực tại
khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được carm giác của
chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác.”
Đây là một định nghĩa hoàn chỉnh về vật chất mà cho đến nay các nhà khoa học
hiện đạu vẫn coi là một định nghĩa cổ điển.
Theo một cách khác: Với tư cách là phạm trù Triết học, khái niệm vật chất
dùng để chỉ thực tại khách quan; được đem lại cho con người trong cảm giác;
được cảm giác chép lại, chụp lại, phản ánh; và, tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác.
Thí dụ: “Sóng âm” (rung chuyển) thì “sóng” ở đây là “vật chất” bởi nó tồn tại
hoàn toàn độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con nguời.
1.3. Các hình thức tồn tại của vật chất
Vận động là phương thức tồn tại của vật chất. lOMoAR cPSD| 61457685
Vận động là thuộc tính vốn có và tồn tại khách quan của tất cả sự vật hiện
tượng. Các hình thức vận động bao gồm: vận động cơ giới, vận động vật lý, vận
động hoá, vận động sinh vật và vận động xã hội. 2. Ý thức
2.1. Quan niệm của Triết học Mác-Lênin về nguồn gốc và
bản chất của ý thức
Ý thức chỉ toàn bộ đời sống tinh thần của con người được tạo nên từ nhiều yếu
tố khác nhau, cơ bản và khái quát có: tri thức (triết mac cho là cơ bản nhất) là
phương thức tồn tại của ý thức và tình cảm (cảm xúc con người). Song V.I.Lênin
nhận định: Ý thức là hình ảnh chủ quan nhưng có nguồn gốc khách quan, phản
ánh cái khách quan (của thế giới quan).
2.2. Nguồn gốc của ý thức a. Nguồn gốc tự nhiên:
Theo quan điểm của Triết học Mác-Lênin, ý thức là một thuộc tính của một
dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, là sự phản ánh thế giới khách quan
vào bộ não người. Bộ não người và sự tác động của thế giới khách quan vào bộ
não người là nguồn gốc tự nhiên của ý thức bởi nếu không có sự tác động của thế
giới khách quan vào bộ não người và không có bộ não người với tính cách là cơ
quan vật chất của ý thức thì sẽ không có ý thức.
Cũng theo chủ nghĩa Mác-Lênin, hoạt động ý thức con người diễn ra trên cơ
sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người. Phản ánh là thuộc tính chung,
phổ biến của mọi đối tượng vật chất. Phản ánh là năng lực giữ lại, tái hiện lại của
hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác. b. Nguồn gốc xã hội:
Ý thức là sản phẩm của sự phát triển xã hội, nó phụ thuộc vào xã hội, và ngay
từ đầu đã mang tính chất xã hội, thể hiện ở vai trò của lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội.
Engels nhận định: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống
con người, và như thế đến một mức độ và trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải
nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân con người.” Yếu tố quan trọng nữa về
nguồn gốc xã hội của ý thức là ngôn ngữ. Theo C.Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật
chất của tư duy, là hình thức biểu đạt của tư tưởng.
2.3. Bản chất của ý thức
Bản chất của ý thức được thể hiện qua: lOMoAR cPSD| 61457685
Một là, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Thể hiện rằng
nội dung của ý thức do thế giới khách quan quy định.
Hai là, tính chủ quan của ý thức. Ý thức không phải là thế giới khách quan,
mà chỉ là hình ảnh của thế giới khách quan được thể hiện qua bộ não con người (tính ảo).
Ba là, ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới, do nhu cầu của
việc con người cải biến giới tự nhiên quyết định và được thực hiện thông qua hoạt
động lao động. Đặc biệt như: kiến trúc, mô hình quản lý,… (tính sáng tạo). Bốn
là, ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy mà là một hiện tượng
xã hội. ý thức bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử-xã hội, phản ánh những quan hệ xã
hội khách quan (tính xã hội).
Đặc biệt bản chất của ý thức chính là sự phản ánh các sự vật hiện tượng vào
óc con người một cách tích cực, năng động và sáng tạo. Sự phản ánh đó vượt qua
phản ánh hiện tượng, đạt tới khái quát hoá, trừu tượng hoá,… thuộc khách quan;
đạt tới phản ánh cái bản chất, quy luật khách quan. Ý thức “chẳng qua chỉ là vật
chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người, và được cải biến đi ở trong
đó” [C.Mác và Ph.Ăngghen: toàn tập, NXB.CTQG,HN,1993,trang35].
3. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
“Phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị
nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận
thức Con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn phát triển không ngừng.”
[Giáo trình triết Mác-Lênin,trang85]
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là “Vấn đề cơ bản của mọi Triết học, đặc
biệt là của Triết học hiện đại.” Tuỳ theo lập trường thế giới quan khác nhau, khi
giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức mà hình thành hai đường lối cơ
bản trong triết học là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Theo như duy tâm
thì là ý thức quyết định vật chất. Họ coi ý thức là tồn tại duy nhất, tuyệt đối, là
tính thứ nhất từ đó sinh ra tất cả; còn thế giới vật chất chỉ là bản sao, biểu hiện
khác của ý thức tinh thần, là tính thứ hai, do ý thức tinh thần sinh ra. Nhưng trong
thực tiễn, người duy tâm phủ nhận tính khách quan, cường điệu vai trò nhân tố
chủ quan, duy ý chí, hành động bất chấp điều kiện, quy luật khách quan. Theo
như duy vật siêu hình thì vật chất quyết định ý thức. Nhưng lại tuyệt đối hoá yếu
tố vật chất, chỉ nhấn mạnh một chiều vai trò của vật chất sinh ra ý thức, quyết
định ý thức, phủ định tính độc lập tương đối của ý thức trong hoạt động thực tiễn
cải tạo hiện thực khách quan. Do đó, họ đã phạm phải nhiều sai lầm có tính
nguyên tắc bởi thái độ “khách quan chủ nghĩa”, thụ động, ỷ lại, trông chờ không
đem lại hiệu quả trong hoạt động thực tiễn. lOMoAR cPSD| 61457685
Theo quan điểm Triết học Mác-Lênin, vật chất và ý thức có mối quan hệ biện
chứng, trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại
vật chất. Theo quan niệm duy vật biện chứng thì phải xuất phát từ thực tế khách
quan, phát huy năng động chủ quan trên cơ sở khách quan.
II. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức 1. Vật chất quyết định ý thức
Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được thể hiện trên những khía cạnh khác nhau, đó là:
Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức: Vật chất “sinh” ra ý thức,
vì ý thức xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện của con người cách đây từ 3 đến 7
triệu năm, mà con người là kết quả của một quá trình phát triển, tiến hoá lâu dài,
phức tạp của giới tự nhiên, của thế giới vật chất. Các thành tựu của khoa học tự
nhiên hiện đại đã chứng minh được rằng, giới tự nhiên có trước con người; vật
chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất là tính thứ nhất, còn ý thức là
tính thứ hai. Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và là nguồn gốc sinh
ra ý thức. Bộ óc con người là một dạng vật chất có tổ chức cao nhất, là cơ quan
phản ánh để hình thành ý thức. Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh
của bộ não trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan. Sự vận động của thế
giới vật chất là yếu tố quyết định sự ra đời của cái vật chất có tư duy là bộ óc
người. Thí dụ như: hoạt động của ý thức diễn ra bình thường trên cơ sở hoạt động
sinh lí thần kinh của bộ não người. Nhưng khi bộ não bị tổn thương thì hoạt động
của ý thức cũng bị rối loạn.
Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức: Ý thức dưới bất kỳ hình thức
nào, suy cho cùng, đều là phản ánh hiện thực khách quan. Ý thức mà trong nội
dung của nó chẳng qua là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong
đầu óc con người. Hay nói cách khác, có thế giới hiện tực vận động, phát triển
theo những quy luật khách quan của nó, được phản ánh vào ý thức mới có nội
dung của ý thức. Thế giới khách quan, mà trước hết và chủ yếu là hoạt động thực
tiễn có tính xã hội – lịch sử của loài người là yếu tố quyết định nội dung mà ý
thức phản ánh. “Y thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được
ý thức”. Ý thức chỉ là hình ảnh của thế giới khách quan. Sự phát triển của hoạt
động thực tiễn về cả bề rộng và chiều sâu là động lực mạnh mẽ nhất quyết định
tính phong phú và độ sâu sắc của nội dung của tư duy, ý thức con người qua các
thế hệ, qua các thời đại từ mông muội tới văn minh, hiện đại. lOMoAR cPSD| 61457685
Thứ ba, vật chất quyết định abnr chất của ý thức. Phản anhs và sáng tạo là hai
thuộc tính không tách rời trong bản chất của ý thức. Nhưng sự phản ánh cjar con
người không phải là “soi gương”, “chụp ảnh” hoặc là “phản ánh tâm lý” như con
vật mà là phản ánh tích cực, tự giác, sáng tạo thông qua thực tiễn. Khách với chủ
nghĩa duy vật cũ, xem xét thế giới vật chất xem như là những sự vật, hiện tượng
cảm tính, chủ nghĩa duy vật biện chứng xem xét thế giới là thế giới vật chất là thế
giới của con người hoạt động thực tiễn. Chính thực tiễn là hoạt động vật chất có
tính cải biến thế giới của con người – là có cơ sở để hình thành, phát triển ý thức,
trong đó ý thức của con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo, phản ánh để sáng tạo
và sáng tạo trong phản ánh.
Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức. Mọi sự tồn tại,
phát triển của ý thức đều gắn liền với quá trình biến đổi của vật chất, vật chất thay
đổi thì sớm hay muộn, ý thức cũng phải thay đổi theo. Con người – một sinh vật
có tính xã hội ngày càng phát triển cả thể chất và tinh thần, thì dĩ nhiên ý thức –
một hình thức phản ánh của óc người cũng phát triển cả về nội dung và hình thức
phản ánh của nó. Đời sống xã hội ngày càng văn minh và khoa học, ngày càng
phát triển đã chứng minh điều đó.
Loài người nguyên thuỷ sống bầy đàn dựa vào sản vật của thiên nhiên thì tư
duy của họ cũng đơn sơ, giản dị như cuộc sống của họ. Cùng với mỗi bước phát
triển của sản xuất, tư duy, ý thức của con người cũng ngày càng mở rộng, đời
sống tinh thần của con người ngày càng phong phú. Con người không chỉ ý thức
được hiện tại, mà còn ý thức được cả những vấn đề trong quá khứ và dự kiến
được cả trong tương lai, trên cơ sở khái quát ngày càng sâu sắc bản chất, quy luật
vận động, phát triển tự nhiên, xã hội và tư duy của họ. Sự vận động biến đổi
không ngừng của thế giới vật chất, của thực tiễn là yếu tố quyết định sự vận động,
biến đổi của tư duy, ý thức của con người. Khi sản xuất xã hội xuất hiện những
chế độ tự hữu, ý thức chính trị, pháp quyền cũng dần thay thế cho những ý thức
quần cư, cộng đồng thời nguyên thuỷ. Trong nền sản xuất tư bản, tính chất xã hội
hoá của sản xuất phát triển là cơ sở để ý thức xã hội chủ nghĩa ra đời, mà đỉnh
cao của nó là sự hình thành phát triển không ngừng lí luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Trong đời sống xã hội, vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được biểu
hiện ở vai trò của kinh tế đối với chính trị, đời sống vật chất đối với đời sống tinh
thần, tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội. Trong xã hội, sự phát triển của kinh tế
xét đến cùng quy định sự phát triển của văn hoá; đời sống vật chất tha đổi thì sớm
muộn đời sống tinh thần cũng thay đổi theo. Vật chất và ý thức là hai hiện tượng
đối lập về bản chất, nhưng về mặt nhận thức luận, cần quán triệt sâu sắc tư tưởng
biện chứng của V.I.Lênin, rằng “sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa lOMoAR cPSD| 61457685
tuyệt đối trong những phạm vi hết sức hạn chế trong trường hợp này chỉ giới hạn
trong vấn đề nhận thức luận cơ bản đơn giản là thừa nhận những cái gì có trước
và cái gì có sau? Ngoài giới hạn đó, thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối
lập đó là tương đối”. Ở đây, tính tương đối của sự đối lập giữa vật chất và ý thức
thể hiện qua mối quan hệ giữa thực thể vật chất đặc biệt – bộ óc người và thuộc tính của chính nó.
2. Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Điều này được thể hiện trên những khía cạnh sau:
Thứ nhất, tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ, ý thức là sự phản
ánh thế giới vật chất vào trong đầu óc con người, do vật chất sinh ra, nhưng khi
đã ra đời thì ý thức có “đời sống” riêng, có quy luật vận động, phát triển riêng,
không lệ thuộc một cách máy móc vào vật chất. Ý thức một khi ra đời thì có tính
độc lập tương đối, tác động trở lại thế giới vật chất. Ý thức có thể thay dổi nhanh,
chậm, đi song hành so với hiện thực, nhưung nhìn chung nó thường thay đổi chậm
so với sự biến đổi của thế giới vật chất.
Thứ hai, sự tác ssoojng của ý thức đối với vật chất phải thông ưua hoạt động
thực tiễn của con người. Nhờ hoạt động thực tiễn, ý thức có thể làm biến đổi
những điều kiện, hoàn cảnh vật chất, thậm chí còn tạo ra “thiên nhiên thứ hai”
phục vụ cho cuộc sống của con người. Còn tự bản thân ý thức thì không thể biến
đổi cho hiện thực. Con người dựa trên những tri thức về thế giới khách quan, hiểu
biết những quy luật khách quan, từ đó đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp
và ý chí quyết tâm để thực hiện thắng lợi mục tiêu đã xác định. Đặc biệt là ý thức
tiến bộ cách mạng một khi thâm nhập vào quần chúng nhân dân – lực lượng vật
chất xã hội, thì có vai trò rất to lớn. “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể
thay thế sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở
thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”.
Thứ ba, vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động, hành động của
con người; nó có thể quyết định làm cho hoạt động của con người đúng hay sai,
thành công hay thất bại. Thí dụ như: nếu tâm trạng của người công nhân mà không
tốt thì làm giảm nâng suất của một dây chuyền sản xuất trong nhà máy; nếu không
có đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng thì dân tộc ta cũng không thể giành
thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ cũng như Lê-nin
đã nói “không có lý luận. cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách
mạng”. Khi phản ánh đúng hiện thực, ý thức có thể dự báo, tiên đoán môt cách
chính xác trong hiện thực, có thể hình thành nên những lý luận định hướng đúng lOMoAR cPSD| 61457685
đắn và những lý luận này được đưa vào quần chúng sẽ góp phần động viên, cổ vũ
khai thác mọi tiềm năng sáng tạo, từ đó sức mạnh vật chất được nhân lên gấp bội.
Ngược lại, ý thức có thể tác động tiêu cực khi nó phản ánh sai lạc, xuyên tạc sự thật.
Thứ tư, xã hội ngày càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất
là trong thời đại hiện nay, thời đại công nghệ thông tin, kinh tế tri thứd, thời đại
của công cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, khi mà tri thức khoa
học đã trở thành lực lượng sanr xuất trực tiếp. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, vai
trò của tri thức khoa học, của tư tưởng chính trị, tư tưởng nhân văn là hết sức quan trọng.
Tính năng động, sáng tạo của ý thức mặc dù rất to lớn, nhưng nó không thể
vượt quá tính quy định của những tiền đề vật chất đã xác định, phải dựa vào các
điều kiện khách quan và năng lực chủ quan của các chủ thể hoạt động. Để ý thức
có thể tác động trở lại vật chất thì cần phải: xác định phương hướng thực tiễn;
xây dựng phương pháp thực tiễn cải tạo khách quan; là cơ sở sáng tạo ra “giới tự
nhiên nhân tính hoá”. Điều kiện để ý thức có thể tác động tích cực trở lại vật chất
thì phải dựa trên và đáp ứng những điều kiện sau: phải phản ánh đúng thực tế
khách quan (chân lý); trình độ sáng tạo của ý thức; các điều kiện vật chất tương
ứng; mức độ vật chất hoá ý thức trong thực tiễn. Nên quên những điều đó chúng
ta sẽ phải rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa chủ quan, duy tâm, duy ý chí, phiêu
lưu và tất nhiên không tránh khỏi thất bại trong hoạt động thực tiễn.
PHẦN B. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHUNG
Từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong Triết học MácLênin,
rút ra ý nghĩa phương pháp luận từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:
Thứ nhất, phải luôn xuất phát từ hiện thực khách quan trong mọi hoạt động.
Trong quá trình nhận thức, học tập, nghiên cứu, con người phải bắt đầu
từ việc quan sát, xem xét, phân tích đối tượng vật chất. Qua việc tác động vào
chúng, ta sẽ bắt đối tượng vật chất phải bộc những thuộc tính, quy luật của nó.
Khi đó, ta sẽ thu nhận được tri thức bằng việc lặp đi lặp lại nhiều lần chu trình
trên, con người sẽ có kiến thức ngày càng phong phú về thế giới. Để sản xuất
vật chất, cải tạo thế giới khách đáp ứng nhu cầu của mình, con người phải căn cứ
vào hiện thực khách quan để đánh giá tình hình, từ đó xác định phương hướng,
biện pháp, lộ trình kế hoạch. lOMoAR cPSD| 61457685
Muốn thành công, con người phải tuân theo những quy luật khách quan
vốn có của sự vật, hiện tượng. Phải luôn đặt mình, cơ quan, công ty trong
những hoàn cảnh, điều kiện thực tế, nhất là về vật chất, kinh tế.
Cần luôn nỗ lực loại bỏ bệnh chủ quan, duy ý chí trong cuộc sống. Đó là
việc tránh xa thói quen chỉ căn cứ vào nhu cầu, ước muốn, niềm tin của
mình để hành động mà không nghiên cứu, đánh giá đầy đủ tình hình các đối tượng vật chất.
Thứ hai, phát huy tính năng động, sáng tạo, sức mạnh to lớn của yếu tố con người
Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải luôn chủ động,
phát huy hết trí thông minh, khả năng suy nghĩ của mình. Phải luôn tìm
tòi, sáng tạo ra cái mới trên cơ sở tích lũy, kế thừa những cái cũ phù hợp.
Có như vậy, con người mới ngày càng tài năng, xã hội ngày phát triển.
Con người phải không ngừng rèn luyện, tu dưỡng, nâng cao thể lực, trí lực
để nâng cao năng lực nhận thức và lao động của mình. Phải kiên trì, nỗ lực
vượt qua khó khăn, không bỏ cuộc giữa chừng.
Tuyệt đối không được thụ động, trông chờ, ỷ lại trong mọi tình huống.
Điều ngày cũng đồng nghĩa với việc tránh sa vào lười suy nghĩ, lười lao động.
Không được tuyệt đối hóa vai trò của các điều kiện vật chất trong nhận
thức và hoạt động thực tiễn. Vật chất có vai trò quyết định, chi phối nhưng
không có nghĩa là những thiếu hụt đối tượng vật chất sẽ khiến con người
thất bại trong việc tìm ra giải pháp khả thi.
Chống quan điểm duy ý chí: V.I.Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh không được
lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy tình cảm làm
điểm xuất phát cho chiến lược cách mạng. Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan,
nếu lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc phải
bệnh duy ý chí. Bệnh chủ quan duy ý chí là do sự yếu kém và trình độ nhận thức
nói chung và sự hạn chế trong quá trình áp dụng lí luận vào thực tiễn nói riêng.
Do đó, Lênin đã gọi căn bệnh này là “sự mù quáng chủ quan”, là sai lầm tự phát
dẫn đến rơi vào chủ ngĩa duy tâm một cách không tự giác. lOMoAR cPSD| 61457685
PHẦN C. LIÊN HỆ THỰC TIỄN
“Duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng
nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác” là một trong những biểu hiện suy
thoái về tư tưởng chính trị đã được chỉ ra tại Nghị quyết số 04-NQ/TƯ về tăng
cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong
nội bộ. Thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng đã để lại cho Đảng ta những bài
học đắt giá từ căn bệnh này. Trong điều kiện hiện nay, căn bệnh này càng dễ nảy sinh và phát triển.
Khi nhìn lại quá trình lãnh đạo đất nước, tại Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Đảng ta đánh giá: "Trong
cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu, tìm tòi,
xây dựng đường lối, xác định đúng mục tiêu và phương hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhưng Đảng đã phạm sai lầm chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan:
Nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành
phần, có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng, duy trì quá lâu
cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp; có nhiều chủ trương sai trong
việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương…".
Nhận định đó cho thấy, chủ quan duy ý chí là một trong những nhân tố chủ
yếu dẫn đến những sai lầm, khuyết điểm trong việc hoạch định đường lối, chính
sách, trong hoạt động thực tiễn của Đảng và Nhà nước ta suốt một thời gian tương đối dài.
Chủ quan, duy ý chí là một trong những căn bệnh diễn ra phổ biến ở nước ta
trước đổi mới. Nhưng nói như thế không có nghĩa là trong cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, căn bệnh này đã hết. Thực tế thời
gian qua ở nơi này, nơi kia những biểu hiện của chủ quan duy ý chí vẫn bộc lộ,
gây tác hại không nhỏ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Đáng chú ý, do chủ quan duy ý chí mà một số bộ, ngành, địa phương đề ra chỉ
tiêu, kế hoạch quá xa vời, không phù hợp với điều kiện thực tiễn, dẫn đến không
thực hiện được, gây ra sự phát triển mất cân đối của nền kinh tế. Việt Nam bước
ra hội nhập nền kinh tế thế giới với xuất phát điểm rất thấp, do đó trong nội bộ đã
xuất hiện tư tưởng, quan điểm nôn nóng chấp nhận đánh đổi phát triển kinh tế
bằng mọi giá, lấy chỉ số tăng trưởng làm thước đo. lOMoAR cPSD| 61457685
Do tham vọng tăng trưởng nhanh mà chính quyền một số địa phương sẵn sàng
làm mọi cách để chèo kéo nhà đầu tư, trong đó có việc bỏ qua hoặc hạ thấp yêu
cầu tiêu chuẩn về quản lý xã hội và bảo vệ môi trường. Chính tư tưởng nôn nóng
ấy đã dẫn đến việc không giải quyết tốt mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, chỉ
nhấn mạnh phát triển kinh tế mà không quan tâm đến những vấn đề văn hóa – xã hội và môi trường.
Hoặc tại nhiều địa phương, tình trạng các công trình "đắp chiếu", nhất là "cơn
sốt" xây chợ theo phong trào, tiêu tốn hàng trăm nghìn tỷ đồng nhưng khi hoàn
thành lại bỏ hoang. Nguyên nhân chính là do trước khi quyết định xây dựng, chính
quyền, cơ quan chức năng các cấp không nghiên cứu kỹ tình hình thực tiễn, nên
đầu tư không phù hợp với tập quán, nhu cầu của người dân. Thực chất tình trạng
đó cũng là hậu quả của căn bệnh chủ quan duy ý chí, không lắng nghe, tiếp thu ý kiến của Nhân dân.
Cũng vì nôn nóng, chủ quan duy ý chí muốn khắc phục ngay tình trạng thiếu
điện mùa khô mà “phong trào” làm thủy điện những năm qua diễn ra sôi động.
Hàng loạt các dự án thủy điện vừa và nhỏ được ồ ạt khởi công tại các tỉnh miền
núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên với hy vọng sẽ giải quyết tình trạng
thiếu điện một sớm một chiều. Thực tế trên một mặt dẫn đến sự phát triển không cân đối nguồn điện.
Mặt khác, do không tính đến các điều kiện tự nhiên, nhất là nguồn nước nên
lượng điện từ các nhà máy này chỉ được duy trì vào mùa mưa nhưng nhu cầu điện
ở mùa này lại không cao. Vào mùa khô khi tình trạng thiếu điện trầm trọng thì
các nhà máy thủy điện lại không đủ nước để phát điện. Thêm nữa, do không
nghiên cứu kỹ mối quan hệ giữa các ngành, các lĩnh vực kinh tế nên việc phát
triển ồ ạt nhà máy thủy điện nhỏ đã gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường.
Rồi đó còn là việc tỉnh nào cũng có nhà máy bia, các tỉnh ven biển đều “muốn”
có cảng biển nước sâu… cũng để lại nhiều hệ lụy. Rõ ràng, căn bệnh chủ quan
duy ý chí, áp đặt, chỉ làm theo ý mình nếu không được phát hiện đấu tranh, ngăn
chặn và đẩy lùi thì sẽ gây ra những tổn hại nặng nề về kinh tế, tạo ra sức ì kìm
hãm tốc độ phát triển của xã hội; nguy hại hơn là làm xói mòn niềm tin của dân với Đảng. lOMoAR cPSD| 61457685
Để ngăn chặn, từng bước đẩy lùi căn bệnh chủ quan duy ý chí trong cán bộ,
đảng viên, nhất là ở những cán bộ giữ trọng trách cao trong các cơ quan Đảng,
chính quyền có nhiều việc cần làm, nhiều giải pháp cần thực hiện đồng bộ.
Trước hết là việc học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ lý luận của mỗi cán
bộ, đảng viên phải được thực hiện thường xuyên, liên tục và nghiêm túc hơn.
Trong nhiều văn kiện, Đảng ta đã chỉ rõ những hạn chế, sự non kém về lý luận
khiến cho cán bộ, đảng viên thiếu tư duy biện chứng, thiếu cái nhìn toàn diện và
đó chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến căn bệnh chủ quan, duy ý chí...
Lý luận chỉ ra phương hướng cho thực tiễn, đồng thời lý luận gắn với thực tiễn
là cơ sở cho phương pháp hành động phù hợp, hiệu quả nhằm đạt được các mục
tiêu đề ra. Trình độ lý luận vững vàng cũng là nền tảng cho phong cách tư duy
khoa học. Cán bộ, đảng viên nếu thiếu tư duy khoa học biện chứng thì sớm hay
muộn cũng vướng vào chủ nghĩa kinh viện, tư duy nhiệm kỳ, chủ quan duy ý chí.
Do đó, để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng hiện nay, từng tổ chức Đảng,
từng cán bộ, đảng viên phải không ngừng học tập lý luận, gắn với nghiên cứu
thực tiễn để hình thành cho mình một thế giới quan, phương pháp luận khoa học.
Cùng với học tập nâng cao trình độ lý luận, đối với những tổ chức Đảng, đảng
viên do mắc bệnh chủ quan duy ý chí mà ban hành những chủ trương không đúng,
quyết sách không phù hợp gây hậu quả nghiêm trọng, phải quy rõ trách nhiệm,
xử lý nghiêm minh. Đây có thể xem là biện pháp hành chính hữu hiệu để chống
lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội. Đây cũng là biện pháp cảnh báo,
ngăn chặn giúp cán bộ, đảng viên nêu cao trách nhiệm, không mắc vào căn bệnh chủ quan duy ý chí.
Mặt khác, từng tổ chức Đảng, từng đảng viên phải đề cao ý thức dân chủ, phát
huy tốt dân chủ, thực hiện tốt quyền dân chủ của quần chúng nhân dân. Dân chủ
cũng là biểu hiện của lề lối, tác phong làm việc khoa học, chuyên nghiệp trong
mỗi cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một trong những phẩm
chất quan trọng của người cán bộ cách mạng là phải có phương pháp, tác phong
làm việc khoa học, thiết thực, hiệu quả.”
Và tất nhiên để Đất nước tiếp tục đi đúng con đường của chủ nghĩa duy vật
biện chứng về mối quan hệ vật chất và ý thức thì phải tôn trọng thực tế khách
quan, sống và làm viêc dựa trên thực tiễn khách quan, đồng thời “phải khơi dậy
trong thực tế khách quan, sống và làm việc dựa trên thực tiễn khách quan, đồng
thời “phải khơi dậy trong dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài chí lOMoAR cPSD| 61457685
của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà khỏi nghèo nàn lạc hậu”- tức phát
huy tính năng động của ý thức chủ quan. Nâng cao công tác tuyên truyền, giáo
dục lí luận chính trị triết học đặc biệt là chủ nghĩa duy vật biện chứng để tạo nên
sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong Nhân dân. LIÊN HỆ BẢN THÂN
Đầu tiên, vì vật chất quyết định ý thức nên nên trong nhận thức và hoạt động
thực tiễn đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế khách quan. Bản thân mỗi chúng ta,
đặc biệt là sinh viên năm nhất phải tự xác định được các yếu tố khách quan ảnh
hưởng đến việc học tập của mỗi người. Dựa vào các yếu tố đó để xác định mục
tiêu rõ ràng, đúng đắn, kế hoạch học tập để đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu
quả. Ví dụ như bản thân em lựa chọn trường Đại học Kinh tế quốc dân là điểm
đến mới sau 12 năm học tập bởi chất lượng đào tạo tốt, đội ngũ giảng viên giàu
kinh nghiệm, và cơ sở vật chất hiện đại, đáp ứng nhu cầu của sinh viên hiện nay.
Thứ hai, vì ý thức có sự tác động trở lại đối với vật chất nên cần phải phát huy
năng động chủ quan tức là phải phát huy tính tích cực, năng động và sáng tạo của
ý thức. Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trường Đại học Kinh tế Quốc
dân đã thực hiện tổ chức đăng kí học phần vì vậy bản thân cần phải chủ động hơn
trong việc tiếp cận đăng kí tín chỉ, năng nổ hơn nữa trong từng tiết học.
Bên cạnh đó, mỗi sinh viên phải luôn chủ động, phát huy khả năng của mình,
rèn luyện, tu dưỡng bản thân để không bị trì trệ so với xã hội. Đặc biệt là trau dồi
kĩ năng sống dày dặn. Xây dựng ý chí theo tinh thần của câu nói: “Học, học nữa, học mãi” (Lênin). lOMoAR cPSD| 61457685 KẾT LUẬN
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định vai trò quyết định của vật chất đối
với ý thức đồng thời vạch ra sự tác động trở lại vô cùng quan trọng của vật chất
đối với ý thức. Vật chất và ý thức nằm trong mối quan hệ biện chứng. Vật chất
sinh ra và quyết định ý thức, song sau khi ra đời, ý thức có tính độc lập tương đối
nên có sự tác động trở lại to lớn đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn
của con người. Con người chúng ta trong mọi hoạt động của thực tiễn đều phải
dựa trên quan niệm biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Cần phải
tôn trọng thực tế khách quan, xuất phát từ thực tế khách quan; đồng thời phát huy
năng động chủ quan dựa trên khách quan.
Ý thức con người thể hiện cho vai trò của ý thức. Trong hiện thực, bản thân ý
thức không thể tự thay đổi được gì. Ý thức muốn tác động trở lại cuộc sống hiện
thực phải bằng lực lượng vật chất, nghĩa là phải được con người thực hiện trong
thực tiễn. Điều ấy có nghĩa là sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông
qua hoạt động của con người được bắt đầu từ việc nhận thức cho được quy luật
khách quan; phải có ý chí; phải có phương pháp để tổ chức hành động.
Vai trò của ý thức là ở chỗ trang bị cho con người những tri thức về: bản chất
quy luật khách quan của đối tượng, trên cơ sở ấy con người xác định đúng đắn
mục tiêu và đề ra phương pháp phù hợp. Con người với ý thức của mình xác định
các biện pháp để thực hiện tổ chức các hoạt động thực tiễn để thực hiện mục tiêu
đề ra. Ở đây ý thức có thể quyết định làm cho con người hoạt động đúng và thành
công khi phản ánh đúng thế giới khách quan. Ngược lại nếu ý thức phản ánh sai
sự thật khách quan thì sẽ dẫn đến sai lầm và thất bại. Vì vậy phải phát huy tính
năng động và sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động
cải thiện thế giới khách quan.
Tuy nhiên, cơ sở để phát huy tính năng động sáng tạo chủ quan của ý thức là
việc thừa nhận và tôn trọng tính khách quan của thế giới vật chất. Nếu như thế
giới vật chất và những quy luật của nó tồn tại khách quan không phụ thuộc và ý
thức của con người thì trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ
thực tiễn khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cho mọi hoạt động của
mình. Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan, nếu lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy
ảo tưởng thay cho hiện thực thì tôi hay bạn, chúng ta sẽ rơi vào không tưởng và
duy ý chí, và sẽ thất bại trong thực tiễn. lOMoAR cPSD| 61457685
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ gíao dục va đào tạo, Giáo trình Triết học Mác-Lênin
[2] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB.CTQG, HN, 1993
[3] Ngăn chặn, đẩy lùi bệnh “duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình”, [
Phùng Kim Lân,Báo Hà Nội mới, 11/12/2019]