MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu...............................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu.............................................................................................2
4. Phạm vi nghiên cứu................................................................................................3
B. NỘI DUNG.................................................................................................................3
1. Vai trò của thị trường nông sản tại Việt Nam.........................................................3
2. Thực trạng thị trường nông sản Việt Nam...........................................................4
2.1. Giá của nông sản không ổn định và mang tính thời vụ..................................4
2.2. Cung và cầu nông sản không cân đối..............................................................4
2.3. Tình trạng độc quyền trên thị trường nông sản..............................................5
3. Thực trạng mối quan hệ cung và cầu của thị trường nông sản Việt Nam khi
chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19........................................................................7
3.1. Về phía cầu.......................................................................................................7
3.2. Về phía cung.....................................................................................................7
3.2.1. Khó khăn trong hoạt động sản xuất.............................................................7
3.2.2. Nơi thừa, nơi thiếu........................................................................................8
4. Những biện pháp khắc phục..................................................................................9
4.1. Đẩy mạnh hoạt động kinh doanh nông sản qua các sàn giao dịch thương
mại điện tử..................................................................................................................9
4.2. Kiến nghị chính sách hỗ trợ nguồn nhân lực, cơ sở vật chất trong quá trình
sản xuất, chế biến.....................................................................................................10
4.3. Kiến nghị chính sách tín dụng cho DN............................................................10
C. KẾT LUẬN..............................................................................................................11
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................11
A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam vốn một nước thế mạnh cùng lớn trong lĩnh vực nông nghiệp, sản
xuất những mặt hàng nông sản từ những ưu thế về đất đai, khí hậu, con người... Cũng
chính thế nông nghiệp luôn luôn ngành kinh tế mũi nhọn, đóng vai trò quan
trọng hàng đầu trong nền kinh tế nước ta.
Nông sản Việt Nam nói chung đã liên tục ghi dấu ấn trên bản đồ xuất khẩu trongm
2021. Đơn cử, theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), Việt Nam thị trường cung
cấp hàng rau quả chế biến lớn thứ 11 cho Hoa Kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021, kim
ngạch đạt 171,9 triệu USD, tăng 49,9% so với cùng kỳ năm 2020. Việt Nam chiếm 2,3%
tổng trị giá nhập khẩu của Hoa Kỳ trong lĩnh vực này, tăng 0,5 điểm phần trăm so với
cùng kỳ năm 2020.
Nông sản Việt Nam cũng ngày càng được ưa chuộng tại châu Âu. Tại Đức, Việt Nam
hiện là nguồn cung hạt điều số 1 nhờ sản lượng ổn định và chất lượng đảm bảo. Việt Nam
cũng nguồn cung phê lớn nhất tại thị trường Nga (về lượng) đứng thứ 2 thị
trường này về kim ngạch sau Brazil. Trong 9 tháng đầu năm 2021, Nga nhập khẩu cà phê
từ Việt Nam đạt trên 61.000 tấn, trị giá 116 triệu USD, giảm 8% về lượng, nhưng tăng
4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020.
Tuy nhiên, dù là một trong những mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn, đóng góp nhiều vào
kim nghạch xuất khẩu nước ta, thị trường nông sản vẫn có phần lao đao, gặp nhiều những
bất lợi trước con sóng mang tên Covid-19. Đại dịch Covid-19 từ đầu năm 2020 đến nay
đã có nhiều ảnh hưởng đến khả năng sản xuất, thị trường và nhu cầu sử dụng nông sản,...
đó cũng được coi như một trong những rào cản cho việc xuất khẩu mặt hàng này. Trước
những vấn đề đó, đặt ra cho doanh nghiệp cũng như Nhà nước cần những chính sách,
hướng đi phù hợp để khắc phục các khó khăn, thúc đẩy thị trường trở lại.
những do trên, đề tài: “Tác động của đại dịch Covid 19 đến mối quan hệ cung
cầu trên thị trường nông sản” được nghiên cứu với hy vọng đưa ra những thực trạng
vấn đề khó khăn thị trường cần phải tháo gỡ, đồng thời đưa ra những hướng đi cụ thể
nhằm khắc phục tình trạng đó, đưa thị trường nông sản tăng trưởng mạnh mẽ trở lại.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu nhằm đưa ra thực trạng mối quan hệ giữa cung và cầu của thị trường
nông sản Việt Nam trước và trong đại dịch Covid- 19. Bên cạnh đó, tìm hiểu, đánh giá
phân tích tác động của đại dịch Covid- 19 đến những phương diện như nhu cầu, thị
trường xuất khẩu, khó khăn.. đến thị trường nông sản. Từ vấn đề đó đề xuất các giải
pháp, kiến nghị những chính sách thích hợp nhằm giải quyết vấn đề cho thị trường nông
sản Việt Nam.
3. Đối tượng nghiên cứu
Thị trường nông sản Việt Nam
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1. Phạm vi nội dung
Tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa cung cầu thị trường nông sản Việt Nam
trước tác động khó lường của đại dịch Covid-19.
4.2. Phạm vi không gian
Tập trung nghiên cứu trong phạm vi Việt Nam
4.3. Phạm vi thời gian
Nghiên cứu thực trạng cung cầu của thị trường nông sản Việt Nam trước trong
đại dịch.
B. NỘI DUNG
1. Vai trò của thị trường nông sản tại Việt Nam
Thị trường nông sản tất cả các mối quan hệ về giao dịch hàng hóa nông sản diễn ra
tại một khu vực địa lý nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định. Hay nói một cách
khác thị trường nông sản là nơi diễn ra các hoạt động có liên quan trực tiếp đến giao dịch
hàng hóa nông sản.
Với đường lối xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần nước ta, tham gia vào thị
trường nông sản hiện nay gồm có: Các doanh nghiệp Nhà nước, các hợpc xã, tập đoàn
sản xuất, các hộ nông dân được giao đất sử dụng lâu dài, các hình thức kinh tế tư nhân.
Thị trường nông sản với 4 chức năng chính sau:
Chức năng thừa nhận tức là người mua (người tiêu dùng) chấp nhận hàng hóa đó.
Chức năng thực hiện: Thị trường nông sản nơi diễn ra các hành vi mua bán
hàng hóa nông sản.
Chức năng điều tiết, kích thích: Thị trường nông sản sẽ tạo ra sự gia tăng hay hạn
chế cung cầu.
Chức năng thông tin: Thị trường nông sản sẽ cung cấp nhiều thông tin liên quan
đến hàng hóa nông sản, có nhiều thông tin nên việc xử lý, sàng lọc thông tin là cần
thiết.
Thị trường nông sản ra đời đã tạo điều kiện cho hàng hóa nông sản cơ hội phát triển
theo hướng chuyên biệt hiện đại với nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, với đa
dạng thành phần tham gia đã dẫn tới nhiều thực trạng không tốt còn tồn tại. Gây khó
khăn, thiệt hại cho tất cả các thành viên tham gia vào thị trường nông sản.
2. Thực trạng thị trường nông sản Việt Nam
2.1. Giá của nông sản không ổn định và mang tính thời vụ
Ngành nông nghiệp nước ta tính thời vụ khá cao. Tính thời vụ của sản xuất nông
nghiệp thể hiện sự biến động của giá cả thị trường theo thời vụ, đặc biệt tính
không ổn định của giá cả thị trường đầu ra. Mỗi loại cây trồng đặc điểm sinh trưởng
khác nhau, dẫn đến mùa vụ gieo trồng cũng khác nhau. Các mặt hàng nông sản thường
xu hướng nhiều vào vụ mùa và ít vào vụ nghịch. Với số lượng chênh lệch nhau quá nhiều
giữa các vụ dẫn đến giá của nông sản cũng biến đổi mạnh. Vào vụ mùa giá rất thấp do
cung vượt quá cầu, vào vụ nghịch giá lại bị đẩy lên cao do cung nhỏ hơn cầu.
Giá cả nông sản được coi là một trong những vấn đề trọng yếu của của thị trường nông
sản. Bởi vì, giá cả là yếu tố cấu thành của cơ chế thị trường có tác động chi phối về cả hai
phía cầu cung của nông nghiệp. Bên cạnh đó, giá cả cũng chi phối các mối quan hệ
trao đổi trong nội bộ trao đổi liên ngành của nông nghiệp như dịch vụ, công nghiệp,
truyền thông,.. Chính vậy, việc giá cả nông sản không bình ổn đã gây rất nhiều khó
khăn đến tất cả các thành phần tham gia vào thị trường.
2.2. Cung và cầu nông sản không cân đối
Thị trường nông sản đạt được trạng thái cân bằng khi khối lượng nông sản đem bán vừa
bằng với nhu cầu của người mua.Trên thực tế thị trường các nông sản chủ yếu chỉ đạt
được trạng thái cân bằng trong những thời điểm nhất định.
Biểu hiện của trạng thái mất cân bằng cung cầu trên thị trường nông sản giá mức
quá cao hay quá thấp so với giá cân bằng thị trường. Khi nguồn cung trên thị trường quá
nhiều sẽ dẫn đến tình trạng người bán không tìm được người mua dẫn đến tình trạng
thừa, đẩy giá thành xuống thấp. Ngược lại khi nguồn cung quá thấp, người mua không
tìm được người bán dẫn đến tình trạng nông sản khang hiếm, đẩy giá thành lên cao. Khi
giá cả càng vượt xa so với giá cân bằng thị trường thì lượng trao đổi giữa cung cầu
nông sản càng ít đi.
Nguyên nhân dẫn đến mất cân bằng cung cầu nông sản là do:
Sản xuất ạt phá vỡ quy hoạch dẫn đến số lượng của một loại nông sản nào đó
quá nhiều trong cùng một thời điểm.
Thời điểm sau thu hoạch nguồn cung sẽ tăng mạnh hơn là đầu vụ và cuối vụ.
Thiên tai, bão lũ ảnh hưởng đến sản quá trình sản xuất dẫn đến sản lượng nông sản
giảm.
Nhu cầu của người mua tăng cao vào dịp dễ, tết, cuối tuần…
Nguồn cung tăng do nhập khẩu từ các nước khác.
2.3. Tình trạng độc quyền trên thị trường nông sản
Cũng giống như các loại thị trường khác, thị trường nông sản chịu tác động của qui luật
cạnh trạnh thị trường. Cạnh tranh trên thị trường có hai loại cạnh tranh hoàn hảo và thị
trường độc quyền. Đối với thị trường nông sản thì cạnh tranh độc quyền độc quyền một
người bán và độc quyền một người mua là những nét đặc trưng của thị trường nông sản.
Đối với độc quyền bán: Chỉ một nhân hoặc doanh nghiệp o đó được bán
các sản phẩm đó tại một địa điểm nhất định. dụ trên một vùng nông thôn rộng
lớn chỉ một công ty thương mại của Nhà nước đảm nhiệm phần lớn việc cung
ứng phân bón, thuốc sâu và các vật tư nông nghiệp khác cho các hộ gia đình.
Trường hợp độc quyền mua: Trên một vùng nào đó chỉ một nhà máy chế biến
mua nguyên liệu do nông dân sản xuất ra; hoặc mỗi ngành sản phẩm nông nghiệp
chỉ có một hoặc hai công ty tham gia xuất khẩu nông sản ra thị trường thế giới.
Tuy nhiên khi làm cho một ngành hàng nông sản trở thành độc quyền có thể gây ra tình
trạng sản lượng cung cấp ít đi, giá n cho người tiêu dùng tăng lên nhà kinh doanh
thu được lợi nhuận độc quyền. Vều dài, tình trạng cạnh tranh độc quyền thể gây ra
những tín hiệu sai lệch về giá cả hiệu quả sản xuất, dẫn đến sự phân bổ sử dụng
kém hiệu quả các nguồn lực trong ngành nông sản.
Việc đi lại mua bán thực phẩm cũng dần được bình thường trở lại từ tháng 4/2020 -
8/2020. Bên cạnh đó, để xoay xở trong mùa dịch, nhiều doanh nghiệp cũng đã tìm được
lối ra trước đại dịch. Số liệu của Tổng cục Thống cho thấy, đại dịch COVID-19 ảnh
hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt các
doanh nghiệp các mảng du lịch, dịch vụ, ăn uống, nghỉ dưỡng. Cụ thể, doanh thu dịch
vụ lưu trú, ăn uống 7 tháng năm 2020 ước tính đạt 280,9 nghìn tỷ đồng, giảm 16,6% so
với cùng kỳ năm 2019. Doanh thu du lịch lữ hành 7 tháng ước tính đạt 11,1 nghìn tỷ
đồng, giảm sâu tới 55,4% so với cùng kỳ m trước đó (BT, 2020). Từ những con số
đáng buồn trên, các doanh nghiệp sẽ phải tự xoay xở để sống sót qua dịch bệnh. Một
trong những cách hiệu quả nhất trong những tháng dịch đó chính kinh doanh qua
mạng, cụ thể mạng hội các sàn thương mại điện tử (TMĐT). Điều này sẽ đánh
thẳng vào tâm lý của người dân, đặc biệt là người trẻ. Họ có xu hướng lựa chọn sản phẩm
một cách thuận tiện nhanh nhất, từ đó các sàn TMĐT nơi thích hợp để các doanh
nghiệp có thể vượt khó trong đợt dịch. Những giải pháp này thực sự chưa có nhiều doanh
nghiệp áp dụng triệt để đây chỉ giải pháp thay thế tạm thời. vậy, khi dịch
COVID-19 bùng phát trở lại trong cộng đồng sẽ tiếp tục ảnh hưởng tới nguồn thu của các
doanh nghiệp này.
Một vấn đề nan giải khác được đặt ra, đóvấn đề kinh tế của người dân. Sau khi dịch
bùng phát, việc lao động sản xuất gặp nhiều hạn chế, thu nhập của người dân eo hẹp,
trong khi giá cả thì chịu sự tăng giá của cánh thương lái. COVID-19 tác động làm tăng tỷ
lệ nghèo cận nghèo về thu nhậpm sụt giảm thu nhập tạm thời của hộ gia đình
người lao động. Theo kết quả khảo sát của UNDP UN WOMEN (2020), “trong tháng
12-2019, trung bình tỷ lệ hộ nghèo 11,3%. Tỷ lệ này tăng lên tới 50,7% trong tháng 4-
2020. Tỷ lệ hộ cận nghèong từ 3,8% vào tháng 12- 2019 lên 6,5% vào tháng 4-2020”.
Quan trọng hơn, những hộ gia đình thuộc nhóm dân tộc thiểu số hộ gia đình lao
động phi chính thức và gia đình những người nhập cư chịu tác động từ dịch bệnh lớn hơn.
Cũng theo kết quả điều tra của UNDPUN WOMEN (2020), “thu nhập trung bình của
các hộ gia đình dân tộc thiểu số trong tháng 4 tháng 5-2020 lần lượt chỉ tương ứng
25,0% và 35,7% so với mức tháng 12-2019. Trong khi đó, những con số này cao hơn, lần
lượt ước tính khoảng 30,3% và 52% đối với nhóm hộ gia đình người Kinhngười Hoa.
Trong tháng 4 và tháng 5-2020, thu nhập trung bình của hộ di cư được ước tính chỉ tương
đương 25,1% 43,2% so với mức của tháng 12-2019. Những con số y lần lượt
30,8% 52,5% đối với nhóm hộ gia đình không di cư” (Nguyễn Quang Thuấn, 2020).
Theo số liệu của Tổng cục Thống cho thấy, tính đến tháng 12 m 2020, cả nước có
32,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19 bao gồm
người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu
nhập, ... Trong đó, 69,2% người bị giảm thu nhập, 39,9% phải giảm giờ làm/nghỉ giãn
việc/nghỉ luân phiên và khoảng 14,0% buộc phải tạm nghỉ hoặc tạm ngừng hoạt động sản
xuất kinh doanh. Khu vực dịch vụ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch Covid-19 với
71,6% lao động bị ảnh hưởng, tiếp đến khu vực công nghiệp xây dựng với 64,7%
lao động bị ảnh hưởng; tỷ lệ lao động bị ảnh hưởng trong khu vực nông, lâm nghiệp
thủy sản 26,4%. Mặc vậy, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở n trong quý IV năm
2020 55,1 triệu người, tăng 563,8 nghìn người so với quý trước nhưng vẫn thấp hơn
860,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Điều này một lần nữa khẳng định xu
hướng phục hồi của thị trường lao động sau khi ghi nhận mức giảm sâu kỷ lục vào quý II
năm 2020 (BBT, 2021a). Bởi vậy, khả năng phục vụ được nhu cầu của bản thân về vấn
đề thực phẩm của người dân còn gặp rất nhiều khó khăn.
3. Thực trạng mối quan hệ cung cầu của thị trường nông sản Việt Nam khi
chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19
3.1. Về phía cầu
Thời kỳ đầu khi mới xuất hiện dịch bệnh tức cuối năm 2019 đầu năm 2020, Theo
một khảo sát từ Nielsen cho thấy hơn 50% người dân đã giảm tần suất ghé thăm các
siêu thị, cửa hàng tạp hoá chợ truyền thống. Đồng thời, giá trị giỏ hàng trên 1 lần
mua tăng n để đáp ứng nhu cầu nhà nhiều n hạn chế ra ngoài. 61% người
tiêu dùng Việt ưa chuộng mua hàng tại các kênh thương mại hiện đại (Modern trade)
như siêu thị, cửa hàng tiện lợi…, trong khi chỉ 39% mua hàng tại các kênh thương
mại truyền thống (Traditional Trade) như cửa hàng tạp hóa, chợ… Điều này cho thấy
xu hướng chuyển dịch trong hành vi mua hàng của người tiêu dùng đến các kênh bán
hàng hiện đại, do hàng hóa trong những kênh này được đảm bảo về an toàn cũng như
nguồn gốc hơn. Đồng thời, các kênh thương mại hiện đại cũng đưa ra sự lựa chọn đa
dạng cho người tiêu dùng tự lựa chọn những loại hàng hóa trên kệ theo sở thích
của họ. Bởi vậy, thực phẩm đóng gói, nước đóng chai, ăn liền, thực phẩm đông
lạnh trở thành những lựa chọn hàng đầu.
Chính vậy thời gian này chính khi tình trạng giải cứu nông sản xảy ra
khá thường xuyên khi lượng cung ứng cao hơn nhiều so với nhu cầu của người
tiêu dùng.
Sau những bước chuyển mình của các ngành kinh doanh thực phẩm khi phải đối
phó với một chủng dịch mới lạ, các vấn đề gây nhức nhối như tích trữ, dồn hàng cũng
đã được phần nào giải quyết. Việc tích trữ hàng hóa đa phần do sự sợ hãi với dịch
bệnh của người dân, cùng với đó tâm đám đông và ý thức phòng chống dịch vẫn
còn kém. Tuy nhiên, vấn đề này đang được cải thiện do nỗ lực chống dịch hiệu quả
của Nhà Nước các nhân viên tuyến đầu chống dịch, đang giúp tâm của người
dân an tâm hơn. Cũng nhờ đó mà lượng hàng hóa cũng ổn định hơn.
3.2. Về phía cung
một trong những mặt hàng chiếm vị thế quan trọng trong tổng số mặt hàng xuất
khẩu của Việt Nam, tuy nhiên, thị trường nông sản trước tác động của đại dịch đều
không tránh khỏi những khó khăn trước diễn biến phức tạp của đại dịch Covid- 19.
3.2.1. Khó khăn trong hoạt động sản xuất
Trước tác động của đại dịch Covid-19, Chính phủ Bộ Y tế đã những quyết
sách, biện pháp chống dịch như giãn cách toàn hội, đóng cửa tạm thời, hạn chế
giao thương…những điều này ít nhiều đã tác động đến các công ty, doanh nghiệp nói
chung các doanh nghiệp hoạt động trong ngành chế biến sản xuất nông sản nói
riêng. Dịch bệnh khiến các DN bắt buộc phải tạm ngừng sản xuất, kinh doanh chỉ
mở cửa khithông báo chính thức của Chính phủ, người lao động cũng không được
phép đi làm, thu nhập giảm sút,.. Điều này đã tác động trực tiếp đến sự sống còn của
DN, đối với những DN lớn, họ vẫn sẽ phải chi trả những chi phí cố định trong khi thời
cuộc không biết bao giờ mới cho họ sản xuất trở lại. Còn đối với những DN nhỏ, việc
gồng gánh chi phí cố định tác động của đại dịch, sự ngưng trệ khiến họ thậm chí
còn từ bỏ con đường sản xuất, kinh doanh, đóng cửa DN thời hạn. Bên cạnh đó,
việc đóng cửa biên giới, hạn chế giao thương cũng yếu tố ít nhiều ảnh hưởng đến
hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN. Đặt trong bối cảnh nguồn nguyên liệu điều
thô của VN phụ thuộc chủ yếu vào các nước châu Phi, nhưng khi đóng cửa biên giới
khiến lượng hàng hóa mất lâu thời gian hơn để về đến tay nhà sản xuất, chế biến. Bên
cạnh đó, các DN cũng phải đau đầu trước việc “đội giá” của nguyên liệu khi vừa chịu
thuế, vừa chịu tác động của đại dịch, tiền phí vận chuyển tăng lên trong đại dịch.
3.2.2. Nơi thừa, nơi thiếu
khi trong các tỉnh phía Nam, hệ thống cung ứng hàng hóa bị đình trệ nguồn
nhân sự bị thu hẹp do ảnh hưởng từ dịch bệnh khiến việc vận chuyển hàng thiết yếu
tới người tiêu dùng gặp nhiều trở ngại. Với ngành hàng nông sản, phải đảm bảo chất
lượng về đóng gói bảo quản tươi vậy việc giao đến tay người tiêu dùng trong
tình trạng tốt nhất thực sự một thử thách lớn. thể thấy chuỗi cung ứng, giao
nhận trong mùa dịch bị đứt gãy đã gây ra hiệu ứng dây chuyền ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh vốn đã rất khó khăn trong mùa dịch (Xuân, 2021). Thành phố Hồ
Chí Minh là trung tâm tiêu thụ các mặt hàng nông sản của 19 tỉnh, thành phố khu vực
phía Nam. Với quy n số tiêu dùng ước tính khoảng 10 triệu người, mỗi ngày
người dân thành phố tiêu thụ từ 9.000 tấn đến 10.000 tấn thực phẩm, nhưng năng lực
cung ứng của toàn bộ hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện ích, chuỗi cung ứng khác chỉ
mới đáp ứng được 1/3 nhu cầu, số còn lại phải thông qua các chợ đầu mối chợ
truyền thống. Qua soát nhu cầu của người dân thành phố, dựa trên 9 đầu mối kết
nối, trong những ngày qua, người dân thành phố thiếu 1.500 tấn rau củ quả, trái cây;
thiếu 300.000 đến 400.000 trứng gia cầm phục vụ cho bữa ăn hàng ngày, mặc các
xe vận chuyển hàng từ miền Đông Nam Bộ vào Thành phố Hồ C Minh luôn được
tạo điều kiện thuận lợi khi vận hành. Trong khi đó, các địa phương khu vực Đồng
bằng sông Cửu Long lại rất dồi dào hàng hóa, nguồn tiêu thụ trong tỉnh chỉ chiếm 1/6
sản lượng thu hoạch được, số còn lại trước đây vận chuyển về trung tâm Thành phố
Hồ Chí Minh tiêu thụ, thì nay còn dồn bởi các tỉnh Đông Nam Bộ thực hiện giãn
cách xã hội theo Chỉ thị 16 (Nhung, 2021). “Trong tháng 9, tỉnh Đồng Nai 3 nhóm
nông sản nguy khó tiêu thụ. Với trồng trọt, trong khoảng 1 tuần tới còn hơn
1.000 tấn trái cây các loại, bao gồm khoảng 50 tấn bưởi, 200 tấn cam, quýt, và khoảng
800 tấn củ đậu.”, ông Trần Lâm Sinh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp Phát triển
nông thôn Đồng Nai thông tin. Về sản phẩm chăn nuôi, Đồng Nai tổng đàn
20 triệu conhiện đang tồn200.000 conthịt lông trắng, 80.000 con vịt, 6.000
con dê. Tổng đàn chim cút trên địa bàn khoảng 7 triệu con, mỗi ngày dư thừa 300.000
trứng cút. Bên cạnh đó, Đồng Nai còn dư khoảng 1.000 tấn thủy sản, bao gồm 800 tấn
cá nước ngọt, hơn 200 tấn tôm thẻ, tôm càng (X. Anh, 2021). Trong khi đó, vào 6 giờ
ngày 24/7/2021, thành phố Nội bắt đầu thực hiện giãn cách hội theo Chỉ thị số
16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, lượng người đến mua sắm tại các siêu thị
chợ dân sinh đông hơn ngày thường. Tại nhiều hệ thống siêu thị VinMart, Big C hay
các chợ dân sinh, lượng hàng hóa nhanh chóng được bổ sung. Ghi nhận tại siêu thị
Big C (phố Nguyễn Xiển, quận Thanh Xuân), hàng loạt kệ hàng, trong đó các mặt
hàng tươi sống như rau, củ, quả, hải sản... đều sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của người
dân. Các mặt hàng thiết yếu như: Gạo, thịt, trứng, thực phẩm chế biến, đồ hộp, thủy
hải sản đông lạnh, gói... đầy ắp. Nguyễn Thị Phương, Phó tổng giám đốc
thường trực Công ty VinCommerce (thuộc Tập đoàn Masan) cho biết: “Sau khi
Nội thực hiện giãn cách hội theo nguyên tắc Chỉ thị số 16/CT-TTg để phòng dịch,
chúng tôi đã làm việc với các nhà cung cấp lớn tăng lượng cung ứng gấp 3 lần đối với
hàng thực phẩm thiết yếu; trứng rau xanh tăng gấp 5 lần”. Do đó, trên địa bàn Thủ
đô không xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa, tăng giá đột biến, nếu chỉ tình
trạng biệt tại một, hai khu vực trong thời gian rất ngắn được điều chỉnh rất kịp
thời.
4. Những biện pháp khắc phục
4.1. Đẩy mạnh hoạt động kinh doanh nông sản qua các sàn giao dịch thương
mại điện tử
Khác với cách thức xuất khẩu truyền thống, việc sử dụng các sàn giao dịch, các
trang thương mại điện tử như Amazon, Taobao… sẽ một trong những hướng đi đột
phá cho DN trong bối cảnh đại dịch cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.
Giải pháp này được đề xuất nhằm kết hợp linh động phương thức xuất khẩu ủy thác
với việc áp dụng thành tựu KHCN của cuộc CMCN lần thứ tư. Doanh nghiệp nội địa
thể kết hợp đồng ủy thác với một DN hoạt động ngoài biên giới Việt Nam. Sau
khi nhận ủy thác thì DN trung gian sẽ tiến hành các thủ tục cho hàng hóa xuất cảng,
đồng thời tìm hiểu thị trường, hoàn thành các thủ tục để mặt hàng điều Việt Nam
được xuất hiện trên các trang TMĐT. Hình thức này giúp cho các DN thể song
song sử dụng cả trong đại dịch lẫn trong bối cảnh bình thường mới.
4.2. Kiến nghị chính sách hỗ trợ nguồn nhân lực, sở vật chất trong quá trình
sản xuất, chế biến
Vấn đề sở vật chất, KHCN trong khâu chế biến, sản xuất vốn vẫn vấn đề khó
giải quyết của thị trường nông sản Việt Nam. Số lượng các DN nhỏ lẻ sản xuất theo
phương thức truyền thống vẫn còn nhiều, điều đó làm ảnh hưởng đến cả chất lượng
lẫn khối lượng nông sản xuất khẩu. Vậy nên, kiến nghị trên hàm ý mong muốn Chính
phủ nên những giải pháp trong hỗ trợ nguồn nhân lực sở vật chất, trang thiết
bị cho các DN phục vụ sản xuất, chế biến điều Về hỗ trợ nguồn nhân lực chuyên
môn:
- Xây dựng những chương trình đào tạo, phổ cập chuyên môn về những hình thức sản
xuất mới, dây chuyền sản xuất và hệ thống trang thiết bị hiện đại cho DN, hộ gia đình
và người dân.
- Thành lập những tổ tư vấn chuyên môn tại địa phương phục vụ nhu cầu giải đáp thắc
mắc của DN, hộ gia đình và người dân trong việc chuyển đổi hình thức sản xuất
. - Cử những chuyên gia, kỹ sư chuyên môn trong việc vận hành những máy móc thiết
bị, vật mới cho người dân, doanh nghiệp; trực tiếp tham gia hướng dẫn theo dõi
tại địa phương cho đến khi thấy được sự hiệu quả trong quá trình sản xuất, chế biến.
Về hỗ trợ tín dụng:
- Xây dựng chương trình hỗ trợ vay vốn để các DN có thể tiếp cận nhanh hơn đến dây
chuyền sản xuất, chế biến mới; đẩy mạnh tốc độ công nghệ hóa chuỗi sản xuất hàng
hóa xuất khẩu. 24
- Xây dựng chương trình cho vay theo nhóm, theo từng khu vực nhỏ. Cụ thể, đối với
hộ gia đình, liên kết 2-3 hộ gia đình sẽ hỗ trợ vay vốn để mua trang thiết bị sử
dụng chung các trang thiết bị đó.ch thức như vậy sẽ giúp cho các hộ gia đình vẫn
đảm bảo vật tư cần thiết mà có thể giảm bớt số tiền phải chi ra.
- Liên kết những người dân theo khu vực sinh sống (theo thôn, theo làng..) để thành
lập thành một nhóm người dân nhận vay vốn, trong đó cử một người đại diện số
tiền vay vốn được chia đều, máy móc thiết bị cũng được mua sử dụng cho hợp
nhất.
4.3. Kiến nghị chính sách tín dụng cho DN
Đặt trong bối cảnh đại dịch Covid-19, nhiều doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong
việc duy trì chi phí cố định, thanh toán các khoản nợ… vậy, kiến nghị chính sách tín
dụng cho DN sẽ giúp cho họ có thể chống đỡ phần nào gánh nặng về tài chính:
- Hỗ trợ cho vay vốn 0% tại hệ thống các ngân hàng chính sách hội cho DN với điều
kiện đảm bảo chứng minh tài chính, chứng minh độ thiệt hại trong đại dịch.
- Xây dựng các chương trình hỗ trợ vay vốn lãi suất thấp tại hệ thống các ngân hàng
thương mại nhằm hỗ trợ DN vay vốn tài hoạt động sản xuất, nhập khẩu nguồn nguyên
liệu hay sử dụng khoản tín dụng được vay cho hoạt động đưa hàng hóa xuất khẩu đi các
nước. Với điều kiện, DN cần chứng minh cụ thể phương hướng kinh doanh, hoạt động
xuất khẩu sắp tới và hoạch định cụ thể số tiền cần vay cho những thủ tục cần sử dụng đến
tiền.
C. KẾT LUẬN
Nông sản một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta, đem lại
nguồn lợi nhuận cao, góp phần thúc đẩy giá trị kinh tế ngành đóng góp vào tổng kim
ngạch xuất khẩu tại Việt Nam. Tuy nhiên, tác động của đại dịch Covid-19 đã khiến cho
thị trường này trở nên lao đao trong một khoảng thời gian. Từ vấn đề mặt hàng hạt điều
chịu tác động trước đại dịch, ta đã sở hơn để nhìn nhận ra những điểm mạnh, điểm
yếu, rào cản khó khăn của các DN hoạt động trong thị trường này cũng như sự khó
khăn từ chính những chính sách phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước ta. Bài nghiên
cứu sau cùng đã tìm ra phân tích những khía cạnh tồn tại trong ngành điều VN trước
đại dịch. Đồng thời, bài nghiên cứu cũng đã đề xuất ra những giải pháp nhằm hỗ trợ thị
trường nông sảm của VN trong tầm nhìn gần xa, trong việc hỗ trợ từ vốn, sở vật
chất đến nhân lực, chuyên môn… Đó chính là những hướng đi thích hợp cho ngành nông
sản VN trong đại dịch và trong cả thời đại bình thường mới.
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. https://www.gso.gov.vn/tin-tuc-khac/2022/01/con-duong-sang-cua-nong-san-viet-
nam/
2. https://dangcongsan.vn/cung-ban-luan/giam-chenh-lech-cung-cau-diem-cot-loi-
cho-dau-ra-nong-san-576702.html
3. https://vov.vn/kinh-te/bo-truong-nguyen-xuan-cuong-du-bao-cung-cau-nong-san-
con-bat-cap-859461.vov
4. https://dongthap.gov.vn/web/ttxttmdlvdt/chi-tiet-bai-viet/-/asset_publisher/
1mOzUrGkrdAE/content/id/5826016?plidlayout=2196

Preview text:

MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu...............................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu.............................................................................................2
4. Phạm vi nghiên cứu................................................................................................3
B. NỘI DUNG.................................................................................................................3
1. Vai trò của thị trường nông sản tại Việt Nam.........................................................3
2. Thực trạng thị trường nông sản Việt Nam...........................................................4
2.1. Giá của nông sản không ổn định và mang tính thời vụ..................................4
2.2. Cung và cầu nông sản không cân đối..............................................................4
2.3. Tình trạng độc quyền trên thị trường nông sản..............................................5
3. Thực trạng mối quan hệ cung và cầu của thị trường nông sản Việt Nam khi
chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19........................................................................7
3.1. Về phía cầu.......................................................................................................7
3.2. Về phía cung.....................................................................................................7 3.2.1.
Khó khăn trong hoạt động sản xuất.............................................................7 3.2.2.
Nơi thừa, nơi thiếu........................................................................................8
4. Những biện pháp khắc phục..................................................................................9
4.1. Đẩy mạnh hoạt động kinh doanh nông sản qua các sàn giao dịch thương
mại điện tử..................................................................................................................9
4.2. Kiến nghị chính sách hỗ trợ nguồn nhân lực, cơ sở vật chất trong quá trình
sản xuất, chế biến.....................................................................................................10
4.3. Kiến nghị chính sách tín dụng cho DN............................................................10
C. KẾT LUẬN..............................................................................................................11
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................11 A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam vốn là một nước có thế mạnh vô cùng lớn trong lĩnh vực nông nghiệp, sản
xuất những mặt hàng nông sản từ những ưu thế về đất đai, khí hậu, con người... Cũng
chính vì thế mà nông nghiệp luôn luôn là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng vai trò quan
trọng hàng đầu trong nền kinh tế nước ta.
Nông sản Việt Nam nói chung đã liên tục ghi dấu ấn trên bản đồ xuất khẩu trong năm
2021. Đơn cử, theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), Việt Nam là thị trường cung
cấp hàng rau quả chế biến lớn thứ 11 cho Hoa Kỳ trong 9 tháng đầu năm 2021, kim
ngạch đạt 171,9 triệu USD, tăng 49,9% so với cùng kỳ năm 2020. Việt Nam chiếm 2,3%
tổng trị giá nhập khẩu của Hoa Kỳ trong lĩnh vực này, tăng 0,5 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2020.
Nông sản Việt Nam cũng ngày càng được ưa chuộng tại châu Âu. Tại Đức, Việt Nam
hiện là nguồn cung hạt điều số 1 nhờ sản lượng ổn định và chất lượng đảm bảo. Việt Nam
cũng là nguồn cung cà phê lớn nhất tại thị trường Nga (về lượng) và đứng thứ 2 ở thị
trường này về kim ngạch sau Brazil. Trong 9 tháng đầu năm 2021, Nga nhập khẩu cà phê
từ Việt Nam đạt trên 61.000 tấn, trị giá 116 triệu USD, giảm 8% về lượng, nhưng tăng
4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020.
Tuy nhiên, dù là một trong những mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn, đóng góp nhiều vào
kim nghạch xuất khẩu nước ta, thị trường nông sản vẫn có phần lao đao, gặp nhiều những
bất lợi trước con sóng mang tên Covid-19. Đại dịch Covid-19 từ đầu năm 2020 đến nay
đã có nhiều ảnh hưởng đến khả năng sản xuất, thị trường và nhu cầu sử dụng nông sản,...
đó cũng được coi như một trong những rào cản cho việc xuất khẩu mặt hàng này. Trước
những vấn đề đó, đặt ra cho doanh nghiệp cũng như Nhà nước cần có những chính sách,
hướng đi phù hợp để khắc phục các khó khăn, thúc đẩy thị trường trở lại.
Vì những lý do trên, đề tài: “Tác động của đại dịch Covid 19 đến mối quan hệ cung
cầu trên thị trường nông sản” được nghiên cứu với hy vọng đưa ra những thực trạng và
vấn đề khó khăn mà thị trường cần phải tháo gỡ, đồng thời đưa ra những hướng đi cụ thể
nhằm khắc phục tình trạng đó, đưa thị trường nông sản tăng trưởng mạnh mẽ trở lại. 2. Mục tiêu nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu nhằm đưa ra thực trạng mối quan hệ giữa cung và cầu của thị trường
nông sản Việt Nam trước và trong đại dịch Covid- 19. Bên cạnh đó, tìm hiểu, đánh giá và
phân tích tác động của đại dịch Covid- 19 đến những phương diện như nhu cầu, thị
trường xuất khẩu, khó khăn.. đến thị trường nông sản. Từ vấn đề đó đề xuất các giải
pháp, kiến nghị những chính sách thích hợp nhằm giải quyết vấn đề cho thị trường nông sản Việt Nam.
3. Đối tượng nghiên cứu
Thị trường nông sản Việt Nam 4. Phạm vi nghiên cứu 4.1. Phạm vi nội dung
Tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa cung và cầu thị trường nông sản Việt Nam
trước tác động khó lường của đại dịch Covid-19. 4.2. Phạm vi không gian
Tập trung nghiên cứu trong phạm vi Việt Nam 4.3. Phạm vi thời gian
Nghiên cứu thực trạng cung và cầu của thị trường nông sản Việt Nam trước và trong đại dịch. B. NỘI DUNG
1. Vai trò của thị trường nông sản tại Việt Nam
Thị trường nông sản là tất cả các mối quan hệ về giao dịch hàng hóa nông sản diễn ra
tại một khu vực địa lý nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định. Hay nói một cách
khác thị trường nông sản là nơi diễn ra các hoạt động có liên quan trực tiếp đến giao dịch hàng hóa nông sản.
Với đường lối xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, tham gia vào thị
trường nông sản hiện nay gồm có: Các doanh nghiệp Nhà nước, các hợp tác xã, tập đoàn
sản xuất, các hộ nông dân được giao đất sử dụng lâu dài, các hình thức kinh tế tư nhân.
Thị trường nông sản với 4 chức năng chính sau:
Chức năng thừa nhận tức là người mua (người tiêu dùng) chấp nhận hàng hóa đó.
Chức năng thực hiện: Thị trường nông sản là nơi diễn ra các hành vi mua và bán hàng hóa nông sản.
Chức năng điều tiết, kích thích: Thị trường nông sản sẽ tạo ra sự gia tăng hay hạn chế cung cầu.
Chức năng thông tin: Thị trường nông sản sẽ cung cấp nhiều thông tin liên quan
đến hàng hóa nông sản, có nhiều thông tin nên việc xử lý, sàng lọc thông tin là cần thiết.
Thị trường nông sản ra đời đã tạo điều kiện cho hàng hóa nông sản có cơ hội phát triển
theo hướng chuyên biệt và hiện đại với nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, với đa
dạng thành phần tham gia đã dẫn tới nhiều thực trạng không tốt còn tồn tại. Gây khó
khăn, thiệt hại cho tất cả các thành viên tham gia vào thị trường nông sản.
2. Thực trạng thị trường nông sản Việt Nam 2.1.
Giá của nông sản không ổn định và mang tính thời vụ
Ngành nông nghiệp nước ta có tính thời vụ khá cao. Tính thời vụ của sản xuất nông
nghiệp thể hiện rõ ở sự biến động của giá cả thị trường theo thời vụ, đặc biệt là tính
không ổn định của giá cả thị trường đầu ra. Mỗi loại cây trồng có đặc điểm sinh trưởng
khác nhau, dẫn đến mùa vụ gieo trồng cũng khác nhau. Các mặt hàng nông sản thường có
xu hướng nhiều vào vụ mùa và ít vào vụ nghịch. Với số lượng chênh lệch nhau quá nhiều
giữa các vụ dẫn đến giá của nông sản cũng biến đổi mạnh. Vào vụ mùa giá rất thấp do
cung vượt quá cầu, vào vụ nghịch giá lại bị đẩy lên cao do cung nhỏ hơn cầu.
Giá cả nông sản được coi là một trong những vấn đề trọng yếu của của thị trường nông
sản. Bởi vì, giá cả là yếu tố cấu thành của cơ chế thị trường có tác động chi phối về cả hai
phía cầu và cung của nông nghiệp. Bên cạnh đó, giá cả cũng chi phối các mối quan hệ
trao đổi trong nội bộ và trao đổi liên ngành của nông nghiệp như dịch vụ, công nghiệp,
truyền thông,.. Chính vì vậy, việc giá cả nông sản không bình ổn đã gây rất nhiều khó
khăn đến tất cả các thành phần tham gia vào thị trường. 2.2.
Cung và cầu nông sản không cân đối
Thị trường nông sản đạt được trạng thái cân bằng khi khối lượng nông sản đem bán vừa
bằng với nhu cầu của người mua.Trên thực tế thị trường các nông sản chủ yếu chỉ đạt
được trạng thái cân bằng trong những thời điểm nhất định.
Biểu hiện của trạng thái mất cân bằng cung cầu trên thị trường nông sản là giá ở mức
quá cao hay quá thấp so với giá cân bằng thị trường. Khi nguồn cung trên thị trường quá
nhiều sẽ dẫn đến tình trạng người bán không tìm được người mua dẫn đến tình trạng dư
thừa, đẩy giá thành xuống thấp. Ngược lại khi nguồn cung quá thấp, người mua không
tìm được người bán dẫn đến tình trạng nông sản khang hiếm, đẩy giá thành lên cao. Khi
giá cả càng vượt xa so với giá cân bằng thị trường thì lượng trao đổi giữa cung và cầu nông sản càng ít đi.
Nguyên nhân dẫn đến mất cân bằng cung cầu nông sản là do:
Sản xuất ồ ạt phá vỡ quy hoạch dẫn đến số lượng của một loại nông sản nào đó
quá nhiều trong cùng một thời điểm.
Thời điểm sau thu hoạch nguồn cung sẽ tăng mạnh hơn là đầu vụ và cuối vụ.
Thiên tai, bão lũ ảnh hưởng đến sản quá trình sản xuất dẫn đến sản lượng nông sản giảm.
Nhu cầu của người mua tăng cao vào dịp dễ, tết, cuối tuần…
Nguồn cung tăng do nhập khẩu từ các nước khác. 2.3.
Tình trạng độc quyền trên thị trường nông sản
Cũng giống như các loại thị trường khác, thị trường nông sản chịu tác động của qui luật
cạnh trạnh thị trường. Cạnh tranh trên thị trường có hai loại là cạnh tranh hoàn hảo và thị
trường độc quyền. Đối với thị trường nông sản thì cạnh tranh độc quyền độc quyền một
người bán và độc quyền một người mua là những nét đặc trưng của thị trường nông sản.
Đối với độc quyền bán: Chỉ có một cá nhân hoặc doanh nghiệp nào đó được bán
các sản phẩm đó tại một địa điểm nhất định. Ví dụ trên một vùng nông thôn rộng
lớn chỉ có một công ty thương mại của Nhà nước đảm nhiệm phần lớn việc cung
ứng phân bón, thuốc sâu và các vật tư nông nghiệp khác cho các hộ gia đình.
Trường hợp độc quyền mua: Trên một vùng nào đó chỉ có một nhà máy chế biến
mua nguyên liệu do nông dân sản xuất ra; hoặc mỗi ngành sản phẩm nông nghiệp
chỉ có một hoặc hai công ty tham gia xuất khẩu nông sản ra thị trường thế giới.
Tuy nhiên khi làm cho một ngành hàng nông sản trở thành độc quyền có thể gây ra tình
trạng sản lượng cung cấp ít đi, giá bán cho người tiêu dùng tăng lên và nhà kinh doanh
thu được lợi nhuận độc quyền. Về lâu dài, tình trạng cạnh tranh độc quyền có thể gây ra
những tín hiệu sai lệch về giá cả và hiệu quả sản xuất, dẫn đến sự phân bổ và sử dụng
kém hiệu quả các nguồn lực trong ngành nông sản.
Việc đi lại mua bán thực phẩm cũng dần được bình thường trở lại từ tháng 4/2020 -
8/2020. Bên cạnh đó, để xoay xở trong mùa dịch, nhiều doanh nghiệp cũng đã tìm được
lối ra trước đại dịch. Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, đại dịch COVID-19 ảnh
hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các
doanh nghiệp ở các mảng du lịch, dịch vụ, ăn uống, nghỉ dưỡng. Cụ thể, doanh thu dịch
vụ lưu trú, ăn uống 7 tháng năm 2020 ước tính đạt 280,9 nghìn tỷ đồng, giảm 16,6% so
với cùng kỳ năm 2019. Doanh thu du lịch lữ hành 7 tháng ước tính đạt 11,1 nghìn tỷ
đồng, giảm sâu tới 55,4% so với cùng kỳ năm trước đó (BT, 2020). Từ những con số
đáng buồn trên, các doanh nghiệp sẽ phải tự xoay xở để sống sót qua dịch bệnh. Một
trong những cách hiệu quả nhất trong những tháng dịch đó chính là kinh doanh qua
mạng, cụ thể là mạng xã hội và các sàn thương mại điện tử (TMĐT). Điều này sẽ đánh
thẳng vào tâm lý của người dân, đặc biệt là người trẻ. Họ có xu hướng lựa chọn sản phẩm
một cách thuận tiện và nhanh nhất, từ đó các sàn TMĐT là nơi thích hợp để các doanh
nghiệp có thể vượt khó trong đợt dịch. Những giải pháp này thực sự chưa có nhiều doanh
nghiệp áp dụng triệt để vì đây chỉ vì là giải pháp thay thế và tạm thời. Vì vậy, khi dịch
COVID-19 bùng phát trở lại trong cộng đồng sẽ tiếp tục ảnh hưởng tới nguồn thu của các doanh nghiệp này.
Một vấn đề nan giải khác được đặt ra, đó là vấn đề kinh tế của người dân. Sau khi dịch
bùng phát, việc lao động và sản xuất gặp nhiều hạn chế, thu nhập của người dân eo hẹp,
trong khi giá cả thì chịu sự tăng giá của cánh thương lái. COVID-19 tác động làm tăng tỷ
lệ nghèo và cận nghèo về thu nhập và làm sụt giảm thu nhập tạm thời của hộ gia đình và
người lao động. Theo kết quả khảo sát của UNDP và UN WOMEN (2020), “trong tháng
12-2019, trung bình tỷ lệ hộ nghèo là 11,3%. Tỷ lệ này tăng lên tới 50,7% trong tháng 4-
2020. Tỷ lệ hộ cận nghèo tăng từ 3,8% vào tháng 12- 2019 lên 6,5% vào tháng 4-2020”.
Quan trọng hơn, những hộ gia đình thuộc nhóm dân tộc thiểu số và hộ gia đình có lao
động phi chính thức và gia đình những người nhập cư chịu tác động từ dịch bệnh lớn hơn.
Cũng theo kết quả điều tra của UNDP và UN WOMEN (2020), “thu nhập trung bình của
các hộ gia đình dân tộc thiểu số trong tháng 4 và tháng 5-2020 lần lượt chỉ tương ứng
25,0% và 35,7% so với mức tháng 12-2019. Trong khi đó, những con số này cao hơn, lần
lượt ước tính khoảng 30,3% và 52% đối với nhóm hộ gia đình người Kinh và người Hoa.
Trong tháng 4 và tháng 5-2020, thu nhập trung bình của hộ di cư được ước tính chỉ tương
đương 25,1% và 43,2% so với mức của tháng 12-2019. Những con số này lần lượt là
30,8% và 52,5% đối với nhóm hộ gia đình không di cư” (Nguyễn Quang Thuấn, 2020).
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, tính đến tháng 12 năm 2020, cả nước có
32,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19 bao gồm
người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu
nhập, ... Trong đó, 69,2% người bị giảm thu nhập, 39,9% phải giảm giờ làm/nghỉ giãn
việc/nghỉ luân phiên và khoảng 14,0% buộc phải tạm nghỉ hoặc tạm ngừng hoạt động sản
xuất kinh doanh. Khu vực dịch vụ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch Covid-19 với
71,6% lao động bị ảnh hưởng, tiếp đến là khu vực công nghiệp và xây dựng với 64,7%
lao động bị ảnh hưởng; tỷ lệ lao động bị ảnh hưởng trong khu vực nông, lâm nghiệp và
thủy sản là 26,4%. Mặc dù vậy, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý IV năm
2020 là 55,1 triệu người, tăng 563,8 nghìn người so với quý trước nhưng vẫn thấp hơn
860,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Điều này một lần nữa khẳng định xu
hướng phục hồi của thị trường lao động sau khi ghi nhận mức giảm sâu kỷ lục vào quý II
năm 2020 (BBT, 2021a). Bởi vậy, khả năng phục vụ được nhu cầu của bản thân về vấn
đề thực phẩm của người dân còn gặp rất nhiều khó khăn.
3. Thực trạng mối quan hệ cung và cầu của thị trường nông sản Việt Nam khi
chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 3.1. Về phía cầu
Thời kỳ đầu khi mới xuất hiện dịch bệnh tức cuối năm 2019 đầu năm 2020, Theo
một khảo sát từ Nielsen cho thấy hơn 50% người dân đã giảm tần suất ghé thăm các
siêu thị, cửa hàng tạp hoá và chợ truyền thống. Đồng thời, giá trị giỏ hàng trên 1 lần
mua tăng lên để đáp ứng nhu cầu ở nhà nhiều hơn và hạn chế ra ngoài. 61% người
tiêu dùng Việt ưa chuộng mua hàng tại các kênh thương mại hiện đại (Modern trade)
như siêu thị, cửa hàng tiện lợi…, trong khi chỉ 39% mua hàng tại các kênh thương
mại truyền thống (Traditional Trade) như cửa hàng tạp hóa, chợ… Điều này cho thấy
xu hướng chuyển dịch trong hành vi mua hàng của người tiêu dùng đến các kênh bán
hàng hiện đại, do hàng hóa trong những kênh này được đảm bảo về an toàn cũng như
nguồn gốc hơn. Đồng thời, các kênh thương mại hiện đại cũng đưa ra sự lựa chọn đa
dạng và cho người tiêu dùng tự lựa chọn những loại hàng hóa trên kệ theo sở thích
của họ. Bởi vậy, thực phẩm đóng gói, nước đóng chai, mì ăn liền, thực phẩm đông
lạnh trở thành những lựa chọn hàng đầu.
Chính vì vậy mà thời gian này chính là khi mà tình trạng giải cứu nông sản xảy ra
khá thường xuyên khi mà lượng cung ứng cao hơn nhiều so với nhu cầu của người tiêu dùng.
Sau những bước chuyển mình của các ngành kinh doanh thực phẩm khi phải đối
phó với một chủng dịch mới lạ, các vấn đề gây nhức nhối như tích trữ, dồn hàng cũng
đã được phần nào giải quyết. Việc tích trữ hàng hóa đa phần do sự sợ hãi với dịch
bệnh của người dân, cùng với đó là tâm lý đám đông và ý thức phòng chống dịch vẫn
còn kém. Tuy nhiên, vấn đề này đang được cải thiện do nỗ lực chống dịch hiệu quả
của Nhà Nước và các nhân viên ở tuyến đầu chống dịch, đang giúp tâm lý của người
dân an tâm hơn. Cũng nhờ đó mà lượng hàng hóa cũng ổn định hơn. 3.2. Về phía cung
Là một trong những mặt hàng chiếm vị thế quan trọng trong tổng số mặt hàng xuất
khẩu của Việt Nam, tuy nhiên, thị trường nông sản trước tác động của đại dịch đều
không tránh khỏi những khó khăn trước diễn biến phức tạp của đại dịch Covid- 19.
3.2.1. Khó khăn trong hoạt động sản xuất
Trước tác động của đại dịch Covid-19, Chính phủ và Bộ Y tế đã có những quyết
sách, biện pháp chống dịch như giãn cách toàn xã hội, đóng cửa tạm thời, hạn chế
giao thương…những điều này ít nhiều đã tác động đến các công ty, doanh nghiệp nói
chung và các doanh nghiệp hoạt động trong ngành chế biến và sản xuất nông sản nói
riêng. Dịch bệnh khiến các DN bắt buộc phải tạm ngừng sản xuất, kinh doanh và chỉ
mở cửa khi có thông báo chính thức của Chính phủ, người lao động cũng không được
phép đi làm, thu nhập giảm sút,.. Điều này đã tác động trực tiếp đến sự sống còn của
DN, đối với những DN lớn, họ vẫn sẽ phải chi trả những chi phí cố định trong khi thời
cuộc không biết bao giờ mới cho họ sản xuất trở lại. Còn đối với những DN nhỏ, việc
gồng gánh chi phí cố định và tác động của đại dịch, sự ngưng trệ khiến họ thậm chí
còn từ bỏ con đường sản xuất, kinh doanh, đóng cửa DN có thời hạn. Bên cạnh đó,
việc đóng cửa biên giới, hạn chế giao thương cũng là yếu tố ít nhiều ảnh hưởng đến
hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN. Đặt trong bối cảnh nguồn nguyên liệu điều
thô của VN phụ thuộc chủ yếu vào các nước châu Phi, nhưng khi đóng cửa biên giới
khiến lượng hàng hóa mất lâu thời gian hơn để về đến tay nhà sản xuất, chế biến. Bên
cạnh đó, các DN cũng phải đau đầu trước việc “đội giá” của nguyên liệu khi vừa chịu
thuế, vừa chịu tác động của đại dịch, tiền phí vận chuyển tăng lên trong đại dịch.
3.2.2. Nơi thừa, nơi thiếu
Ở khi trong các tỉnh phía Nam, hệ thống cung ứng hàng hóa bị đình trệ và nguồn
nhân sự bị thu hẹp do ảnh hưởng từ dịch bệnh khiến việc vận chuyển hàng thiết yếu
tới người tiêu dùng gặp nhiều trở ngại. Với ngành hàng nông sản, phải đảm bảo chất
lượng về đóng gói và bảo quản tươi vì vậy việc giao đến tay người tiêu dùng trong
tình trạng tốt nhất thực sự là một thử thách lớn. Có thể thấy chuỗi cung ứng, giao
nhận trong mùa dịch bị đứt gãy đã gây ra hiệu ứng dây chuyền ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh vốn đã rất khó khăn trong mùa dịch (Xuân, 2021). Thành phố Hồ
Chí Minh là trung tâm tiêu thụ các mặt hàng nông sản của 19 tỉnh, thành phố khu vực
phía Nam. Với quy mô dân số tiêu dùng ước tính khoảng 10 triệu người, mỗi ngày
người dân thành phố tiêu thụ từ 9.000 tấn đến 10.000 tấn thực phẩm, nhưng năng lực
cung ứng của toàn bộ hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện ích, chuỗi cung ứng khác chỉ
mới đáp ứng được 1/3 nhu cầu, số còn lại phải thông qua các chợ đầu mối và chợ
truyền thống. Qua rà soát nhu cầu của người dân thành phố, dựa trên 9 đầu mối kết
nối, trong những ngày qua, người dân thành phố thiếu 1.500 tấn rau củ quả, trái cây;
thiếu 300.000 đến 400.000 trứng gia cầm phục vụ cho bữa ăn hàng ngày, mặc dù các
xe vận chuyển hàng từ miền Đông Nam Bộ vào Thành phố Hồ Chí Minh luôn được
tạo điều kiện thuận lợi khi vận hành. Trong khi đó, các địa phương khu vực Đồng
bằng sông Cửu Long lại rất dồi dào hàng hóa, nguồn tiêu thụ trong tỉnh chỉ chiếm 1/6
sản lượng thu hoạch được, số còn lại trước đây vận chuyển về trung tâm Thành phố
Hồ Chí Minh tiêu thụ, thì nay còn dồn ứ bởi các tỉnh Đông Nam Bộ thực hiện giãn
cách xã hội theo Chỉ thị 16 (Nhung, 2021). “Trong tháng 9, tỉnh Đồng Nai có 3 nhóm
nông sản nguy cơ khó tiêu thụ. Với trồng trọt, trong khoảng 1 tuần tới còn dư hơn
1.000 tấn trái cây các loại, bao gồm khoảng 50 tấn bưởi, 200 tấn cam, quýt, và khoảng
800 tấn củ đậu.”, ông Trần Lâm Sinh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Đồng Nai thông tin. Về sản phẩm chăn nuôi, Đồng Nai có tổng đàn gà là
20 triệu con và hiện đang tồn dư 200.000 con gà thịt lông trắng, 80.000 con vịt, 6.000
con dê. Tổng đàn chim cút trên địa bàn khoảng 7 triệu con, mỗi ngày dư thừa 300.000
trứng cút. Bên cạnh đó, Đồng Nai còn dư khoảng 1.000 tấn thủy sản, bao gồm 800 tấn
cá nước ngọt, hơn 200 tấn tôm thẻ, tôm càng (X. Anh, 2021). Trong khi đó, vào 6 giờ
ngày 24/7/2021, thành phố Hà Nội bắt đầu thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số
16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, lượng người đến mua sắm tại các siêu thị và
chợ dân sinh đông hơn ngày thường. Tại nhiều hệ thống siêu thị VinMart, Big C hay
các chợ dân sinh, lượng hàng hóa nhanh chóng được bổ sung. Ghi nhận tại siêu thị
Big C (phố Nguyễn Xiển, quận Thanh Xuân), hàng loạt kệ hàng, trong đó các mặt
hàng tươi sống như rau, củ, quả, hải sản... đều sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của người
dân. Các mặt hàng thiết yếu như: Gạo, thịt, trứng, thực phẩm chế biến, đồ hộp, thủy
hải sản đông lạnh, mì gói... đầy ắp. Bà Nguyễn Thị Phương, Phó tổng giám đốc
thường trực Công ty VinCommerce (thuộc Tập đoàn Masan) cho biết: “Sau khi Hà
Nội thực hiện giãn cách xã hội theo nguyên tắc Chỉ thị số 16/CT-TTg để phòng dịch,
chúng tôi đã làm việc với các nhà cung cấp lớn tăng lượng cung ứng gấp 3 lần đối với
hàng thực phẩm thiết yếu; trứng và rau xanh tăng gấp 5 lần”. Do đó, trên địa bàn Thủ
đô không xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa, tăng giá đột biến, nếu có chỉ là tình
trạng cá biệt tại một, hai khu vực trong thời gian rất ngắn và được điều chỉnh rất kịp thời.
4. Những biện pháp khắc phục 4.1.
Đẩy mạnh hoạt động kinh doanh nông sản qua các sàn giao dịch thương mại điện tử
Khác với cách thức xuất khẩu truyền thống, việc sử dụng các sàn giao dịch, các
trang thương mại điện tử như Amazon, Taobao… sẽ là một trong những hướng đi đột
phá cho DN trong bối cảnh đại dịch và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.
Giải pháp này được đề xuất nhằm kết hợp linh động phương thức xuất khẩu ủy thác
với việc áp dụng thành tựu KHCN của cuộc CMCN lần thứ tư. Doanh nghiệp nội địa
có thể ký kết hợp đồng ủy thác với một DN hoạt động ngoài biên giới Việt Nam. Sau
khi nhận ủy thác thì DN trung gian sẽ tiến hành các thủ tục cho hàng hóa xuất cảng,
đồng thời tìm hiểu thị trường, hoàn thành các thủ tục để mặt hàng điều Việt Nam
được xuất hiện trên các trang TMĐT. Hình thức này giúp cho các DN có thể song
song sử dụng cả trong đại dịch lẫn trong bối cảnh bình thường mới. 4.2.
Kiến nghị chính sách hỗ trợ nguồn nhân lực, cơ sở vật chất trong quá trình sản xuất, chế biến
Vấn đề cơ sở vật chất, KHCN trong khâu chế biến, sản xuất vốn vẫn là vấn đề khó
giải quyết của thị trường nông sản Việt Nam. Số lượng các DN nhỏ lẻ sản xuất theo
phương thức truyền thống vẫn còn nhiều, điều đó làm ảnh hưởng đến cả chất lượng
lẫn khối lượng nông sản xuất khẩu. Vậy nên, kiến nghị trên hàm ý mong muốn Chính
phủ nên có những giải pháp trong hỗ trợ nguồn nhân lực và cơ sở vật chất, trang thiết
bị cho các DN phục vụ sản xuất, chế biến điều Về hỗ trợ nguồn nhân lực và chuyên môn:
- Xây dựng những chương trình đào tạo, phổ cập chuyên môn về những hình thức sản
xuất mới, dây chuyền sản xuất và hệ thống trang thiết bị hiện đại cho DN, hộ gia đình và người dân.
- Thành lập những tổ tư vấn chuyên môn tại địa phương phục vụ nhu cầu giải đáp thắc
mắc của DN, hộ gia đình và người dân trong việc chuyển đổi hình thức sản xuất
. - Cử những chuyên gia, kỹ sư chuyên môn trong việc vận hành những máy móc thiết
bị, vật tư mới cho người dân, doanh nghiệp; trực tiếp tham gia hướng dẫn và theo dõi
tại địa phương cho đến khi thấy được sự hiệu quả trong quá trình sản xuất, chế biến. Về hỗ trợ tín dụng:
- Xây dựng chương trình hỗ trợ vay vốn để các DN có thể tiếp cận nhanh hơn đến dây
chuyền sản xuất, chế biến mới; đẩy mạnh tốc độ công nghệ hóa chuỗi sản xuất hàng hóa xuất khẩu. 24
- Xây dựng chương trình cho vay theo nhóm, theo từng khu vực nhỏ. Cụ thể, đối với
hộ gia đình, liên kết 2-3 hộ gia đình và sẽ hỗ trợ vay vốn để mua trang thiết bị và sử
dụng chung các trang thiết bị đó. Cách thức như vậy sẽ giúp cho các hộ gia đình vẫn
đảm bảo vật tư cần thiết mà có thể giảm bớt số tiền phải chi ra.
- Liên kết những người dân theo khu vực sinh sống (theo thôn, theo làng..) để thành
lập thành một nhóm người dân nhận vay vốn, trong đó cử một người đại diện và số
tiền vay vốn được chia đều, máy móc thiết bị cũng được mua và sử dụng cho hợp lý nhất.
4.3. Kiến nghị chính sách tín dụng cho DN
Đặt trong bối cảnh đại dịch Covid-19, nhiều doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong
việc duy trì chi phí cố định, thanh toán các khoản nợ… Vì vậy, kiến nghị chính sách tín
dụng cho DN sẽ giúp cho họ có thể chống đỡ phần nào gánh nặng về tài chính:
- Hỗ trợ cho vay vốn 0% tại hệ thống các ngân hàng chính sách xã hội cho DN với điều
kiện đảm bảo chứng minh tài chính, chứng minh độ thiệt hại trong đại dịch.
- Xây dựng các chương trình hỗ trợ vay vốn lãi suất thấp tại hệ thống các ngân hàng
thương mại nhằm hỗ trợ DN vay vốn tài hoạt động sản xuất, nhập khẩu nguồn nguyên
liệu hay sử dụng khoản tín dụng được vay cho hoạt động đưa hàng hóa xuất khẩu đi các
nước. Với điều kiện, DN cần chứng minh cụ thể phương hướng kinh doanh, hoạt động
xuất khẩu sắp tới và hoạch định cụ thể số tiền cần vay cho những thủ tục cần sử dụng đến tiền. C. KẾT LUẬN
Nông sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta, nó đem lại
nguồn lợi nhuận cao, góp phần thúc đẩy giá trị kinh tế ngành và đóng góp vào tổng kim
ngạch xuất khẩu tại Việt Nam. Tuy nhiên, tác động của đại dịch Covid-19 đã khiến cho
thị trường này trở nên lao đao trong một khoảng thời gian. Từ vấn đề mặt hàng hạt điều
chịu tác động trước đại dịch, ta đã có sơ sở hơn để nhìn nhận ra những điểm mạnh, điểm
yếu, rào cản và khó khăn của các DN hoạt động trong thị trường này cũng như sự khó
khăn từ chính những chính sách phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước ta. Bài nghiên
cứu sau cùng đã tìm ra và phân tích những khía cạnh tồn tại trong ngành điều VN trước
đại dịch. Đồng thời, bài nghiên cứu cũng đã đề xuất ra những giải pháp nhằm hỗ trợ thị
trường nông sảm của VN trong tầm nhìn gần và xa, trong việc hỗ trợ từ vốn, cơ sở vật
chất đến nhân lực, chuyên môn… Đó chính là những hướng đi thích hợp cho ngành nông
sản VN trong đại dịch và trong cả thời đại bình thường mới.
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. https://www
.gso.gov.vn/tin-tuc-khac/2022/01/con-duong-sang-cua-nong-san-viet- nam/
2. https://dangcongsan.vn/cung-ban-luan/giam-chenh-lech-cung-cau-diem-cot-loi-
cho-dau-ra-nong-san-576702.html 3. https://vov
.vn/kinh-te/bo-truong-nguyen-xuan-cuong-du-bao-cung-cau-nong-san- con-bat-cap-859461.vov 4. https://dongthap.gov
.vn/web/ttxttmdlvdt/chi-tiet-bai-viet/-/asset_publisher/
1mOzUrGkrdAE/content/id/5826016?plidlayout=2196