



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG ------***------ ĐỀ TÀI
SO SÁNH CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN 2/1930 VÀ
LUẬN CƯƠNG THÁNG 10/1930 CỦA ĐẢNG VÀ CHỦ TRƯƠNG
CHIẾN LƯỢC MỚI 1939 - 1945
Nhóm thực hiện : Nhóm 2
Lớp học phần : 251_HCMI0131_04
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Ngọc Diệp Năm học: 2024-2025
BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN STT Họ và tên
Mã sinh viên Nhiệm vụ Đánh giá 11 Trần Linh Đan 23D180102 Làm ND 12 Nguyễn Hồng Điệp 23D160011 Thuyết trình 13 Đinh Xuân Đức 23D160012 Làm PP 14 Nguyễn Duy Đức 23D160220 Làm ND 15 Nguyễn Hương Giang 23D180104 Làm ND 16 Nguyễn Hải Hà 23D180151 Làm ND 17 Nguyễn Thu Hà 23D160067 Làm ND 18 Phùng Ngân Hà 23D180152 NT, làm ND, chỉnh sửa PP
19 Trương Thị Minh Hảo 23D180108 Làm word+Mở kết 20 Hoàng Hồng Hạnh 23D160022 Thuyết trình 1
MỤC LỤC
BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1
MỤC LỤC . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
LỜI MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA TỪNG GIAI ĐOẠN, NỘI
DUNG CỦA TỪNG VĂN KIỆN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1. Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.1. Bối cảnh lịch sử của giai đoạn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.2. Nội dung của văn kiện . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
1.2. Luận cương chính trị (10/1930) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
1.2.1. Bối cảnh lịch sử của từng giai đoạn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
1.2.2. Nội dung của văn kiện . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
1.3. Chủ trương chiến lược mới (1939-1945) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
1.3.1 Bối cảnh lịch sử . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
1.3.2. Nội dung của văn kiện . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
CHƯƠNG II. SO SÁNH CÁC VĂN KIỆN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18
2.1. Giống nhau . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18
2.2. Khác nhau . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
CHƯƠNG III. THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC VĂN KIỆN
ĐỐI VỚI CẠCH MẠNG VIỆT NAM . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 22
3.1. Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 22
3.1.1. Những thành tựu đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng . . . . . . . . . . . . . . . 22
3.1.2. Cương lĩnh chính trị đặt nền móng cho chiến lược cách mạng . . . . . . . . . 22
3.2. Luận cương chính trị (10/1930) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 24
3.2.1. Những thành tựu đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng . . . . . . . . . . . . . . . 24
3.2.2. Một số hạn chế của Luận cương chính trị 10/1930 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 25
3.3. Chủ trương chiến lược mới (1939-1945) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 27 2
CHƯƠNG IV: BÀI HỌC RÚT RA . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 30
4.1. Tính linh hoạt và khả năng thích ứng với hoàn cảnh lịch sử . . . . . . . . . . . . . . 30
4.2. Sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 30
4.3. Tinh thần tự chủ và đoàn kết nội bộ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 31
4.4. Tầm nhìn chiến lược và sự chủ động trong cách mạng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 32
4.5. Giá trị của tư tưởng cách mạng và truyền thống lịch sử . . . . . . . . . . . . . . . . . . 33
KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 35 3
LỜI MỞ ĐẦU
Những năm đầu thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam đang chìm trong ách thống trị của
thực dân Pháp, yêu cầu bức thiết của lịch sử đặt ra là phải tìm ra con đường cứu nước đúng
đắn. Việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và sự ra đời của các văn kiện lý
luận đầu tiên có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Trong
số đó, Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt (2/1930) do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo
và Luận cương chính trị tháng 10/1930 do Tổng Bí thư Trần Phú khởi thảo là hai văn kiện
tiêu biểu, phản ánh nhận thức lý luận và định hướng chiến lược của Đảng trong thời kỳ đầu.
Bước sang những năm 1939–1945, khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và thực
dân – phát xít tăng cường đàn áp, yêu cầu đặt ra cho Đảng là phải kịp thời điều chỉnh chiến
lược, xác định đúng nhiệm vụ trọng tâm để đưa cách mạng vượt qua thử thách. Sự ra đời
của chủ trương chiến lược mới thể hiện sự sáng tạo, bản lĩnh và khả năng vận dụng linh
hoạt lý luận vào thực tiễn Việt Nam, tạo tiền đề đi đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đó, nhóm chúng em chọn đề tài “So sánh
Luận cương chính trị đầu tiên 2/1930 và Luận cương tháng 10/1930 của Đảng, đồng thời
phân tích chủ trương chiến lược mới giai đoạn 1939–1945” với mong muốn hệ thống hóa
cơ sở lý luận, làm rõ điểm giống và khác nhau giữa hai bản luận cương, đồng thời phân tích
quá trình điều chỉnh chiến lược của Đảng trong bối cảnh lịch sử đặc biệt của dân tộc. Bài
thảo luận có cấu trúc bốn phần: Chương I: K
hái quát bối cảnh lịch sử của từng giai đoạn, nội dung của từng văn kiện Chương II: S o sánh các văn kiện
Chương III: Thành tựu, hạn chế và tác động của các văn kiện đối với cách mạng Việt Nam Chương IV: B ài học rút ra 4
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA TỪNG GIAI ĐOẠN,
NỘI DUNG CỦA TỪNG VĂN KIỆN
1.1. Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930)
1.1.1. Bối cảnh lịch sử của giai đoạn a. Tình hình quốc tế:
Sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản và hậu quả của nó:
Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang
giai đoạn độc quyền (chủ nghĩa đế quốc). Các nước đế quốc bên trong thì tăng cường bóc
lột nhân dân lao động, bên ngoài thì xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa.
Sự thống trị tân bạo của chủ nghĩa đế quốc làm cho đời sống nhân dân lao động các nước
trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng
gay gắt, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra sôi nổi ở các nước thuộc địa.
Ngày 1-8-1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Cuộc chiến tranh này gây ra
những hậu quả đau thương cho nhân dân các nước (khoảng 10 triệu người chết và 20 triệu
người tàn phế do chiến tranh), đồng thời cũng đã làm cho chủ nghĩa tư bản suy yếu và mâu
thuẫn giữa các nước tư bản đế quốc càng tăng thêm. Tình hình đó đã tạo điều kiện cho
phong trào đấu tranh ở các nước nói chung, các dân tộc thuộc địa nói riêng phát triển mạnh mẽ.
Ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin:
Vào giữa thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển mạnh
đặt ra yêu cầu bức thiết phải có hệ thống lý luận khoa học với tư cách là vũ khí tư tưởng
của giai cấp công nhân đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản. Trong hoàn cảnh đó, chủ nghĩa
Mác ra đời, về sau được Lênin phát triển và trở thành chủ nghĩa Mác - Lênin.
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ, muốn giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực
hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải lập ra đảng cộng sản. Sự ra đời của
đảng cộng sản là yêu cầu khách quan đáp ứng cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống
áp bức, bóc lột. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (năm 1848) xác định: những người cộng
sản luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào; là bộ phận kiên quyết nhất trong
các đảng công nhân ở các nước; họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả của phong
trào vô sản. Những nhiệm vụ chủ yếu có tính quy luật mà chính đảng của giai cấp công
nhân cần thực hiện là: tổ chức, lãnh đạo cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân để thực hiện
mục đích giành lấy chính quyền và xây dựng xã hội mới. Đảng phải luôn đứng trên lập
trường của giai cấp công nhân, mọi chiến lược, sách lược của Đảng đều luôn xuất phát từ
lợi ích của giai cấp công nhân. Nhưng, Đảng phải đại biểu cho quyền lợi của toàn thể nhân 5
dân lao động. Bởi vì giai cấp công nhân chỉ có thể giải phóng được mình nếu đồng thời giải
phóng cho các tầng lớp nhân dân lao động khác trong xã hội.
Kể từ khi chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Việt Nam, phong trào yêu nước và
phong trào công nhân phát triển mạnh theo khuynh hướng cách mạng vô sản, dẫn tới sự ra
đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng và phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, sáng lập ra Đảng Cộng sản
Việt Nam. Chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tác động của Cách mạng Tháng Mười Nga và Quốc tế Cộng sản:
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga giành được thắng lợi. Nhà nước Xô Viết
dựa trên nền tảng liên minh công - nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvich Nga ra đời.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười mở ra một thời đại mới, "thời đại cách mạng chống
đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc'. Cuộc cách mạng này cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu
tranh của giai cấp công nhân, nhân dân các nước và là một trong những động lực ra đời của
nhiều đảng cộng sản: Đảng Cộng sản Đức, Đảng Cộng sản Hungary (năm 1918), Đảng
Cộng sản Mỹ (năm 1919), Đảng Cộng sản Anh, Đảng Cộng sản Pháp (năm 1920), Đảng
Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Mông Cơ (năm 1921), Đảng Cộng sản Nhật Bản (năm 1922)...
Đối với các dân tộc thuộc địa, Cách mạng Tháng Mười đã nêu tấm gương sáng trong
việc giải phóng các dận tộc bị áp bức. Về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười, Nguyễn Ái
Quốc nhận định: Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân châu Á tỉnh
giấc mê hàng thế kỷ nay. "Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành
công thì phải [lấy] dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan,
phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin".
Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) được thành lập. Sự ra đời của Quốc
tế Cộng sản có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế. Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin
được công bố tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản vào năm 1920 đã chỉ ra phương hướng đấu
tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa, mở ra con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức
trên lập trường cách mạng vô sản.
Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ
nghĩa Mác - Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định
vai trò của tổ chức này đối với cách mạng nước ta là: "An Nam muốn cách mệnh thành
công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế". 6
Như vậy, cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản, sự
xuất hiện của chủ nghĩa Mác-Lênin, thắng lợi của cách mạng tháng 10 Nga và sự ra đời của
Quốc tế cộng sản đã có tác động mạnh mẽ đến Việt Nam. b. Tình hình trong nước:
Các tổ chức cộng sản ra đời:
Với sự nỗ lực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong
trào yêu nước Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc và những hoạt động tích cực của các cấp bộ
trong tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên trên cả nước đã có tác dụng thúc đẩy
phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng cách mạng vô sản, nâng cao ý thức giác
ngộ và lập trường cách mạng của giai cấp công nhân. Những cuộc đấu tranh của thợ thuyền
khắp ba kỳ với nhịp độ, quy mô ngày càng lớn, nội dung chính trị ngày càng sâu sắc. Số
lượng các cuộc đấu tranh của công nhân trong hai năm 1928 - 1929 tăng gấp 2,5 lần so với hai năm 1926 - 1927.
Đến năm 1929, trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng Việt Nam,
tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên không còn thích hợp và đủ sức lãnh đạo
phong trào. Trước tình hình đó, tháng 3/1929, những người lãnh đạo Kỳ bộ Bắc Kỳ (Trần
Văn Cung, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu...) họp tại số nhà 5D, phố Hàm
Long, Hà Nội, quyết định lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam. Ngày 17/6/1929, đại
biểu của các tổ chức cộng sản ở Bắc Kỳ họp tại số nhà 312, phố Khâm Thiên (Hà Nội),
quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng, thông qua Tuyên ngôn, Điều lệ; lấy cờ
đỏ búa liềm là Đảng kỳ và quyết định xuất bản báo Búa liềm làm cơ quan ngôn luận.
Trước ảnh hưởng của Đông Dương Cộng sản Đảng, những thanh niên yêu nước ở
Nam Kỳ theo xu hướng cộng sản lần lượt tổ chức những chi bộ cộng sản. Tháng 11/1929,
trên cơ sở các chi bộ cộng sản ở Nam Kỳ, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập tại Khánh
Hội, Sài Gòn, công bố Điều lệ, quyết định xuất bản Tạp chí Bônsơvích.
Tại Trung Kỳ, Tân Việt Cách mạng Đảng (là một tổ chức thanh niên yêu nước có cả
Trần Phú, Nguyễn Thị Minh Khai...) chịu tác động mạnh mẽ của Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên - đã đi theo khuynh hướng cách mạng vô sản. Tháng 9/1929, những người tiên
tiến trong Tân Việt Cách mạng Đảng họp, ra Tuyên đạt khẳng định: "những người giác ngộ
cộng sản chân chính trong Tân Việt Cách mệnh Đảng trịnh trọng tuyên ngôn cùng toàn thể
đảng viên Tân Việt Cách mệnh Đảng, toàn thể thợ thuyền dân cày và lao khổ biết rằng
chúng tôi đã chánh thức lập ra Đông Dương Cộng sản Liên đoàn... Muốn làm được tròn
nhiệm vụ thì trước mắt của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn là một mặt phải xây dựng cơ
sở chi bộ của Liên đoàn tức là thực hành cải tổ Tân Việt Cách mệnh Đảng thành đoàn thể cách mạng chân chính..". 7
Sự ra đời ba tổ chức cộng sản trên cả nước diễn ra nửa cuối năm 1929 đã khẳng định
bước phát triển về chất của phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng cách mạng
vô sản, phù hợp với xu thế và nhu cầu bức thiết của lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, sự ra đời
ba tổ chức cộng sản ở ba miền đều tuyên bố ủng hộ Quốc tế Cộng sản, kêu gọi Quốc tế
Cộng sản thừa nhận tổ chức của mình và đều tự nhận là đảng cách mạng chân chính, không
tránh khỏi phân tán về lực lượng và thiếu thống nhất về tổ chức trên cả nước.
Sự chuyển biến mạnh mẽ các phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân ngày càng
lên cao, nhu cầu thành lập một chính đảng cách mạng có đủ khả năng tập hợp lực lượng
toàn dân tộc và đảm nhiệm vai trò lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc ngày càng trở nên
bức thiết đối với cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ.
Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam:
Trước nhu cầu cấp bách của phong trào cách mạng trong nước, với tư cách là phái
viên của Quốc tế Cộng sản, ngày 23/12/1929, Nguyễn Ái Quốc đến Hồng Kông (Trung
Quốc) triệu tập đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đến
họp tại Cửu Long (Hồng Kông) để tiến hành hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành
một chính đảng duy nhất của Việt Nam.
Hội nghị diễn ra từ ngày 6/1 đến ngày 7/2/1930. Trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng
sản, ngày 18/2/1930, Nguyễn Ái Quốc viết: "Chúng tôi họp vào ngày mồng 6/1. Với tư
cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan
đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, tôi nói cho họ biết những sai lầm và họ phải làm
gì. Họ đồng ý thống nhất vào một đảng. Chúng tôi cùng nhau xác định cương lĩnh và chiến
lược theo đường lối của Quốc tế Cộng sản... Các đại biểu trở về An Nam ngày 8/2”.
Thành phần dự Hội nghị gồm: 2 đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng (Trịnh
Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh), 2 đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng (Châu Văn Liêm
và Nguyễn Thiệu), dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - đại biểu của Quốc tế Cộng
sản. Chương trình nghị sự của Hội nghị:
1. Đại biểu của Quốc tế Cộng sản nói lý do cuộc hội nghị;
2. Thảo luận ý kiến của đại biểu Quốc tế Cộng sản về:
a) Việc hợp nhất tất cả các nhóm cộng sản thành một tổ chức chung, tổ chức này sẽ là một
Đảng Cộng sản chân chính;
b) Kế hoạch thành lập tổ chức đó.
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nêu ra năm điểm lớn cần thảo luận và thống nhất:
1. Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương; 8
2. Định tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam;
3. Thảo Chính cương và Điều lệ sơ lược của Đảng;
4. Định kế hoạch thực hiện việc thống nhất trong nước;
5. Cử một Ban Trung ương lâm thời...
Hội nghị thảo luận, tán thành ý kiến chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, thông qua các
văn kiện quan trọng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo: Chánh cương vắn tắt của Đảng,
Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hội nghị xác định rõ tôn chỉ mục đích của Đảng: “Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức
ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ
nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản". Quy định điều kiện vào Đảng: là những người
"tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình đảng và Quốc tế Cộng sản, hăng hái tranh đấu
và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận đảng”.
Hội nghị chủ trương: Các đại biểu về nước phải tổ chức một Trung ương lâm thời
để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Hệ thống tổ chức Đảng từ chi bộ, huyện bộ, thị bộ hay
khu bộ, tỉnh bộ, thành bộ hoặc đặc biệt bộ và Trung ương.
Ngoài ra, Hội nghị còn quyết định chủ trương xây dựng các tổ chức công hội, nông
hội, cứu tế, tổ chức phản đế và xuất bản một tạp chí lý luận và ba tờ báo tuyên truyền của Đảng.
Đến ngày 24/2/1930, việc thống nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng
duy nhất được hoàn thành với Quyết nghị của Lâm thời chấp ủy Đảng Cộng sản Việt Nam,
chấp nhận Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc có giá trị như một Đại hội Đảng. Sau Hội nghị, Nguyễn Ái Quốc ra Lời kêu gọi nhân
dịp thành lập Đảng. Mở đầu Lời kêu gọi, Người viết: "Nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản
giải quyết vấn đề cách mạng nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ".
1.1.2. Nội dung của văn kiện
Trong các văn kiện do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được thông qua tại Hội
nghị thành lập Đảng, có hai văn kiện, đó là: Chánh cương vắn tắt của Đáng và Sách lược
vắn tắt của Đảng đã phản ánh về đường hướng phát triển và những vấn đề cơ bản về chiến
lược và sách lược của cách mạng Việt Nam. Hai văn kiện trên là Cương lĩnh chính trị đầu
tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. 9
Mục tiêu và phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam: cách mạng tư sản
dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản
Từ việc phân tích thực trạng và mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam - một xã hội thuộc
địa nửa phong kiến, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam trong đó có công nhân, nông dân với
đế quốc ngày càng gay gắt cần phải giải quyết, đi đến xác định đường lối chiến lược của
cách mạng Việt Nam "chủ trương làm tư sản dân quyền c.m và thổ địa c.m để đi tới xã hội
cộng sản". Như vậy, mục tiêu chiến lược được nêu ra trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng
đã làm rõ nội dung của cách mạng thuộc địa nằm trong phạm trù của cách mạng vô sản.
Nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam: đánh đổ đế quốc và phong
kiến, trong đó nhiệm vụ giải phóng dân tộc được ưu tiên hàng đầu "Đánh đổ đế quốc chủ
nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập". Cương lĩnh đã
xác định: Chống đế quốc và chống phong kiến là nhiệm vụ cơ bản để giành độc lập cho dân
tộc và ruộng đất cho dân cày, trong đó chống đế quốc, giành độc lập cho dân tộc được đặt ở vị trí hàng đầu.
Về phương diện xã hội, Cương lĩnh xác định rõ: "a) Dân chúng được tự do tổ chức;
b) Nam nữ bình quyền, v.v.; c) Phổ thông giáo dục theo công nông hoa". Về phương diện
kinh tế, Cương lĩnh xác định: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; thâu hết sản nghiệp lớn (như
công nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính
phủ công nông binh quản lý; thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia
cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp;
thi hành luật ngày làm tám giờ... Những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam về phương diện
xã hội và phương diện kinh tế nêu trên vừa phản ánh đúng tình hình kinh tế, xã hội cần
được giải quyết ở Việt Nam, vừa thể hiện tính cách mạng, toàn diện, triệt để là xóa bỏ tận
gốc ách thống trị, bóc lột hà khắc của ngoại bang, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp, giải phóng xã hội, đặc biệt là giải phóng cho hai giai cấp công nhân và nông dân.
Lực lượng tham gia cách mạng: Khối đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công nông.
Phải đoàn kết công nhân, nông dân - đây là lực lượng cơ bản, trong đó giai cấp công
nhân lãnh đạo; đồng thời chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp, các lực lượng tiến bộ, yêu
nước để tập trung chống đế quốc và tay sai. Do vậy, Đảng "phải thu phục cho được đại bộ
phận giai cấp mình... phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày,... hết sức liên lạc với
tiểu tư sản, trí thức, trung nông... để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú
nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản c.m thì phải lợi dụng, ít
lâu mới làm cho họ đứng trung lập". Đây là cơ sở của tư tưởng chiến lược đại đoàn kết toàn
dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết rộng rãi các giai cấp, các tầng lớp nhân dân yêu nước 10
và các tổ chức yêu nước, cách mạng, trên cơ sở đánh giá đúng đắn thái độ các giai cấp phù
hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam.
Về lãnh đạo cách mạng: giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản
Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đáng là đội tiên phong
của giai cấp vô sản, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai
cấp mình lãnh đạo được dân chúng; trong khi lên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận,
không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào con đường thỏa hiệp.
Phương pháp tiến hành cách mạng: bạo lực cách mạng
Cương lĩnh khẳng định phải bằng con đường bạo lực cách mạng của quần chúng,
trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được thỏa hiệp, "không khi nào nhượng một chút
lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thỏa hiệp".Có sách lược đấu tranh cách mạng
thích hợp để lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nông về phía giai cấp vô sản, nhưng kiên
quyết: "bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v.) thì phải đánh đổ”.
Tinh thần đoàn kết quốc tế: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới
Cương lĩnh chỉ rõ: trong khi thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đồng thời tranh
thủ sự đoàn kết, ủng hộ của các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai
cấp vô sản Pháp. Cương lĩnh nêu rõ cách mạng Việt Nam liên lạc mật thiết và là một bộ
phận của cách mạng vô sản thế giới: "trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam
độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai
cấp thế giới”. Như vậy, ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu cao chủ
nghĩa quốc tế và mang bản chất quốc tế của giai cấp công nhân.
Như vậy, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã phản ánh một cách súc tích các
luận điểm cơ bản của cách mạng Việt Nam; thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ, sáng
tạo trong việc đánh giá đặc điểm, tính chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam trong
những năm 20 của thế kỷ XX, chỉ rõ những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của dân tộc Việt
Nam, đặc biệt là việc đánh giá đúng đắn, sát thực thái độ các giai tầng xã hội đối với nhiệm
vụ giải phóng dân tộc. Từ đó, các văn kiện đã xác định đường lối chiến lược và sách lược
của cách mạng Việt Nam, đồng thời xác định phương pháp cách mạng, nhiệm vụ cách mạng
và lực lượng của cách mạng để thực hiện đường lối chiến lược và sách lược đã đề ra.
Do đó, trước yêu cầu của lịch sử, cách mạng Việt Nam cần phải thống nhất các tổ
chức cộng sản trong nước, chấm dứt sự chia rẽ bất lợi cho cách mạng, với uy tín chính trị
và phương thức hợp nhất phù hợp, Nguyễn Ái Quốc đã kịp thời triệu tập và chủ trì hợp nhất
các tổ chức cộng sản. Những văn kiện được thông qua trong Hội nghị hợp nhất dù "vắt tắt", 11
nhưng đã phản ánh những vấn đề cơ bản trước mắt và lâu dài cho cách mạng Việt Nam,
đưa cách mạng Việt Nam sang một trang sử mới.
1.2. Luận cương chính trị (10/1930)
1.2.1. Bối cảnh lịch sử của từng giai đoạn
Các phong trào cách mạng dâng cao
Tác động từ khủng hoảng kinh tế thế giới 1929–1933 khiến sản xuất ở Đông Dương
đình đốn, thực dân Pháp tăng bóc lột và khủng bố trắng gây ra mâu thuẫn dân tộc trở nên
gay gắt. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu 1930 đã lãnh đạo phong trào đấu tranh bùng
nổ mạnh mẽ tiêu biểu như: công nhân xi măng Hải Phòng, Nhà Bè, Phú Riềng, Dầu Tiếng,
Nam Định, Bến Thủy… đồng loạt bãi công; nông dân ở Hà Nam, Thái Bình, Nghệ An, Hà
Tĩnh biểu tình mạnh mẽ. Đặc biệt, ngày 1/5/1930 lần đầu tiên nhân dân Việt Nam kỷ niệm
Ngày Quốc tế Lao động bằng những cuộc tuần hành và đấu tranh rộng khắp. Trong suốt
các tháng 5 đến 8/1930, hàng trăm cuộc bãi công – biểu tình diễn ra liên tục, tiêu biểu có
tổng bãi công Bến Thủy – Vinh. Đỉnh cao là tháng 9/1930, với những cuộc biểu tình quy
mô lớn ở Nghệ An – Hà Tĩnh, trong đó bi thương nhất là cuộc biểu tình Hưng Nguyên ngày
12/9 bị máy bay Pháp ném bom khiến 171 người hy sinh. Phong trào dâng cao đã làm tan
rã nhiều bộ máy tay sai ở địa phương và dẫn tới sự hình thành của chính quyền Xô Viết
Nghệ – Tĩnh, một chính quyền cách mạng sơ khai của quần chúng lao động.
Mặc dù bị tổn thất nặng nề, nhưng phong trào cách mạng 1930 - 1931 có ý nghĩa
lịch sử quan trọng đối với cách mạng Việt Nam, đã "khẳng định trong thực tế quyền lãnh
đạo và năng lực lãnh đạo cách mạng của giai cấp vô sản mà đại biểu là Đảng ta; ở chỗ nó
đem lại cho nông dân niềm tin vững chắc vào giai cấp vô sản, đồng thời đem lại cho đông
đảo quần chúng công nông lòng tự tin ở sức lực cách mạng vĩ đại của mình…”. Phong trào
cách mạng đã rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng yêu nước. Đặc biệt, "Xô
Viết Nghệ An bị thất bại, nhưng đã có ảnh hưởng lớn. Tinh thần anh dũng của nó luôn luôn
nồng nàn trong tâm hồn quần chúng, và nó đã mở đường cho thắng lợi về sau". Cao trào
cũng để lại cho Đảng những kinh nghiệm quý báu "về kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược
phản đế và phản phong kiến, kết hợp phong trào đấu tranh của công nhân với phong trào
đấu tranh của nông dân, thực hiện liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của giai cấp công
nhân; kết hợp phong trào cách mạng ở nông thôn với phong trào cách mạng ở thành thị, kết
hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang v.v."
Đảng mới thành lập còn non trẻ, cần một đường lối lý luận hoàn chỉnh để lãnh đạo cách mạng
Mặc dù phong trào phát triển rất mạnh, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam lúc này vừa
mới ra đời, tổ chức còn nhỏ, kinh nghiệm lãnh đạo còn hạn chế. Nhiều nơi xuất hiện xu 12
hướng bạo động tự phát, vượt khỏi khả năng điều chỉnh của tổ chức Đảng địa phương. Ban
Thường vụ Trung ương phải gửi thông tri nhắc nhở rằng bạo động riêng lẻ là quá sớm và
cần giữ vững lực lượng, lãnh đạo phong trào một cách thận trọng hơn. Chính thực tiễn đó
đặt ra yêu cầu cấp bách: Đảng cần có một hệ thống lý luận đầy đủ, thống nhất và khoa học
để định hướng cách mạng. Luận cương chính trị tháng 10/1930 ra đời trong bối cảnh ấy,
như một bước hoàn thiện đường lối nhằm giúp Đảng có cơ sở lý luận vững vàng để lãnh
đạo phong trào đang dâng lên mạnh mẽ.
Tháng 4-1930, sau thời gian học tập ở Liên Xô, Trần Phú được Quốc tế Cộng sản cử về
nước hoạt động. Tháng 7-1930, Trần Phú được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương
Đảng. Qua thực tiễn cuộc sống, kết hợp với những ý kiến chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản và
kế thừa, phát triển “Chính cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt” do Nguyễn Ái Quốc đề ra
trong Hội nghị thành lập Đảng, Trần Phú đã soạn thảo và hoàn thiện bản Luận cương Chính
trị để Trung ương Đảng cho ý kiến và thông qua ở Hội nghị lần thứ nhất họp từ ngày 14
đến ngày 31/10/1930 tại Hồng Kông (Trung Quốc). Hội nghị đã thông qua Nghị quyết về
tình hình và nhiệm vụ cần kíp của Đảng; thảo luận Luận cương chính trị của Đảng, Điều lệ
Đảng và điều lệ các tổ chức quần chúng. Thực hiện chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Hội nghị
quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị
cử ra Ban Chấp hành Trung ương chính thức và cử Trần Phú làm Tổng Bí thư.
1.2.2. Nội dung của văn kiện
Từ ngày 14 đến ngày 31/10/1930, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ
nhất tại Hương Cảng tức Hồng Kông (Trung Quốc), quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt
Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí Trần Phú được bầu làm Tổng Bí thư
của Đảng. Hội nghị thông qua Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương gồm các nội dung chính:
Mâu thuẫn xã hội: mâu thuẫn giai cấp.
Xác định mâu thuẫn giai cấp ngày càng diễn gắt ở Việt Nam, Lào và Cao Miên là
"một bên thì thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ; một bên thì địa chủ, phong kiến,
tư bản và đế quốc chủ nghĩa".
Phương hướng chiến lược của cách mạng: cách mạng tư sản dân quyền có tính chất
thổ địa và phản đế tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
Luận cương nêu rõ tính chất của cách mạng Đông Dương lúc đầu là một cuộc "cách
mạng tư sản dân quyền", "có tính chất thổ địa và phản đế”. Sau đó sẽ tiếp tục "phát triển,
bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa". 13
Nhiệm vụ cách mạng: đánh đổ phong kiến và đế quốc, vấn đề thổ địa và “cái cốt”
của cách mạng tư sản dân quyền.
Nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền là phải "tranh đấu để đánh đổ các
di tích phong kiến, đánh đổ các cách bóc lột theo lối tiền tư bổn và để thực hành thổ địa
cách mạng cho triệt để và "đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn
toàn độc lập". Hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ khăng khít với nhau: " ... có đánh đổ
đế quốc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm cách mạng thổ địa được thắng
lợi; mà có phá tan chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa". Luận cương
nhấn mạnh: "Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền", là cơ sở để Đảng
giành quyền lãnh đạo dân cày.
Lực lượng cách mạng: công nhân, nông dân và một phần tử lao khổ ở đô thị.
Về lực lượng cách mạng, Giai cấp vô sản vừa là động lực chính của cách mạng tư
sản dân quyền, vừa là giai cấp lãnh đạo cách mạng. Dân cày là lực lượng đông đảo nhất và
là động lực mạnh của cách mạng. Tư sản thương nghiệp thì đứng về phe đế quốc và địa chủ
chống lại cách mạng, còn tư sản công nghiệp thì đứng về phía quốc gia cải lương và khi
cách mạng phát triển cao thì họ sẽ theo đế quốc. Trong giai cấp tiểu tư sản, bộ phận thủ
công nghiệp thì có thái độ do dự; tiểu tư sản thương gia thì không tán thành cách mạng;
tiểu tư sản trí thức thì có xu hướng quốc gia chủ nghĩa và chỉ có thể hăng hái tham gia
chống đế quốc trong thời kỳ đầu. Chỉ có các phần tử lao khổ ở độ thị như những người bán
hàng rong, thợ thủ công nhỏ, trí thức thất nghiệp mới đi theo cách mạng mà thôi.
Lãnh đạo cách mạng: giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản.
Luận cương khẳng định: "điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng ở Đông
Dương là cần phải có một Đảng Cộng sản có một đường chính trị đúng, có ký luật, tập
trung, mật thiết liên lạc với quần chúng, và từng trải tranh đấu mà trưởng thành".
Phương pháp cách mạng: Võ trang bạo động để giành chính quyền.
Luận cương nêu rõ phải ra sức chuẩn bị cho quần chúng về con đường "võ trang bạo
động". Đến lúc có tình thế cách mạng, "Đảng phải lập tức lãnh đạo quần chúng để đánh đổ
chánh phủ của địch nhân và giành lấy chánh quyền cho công nông". Võ trang bạo động để
giành chính quyền là một nghệ thuật, "phải theo khuôn phép nhà binh".
Quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới: Cách mạng Đông Dương
là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới.
Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, vì thế giai
cấp vô sản Đông Dương phải đoàn kết gắn bó với giai cấp vô sản thế giới, trước hết là giai
cấp vô sản Pháp, và phải mật thiết liên lạc với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa 14
và nửa thuộc địa nhằm mở rộng và tăng cường lực lượng cho cuộc đấu tranh cách mạng ở Đông Dương.
Như vậy, Luận cương chính trị tháng 10/1930 đã xác định nhiều vấn đề cơ bản về
chiến lược cách mạng, về cơ bản thống nhất với nội dung của Chính cương, sách lược vắn
tắt của Hội nghị thành lập Đảng tháng 2/1930. Tuy nhiên, Luận cương đã không nêu rõ
mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam thuộc địa, không nhấn mạnh nhiệm vụ giải phóng
dân tộc, mà nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất; không đề ra được một chiến
lược liên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược
và tay sai. Nguyên nhân của những hạn chế đó là do nhận thức chưa đầy đủ về thực tiễn
cách mạng thuộc địa và chịu ảnh hưởng của tư tưởng tả khuynh, nhấn mạnh một chiều đấu
tranh giai cấp đang tồn tại trong Quốc tế Cộng sản và một số đảng cộng sản trong thời gian
đó. Những hạn chế của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp và vấn
đề dân tộc, giữa hai nhiệm vụ giải phóng dân tộc và cách mạng ruộng đất, cũng như trong
việc tập hợp lực lượng cách mạng còn tiếp tục kéo dài trong nhiều năm sau.
Sau Hội nghị Trung ương tháng 10/1930, Đảng đã có chủ trương mới. Ngày
18/11/1930, Thường vụ Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị Về vấn đề thành lập "Hội Phản
đế đồng minh", là tổ chức mặt trận đầu tiên để tập hợp, đoàn kết các giai cấp, tầng lớp dân
tộc, khẳng định vai trò của nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.
1.3. Chủ trương chiến lược mới (1939-1945)
1.3.1 Bối cảnh lịch sử
a. Tình hình quốc tế:
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ:
Ngày 1-9-1939, phátxít Đức tấn công Ba Lan, hai ngày sau Anh và Pháp tuyên chiến
với Đức, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Phátxít Đức lần lượt chiếm các nước châu
Âu. Đế quốc Pháp lao vào vòng chiến. Chính phủ Pháp đã thi hành biện pháp đàn áp lực
lượng dân chủ ở trong nước và phong trào cách mạng ở thuộc địa. Mặt trận nhân dân Pháp
tạn vỡ. Đảng Cộng sản Pháp bị đặt ra ngoài vòng pháp luật.
Tháng 6-1940, Đức tấn công Pháp. Chính phủ Pháp đầu hàng Đức. Ngày 22-6-1941,
quân phát xít Đức tấn công Liên Xô. Từ khi phát xít Đức xâm lược Liên Xô, tính chất chiến
tranh đế quốc chuyển thành chiến tranh giữa các lực lượng dân chủ do Liên Xô làm trụ cột
với các lực lượng phát xít do Đức cầm đầu. b. Tình hình trong nước:
Chiến tranh thế giới thứ hai đã ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đến Đông Dương
và Việt Nam. Ngày 28-9-1939, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấm tuyên truyền 15
cộng sản, cấm lưu hành, tàng trữ tài liệu cộng sản, đặt Đảng Cộng sản Đông Dương ra ngoài
vòng pháp luật, giải tán các hội hữu ái, nghiệp đoàn và tịch thu tài sản của các tổ chức đó,
đóng cửa các tờ báo và nhà xuất bản, cấm hội họp và tụ tập đông người.
Trong thực tế, ở Việt Nam và Đông Dương, thực dân Pháp đã thi hành chính sách
thời chiến rất trắng trợn. Chúng phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào
cách mạng của nhân dân, tập trung lực lượng đánh vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Hàng
nghìn cuộc khám xét bất ngờ đã diễn ra khắp nơi. Một số quyền tự do, dân chủ đã giành
được trong thời kỳ 1936-1939 bị thủ tiêu. Chúng ban bố lệnh tổng động viên, thực hiện
chính sách "kinh tế chỉ huy" nhằm tăng cường vơ vét sức người, sức của để phục vụ chiến
tranh của đế quốc. Hơn bảy vạn thanh niên bị bắt sang Pháp để làm bia đỡ đạn.
Lợi dụng lúc Pháp thua Đức, ngày 22-9-1940 phát xít Nhật đã tiến vào Lạng Sơn và đổ
bộ vào Hải Phòng. Ngày 23-9-1940, tại Hà Nội, Pháp ký hiệp định đầu hàng Nhật. Từ đó,
nhân dân ta chịu cảnh một cổ bị hai tròng áp bức, bóc lột của Pháp - Nhật. Mâu thuẫn giữa
dân tộc ta với đế quốc, phát xít Pháp - Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.
1.3.2. Nội dung của văn kiện
Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về
nước và dừng chân ở Cao Bằng. Tháng 5/1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ
tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị khẳng định: "Vấn đề chính là nhận định
cuộc cách mạng trước mắt của Việt Nam là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc; lập
Mặt trận Việt Minh, khẩu hiệu chính là: Đoàn kết toàn dân, chống Nhật, chống Pháp, tranh
lại độc lập; hoãn cách mạng ruộng đất”. Trung ương bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng
Bí thư. Hội nghị Trung ương nêu rõ những nội dung quan trọng:
Một là, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
Ban Chấp hành Trung ương nêu rõ mâu thuẫn chủ yếu ở nước ta đòi hỏi phải được
giải quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc, phát xít Pháp - Nhật. Bởi
"Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc
lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp
ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được". Để
tập trung cho nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng lúc này, Ban Chấp hành Trung ương quyết
định tạm gác lại khẩu hiệu "Đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày", thay bằng khẩu
hiệu "Tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian cho dân cày nghèo", "Chia lại ruộng
đất công cho công bằng và giảm tô, giảm tức"...
Hai là, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh để đoàn kết, tập hợp lực lượng cách
mạng nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc. 16
Để tập hợp lực lượng cách mạng đông đảo trong cả nước, Ban Chấp hành Trung
ương quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh thay
cho Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương; đổi tên các Hội phản đế thành Hội
cứu quốc (Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu
quốc, Phụ lão cứu quốc, Thiếu niên cứu quốc...) để vận động, thu hút mọi người dân yêu
nước không phân biệt thành phần, lứa tuổi, đoàn kết bên nhau đặng cứu Tổ quốc, cứu giống nòi.
Ba là, giải quyết về vấn đề dân tộc tự quyết và xây dựng nhà nước.
Giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương, thi hành chính
sách "dân tộc tự quyết". Sau khi đánh đuổi Pháp - Nhật, các dân tộc trên cõi Đông Dương
sẽ "tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành lập một quốc gia tùy '.
"Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng". Từ quan điểm đó, Hội
nghị quyết định thành lập ở mỗi nước Đông Dương một mặt trận riêng, thực hiện đoàn kết
từng dân tộc, đồng thời đoàn kết ba dân tộc chống kẻ thù chung.
Chủ trương sau khi cách mạng thành công sẽ thành lập nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa theo tinh thần tân dân chủ, một hình thức nhà nước "của chung cả toàn thể dân
tộc". Hội nghị chỉ rõ, "không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xô Viết mà
phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa"
Bốn là, hội nghị xác định chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của
Đảng và nhân dân; "phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận
tiện hơn cá mà đánh lại quân thù". Trong những hoàn cảnh nhất định thì "với lực lượng sẵn
có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể
giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn' . Hội nghị còn xác
định những điều kiện chủ quan, khách quan và dự đoán thời cơ tổng khởi nghĩa.
Như vậy, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh chủ
trương chiến lược được đề ra từ Hội nghị tháng 11/1939, khắc phục triệt để những hạn chế
của Luận cương chính trị tháng 10/1930, khẳng định lại đường lối cách mạng giải phóng
dân tộc đúng đắn trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và lý luận cách mạng giải
phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc. Đó là ngọn cờ dẫn đường cho toàn dân Việt Nam đấy
mạnh công cuộc chuẩn bị lực lượng, tiến lên trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập, tự do. 17
CHƯƠNG II. SO SÁNH CÁC VĂN KIỆN
2.1. Giống nhau
Ba văn kiện quan trọng của Đảng trong giai đoạn 1930–1945 gồm Cương lĩnh chính
trị tháng 2/1930, Luận cương chính trị tháng 10/1930 và Chủ trương chiến lược giai đoạn
1939–1945 tuy được ban hành ở các thời điểm khác nhau, nhưng đều thống nhất ở những
quan điểm cốt lõi mang tính định hướng cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Sự
tương đồng này phản ánh tầm nhìn chiến lược của Đảng và quá trình hoàn thiện tư duy lý
luận trong bối cảnh đấu tranh giải phóng dân tộc.
Trước hết, về phương hướng chiến lược, cả ba văn kiện đều khẳng định cách mạng
Việt Nam đi theo con đường cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã
hội cộng sản. Cương lĩnh tháng 2/1930 xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt
Nam “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội
cộng sản”; Luận cương tháng 10/1930 nhấn mạnh “cách mạng tư sản dân quyền, có tánh
chất thổ địa và phản đế” sau đó sẽ tiếp tục phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu
thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa; trong khi đó, chủ trương chiến lược 1939–1945 đặt
vấn đề giải phóng dân tộc làm nhiệm vụ trung tâm nhưng vẫn giữ định hướng xã hội chủ nghĩa.
Về lực lượng lãnh đạo cách mạng, ba văn kiện đều khẳng định vai trò quyết định
của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản. Dù cách diễn đạt ở từng giai đoạn khác
nhau—từ việc đề cao Đảng Cộng sản Việt Nam trong Cương lĩnh 2/1930, nhấn mạnh giai
cấp công nhân trong Luận cương 10/1930, đến việc thể hiện vai trò lãnh đạo của Đảng
thông qua Mặt trận Việt Minh trong giai đoạn 1939–1945, nhưng tất cả đều thống nhất ở
luận điểm - Đảng giữ vai trò lãnh đạo toàn diện, đảm bảo cho cách mạng đi đúng hướng.
Về đoàn kết quốc tế, cả ba văn kiện đều thể hiện quan điểm gắn bó chặt chẽ với
phong trào cách mạng thế giới. Từ sự liên hệ với phong trào vô sản quốc tế, đến việc tranh
thủ các lực lượng dân chủ và tiến bộ trên thế giới trong giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ
hai, Đảng luôn xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Điều
này vừa thể hiện tính quốc tế của phong trào công nhân, vừa là cơ sở để Đảng tranh thủ sự
ủng hộ quốc tế cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Cuối cùng, về phương pháp cách mạng, cả ba văn kiện đều thống nhất sử dụng bạo
lực cách mạng. Cương lĩnh 2/1930 khẳng định phải bằng con đường bạo lực cách mạng
quần chúng, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được thoả hiệp. Luận cương 10/1930
nêu rõ phải ra sức chuẩn bị cho quần chúng về con đường “võ trang bạo động”. Đến giai
đoạn 1939–1945, xác định chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng
và nhân dân “phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện 18
hơn cả mà đánh lại quân thù. Sự thống nhất này xuất phát từ nhận thức rằng kẻ thù sử dụng
bạo lực phản cách mạng, do đó cách mạng muốn thành công thì phải dùng bạo lực cách mạng. 2.2. Khác nhau
Tiêu chí Cương lĩnh chính trị Luận cương chính trị
Chủ trương chiến lược đầu tiên (2/1930) (10/1930) mới (1939–1945) Lực
Rộng rãi, mang tính đại Thu hẹp: chủ yếu công Rộng mở trở lại, hình lượng
đoàn kết toàn dân trên nhân – nông dân, một thành Mặt trận thống cách
cơ sở liên minh công phần tử lao khổ ở đô thị; nhất (Việt Minh) – công mạng nông
không tập hợp được toàn cụ tập hợp lực lượng
thể, chưa giương cao quyết định thắng lợi. Xây
được khối đại đoàn kết dựng mặt trận dân tộc dân tộc
thống nhất chống phát xít Nhật-Pháp Nhiệm
Đánh đổ đế quốc chủ Chống phong
kiến, Giải phóng dân tộc là
vụ cách nghĩa Pháp và phong chống đế quốc. Đặt nặng nhiệm vụ hàng đầu, trước mạng
kiến, làm cho nước đấu tranh giai cấp, coi hết đánh đổ phát xít
Nam hoàn toàn độc lập. 'thổ địa là cái cốt' của Nhật-Pháp
Gắn bó chặt chẽ, nhiệm cách mạng tư sản dân
vụ dân tộc được đặt lên quyền; nội dung dân tộc hàng đầu mờ nhạt hơn Mâu
Mâu thuẫn giữa dân tộc Mâu thuẫn giai cấp diễn Mâu thuẫn chủ yếu đòi thuẫn
Việt Nam trong đó có ra gay gắt giữa một bên hỏi phải được giải quyết xã hội
công nhận, nông dân là thợ thuyền, dân cày và cấp bách là mâu thuẫn
với đế quốc ngày càng các phần tử lao khổ với giữa dân tộc Việt Nam gay gắt
một bên là địa chủ phong với đế quốc Pháp và
kiến và tư bản đế quốc phátxít Nhật
(Nguồn: Nhóm tự tổng hợp)
Nguyên nhân của những điểm khác nhau giữa 3 văn kiện:
Về vấn đề lực lượng cách mạng, Cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc
khởi thảo đã xuất phát trực tiếp từ thực tiễn xã hội thuộc địa, nhấn mạnh vai trò của khối
đại đoàn kết dân tộc, coi việc tập hợp mọi giai cấp, tầng lớp có tinh thần yêu nước vào Mặt
trận thống nhất là yêu cầu mang tính quyết định. Ngược lại, Luận cương chính trị tháng 19