



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA LUẬT
BỘ MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG Đề tài:
“PHÂN CHIA TÀI SẢN THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT”
Giảng viên hướng dẫn: Trần Thị Nguyệt
Nhóm thực hiện: Nhóm 4
Lớp HP: 232TLAW011122 Hà Nội, 2024
BẢNG THÀNH VIÊN NHÓM 4 STT Họ và tên Mã sinh viên Ghi chú 1 Đoàn Đức Thiện 23D190137 Trưởng nhóm 2 Nguyễn Thị Ngọc 23D190127 3 Trần Thị Bích Ngọc 23D190174 4 Phạm Yến Nhi 23D190128 5 Trần Phan Yến Nhi 23D190175 6 Đinh Thị Nhung 23D190176 7 Trần Thị Hồng Nhung 23D190130 8 Trần Thị Kim Oanh 23D190177 9 Trần Thu Phương 23D190131 10 Lê Thị An Phượng 23D190178 11 Nguyễn Minh Quân 23D190132 12 Phạm Quang Minh Quân 23D190179 13 Nguyễn Khắc Quyết 23D190133 14 Nguyễn Ngọc Quyết 23D190180 15 Nguyễn Hoàng Sơn 23D190134 16 Nguyễn Thành Sơn 23D190181 17 Nguyễn Phương Thảo 23D190135
18 Nguyễn Thị Phương Thảo 23D190182 19 Vũ Thị Yến Thảo 23D190136 MỤC LỤC
MỤC LỤC . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
LỜI MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1. Các khái niệm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.1. Thừa kế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.2. Quyền thừa kế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
2. Các nguyên tắc pháp luật về thừa kế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
2.1. Nguyên tắc pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân . . . . . . . . . 7
2.2. Nguyên tắc bảo đảm quyển bình đẳng của công dân về thừa kế . . . . . . . . . . . 8
2.3. Nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của người có tài sản, người hưởng di
sản . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
2.4. Nguyên tắc củng cố, giữ vững tình thương yêu và đoàn kết trong gia đình . . 9
3. Các quy định chung về Quyền thừa kế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
3.1. Người thừa kế ( Điều 613, BLDS 2015) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
3.2. Những người không được hưởng tài sản . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
3.3. Thời điểm và địa điểm mở thừa kế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
3.4. Di sản thừa kế ( Điều 612) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
3.5. Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế . . . . . . . . . . . . . . 10
3.6. Người quản lý di sản ( Điều 616 BLDS 2015) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
3.7. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết
cùng thời điểm (Điều 619 BLDS 2015). . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
3.8. Người không được quyền hưởng di sản (Điều 621) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
3.9. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế (Điều 623 BLDS 2015) . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
4. Thừa kế theo pháp luật . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
4.1. Các trường hợp thừa kế theo pháp luật . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
4.2. Hàng thừa kế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
4.3. Thừa kế thế vị . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
4.4. Một số lưu ý khi chia di sản thừa kế theo pháp luật . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
II. TÌNH HUỐNG VÀ PHÂN CHIA TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT . . . . . . . . 13
1. Nội dung tình huống . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
2. Giới thiệu nhân vật . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
3. Kịch bản . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
Cảnh 1: Cuộc trò chuyện của vợ chồng ông Bình . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
Cảnh 2: Ông Bình chết . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
Cảnh 3: Mẹ con bàn về tài sản -> tranh chấp . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
Cảnh 4: Bà Anh và chị Hiền chịu sự tác động từ hàng xóm và bạn . . . . . . . . 16
Cảnh 5: Họp gia đình (bất hòa xô xát) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 17
Cảnh 6: Ba mẹ con tìm luật sư tư vấn bàn kế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20
Cảnh 7: Ra tòa -> kết quả . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 21
KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 24 LỜI MỞ ĐẦU
Trong bức tranh hỗn loạn của thế giới pháp luật và tâm lý con người, tình huống
tranh chấp thừa kế di sản trở thành một câu chuyện đậm chất nhân văn và phức tạp. Khi
bước vào cuộc sống sau cái chết của một người thân yêu, những cuộc chiến tranh lạnh
bắt đầu, không chỉ ở trên văn bản pháp lý, mà còn châm ngòi từ những cảm xúc, đòi hỏi
mối quan hệ trong gia đình.
Hãy tưởng tượng một gia đình đang đối mặt với sự thất thường và đau lòng khi
phải chia tài sản của người mà họ yêu thương. Tình huống này trở nên khó khăn khi
những người thừa kế không đồng lòng về cách chia di sản. Mỗi thành viên đều mang
theo những hy vọng, nguyện vọng, và đôi khi là những xung đột lâu dài không giải quyết được trước đây.
Trong thế giới pháp lý, tranh chấp thừa kế không chỉ là việc giải quyết các điều lệ
và quy định pháp luật, mà còn là một cuộc hành trình qua đại dương của tâm trạng và
mối quan hệ trong gia đình. Luật sư và chuyên gia pháp lý, như những thủy thủ trên con
tàu, phải tìm cách điều chỉnh hướng đi để giữ cho hành trình không lạc lõng trong biển
cả của xung đột và hiểu lầm.
Chúng ta sẽ bước vào thế giới của những người tham gia cuộc chiến này, khám
phá sự đối mặt với những nguy cơ và khả năng thất bại. Chúng ta sẽ nhìn thấy những cố
gắng hòa giải và giải quyết xung đột, cũng như những hệ luỵ và biến động mà tình huống này mang lại.
Nhắc đến chủ đề chia di sản, không chỉ đưa chúng ta đến những khía cạnh pháp lý
phức tạp mà còn khám phá sâu sắc vào những mảng tinh tế của quan hệ gia đình và tâm
lý con người. Việc xác định và phân phối di sản sau khi một người qua đời không chỉ là
quá trình pháp lý mà còn là một thách thức đầy gian nan.
Trong bối cảnh này, nghiên cứu về "Quy trình Chia Di sản trong Pháp Luật" không
chỉ tập trung vào việc phân tích các điều lệ, quy định pháp luật mà còn nhìn nhận sự
tương tác giữa các quy định này và thực tế cuộc sống. Qua đó, chúng ta có cơ hội bám
sát vào những khía cạnh thực tế, những thách thức, và những biến động trong quá trình
chia di sản, từ đó tìm kiếm những cải tiến và đề xuất giải pháp để làm cho quy trình này
trở nên công bằng, minh bạch, và ít gây xung đột nhất.
Trong đề tài này, chúng ta sẽ đi sâu vào khám phá các khía cạnh như quyền lợi và
trách nhiệm của người thừa kế, vai trò quan trọng của di chúc và cách mà các quy định
pháp luật ảnh hưởng đến quá trình chia di sản. Cùng lúc đó, đề tài cũng sẽ đặt ra những
câu hỏi về tính nhân quả của quy trình này, liệu nó có thể đảm bảo sự công bằng và hòa thuận hay không.
Chúng ta hãy cùng đặt chân vào hành trình khám phá "Quy trình Chia Di sản trong
Pháp Luật ", để hiểu rõ hơn về sự phức tạp của nó, nhìn nhận những thách thức mà người
thực hiện và gia đình phải đối mặt, và đồng thời tìm kiếm những cơ hội để cải thiện hệ
thống pháp luật, giúp mọi người trải qua quá trình này một cách minh bạch và công bằng nhất.
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Các khái niệm 1.1. Thừa kế
- Thừa kế là một chế định dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh
việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình
tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi, quyền nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các
quyển nghĩa vụ của người thừa kế.
1.2. Quyền thừa kế
- Theo nghĩa rộng: Quyền thừa kế là một phạm trù pháp lý chỉ tổng hợp các quy
phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người
chết theo di chúc hoặc theo pháp luật.
- Theo nghĩa hẹp: Quyền thừa kế là quyền của người để lại di sản và quyền của ngườinhận di sản.
- Quyền thừa kế là một quan hệ pháp luật dân sự với đầy đủ 3 yếu tố: chủ thể, khách
→ Quyền thừa kế là một quan hệ pháp luật dân sự với đầy đủ 3 yếu tố: chủ thể, khách thể, nội dung.
2. Các nguyên tắc pháp luật về thừa kế
2.1. Nguyên tắc pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân
- Quyển thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được nhà nước bảo hộ.
- Quy định này đã được khẳng định tại Điều 58 Hiến pháp 1992: “Nhà nước bảo hộ
quyển sỡ hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”. - Nội dung:
+ Đảm bảo cho mọi cá nhân đều có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của
mình cho người thừa kế theo pháp luật. Điều quan trọng là mỗi cá nhân đều có quyển
hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Thậm chí là quyền từ chối di sản thừa kế.
+ Nhà nước bảo hộ quyền thừa kế: Đảm bảo cho mọi công dân có quyền sở hữu
về thu nhập hợp pháp của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất.
+ “Tài sản hợp pháp thuộc sở hữu tư nhân không giới hạn về số lượng, giá trị”.
Do đó tất cả mọi tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân sẽ trở thành di sản
thừa kế khi người đó chết, được nhà nước tôn trọng và pháp luật bảo vệ. Đây là một nội
dung quan trọng đánh dấu sự phát triển mới và là bản chất ưu việt của pháp luật thừa kế ở nước ta.
2.2. Nguyên tắc bảo đảm quyển bình đẳng của công dân về thừa kế
- Nguyên tắc này là sự cụ thể hoá một phần của nguyên tắc cơ bản.
- Được quy định tại Điều 52 Hiến pháp 1992: “Mọi công dân đều bình đẳng trước
pháp luật” và Điều 5 Bộ luật dân sự 2015 “Trong quan hệ dân sự các bên đều bình
đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh
kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau”. - Nội dung:
+ Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và
quyển hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. (13, Điều 632)
+ Vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau. ( 70, Điều 31)
+ Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung. (70, Khoản 1, Điều 27)
- Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền thừa kế, là một nguyên tắc cơ bản trong pháp
luật thừa kế ở Việt Nam. Nó không những phản ánh chế độ chính trị nói chung mà điều
quan trọng là nhằm đảm bảo sự bình đẳng của mọi công dân trong lĩnh vực về thừa kế,
tạo được sự đoàn kết tốt giữa các thành viên trong gia đình, góp phần xây dựng một gia
đình ấm no, hạnh phúc, bền vững.
2.3. Nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của người có tài sản, người hưởng di sản
- Đây là nguyên tắc hết sức quan trọng, một mặt ghi nhận sự bảo hộ của pháp luật
đốivới quyền về thừa kế, mặt khác nó còn thể hiện một cách đầy đủ nhất các quyền dân
sự chủ quan của mỗi cá nhân trong việc định đoạt toàn bộ tài sản của mình. - Nội dung:
+ Đối với cá nhân người để lại tài sản với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp đối với
những tài sản của mình, cá nhân có quyền lập di chúc để thực hiện quyền định đoạt tài
sản của mình sau khi chết.
+ Pháp luật không cho phép bất kỳ ai có hành vì cản trở, cưỡng ép, đe doạ, … người lập di chúc.
+ Người để lại thừa kế có thể thực hiện quyển định đoạt thông qua hình thức di
chúc viết hoặc di chúc miệng, có thể nhờ người làm chứng cho việc lập di chúc, có thể
yêu cầu công chứng viên đến chỗ ở của mình để lập di chúc.
+ Khi thực hiện quyền định đoạt trong di chúc, người lập di chúc có quyền chỉ
định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân định phần di sản
cho từng người thừa kế, dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng,
giao nghĩa vụ cho người thừa kế, chỉ định người giữ di chúc; người quản lý di sản, người
phân chia di sản. (13, Điều 648)
+ Trong trường hợp di chúc đã được xác lập, nếu cần có sự thay đổi “ý nguyện”
cũng như nội dung, người lập di chúc còn có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc huỷ
bỏ di chúc vào bất kỳ lúc nào. (13, Điều 662)
2.4. Nguyên tắc củng cố, giữ vững tình thương yêu và đoàn kết trong gia đình
- Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc chung trong quan hệ dân sự, đó là: Việc
xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ quân sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn
trọng và phát huy phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp, tinh thần đoàn kết tương
thân, tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giá trị đạo đực
tốt đẹp của dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.
- Nguyên tắc này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định diện và hàng thừa kế
theo pháp luật dựa trên cơ sở huyết thống gần gũi, quan hệ hôn nhân trong việc bảo vệ
quyền lợi của người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động.
3. Các quy định chung về Quyền thừa kế
3.1. Người thừa kế ( Điều 613, BLDS 2015)
- Người thừa kế phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và
cònsống sau thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế
nhưng đã thành thai trước khi người để di sản chết. Trong trường hợp người thừa kế
theo không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
3.2. Những người không được hưởng tài sản
- Điều 621, BLDS 2015 quy định về những người không được quyền hưởng di sản.
Đó là những trường hợp sau đây:
“ Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược
đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân
phẩm của người đó; Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di
sản; Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khácnhằm
hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; Người
có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc;
giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần
hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Tuy nhiên những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người
để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc”.
3.3. Thời điểm và địa điểm mở thừa kế
- Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. (Khoản 1 Điều 611 BLDS2015)
- Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không
xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần
lớn di sản. (Khoản 2 Điều 611 BLDS 2015)
3.4. Di sản thừa kế ( Điều 612)
- Di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết
trong tài sản chúng với người khác.
- Di sản là tài sản riêng của người chết: là những tài sản thuộc quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng, quyền định đoạt riêng của người đó, không chung đụng với ai cả, ví dụ
như thừa kế quyền sử dụng đất; thừa kế quyền sở hữu nhà ở,…
- Phần tài sản riêng của người chết trong tài sản chung với người khác: Có nghĩa là
trong một khối tài sản sẽ có nhiều người cùng sở hữu và trong đó có cả phần sở hữu của
người chết như tài sản chung giữa vợ với chồng; bất động sản sở hữu chung với nhiều người.
3.5. Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế
( Điều 614 BLDS 2015)
- Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyển, nghĩa vụ tài sản
do người chết để lại.
3.6. Người quản lý di sản ( Điều 616 BLDS 2015)
- Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người
thừa kế thoả thuận cử ra.
- Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người
thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý
di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản.
- Trong trường hợp chưa xác định được, người thừa kế và di sản chưa có người quản
lý thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.
3.7. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời
điểm (Điều 619 BLDS 2015)
- Trong trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng
thời điểm thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người
thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 652 của Bộ luật Dân sự.
3.8. Người không được quyền hưởng di sản (Điều 621)
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi
ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự,
nhân phẩm của người đó.
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm
hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng.
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc
lập di sản; giả mạo di chúc, sửa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn
bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Tuy nhiên, những người nếu trên vẫn
được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó nhưng
vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.
3.9. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế (Điều 623 BLDS 2015)
- Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10
năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết
thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không
có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
+ Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.
+ Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.
- Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ
quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
- Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để
lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
4. Thừa kế theo pháp luật
4.1. Các trường hợp thừa kế theo pháp luật
- Theo quy định tại Điều 650, Bộ luật dân sự năm 2015 thì thừa kế theo phápluật
được áp dụng trong những trường hợp sau đây: + Không có di chúc.
+ Di chúc không hợp pháp.
+ Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với
người lập di chúc, cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại
vào thời điểm mở thừa kế.
+ Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có
quyềnhưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.
- Ngoài ra, thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các thành phầnsau:
+ Phần di sản không được định đoạt trong di chúc.
+ Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật.
+ Phần di sản có liên quan đến người thừa kế theo di chúc nhưng họ không có
quyềnhưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người
lập di chúc, liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc nhưng không
còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế. 4.2. Hàng thừa kế
- Về nguyên tắc, những người hưởng di sản thừa kế theo pháp luật được xếp thành
các hàng thừa kế theo thứ tự ưu tiên 1,2,3. Trong đó những người thừa kế cùng hang
được hưởng phần di sản bằng nhau, những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởngthừa
kế nếu không còn ai ở hàng trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất
quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
- Hàng thừa kế thứ nhất: Gồm vợ (chồng), bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
- Hàng thừa kế thứ hai: Ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột của người chết, cháu
gọi người chết là ông, bà nội, ông, bà ngoại.
- Hàng thừa kế thứ ba: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột,
cô ruột, dì ruột của người chết (anh chị em ruột của bố mẹ người chết); cháu ruột của
người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cô ruột, cậu ruột, dì ruột; (con của anhchị
em ruột người chết). Chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
4.3. Thừa kế thế vị
- Theo Điều 652, Bô luật dân sự 2015, pháp luật quy định về người thừa kế thế vị
như sau: “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm
với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được
hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di
sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”.
4.4. Một số lưu ý khi chia di sản thừa kế theo pháp luật
- Con dâu, con rể không được hưởng thừa kế theo pháp luật của bố mẹ chồng, bố mẹ vợ.
- Thai nhi đã thành thai vào thời điểm mở thừa kế và sinh ra còn sống được hưởng
một suất thừa kế theo pháp luật. (Điều 635)
- Những người chết cùng thời điểm không được hưởng di sản của nhau. Di sản của
mỗi người sẽ do người thừa kế của người đó hưởng. (Điều 641)
- Quan hệ thừa kế của con riêng, bố dượng, mẹ kế. (Điều 679)
II. TÌNH HUỐNG VÀ PHÂN CHIA TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT
1. Nội dung tình huống
Bà Nguyễn Thị Anh là một bà nội trợ, có chồng là ông Trần Văn Bình và hai con là
Trần Văn Cầu và Trần Văn Dũng. Ông Bình là một doanh nhân thành đạt, có nhiều tài
sản giá trị, bao gồm một biệt thự ở quận Cầu Giấy, một căn hộ cao cấp ở quận Tây Hồ
, một công ty cổ phần và một số tiền tiết kiệm là 30 tỷ đồng. Ông Bình yêu thương vợ
con và luôn mong muốn để lại di sản cho họ. Tuy nhiên, ông Bình không lập di chúc
mà chỉ nói miệng với bà Anh rằng ông muốn chia di sản theo tỷ lệ 50% cho bà, 25% cho mỗi con trai.
Một ngày, ông Bình lên cơn đột quỵ và tử vong. Tin tức về cái chết của ông Bình
khiến gia đình ông và bạn bè đồng nghiệp bị sốc và thương tiếc. Sau khi an táng xong,
bà Anh và hai anh em Cầu, Dũng bắt đầu thảo luận về việc phân chia di sản thừa kế của
ông Bình. Theo pháp luật, bà Anh và hai anh em Cầu, Dũng đều thuộc hàng thừa kế thứ
nhất của ông Bình và được hưởng phần di sản bằng nhau. Tuy nhiên, trong quá trình
thương lượng, bà Anh và hai anh em Cầu, Dũng không thể đạt được sự thống nhất về
cách phân chia di sản. Mỗi người đều có những mong muốn và lợi ích khác nhau, dẫn
đến xung đột và tranh cãi.
Bà Anh muốn được phân chia di sản theo ý muốn của ông Bình, tức là bà Anh sẽ
nhận được 50% di sản, bao gồm biệt thự ở quận Cầu Giấy, một nửa số tiền tiết kiệm và
một nửa cổ phần của công ty cổ phần do ông Bình sáng lập. Bà Anh cho rằng bà đã gắn
bó với ông Bình trong suốt cuộc đời và đã đóng góp nhiều cho sự phát triển của công
ty, nên bà xứng đáng được hưởng phần di sản lớn hơn các con trai.
Anh Cầu là con trai cả của ông Bình, là một kỹ sư giỏi. Anh Cầu không đồng ý với
cách phân chia di sản theo ý muốn của ông Bình, vì anh cho rằng ý muốn đó không có
giá trị pháp lý, mà phải tuân theo quy định của pháp luật, tức là bà Anh và hai anh em
Cầu, Dũng sẽ nhận được phần di sản bằng nhau. Anh Cầu cũng muốn được sở hữu căn
hộ cao cấp ở quận Tây Hồ, vì đó là nơi anh đang sống và làm việc, và anh có thể sử
dụng nhà đó cho công việc của mình.
Anh Dũng là con trai út của ông Bình, là một nhà thiết kế thời trang tài năng. Anh
Dũng cũng không đồng ý với cách phân chia di sản theo ý muốn của ông Bình, vì anh
cho rằng đó là sự bất công với các con trai của ông Bình. Anh Dũng không quan tâm
đến nhà cửa, vì anh thích sống tự do và sáng tạo. Anh Dũng chỉ muốn được nhận một
nửa số tiền tiết kiệm của ông Bình, để anh có thể sử dụng cho sự nghiệp thời trang của mình.
Do không có sự đồng thuận giữa bà Anh và hai anh em Cầu, Dũng, việc phân chia
di sản thừa kế của ông Bình bị đình trệ. Bà Anh và hai anh em Cầu, Dũng đều không
chịu nhượng bộ và khăng khăng giữ vững quan điểm của mình. Cuối cùng, họ quyết
định đưa vụ việc ra tòa để giải quyết theo pháp luật. Tòa án sẽ xem xét các bằng chứng
và lời khai của các bên để đưa ra phán quyết về cách phân chia di sản thừa kế của ông
Bình một cách hợp lý và công bằng.
2. Giới thiệu nhân vật ❖ Gia đình ông Bình - Ông Bình
- Vợ ông Bình: Bà Anh (vợ 2) - Con trai cả: Anh Cầu
- Vợ anh Cầu: Chị Hiền - Con trai út: Anh Dũng - Vợ anh Dũng: Chị Trang ❖ Nhóm luật sư
- Luật sư của bà Anh: Ông Quang
- Luật sư của anh Dũng: Anh Chính
- Luật sư của anh Cầu: Anh Minh ❖ Toà án - Thẩm phán: Ông Đại
- Thư kí của thẩm phán: Huyền
- Công an giữ trật tự: Ông Đạo, ông Lý
- Bồi thẩm đoàn gồm 3 người: Nhất, Nhị, Tam (diễn họ hàng)
❖ Các nhân vật khác
- Bạn thân của Hiền: Chị Diệu
- Bà hàng xóm: Bà Mai, bà Đào 3. Kịch bản
Cảnh 1: Cuộc trò chuyện của vợ chồng ông Bình
Khung cảnh: 2 người đang uống nước chè tán gẫu đột nhiên ông Bình quay sang
vừa nắm tay ánh mắt nhìn nhau thâm tình.
Ông Bình: Mình ơi tôi nghĩ là sau này 2 vợ chồng mình già, nếu lỡ tôi mà có đi trước
mình thì tôi tính là tôi sẽ để lại cho mình 1 nửa tài sản, còn số còn lại sẽ chia đều cho 2 thằng con.
Bà Anh (vẻ mặt có chút vui mừng, giọng gian xảo): Ông tính thế nào thì tính còn tôi
thì như nào cũng được.
Ông Bình: Ừ quan trọng người đầu ấp tay gối với tôi là bà thôi, còn mấy đứa con nó
có thể tự lo cho cái thân nó được.
Cảnh 2: Ông Bình chết
Khung cảnh: Ông Bình về nhà trong cơn say sau đó đi tắm, khi vừa bước ra khỏi
phòng tắm thì bị trúng gió và đột quỵ tử vong.
Bà Anh (chạy ra dìu chồng vẻ mặt hốt hoảng): Sao hôm nay mình uống nhiều thế!
Ông Bình (giọng nói lè nhè, bước đi lảo đảo): Hôm nay tôi đi uống với mấy đối tác
vài chén, mình không phải lo lắng quá.
Bà Anh: Thế thôi mình đi nghỉ ngơi đi muộn rồi.
Ông Bình: Thôi tôi đi tắm cho thoải mái, mình đi pha giúp tôi cốc nước giải rượu nhé.
Sau 15 phút, ông Bình bước ra và đột quỵ chết được bà Anh phát hiện và thông báo cho các con.
Cảnh 3: Mẹ con bàn về tài sản -> tranh chấp
Khung cảnh: Sau khi lo xong hậu sự cho ông Bình, bà Anh cùng các con tập trung
ở phòng khách và bàn nhau chia tài sản.
Bà Anh: Bây giờ chuyện của bố các con đã lo xong, tháng trước bố cũng tâm sự với
dì là theo tâm nguyện của bố các con, ông ấy muốn để lại cho dì ½ tài sản còn số còn
lại sẽ chia đều cho 2 đứa.
Anh Cầu (vẻ mặt đau khổ): Bố con mới mất chưa lâu chuyện chia tài sản dì cứ để
chúng con từ từ bàn bạc.
Anh Dũng (vẻ mặt tán thành): Anh Cầu nói đúng đấy dì à, chuyện xảy ra đột ngột
quá bọn con chưa tính toán gì.
Bà Anh: (vẻ mặt hơi bực): Ờ thế mấy đứa cứ về bàn bạc đi rồi giải quyết cho nhanh.
Cảnh 4: Bà Anh và chị Hiền chịu sự tác động từ hàng xóm và bạn
• Chị Hiền nói chuyện với bạn thân:
Chị Hiền (bực tức): Mày ơi bố chồng tao vừa mất mà bà mẹ kế đã nhanh nhanh
chóng chóng muốn chia tài sản, bà ta muốn lấy 1 nửa gia sản của bố chồng tao. Còn
vợ chồng tao với vợ chồng chú út thì chỉ được ¼ thôi.
Chị Diệu (giọng chanh chua): Ui giời anh em chúng mày phải tính nhau thế nào chứ
bà ấy có máu mủ gì với nhà mày đâu, một giọt máu đào hơn ao nước lã cơ mà.
Chị Hiền (cau có): Tao cũng bảo anh Cầu thế rồi mà ông ấy cứ ậm ờ chưa biết thế nào.
Chị Diệu (thảo mai nịnh nọt): Mày phải về bảo chồng mày ngay đi chứ cứ để thế
này thì bà ta ngồi lên đầu lên cổ chúng mày mất. Tiền này rồi sau vợ chồng con cái mày hưởng chứ ai.
Chị Hiền (gật gù tỏ vẻ đồng ý): Ừ ừ ừ…
• Vợ chồng anh Cầu bàn bạc:
Chị Hiền (giọng khó chịu): Anh phải xem thế nào ấy chứ dì đòi lấy 1 nửa tài sản là
không được, dù gì mình cũng là con ruột của bố mà lại không bằng người ngoài à?
Anh Cầu (trầm tư suy nghĩ): Theo anh tham khảo là tài sản sẽ được chia đều nếu bố
không để lại di chúc, nhưng anh cũng muốn có thêm căn hộ này cho vợ chồng mình
tiện sinh hoạt và làm việc.
Chị Hiền (tỏ vẻ đồng tình): Anh tính thế là đúng ý em rồi, đợi khi nào họp gia đình
anh phải nói rõ ràng với mọi người nhé, em không muốn chịu thiệt đâu.
• Bà Anh tám chuyện với hàng xóm:
Bà Mai (giọng hóng hớt): Thế chuyện nhà bà đến đâu rồi?
Bà Đào (chen ngang): Ừ đúng rồi đấy bà kể xem nào, bọn tôi mách nước cho
Bà Anh (giọng điệu khinh khỉnh): Lão ấy hứa cho tôi 1 nửa tài sản nhưng khổ nỗi
lão chưa viết di chúc nên hôm trước tôi có nhắc lại thì hai thằng con lão ấy chưa chịu thỏa hiệp.
Bà Đào (bĩu môi): Úi giời tôi thấy bọn con lão đang bắt tay với nhau để chiếm phần của bà đấy.
Bà Mai (đầy suy tính): Bà với lão ấy là vợ chồng hợp pháp kia mà phải được hưởng
1 nửa chứ sao lại phải chịu thua chúng nó.
Bà Anh (than thở): Tôi đang đau hết cả đầu này, đợi mãi mà chúng nó chưa có động
tĩnh gì. Sốt cả ruột…
Cảnh 5: Họp gia đình (bất hòa xô xát)
Khung cảnh: Mẹ con ngồi ở ngoài phòng khách.
Bà Anh (sốt sắng): Hôm trước dì có nói qua với mấy đứa về việc chia tài sản của bố
mấy đứa để lại. Mấy đứa về bàn bạc với nhau rồi định như thế nào?
Anh Dũng: Theo con thì như nào cũng được. Nhưng mà vợ chồng con có bàn bạc với
nhau thì con muốn ½ số tiền của bố để lại. Con thì con không cần nhà cửa đất đai gì,
con chỉ muốn 1 số tiền vừa đủ để lo cho sự nghiệp, coi như là làm vốn liếng.
Chị Trang (vợ Dũng): Nhà con làm về mảng thời trang, cần cập nhật thay đổi nhanh
chóng, mà dạo này nhà con đang làm dự án, cần nhiều vốn để đầu tư, thì ý 2 vợ chồng
con là như thế, dì và anh xem thấy thế nào.
Chị Hiền: Cô chú tính thế là không được. Chị thấy không ổn, tiền bố để lại nhiêu đấy
cô chú định lấy 1 nửa là một nửa thế nào? Anh chị còn chưa lên tiếng cô chú vội vàng cái gì?
Anh Dũng: Con nào cũng là con, chị nói thế là có ý gì, bọn em cũng đáp hiếu với bố
mẹ tử tế thì bọn em cũng phải được hưởng 1 phần xứng đáng chứ.
Chị Hiền: Chú nói như kiểu anh chị không có hiếu với bố mẹ vậy. Anh chị là con
trưởng chưa kể đến chuyện nối dõi tông đường, anh chị chưa đòi phần hơn thì thôi,
chưa gì cô chú đã đã đòi 1 nửa thì làm coi được?
Chị Trang: Bố chỉ có 2 thằng con trai, không có anh chị bọn em cũng lo được cho bố
mà, đâu nhất thiết là phải con trưởng.
Bà Anh (cáu kỉnh): Từ cơm nước đến giờ ăn giấc ngủ của bố chúng mày tao là người
lo, tao còn sống sờ sờ kia chúng mày cãi nhau cái gì?! Cứ theo ý nguyện của ông ấy mà làm.
Anh Cầu: Dì nói thế nào ấy chứ, dì về đây đã được bao lâu, chăm bố được mấy hồi
mà dám kể công với tụi này. Con là máu mủ của bố, dù thế nào đi nữa thì con trưởng
vẫn phải gánh vác trọng trách nhiều nhất trong nhà, hiển nhiên phải được phần hơn!!!!
Chị Hiền: Bọn con tính là chia đều tài sản và thêm căn hộ bọn con đang ở vì tiện vừa
để thờ cúng bố, vừa gần chỗ bọn con làm việc.
Chị Trang: Thế nhà và cổ phần công ti thì anh chị với dì cứ tính, còn vợ chồng em
chỉ lấy 1 nửa số tiền tiết kiệm của bố.
Anh Dũng: Nhà thì vợ chồng em cũng có rồi nên em nhường hai anh chị, còn em lấy
nửa số tiền tiết kiệm, để vun vén cho sự nghiệp với gia đình của em.
Chị Hiền: Dì cũng đòi 1 nửa, mà cô chú cũng đòi 1 nửa, thế sôi hỏng bỏng không,
chúng tôi không được đồng nào à???
Chị Trang: Chị không hiểu à em chỉ muốn lấy 1 nửa số tiền tiết kiệm thôi còn lại em
không cần, sao anh chị không lấy cổ phần mà đầu tư, tranh tiền với tụi em làm gì.
Bà Anh: Bố chúng mày mất rồi mà đến tâm nguyện của bố chúng mày cũng không thực hiện được à???
Chị Hiền (giọng nghi ngờ): Ai mà biết được dì nói có thật hay không? Hay dì cũng
chỉ đang lăm le đến tài sản của bố tôi.
Anh Cầu: Bà có phải mẹ ruột của chúng tôi đâu mà chúng tôi phải nghe theo bà?
Bà Anh: Chúng mày đừng có ngậm máy phun người, tao ở với bố mày bao năm tận
tình tận tuỵ chăm sóc bố mày vất vả, những lúc bố mày ốm đau thì ai lo, giờ bố mày
cũng đi rồi, tao đặt điều thì bố chúng mày mất làm sao mà nhắm mắt xuôi tay được.
Anh Cầu (đập bàn nhảy lên): Giờ di chúc không có thì cứ theo pháp luật mà làm, bà
đừng có mà khua môi múa mép, còn tôi là con trưởng lo chuyện thờ cúng bố thì tôi
phải được thêm căn nhà.
Bà Anh (đập đồ): Anh đừng có mà quá đáng, anh nói thế mà nghe được à??
Bà Đào (xô cửa chạy vào): Cãi gì đấy bố các cô các cậu mất chưa lâu mà các cô các
cậu định hùa vào bắt nạt bà ấy à?
Bà Mai: Thôi thôi bố mấy đứa mới mất, có gì thì đóng cửa bảo nhau.
Chị Hiền (quát vào mặt bà Đào): Bà thì biết cái gì? Chuyện nhà chúng tôi không đến
lượt người ngoài như bà xía vào.
Bà Đào: Mày cũng chỉ là loại con dâu, khác máu tanh lòng, ngày ngày nghĩ đến tiền
của bố mày chứ chăm ông ý được ngày nào?
Chị Trang: Bác thế nào ấy chứ? Bọn cháu về nhà này được cưới hỏi đàng hoàng, cũng
là con cái trong gia đình, bác là người dưng nước lã, có quyền gì mà nói chúng cháu thế?
Bà Anh: Chúng mày ăn nói với người lớn thế à, lũ mất dạy, còn ra cái thể thống gì nữa.
Anh Dũng: Thôi được rồi mỗi người bớt một câu đi, bây giờ không giải quyết được
thì cứ giao cho công an, pháp luật xử lý.
Cảnh 6: Ba mẹ con tìm luật sư tư vấn bàn kế
• Bà Anh gặp luật sư Quang:
Khung cảnh: Văn phòng luật sư. Bà Anh đang gặp luật sư của mình. Bà Anh tường
thuật lại câu chuyện cho luật sư.
Bà Anh: Luật sư ơi, tôi cần anh giúp tôi về việc chia di sản của chồng tôi.
Luật sư Quang: Vâng, bà cho tôi biết chi tiết.
Bà Anh: Chồng tôi có dặn rõ là tôi sẽ được hưởng 50% di sản, còn hai con trai sẽ
được hưởng 25% mỗi đứa.
Luật sư Quang: Lời căn dặn của ông Bình có được viết thành di chúc không? Bà Anh: Không ạ.
Luật sư Quang: Vậy thì lời nói đó không có giá trị pháp lý. Theo luật, bà và hai con
trai sẽ được hưởng di sản bằng nhau.
Bà Anh (thất vọng): Vậy là tôi không được hưởng nhiều hơn theo lời dặn của chồng tôi?
Luật sư Quang: Rất tiếc là vậy, bà ạ.
Bà Anh (nhét phong bì): Vậy trông chờ hết vào luật sư giúp tôi có lợi nhất.
Luật sư Quang (nhận phong bì): Bà đừng lo, tôi sẽ cố gắng giúp bà!
• Vợ chồng anh Cầu gặp luật sư Minh:
Khung cảnh anh Cầu (chạy hình không tiếng): Giãi bày tường thuật lại câu chuyện cho luật sư.
Anh Cầu: Thì tôi có tham khảo nhiều nơi, theo pháp luật thì sẽ được chia đề cho 3,
nhưng hiện tại tôi muốn căn nhà ở Tây Hồ nữa.
Luật sư Minh: Nếu theo luật pháp căn nhà cũng thuộc về tài sản của ông Bình, nên
căn nhà đó cũng sẽ được chia 3. Nếu gia đình giải quyết thì căn nhà này sẽ được bán
đi và số tiền cũng sẽ chia cho 3 người.