



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 58605085 lOMoAR cPSD| 58605085
BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM
Nhiệm vụ được phân STT MSSV Họ và tên Kí tên công
Nội dung chương 1, xem
1 2013266 Chiêm Hồng Huấn
và sửa lại nội dung Nội dung chương 2,
2 2011251 Lý Cẩm Huê phần 2.1 Nội dung chương 2,
3 2010266 Vũ Huy Hiệu phần 2.2 Nội dung chương 2,
4 2013209 Nguyễn Anh Hoài phần 2.3
Phần Mở Đầu, Kết
5 2013359 Hồ Sỹ Hùng Luận, Tổng Hợp lOMoAR cPSD| 58605085
MỤC LỤC: PHẦN MỞ ĐẦU ..................... Lỗi! Thẻ đánh dấu không được xác định.
1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................................. 1
2. Đối tượng nghiên cứu ....................................................................................................... 2
3. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................................... 2
4. Mục tiêu nghiên cứu ......................................................................................................... 2
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................. 2
PHẦN NỘI DUNG ................................................................................................................... 3
CHƯƠNG 1: QUY LUẬT CUNG – CẦU ............................................................................. 3
1.1. Các khái niệm: ............................................................................................................... 3
1.1.1. Thị trường: .............................................................................................................. 3
1.1.2. Cầu: .......................................................................................................................... 3
1.1.3. Cung: ........................................................................................................................ 5
1.1.4. Giá cả và giá trị: ...................................................................................................... 6
1.2. Mối quan hệ giữa cung – cầu và giá cả: ...................................................................... 6
1.2.1. Quy luật cung – cầu: ............................................................................................... 6
1.2.2. Giá cả dưới tác động của quy luật cung – cầu: .................................................... 7
CHƯƠNG 2: CUNG – CẦU ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG XE ĐIỆN TẠI VIỆT NAM ........ 8
2.1. Khái lược về xe điện: ..................................................................................................... 8
2.1.1. Giới thiệu về xe điện: .............................................................................................. 8
2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển: .......................................................................... 8
2.1.3. Thị trường xe điện tại Việt Nam: ........................................................................... 9
2.2 Tình hình cung - cầu của xe điện tại Việt Nam hiện nay: ......................................... 10
2.2.1. Tình hình phổ quát: .............................................................................................. 10
2.2.2. Tình hình cung: ..................................................................................................... 10
2.2.3. Tình hình cầu: ....................................................................................................... 14
2.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến cung – cầu xe điện tại Việt Nam: ........................... 15
2.2.5. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn: ............................................................. 19
2.3. Các kiến nghị thúc đẩy phát triển thị trường xe điện tại Việt Nam ....................... 23
PHẦN KẾT LUẬN ................................................................................................................ 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................................... 26 lOMoAR cPSD| 58605085 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển của lịch sử nhân loại có thể thấy quá trình phát
triển của loài người luôn gắn liền với quá trình lao động. Nhờ lao động mà xã hội loài người
đã có các bước tiến mới, xuất hiện nhiều nền văn minh mới, khám phá ra nhiều nguồn năng
lượng khác nhau để phục vụ cho cuộc sống. Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển như vũ bão
song đi kèm theo đó là các nguy cơ về vấn đề môi trường sống, ô nhiễm ,...Trong bối cảnh đó
việc lựa chọn phát triển công nghệ xanh trong lĩnh vực sản xuất xe ôtô, xe gắn máy là giải
pháp rất quan trọng để hạn chế sự tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch, giảm lượng phát thải, và phát
triển xe điện là hướng đi được nhiêù quốc gia quan tâm, ưu tiên bởi cho phép tiết kiệm hơn,
hạn chế các tình trạng ô nhiễm, giảm bớt tiếng ồn. Trong những năm gần đây. thị trường xe
đạp điện trên thế giới có giá trị 26,73 tỷ USD vào năm 2021 và dự kiến đạt 53,53 tỷ
USD vào năm 2027, đạt tốc độ CAGR là 12,27% trong giai đoạn dự báo (2022 - 2027). Đặc
biệt trong bối cảnh ngày nay khi đại dịch COVID-19 bùng phát và các đợt ngừng hoạt động
kéo dài, sản lượng xe điện đã có phần sụt giảm. Tuy nhiên, khi cuộc sống dần trở lại trạng thái
bình thường, thị trường bắt đầu tăng tốc. Các thành phố trên khắp thế giới bắt đầu mở cửa,
nhu cầu về xe đạp điện đang tăng nhanh vì sự tiện lợi và chi phí vận hành của chúng.
Theo sự phát triển ngày càng nhanh của xã hội mà cuộc sống con người ngày càng tất bật
và nhu cầu đi lại hàng ngày tăng cao, việc sở hữu một chiếc xe gần như trở nên cần thiết vì
các phương tiện giao thông công cộng thường không đáp ứng đủ nhu cầu di chuyển. Mặt khác
là mối quan tâm ngày càng cao đối với việc bảo tồn và duy trì môi trường cho các thế hệ tương
lai, chủ yếu là sự khan hiếm ngày càng tăng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, những lo
ngại về sức khỏe và biến đổi khí hậu ngày một nghiêm trọng hơn. Điều này đặt ra một thách
thức lớn cho toàn xã hội. Và xe điện chính là giải pháp lý tưởng cho vấn đề này, đã và đang
được áp dụng rộng rãi hiện nay trên thế giới nói chung cũng như Việt Nam ta nói riêng. Vậy
làm thế nào để một thị trường tiềm năng như nước ta có thể tận dụng tốt các cơ hội cũng như lOMoAR cPSD| 58605085
đối mặt với thách thức, đưa ra các biện pháp, chính sách khắc phục và đẩy mạnh hơn nữa việc
phát triển Xe điện hiện nay. Đó là vấn đề đang được đặt ra và cần giải quyết.
2. Đối tượng nghiên cứu
Xe điện và mối quan hệ giữa cung – cầu trong thị trường xe điện nước nhà.
3. Phạm vi nghiên cứu
Không gian: môi trường cung – cầu “xe điện” của Việt Nam.
Thời gian: Giai đoạn 2013-2021
4. Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, nắm rõ được khái niệm về cung – cầu, thị trường và cạnh tranh.
Thứ hai, hiểu được mối quan hệ khăng khít giữa cung và cầu trong xã hội loài người hiện nay.
Thứ ba, nắm được khái niệm hàng hóa, dịch vụ,... điển hình là mô hình “xe điện”; biết được
tác hại, lợi ích, tính cấp thiết của mô hình này.
Thứ tư, nghiên cứu mối liên quan giữa nhu cầu tiêu thụ cùng nguồn cung tương ứng, cũng như
các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu thụ trong thị trường nước nhà.
Thứ năm, đề xuất các phương án đảm bảo mối quan hệ cung – cầu mà không làm ảnh hưởng
đến thị trường kinh tế của đất nước.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và các phương pháp nghiên cứu như
trừu tượng hóa khoa học, phân tích tổng hợp, thống kê mô tả. lOMoAR cPSD| 58605085 PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: QUY LUẬT CUNG – CẦU
1.1. Các khái niệm:
Cung và cầu là những lực lượng làm cho nền kinh tế thị trường hoạt động. Chúng quyết định
sản lượng sản xuất và giá bán của hàng hóa. Nếu muốn biết một sự kiện hoặc một chính sách
ảnh hưởng đến nền kinh tế như thế nào điều trước hết cần làm là phải xem xét nó ảnh hưởng
đến cung cầu ra sao. Các thuật ngữ cung và cầu đề cập đến hành vi của con người khi họ tương
tác với nhau trong các thị trường cạnh tranh.
1.1.1. Thị trường:
Thị trường là một phạm trù của nền kinh tế hàng hóa được biểu hiện bằng các hoạt động trao
đổi, mua bán diễn ra trong một phạm vi không gian và thời gian nhất định. Gồm một nhóm
những người mua và người bán của một hàng hóa hay dịch vụ cụ thể. Người mua, với tư cách
là một nhóm quyết định cầu và nhóm người bán quyết định cung của sản phẩm hay dịch vụ. Phân loại:
- Căn cứ vào số lượng và vị trí của người mua, người bán thị trường được phân thành:
thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường độc quyền và thị trường cạnh tranh không hoàn hảo.
- Căn cứ vào hình thái vật chất của đối tượng trao đổi thị trường được phân thành: thị
trường hàng hóa và thị trường dịch vụ.
- Căn cứ vào cách biểu hiện của nhu cầu và khả năng biến nhu cầu thành hiện thực thị
trường được phân thành: thị trường thực tế, thị trường tiềm năng và thị trường lý thuyết. 1.1.2. Cầu:
Cầu là khối lượng hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng cần mua trong một thời kì nhất định
ứng với giả cả và thu nhập xác định.
Lượng cầu của một loại hàng hóa là lượng hàng mà người mua có thể và sẵn lòng mua. lOMoAR cPSD| 58605085
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến lượng cầu và nhân tố đóng vai trò trung tâm chính là giá bán của hàng hóa.
Hình 1.1.2. Biểu cầu ( trái) và đường cầu ( phải)
Nguồn: Sách Principles of Economics của N. Gregory Mankiw ( tái bản lần 8)
Luật cầu: “ Trong điều kiện mọi yếu tố khác không thay đổi, khi giá của một loại hàng
hóa tăng thì lượng cầu của nó sẽ giảm và khi giá của một loại hàng hóa giảm, lượng cầu của nó sẽ tăng”.
Cầu cá nhân và cầu thị trường:
- Cầu cá nhân: Là số lượng hàng hóa, dịch vụ mà một cá nhân mong muốn mua và có
khả năng mua tại các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định với giả định các
nhân tố khác không đổi.
- Cầu thị trường: Là tổng cầu cá nhân ở các mức giá.
Có nhiều yếu tố tác động đến cầu làm đường cầu dịch chuyển: thu nhập, giá của sản phẩm
liên quan – sản phẩm thay thế, thị hiếu của khách hàng, kì vọng, số lượng người mua,…
Tóm lại đường cầu cho thấy điều gì sẽ xảy ra với lượng cầu của một loại hàng hóa khi giá của
nó thay đổi với giả định các yếu tố tác động đến người mua là không thay đổi. Khi một trong
những yếu tố này thay đổi, đường cầu sẽ dịch chuyển. lOMoAR cPSD| 58605085 1.1.3. Cung:
Cung của một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó là tổng số lượng sản phẩm hay dịch vụ đó
mà nhà cung cấp có thể bán trên thị trường ở các mức giá khác nhau tại một khoảng thời gian
nhất định, tương ứng với giá cả, khả năng sản xuất và chi phí sản xuất xác định.
Lượng cung của một loại hàng hóa hay dịch vụ bất kì là lượng hàng mà người bán có thể và sẵn lòng bán.
Hình 1.1.3. Biểu cung ( trái) và đường cung (phải).
Nguồn: Sách Principles of Economics của N. Gregory Mankiw ( tái bản lần 8)
Luật cung: trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi, khi giá hàng hóa tăng lên,
lượng cung tăng lên và khi giá giảm thì lượng cung giảm đi.
Cung cá nhân và cung thị trường:
- Cung cá nhân: lượng hàng hoá dịch vụ mà một cá nhân có khả năng và sẵn sàng bán ở
các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định.
- Cung thị trường: bằng tổng cung cá nhân tại các mức giá.
Có nhiều nhân tố tác động đến cung như: giá đầu vào, kì vọng, số lượng người bán, công nghệ
sản xuất,… Khi một trong những yếu tố này thay đổi, đường cung sẽ dịch chuyển. lOMoAR cPSD| 58605085
1.1.4. Giá cả và giá trị:
Giá trị của hàng hóa là một thuộc tính của hàng hoá, là lao động hao phí của người sản
xuất để sản xuất ra nó được kết tinh vào trong hàng hoá. Là giá trị lượng lao động tiêu hao để
sản xuất ra hàng hoá đó và tính bằng thời gian lao động xã hội trung bình để sản xuất ra hàng hoá.
Có 3 nhân tố tác động đến lượng giá trị của hàng hóa: năng suất lao động, cường độ lao
động và mức độ phức tạp của lao động.
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị trao đổi của hàng hóa, đó là số tiền phải trả cho
một hàng hóa, một dịch vụ hay một tài sản nào đó.
Hình 1.1.4. Giá cả thay đổi xoay quanh giá trị
Nguồn: TheWayToIPL.com
Giá cả của một mặt hàng phụ thuộc vào: giá trị bản thân hàng hóa đó ( số thời gian và
công sức lao động làm ra nó), giá trị của đồng tiền, quan hệ cung, quan hệ cầu về hàng hóa,…
1.2. Mối quan hệ giữa cung – cầu và giá cả:
1.2.1. Quy luật cung – cầu:
Ở đâu có thị trường, ở đó có quy luật cung – cầu tồn tại và hoạt động một cách khách
quan. Quy luật cung cầu là quy luật kinh tế điều tiết quan hệ giữa cung và cầu hàng hóa trên
thị trường, đòi hỏi cung – cầu phải có sự thống nhất.
Quy luật cung – cầu có tác dụng điều tiết quan hệ sản xuất và lưu thông hàng hóa; làm thay
đổi cơ cấu và quy mô thị trường, ảnh hưởng đến giá của hàng hóa. Căn cứ vào đó có thể đoán lOMoAR cPSD| 58605085
được xu thế biến động của giá cả. Nếu nhận thức đúng thì có thể vận dụng để tác động đến
hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng có lợi cho quá trình sản xuất; Nhà nước có thể vận
dụng để đưa ra các chính sách tác động vào các hoạt động kinh tế, duy trì tỷ lệ cân đối cung –
cầu một cách lành mạnh và hợp lý.
1.2.2. Giá cả dưới tác động của quy luật cung – cầu:
Trên thị trường, cung – cầu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, thường xuyên tác động lẫn nhau
và ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả:
+ Nếu cung lớn hơn cầu thì giá cả thấp hơn giá trị.
+ Nếu cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cao hơn giá trị.
+ Nếu cung bằng cầu thì giá cả bằng giá trị.
Hình 1.2.2. Tác động quy luật cung cầu lên giá cả thị trường Nguồn: Tinhte.vn
Quan hệ cung – cầu điều tiết sự chênh lệch giữa giá cả thị trường và giá trị thị trường, và
ngược lại sự lên xuống của giá cả thị trường lại điều tiết quan hệ cung – cầu. lOMoAR cPSD| 58605085
CHƯƠNG 2: CUNG – CẦU ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG XE ĐIỆN TẠI VIỆT NAM
2.1. Khái lược về xe điện:
2.1.1. Giới thiệu về xe điện:
Xe điện là loại phương tiện sử dụng động cơ điện để dẫn động thay vì động cơ đốt trong như
xe chạy bằng xăng, dầu. Động cơ điện giúp chuyển hóa điện năng thành cơ năng, không thải
ra các khí CO2 nên được đánh giá là phương tiện xanh, thân thiện với môi trường. Hiện có các
loại xe điện phổ biến như:
- Xe đạp điện: xe chạy bằng điện có gắn bàn đạp;
- Xe máy điện: xe chạy bằng ắc quy/pin và không có bàn đạp;
- Xe ô tô điện: có chức năng như một chiếc xe ô tô chạy bằng xăng/dầu, chỉ khác
nguồn năng lượng là điện.
Trong những năm gần đây, xe điện được chú ý nhiều khi mà vấn đề môi trường ngày càng được quan tâm.
Các hãng xe điện lớn trên thế giới như: Tesla ( Mỹ); Liên minh Renault – Nissan – Mitsubishi
( Pháp – Nhật); Volkswagen ( Đức); BYD, NIO ( Trung Quốc),…
2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển:
Xe điện có lịch sử ra đời từ năm 1859 với hình thái ban đầu khá thô sơ, đơn giản nhưng đặt
một nền móng quan trọng giúp thay đổi diện mạo thị trường xe điện hiện nay.
Chiếc xe điện ba bánh đầu tiên được chế tạo vào năm 1881 do kĩ sư người Pháp Gustave
Trouve. Sự kiện này đã không thu hút nhiều sự chú ý của cộng đồng bởi kĩ thuật không đủ
hoàn thiện để thay thế cho xe kéo ngựa.
Đến năm 1884, Thomas Parker tạo ra chiếc ô tô điện đầu tiên trên thế giới tại Anh.
Chiếc xe điện thương mại đầu tiên là Morris và Salom’s Electroboat và được sử dụng như là
một taxi ở thành phố New York cho đến năm 1912 xe điện bùng nổ do được nhiều hộ gia đình ưa chuộng sử dụng. lOMoAR cPSD| 58605085
Đến những năm 1920, hãng Ford sản xuất xe xăng với giá rẻ khiến xe xăng trở nên phổ
biến hơn, tác động rất lớn tới xe điện. Do đó, xe điện bị đưa vào dĩ vãng và ít được ưa chuộng hơn xe xăng.
Mãi cho đến thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20, thời đại phục hưng của ô tô điện bắt đầu
do nhiên liệu hóa thạch không phải là nguồn năng lượng vĩnh cửu và theo các bản báo cáo của
Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), loài người chịu trách nhiệm chính cho sự
nóng lên toàn cầu. Chính vì đó, ô tô điện trở thành mối quan tâm của các tổ chức quốc tế, các
chính phủ, các công ty ô tô, các nhà nghiên cứu và người tiêu dùng.
Một số hãng đã cho ra đời sản phẩm vào những năm 1990s, thành công nhất phải kể
đến Toyota Prius và Honda Insight. Cho đến tháng 12 năm 2018, ô tô điện đã đạt tới con số
5.1 triệu đơn vị trên thị trường ô tô con thế giới.
Các hội nghị quốc tế lớn như EVS và IEEE-VPPC đã trở thành diễn đàn để các nhà
nghiên cứu trao đổi và giới thiệu những công nghệ mới trong lĩnh vực ô tô điện.
2.1.3. Thị trường xe điện tại Việt Nam:
Trong những năm gần đây, nhu cầu về xe điện hai bánh (xe máy điện và xe đạp điện) ngày
càng gia tăng tại các đô thị Việt Nam.
Trong năm 2020 Việt Nam và thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề do đại dịch Covid-19,
do đó thị trường ô tô cũng chịu tác động tiêu cực mạnh mẽ, khiến sức mua giảm sút đáng kể.
Đến cuối tháng 6/2020, chính phủ ban hành chính sách ưu đãi 50% lệ phí trước bạ cho các ô
tô trong nước đã giúp cho thị trường ô tô đc khôi phục trở lại
Theo thống kê của Motorcyclesdata, trong năm 2021 trong khi thị trường xe máy Việt
Nam sụt giảm mạnh bởi tác động của Covid-19 xuống đến mức thấp nhất trong vòng 15 năm
qua thì ngược lại các thương hiệu xe điện lại có sự tăng trưởng đáng kể. Thị phần xe máy điện
tăng mạnh từ 2.9% trong năm 2018 lên tới 10% trong năm 2021.
Ở thị trường Việt Nam hiện nay, xe đạp điện đến từ Trung Quốc và Nhật Bản đang
chiếm thị phần lớn nhất. Có thể nhắc tới một số thương hiệu xe đạp điện nổi tiếng như là: xe lOMoAR cPSD| 58605085
đạp điện Asama, Ambike, Vnbike, Giant,... Bên cạnh đó, với sự phát triển không ngừng của
xã hội, Việt Nam cũng đã có những bước tiến mới liên quan đến ngành xe điện mà nổi bật nhất
phải nói đến là Vinfast - một cái tên rất gần gũi và ưa chuộng hiện nay.
Thị trường xe điện tại Việt Nam chưa gây được nhiều sự chú ý so với các nước trong khu vực
và trên toàn cầu, tuy nhiên với dân số 100 triệu dân, Việt Nam hứa hẹn là thị trường ô tô điện đầy tiềm năng.
2.2 Tình hình cung - cầu của xe điện tại Việt Nam hiện nay:
Xe điện là xu hướng không thể đảo ngược và sẽ là tương lai khi các chính phủ hướng tới năng
lượng sạch và coi trọng môi trường. Xe điện hiện là một trong những điểm mấu chốt để phát
triển cuộc sống xanh toàn diện với mức phát thải thấp, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, cải
thiện đời sống con người. Điều này có nghĩa là các nhà đâu tư quan tâm có thể thiết lập cơ sở
bao gồm cơ sở sản xuất, chuỗi cung ứng và nhân lực để chuẩn bị cho sự chuyển dịch trong tương lai này.
2.2.1. Tình hình phổ quát:
Với dân số hơn 96 triệu người, khoảng một nửa dân số Việt Nam sở hữu xe máy, trong
khi tỷ lệ sở hữu ô tô là 23 trên 1.000 người. Các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh
đã bị gia tăng ô nhiễm và tắc nghẽn, thậm chí đã nhiều lần xếp hạng cao về mức độ ô nhiễm
trên toàn cầu. Do đó có thể thấy thị trường xe điện Việt Nam bước đầu sẽ chuyển dịch và được
sự đón nhận tích cực từ người dân. Sự thay đổi đồng loạt mô hình từ xe xăng sang xe chạy
bằng điện trong tương lai không xa sẽ góp phần đáng kể vào việc cải thiện môi trường, chống
biến đổi khí hậu. Người tiêu dùng có ý thức cao về môi trường, tiết kiệm nhiên liệu và nhận
thấy mức độ ô nhiễm đang tăng ở các thành phố. Điều này là động lực để xe điện dễ dàng được
phổ cập và trở thành lựa chọn tất yếu chỉ trong vài năm tới. Ngoài ra, giá nhiên liệu tăng trong
khi giá điện khá bình ổn lại càng có lợi cho thị trường xe điện Việt Nam.
2.2.2. Tình hình cung:
2.2.2.1. Xe đạp, xe máy điện: lOMoAR cPSD| 58605085
Số lượng sản xuất và cung cấp:
Trong giai đoạn 2013-2016, xe đạp điện có nguồn gốc linh kiện từ Trung Quốc được
nhập liên tục vào Việt Nam. Theo số liệu của một hãng xe máy tại Việt Nam, số xe đạp, xe
máy điện đạt đỉnh điểm gần 700.000 chiếc/ năm.
Năm 2018, thị trường Việt Nam có 14 doanh nghiệp sản xuất xe đạp điện với sản lượng và
cung ra ngoài thị trường trên 46.000 xe, cùng với đó là có 39 doanh nghiệp lắp ráp, sản xuất
xe máy điện và cung ra ngoài thị trường gần 213.000 xe ( 212.924 xe). Cuối năm 2018, hãng
xe Vinfast đã ra mắt 2 dòng xe máy điện là Klara A1 và Klara A2 cùng với đó hãng Honda
cũng cho ra mắt xe máy điện Honda.
Năm 2019, số doanh nghiệp lắp ráp, sản xuất xe đạp điện tuy giảm xuống còn 11 nhưng sản
lượng và cung ra thị trường lại tăng lên đến 52.938 xe và số doanh nghiệp sản xuất xe máy
điện tăng lên đến 40 doanh nghiệp với sản lượng sản xuất và cung cấp ra ngoài thị trường là trên 237.000 xe
Năm 2020, do tác động mạnh của dịch Covid-19 làm cho thị trường xe điện ảm đạm kéo theo
nhiều doanh nghiệp ngừng sản xuất, chỉ còn lại 4 doanh nghiệp sản xuất xe đạp điện với tổng
số xe là 21.318; Đối với xe máy điện thì chỉ còn lại 28 doanh nghiệp và sản xuất với tổng sản
lượng là trên 152.000 ( 152.710 xe ). Mức giá bán ra:
- Đối với xe máy điện nội địa: Một số hãng xe máy điện nội địa đã đưa ra các sản phẩm
của mình để cạnh tranh với những cái tên đình đám từ nước ngoài. Xe máy điện VinFast
phiên bản ắc quy axit-chỉ có giá 27,3 triệu đồng trong khi đó bản sử dụng pin Lithium
có giá 45,5 triệu đồng. Mới đây hãng cũng có thêm hai dòng xe máy điện mới là Impes
và Ludo với mức giá bán lần lượt tương ứng là 21,99 triệu đồng và 20,99 triệu đồng; lOMoAR cPSD| 58605085
Một số thương hiệu xe máy điện nội địa khác như Pega với các dòng xe máy điện, xe
đạp điện nổi tiếng như: -men, Aura, Zinger 9, Cap-A 3... với mức giá bán dao động từ 12 - 27 triệu đồng/xe.
- Đối với xe máy điện nhập khẩu: ở phân khúc xe máy điện nhập khẩu thì mức giá thành
sẽ cao hơn so với các mẫu xe máy điện trong nước. Mức giá trung bình cho các mẫu
xe đạp điện nhập khẩu trung bình từ 13-17 triệu đồng tùy thuộc vào mẫu mã xe và dòng
xe: Xe máy điện Honda có giá bán từ 22-23,5 triệu đồng , thương hiệu xe máy đến từ
Hàn Quốc Mbigo cũng giới thiệu 3 mẫu xe máy điện của mình tại Việt Nam bao gồm
Mbi X giá 39,8 triệu đồng, Mbi S giá 49,5 triệu đồng và Mbi V giá 59,5 triệu đồng.
Mẫu mã: Mẫu mã bán ra hướng đến nhiều đối tượng tiêu dùng khác nhau:
Vinfast Feliz hướng tới đối tượng là giới trẻ nhờ thiết kế trẻ trung, nhỏ gọn, Vinfast
Theon hướng tới người có thu nhập cao với thiết kế cao cấp, sang trọng,…
2.2.2.2. Xe ô tô điện:
Chiến lược phát triển công nghiệp ô tô của Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035
của Thủ tướng Chính phủ đã xác định rõ: "Khuyến khích sản xuất dòng xe thân thiện môi
trường (xe tiết kiệm nhiên liệu, xe hybrid, xe sử dụng nhiên liệu sinh học, xe chạy điện...), đáp
ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn khí thải,…”. Nắm bắt xu thế này, các doanh nghiệp sản xuất,
nhập khẩu ô tô, xe máy như VinFast, Mitsubishi, Honda đã bắt đầu thử nghiệm, sản xuất và ra
mắt các loại xe thân thiện với môi trường như hybrid, xe máy điện, ô tô điện...
Năm 2020 con số đã tăng gần gấp đôi so với năm trước với hơn 400 xe và chỉ sau 3 tháng đầu
năm 2021 đã có gần 600 xe nhập khẩu vào Việt Nam; Cùng với đó, VinFast không ngừng nỗ
lực để thực hiện mục tiêu sản xuất và cung cấp ra cho thị trường 15.000 xe ô tô điện, tự chủ
phát triển công nghệ pin và công nghệ số trên ô tô để sẵn sàng thương mại hóa tại thị trường trong nước.
Cho tới tháng 8/2020, Toyota đã đưa về Việt Nam mẫu xe Hybrid đầu tiên: Corolla Cross.
Sau một năm ra mắt, hãng xe cho biết có hơn 1.700 mẫu xe hybrid đã được bán ra trong thị lOMoAR cPSD| 58605085
trường Việt Nam. Đây có thể xem là kết quả tương đối khả quan đối với mẫu xe hybrid phổ
thông đầu tiên được bán thương mại ở Việt Nam.
Cuối tháng 3.2021 VinFast chính thức công bố mẫu ô tô điện đầu tay VF e34 với giá 690
triệu đồng và bắt đầu nhận đơn đặt hàng.
Honda đang tiêu thụ khá nhiều mẫu ôtô điện trên thế giới nhưng chưa quyết định
"khai phá" thị trường Việt Nam dù Việt Nam vốn là "khách quen" của hãng này. "Sản xuất
ôtô điện không phải điều quá khó, quan trọng là cơ sở hạ tầng của nước sở tại đáp ứng được
đến đâu Nếu hạ tầng tại Việt Nam đáp ứng được cho ôtô điện vận hành thì ngay lập tức xe
điện Honda sẽ có mặt."
Mitsubishi Việt Nam dù đã có một số mẫu ôtô điện nhưng chưa thể đưa về Việt Nam bởi
nhiều lý do, trong đó có vấn đề giá cả: “Giá ôtô hiện khá cao, chưa kể nhiều loại thuế, phí
khiến xe nhập bị đội giá đáng kể trong khi người tiêu dùng chưa được hưởng ưu đãi gì nổi bật.”
Jaguar Land Rover Việt Nam vẫn chưa có kế hoạch ra mắt chính thức do đánh giá vấn
đề hạ tầng và giao thông cần phải tương thích hơn nữa để vận hành. Hãng Volkwagen với
khá nhiều mẫu ôtô điện đang được tiêu thụ trên thế giới cũng có dự định đưa 2 dòng ID.3 và
ID.4 về Việt Nam. Tuy nhiên, 2 mẫu xe được đưa về nước sớm hay muộn tùy thuộc vào điều
kiện hạ tầng cũng như các chính sách riêng dành cho phân khúc đặc biệt này.
Qua đó có thể thấy các chính sách của Việt Nam đối với ô tô điện vẫn còn tụt hậu so
với các nước khác tring khu vực như Thái Lan, Indonesia,… dẫn đến thị trường ô tô điện Việt
Nam còn phân tán, nhỏ lẻ, không thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp nước ngoài cũng như các
doanh nghiệp trong nước, duy chỉ có Vinfast đang ra sức thực hiện các chính sách để nâng cao
thị phần cũng như mở rộng thị trường cho xe ô tô điện tại Việt Nam. lOMoAR cPSD| 58605085
2.2.3. Tình hình cầu:
Nhu cầu sử dụng xe đạp điện nói riêng và xe điện hai bánh nói chung ngày càng gia
tăng trong lứa tuổi học sinh, sinh viên do đa dạng về kiểu dáng và màu sắc, mức giá phù hợp
cũng như sự thuận tiện và tính cơ động. Dù xe đạp điện còn một số hạn chế nhưng nhìn chung
ngày càng được sử dụng rộng rãi trong giới trẻ, những người luôn sẵn sàng thích ứng và chấp
nhận công nghệ mới. Thời điểm nhập học là khoảng thời gian mà nhu cầu về các loại xe đạp,
xe máy điện nhiều nhất:
Hình 2.2.3a. Kết quả khảo sát đâu là món quà mà học sinh thích khi được bố mẹ
tặng nhất khi vào đầu năm học mới 2016 - 2017 Nguồn: Kenh14.vn
Qua khảo sát có thể thấy được có trên 90% học sinh được khảo sát chọn xe điện là
món quà thích được tặng nhất khi vào đầu năm học. Việc chọn xe điện không chỉ bởi giá trị
của nó, mà bởi đây thực sự là một phương tiện giao thông hiệu quả, và phù hợp với lứa tuổi.
Do đó mà nhu cầu sử dụng xe đạp, xe máy điện là rất lớn: Có khoảng 700.000 xe đạp
điện, xe máy điện bán ra được bán mỗi năm.
Năm 2017 nhu cầu xe 2 bánh tại Việt Nam đã đạt điểm bão hoà ở mức 3,3 - 3,5 triệu
xe mỗi năm nên nhu cầu xe đạp/máy điện có dấu hiệu suy giảm; Từ đó đến năm 2019 tổng lOMoAR cPSD| 58605085
cầu liên tục giảm nhẹ và sau đó lao dốc rất mạnh với mức suy giảm khoảng 30%/năm trong
giai đoạn 2020 - 2021 do tác động bởi Covid-19.
Nhu cầu về việc sử dụng xe điện trong các khu du lịch, trong khuôn viên bệnh viện hay
tại các khu công nghiệp cũng ngày càng tăng lên. Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam
(VAMA) cũng đưa ra dự báo, Việt Nam sẽ đạt mức 1 triệu xe điện hoá (EV) vào khoảng năm
2028 và tăng trưởng nhanh trong giai đoạn 2030-2040. Đến năm 2040, Việt Nam sẽ có khoảng
3,5 triệu xe ô tô điện.
2.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến cung – cầu xe điện tại Việt Nam:
2.2.4.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến cung:
Nhu cầu sử dụng điện năng tăng cao: Đối với việc sử dụng, phần lớn điện trong lưới
điện các quốc gia được sản xuất bằng các nguồn chưa thân thiện với môi trường. Các viễn
cảnh: nếu năm 2030, xe máy điện chiếm 34% thị phần xe bán mới còn ô tô điện chiếm 30%,
nhu cầu điện trong lĩnh vực giao thông là gần 4 tỷ kWh; Nếu xe máy điện chiếm 72% xe bán
mới vào năm 2030, 100% vào năm 2050. Ô tô điện chiếm 30% vào năm 2030 đến năm 2050,
nếu ô tô điện chiếm 70% xe bán mới, nhu cầu điện sẽ tăng lên gần 72 tỷ kWh. Mà điện tại Việt
Nam chủ yếu đến từ nhiệt điện than và khí ( chiếm gần 50%). Do đó việc sử dụng xe điện tại
Việt Nam với nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu từ nhiệt điện đồng nghĩa với việc ô nhiễm
sẽ chỉ chuyển từ nơi xe điện được sử dụng đến nơi có các nhà máy điện sử dụng nhiên liệu
hóa thạch.Vậy nên các nhà đầu tư cần giải quyết bài toán năng lượng này mới có thể tăng
lượng cung ra thị trường.
Cơ sở hạ tầng (nguồn điện, trạm sạc điện, pin và xử lý pin,…):
- Đối với xe đạp điện, xe máy điện thì có 2 loại là xe chạy bằng pin và xe chạy bằng acquy.
Vậy nên có thể dễ dàng được sạc bằng nguồn điện dân dụng trong gia đình, đem lại sự
tiện lợi cho người sử dụng nên có 1 lượng cầu rất lớn từ người tiêu dùng dẫn đến rất
nhiều doanh nghiệp đổ xô sản xuất, nhập khẩu xe điện làm lượng cung xe đạp, xe máy điện tăng vọt. lOMoAR cPSD| 58605085
Hình 2.2.4.1a. Pin Lithium cho xe máy điện
Nguồn: VinFastauto.com
- Đối với ô tô điện thì chỉ mới ở ngưỡng sơ khai. Hiện ngoài 200 trạm sạc của VinFast thì
hầu như chưa có hạ tầng cho phát triển xe điện ở Việt Nam. Tăng trưởng hạ tầng sạc xe
là cốt lõi trong phát triển xe điện cũng như góp phần giúp doanh nghiệp yên tâm khi
cung cấp sản phẩm ra thị trường.
Hình 2.2.4.1b. Trạm sạc cho ô tô điện Nguồn: Autodaily.vn
Giá các yếu tố đầu vào: các linh kiện, phụ tùng đa phần là nhập khẩu và giá thành sẽ
được tính thông qua giá sản phẩm. Cấu tạo xe không quá phức tạp, chi phí làm ra thấp nên thật