











Preview text:
A. Mở đầu:
Dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19 đã gây ra một cuộc
khủng hoảng vô cùng lớn cho toàn thế giới. Ở thời điểm này, toàn cầu vẫn
đang gồng mình chống lại đại dịch Covid-19, hàng ngày, hàng giờ vẫn đang
có hàng triệu ca mắc, gần 3 triệu người đã tử vong. Mặc dù vaccine đang
được gấp rút sản xuất và tiêm chủng ở nhiều quốc gia nhưng cho tới thời
điểm hiện tại, với những biến chủng mới phức tạp của dịch bệnh, không một
quốc gia nào có thể khẳng định đã đánh bại hoàn toàn Covid-19. Đại dịch
này đã gây ra nhiều tác động tiêu cực chưa từng có tiền lệ với nền kinh tế thế
giới và Việt Nam. Sau hơn 2 năm chống dịch, chỉ một vài quốc gia thực hiện
được mục tiêu kép là vừa kiểm soát dịch bệnh vừa tái sản xuất phục hồi kinh
tế. Việt Nam là một trong số ít những quốc gia như vậy nhờ vào những biện
pháp quyết liệt và có hiệu quả của Chính phủ. Tuy nhiên, làn sóng dịch bệnh
thứ 4 bùng phát ở các nhà máy, khu công nghiệp ở Hải Dương đầu năm 2021
là hồi chuông cảnh tỉnh chúng ta rằng Covid-19 còn đang diễn biến hết sức
phức tạp. Những tin tức về dịch bệnh vẫn tiếp tục phủ bóng lên cuộc sống
hàng ngày của mỗi gia đình, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của mỗi doanh nghiệp và sự vận hành của cả xã hội.
Đối với nền kinh tế, qua những nghiên cứu, đánh giá sơ bộ trong thời
gian qua, có thể thấy một bức tranh chung là có sự tàn phá nặng nề của đại
dịch đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống của
người lao động ở Việt Nam. Trong cuộc khủng hoảng y tế nghiêm trọng này,
các doanh nghiệp đã chịu rất nhiều tổn thất và sự chống chịu kiên cường của
doanh nghiệp đang đứng trước những giới hạn. Vai trò của các doanh nghiệp
là hết sức quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, đồng thời là chủ thể quan
trọng trong ứng phó các vấn đề toàn cầu trong đó có đại dịch Covid-19.
Những tác động của Covid-19 đã bao phủ lên mọi mặt của đời sống xã hội
mà rõ nhất là đến các hành vi của doanh nghiệp. Đây là một vấn đề hết sức cấp thiết.
Mục tiêu nghiên cứu của vấn đề này chíxnh là đưa ra cơ sở lý luận về
các hành vi của doanh nghiệp. Song song với đó là tìm hiểu những tác động
của dịch bệnh Covid-19 đến các hành vi sản xuất của doanh nghiệp, nó ảnh
hưởng ra sao đến các chi phí cũng như doanh thu và lợi nhuận của các hãng
kinh doanh ở Việt Nam. Và trước tình hình đó các giải pháp nào sẽ làm giảm
thiểu đến mức thấp nhất tác động của dịch bệnh đến các doanh nghiệp.
Việc nghiên cứu đề tài này thuộc phạm vi nghiên cứu của kinh tế học
vi mô vì vậy phương pháp nghiên cứu vấn đề đó là thu thập dữ liệu, khoa
học phân tích, giả thiết đối chiếu với chứng cứ và tổng hợp, liên kết cơ sở lý
luận và thực tiễn, so sánh để đưa ra đánh giá và mô hình hóa. B. Nội dung:
I. Cơ sở lý luận của đề tài: Lý thuyết về hành vi của các hãng kinh doanh
1. Lý thuyết về sản xuất: 2. Lý thuyết về chi phí:
3. Lý thuyết về doanh thu và lợi nhuận
II. Tác động của Covid-19 đến các hành vi của doanh nghiệp Việt Nam 1. Thực trạng: -
Theo “Báo cáo tác động của dịch bệnh Covid-19 đối với doanh nghiệp Việt
Nam” mà Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với
Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (WB) thực hiện, đại dịch Covid-19 đã có những
tác động rất lớn đến doanh nghiệp tại Việt Nam. Trong đó, 87,2% doanh nghiệp
chịu ảnh hưởng tiêu cực. Chỉ 11% doanh nghiệp không bị ảnh hưởng gì và gần 2%
ghi nhận tác động tích cực. Số liệu trên được lấy từ cả khu vực doanh nghiệp tư
nhân trong nước và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (doanh nghiệp FDI).
Trong số các nhóm doanh nghiệp, đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều hơn cả là các
doanh nghiệp mới hoạt động dưới 3 năm và các doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Tuy
nhiên với các con số này chỉ tính riêng các doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh
theo luật doanh nghiệp và không tính các hộ kinh doanh nhỏ lẻ, hộ kinh doanh gia
đình mà đây lại chính là những chủ thể chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. -
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2020, tổng mức
bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 0,8% so với cùng kỳ năm
2019 và nếu loại trừ yếu tố giá thì còn giảm mạnh hơn, ở mức 5,3% (cùng kỳ năm
2019 tăng 8,5%). Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2020 tăng
3,4% so với cùng kỳ năm 2019. Những mặt hàng thiết yếu đối với cuộc sống như
lương thực, thực phẩm, đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng; nhưng những
mặt hàng như may mặc, phương tiện đi lại, văn hóa phẩm, giáo dục… chịu ảnh
hưởng nặng nề bởi các biện pháp giãn cách xã hội có tốc độ giảm. Cũng trong 6
tháng đầu năm 2020, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm tới 18,1% so với
cùng kỳ năm 2019; doanh thu du lịch lữ hành giảm tới 53,2% - đây là lĩnh vực chịu
tác động nghiêm trọng nhất bởi dịch bệnh COVID-19 và từ việc thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội. -
Đối với yếu tố cung, đại dịch COVID-19 làm đứt gãy chuỗi cung ứng đầu
vào và lao động. Các doanh nghiệp rất khó để tiếp cận với khác hàng. Chẳng hạn,
trong ngành dệt may, da giày, quý I/2020, dịch bệnh ở các nước Châu Á bùng phát
và lây lan nhanh chóng làm đứt nguồn cung nguyên liệu từ các quốc gia như Nhật
Bản và Hàn Quốc. Sang đến quý II/2020, đại dịch lan tràn sang phần lớn các nước
Châu Âu, một loạt các doanh nghiệp thu mua bị đóng cửa và làm đứt gãy nguồn
bán. Nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có chuyên gia người nước
ngoài và người lao động nước ngoài chịu tác động nặng nề từ COVID-19 khi
nguồn cung lao động bị thiếu. Chi phí sử dụng lao động trong thời kỳ này cũng cao
hơn khi các doanh nghiệp phải đầu tư thêm khẩu trang, nước sát khuẩn, thực hiện
các biện pháp an toàn trong lao động để tránh lây nhiễm vi-rút.
- Tác động của dịch COVID-19 làm cho các hoạt động kinh doanh bị gián
đoạn, hoặc không thể tiếp tục sản xuất, kinh doanh. Như vậy doanh
nghiệp không có doanh thu, dòng tiền vào doanh nghiệp đang bị hạn chế.
Trong khi đó vẫn phải chi ra 1 khoản để trả cho công nhân, máy móc, nhà
xưởng, … khiến cho dòng tiền không đủ để xoay vòng vốn. 2. Hành vi:
- Từ thực trạng xã hội như vậy, các doanh nghiệp đã có những hành vi
trong sản xuất kinh doanh theo xu hướng khắc phục và cầm cự để vượt
qua đại dịch chờ thời cơ tái sản xuất.
- Đầu năm 2020, khi dịch bệnh bùng phát, các nguồn cung từ bên ngoài đứt
gãy dẫn đến việc làm ít và chúng ta thấy rõ nhất hành vi của doanh nghiệp
đó là cắt giảm số lượng lao động, cho lao động tạm nghỉ không lương hay
giảm lương, giảm thưởng. Việc cắt giảm nhân công trong hoạt động sản
xuất kinh doanh không phải là hiếm nhưng chưa bao giờ và chưa lúc nào
nhiều như bây giờ. Việc cắt giảm nhân công là một cách làm để giảm
thiểu chi phí kế toán cho doanh nghiệp. Giả định một doanh nghiệp có
tổng số công nhân trên 1000 người thì ước tính số tiền phải trả cho công
nhân sẽ lên đến hàng tỷ đồng cộng với việc phải đóng bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế cho người lao động sẽ là một khoản tiền khổng lồ không
thể chi trả trong tình hình mà nhu cầu thị trường đang giảm, quy mô hoạt
động sản xuất không tăng, doanh thu không tăng và lợi nhuận giảm.
Chính vì thế khi giảm lương và thưởng doanh nghiệp có thể tiết kiệm một
khoản dự trữ để ổn định tổ chức và tìm cách xoay vòng vốn khi các đơn hàng trở lại.
- Nhiều doanh nghiệp do không thể kham nổi các loại chi phí nhân công,
nhà xưởng mà đã phải đóng cửa, tuyên bố phá sản. Do vậy muốn trụ
vững, bắt buộc các doanh nghiệp phải giảm các hoạt động sản xuất xuống
mức thấp. Thực hiện lệnh giãn cách của Chính phủ, một số doanh nghiệp
sản xuất phải đổi ca kíp, hạn chế số lượng công nhân trong một ca làm để
tránh tiếp xúc giữa các công nhân. Chúng ta vẫn còn nhớ khi làn sóng
dịch bệnh lần thứ 3 bùng phát ở xí nghiệp ở Hải Dương và bây giờ là Bắc
Giang, các khu công nghiệp trở thành ổ dịch với hàng ngàn lao động.
Chính vì vậy, để ổn định sản xuất, các doanh nghiệp phải đầu tư mua đồ
bảo hộ cho công nhân, khẩu trang y tế hay nước sát khuẩn.
- Trong tình hình dịch bệnh chúng ta cũng ghi nhận những ứng phó rất linh
hoạt của một số doanh nghiệp. Khi dịch bắt đầu bùng phát đầu năm 2020,
nhu cầu về khẩu trang là vấn đề nóng. Người người, nhà nhà đổ xô đi
mua khẩu trang dẫn đến tình trạng cầu vượt cung, giá khẩu trang bị đẩy
lên quá cao trong khi không có đủ hàng để bán. Trước tình hình đó, một
số công ty may mặc như CTCP Đầu tư và Thương mại TNG đã tận dụng
những nguyên liệu sẵn có như vải nano kháng khuẩn, trang thiết bị và
nhân công để may khẩu trang vải. Sau khi trình và được Bộ Y tế kiểm
định, cấp chứng chỉ, khẩu trang của TNG đã được bán trên thị trường,
thâm chí là xuất khẩu. Không chỉ dừng lại ở đó, công ty còn chuyển sang
may các đồ bảo hộ y tế cho bác sĩ, những người đang ở tuyến đầu chống
dịch. Từ nắm bắt được xu hướng thị trường, doanh nghiệp đã chuyển
mình rất nhanh để thích ứng, các hoạt động sản xuất không bị gián đoạn
dẫn đến sản lưởng không giảm quá nhiều và vẫn đem lại doanh thu và lợi
nhuận cho doanh nghiệp. Đó là lí do vì sao mà theo công bố mới nhất, kết
quả kinh doanh tháng 5 của TNG với doanh thu tiêu thụ đạt 468.5 tỷ
đồng, tăng 31% so với cùng kỳ năm 2020, đồng thời vượt 4% kế hoạch đề
ra. Trong đó, doanh thu xuất khẩu vẫn đóng góp lớn nhất trong tỷ
trọng doanh thu của TNG, chiếm 98.2%.
- Tuy nhiên, một số ngành hàng như đồ uống – nước giải khát lại xuất hiện
tình trạng cung vượt cầu đặc biệt doanh thu của mặt hàng đồ uống có cồn
sụt giảm nghiêm trọng. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính từ đầu
năm 2020 đến nay năng lực sản xuất của nhóm doanh nghiệp đồ uống
hiện nay hiện hoạt động ở mức dưới 80% so với trước đại dịch. Trong khi
hơn 50% khách hàng đã chi tiêu nhiều hơn cho các thực phẩm tăng cường
sức đề kháng và hệ miễn dịch… thì có đến 63,7% khách hàng đã cắt giảm
chi tiêu cho bia, rượu (Theo Tạp chí Doanh nhân tháng 9/2020). Điển
hình là Tổng Công ty Cổ phần Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn
(Sabeco) báo cáo lợi nhuận âm trong quý I và và quý II/2020, tuy nhiên
sang quí III/2020 tình hình kinh doanh đã sáng sủa hơn. Tính chung cả
năm 2020, doanh thu thuần của Sabeco đạt 27.961 tỷ đồng, giảm 26,2%
so với năm trước; lợi nhuận sau thuế đạt 4.937 tỷ đồng, giảm 8,1%. Xu
hướng thị trường, người tiêu dùng đang hướng đến những thực phẩm tăng
cường sức khỏe, tăng cường hệ miễn dịch. Do đó các sản phẩm từ sữa
đang có xu hướng cạnh tranh cao như Vinamilk, TH True Milk,
Nutriboost,….. Chính vì thế các doanh nghiệp nước giải khát muốn bán
được sản phẩm buộc phải giảm giá thành sản phẩm và đẩy mạnh
marketing để bán được hàng song song với đó là nghiên cứu sản phẩm
mới hợp với thị trường.
- Việc đứt gãy các nguồn cung từ thị trường Trung Quốc, Nhật Bản hay
Hàn Quốc khiến cho các doanh nghiệp thời gian đầu buộc phải dự trữ
hàng hóa nguyên vật liệu tránh cho việc không tìm được nguồn cung, sau
đó đi tìm các nguồn cung khác. Trong khi lệnh đóng cửa biên giới vẫn
đang có hiệu lực ở nhiều quốc gia thì các nguồn cung trong nước đang
được ưa chuộng. Việc chuyển hướng về phái thị trường nội địa vừa đảm
bảo nguồn cung cho doanh nghiệp, vừa kiểm soát được chất lượng đầu
vào và cũng là điểm sáng cho thị trường trong nước.
- Trước tình hình khó lường của đại dịch, nhiều doanh nghiệp đã linh hoạt
chọn áp dụng những cách làm mới như giao dịch điện tử, sử dụng dịch vụ
giao hàng tận nhà, các dịch vụ trên nền tảng mạng xã hội được đẩy mạnh.
Chúng ta có thể nhìn thấy rõ nhất điều đó ở các doanh nghiệp kinh doanh
dịch vụ nhà hàng, hàng quán đó là việc không thể tập trung đông người
thì họ chi tiền để đẩy mạnh quảng cáo, các nhân viên thường phục vị tại
quán thì nay chuyển sang giao hàng tận nơi cho khách. Hoặc các chủ nhà
hàng sẽ liên kết với các công ty giao hàng như Nowship, Grab hay
Bemeen để giao hàng vì trên các nền tảng này thường có một lượng
khách hàng đông đảo. Từ những chỉ thị giãn cách xã hội, tâm lý chung
của người tiêu dùng đó là mua sắm online, không tụ tập nhiều ở các hàng
quán như trước vì vậy việc đẩy mạnh các hoạt động mua bán trực tuyến
sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng hơn với người tiêu dùng. Điều này
giúp tiết kiệm chi phí thuê lao động cho doanh nghiệp, vừa giảm thiểu
thời gian đi lại cho người tiêu dùng.
- Trong khi phần lớn các ngành doanh nghiệp đều chịu nhiều tổn thất thì
đây lại là cơ hội cho các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm, các thiết bị
y tế phát triển. Sự bùng phát của đại dịch khiến cho nhu cầu về dược
phẩm tăng đột biến với các dòng thuốc tăng cường sức đề kháng. Các
bệnh viện và cả khách hàng cá nhân đều có nhu cầu tích trữ thuốc để
phòng dịch. Đối với các doanh nghiệp thuộc ngành vật tư y tế, việc sản
xuất, cung cấp các trang thiết bị y tế, các dụng cụ bảo hộ trong thời gian
dịch bệnh Covid-19 diễn ra đã góp phần tăng doanh thu đáng kể cho các
doanh nghiệp này, thậm chí có những doanh nghiệp doanh thu thuần và
lợi nhuận tăng trưởng ba con số so với cùng kỳ năm 2019. Theo tổng hợp
của Vietstock, trong quý III/2020, 18 doanh nghiệp Dược niêm yết trên
sàn chứng khoán đã tạo ra gần 8.796 tỷ đồng doanh thu thuần và 530 tỷ
đồng lãi ròng, lần lượt giảm 4,9% và tăng 7,6% so với cùng kỳ.
III. Các kiến nghị giải pháp giảm thiểu tác động của Covid-19 đến các doanh nghiệp
1. Tận dụng các chính sách hỗ trợ của chính phủ:
- Khi các doanh nghiệp gặp khó khăn nghĩa là nền kinh tế sẽ gặp bất ổn vì
vậy Chính phủ phải ngay lập tức vào cuộc với những chính sách hỗ trợ
hết sức hấp dẫn. Nắm bắt được thời cơ này, các doanh nghiệp đã và đang
tiếp cận rất tốt với các chính sách hỗ trợ này như chỉ thị số 11/CP – TTg
ngày 4/3/2020 VỀ CÁC NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CẤP BÁCH THÁO
GỠ KHÓ KHĂN CHO SẢN XUẤT KINH DOANH, BẢO ĐẢM AN
SINH XÃ HỘI ỨNG PHÓ VỚI DỊCH COVID-19. Đây là những cơ hội
thuận lợi để doanh nghiệp ổn định sản xuất, tái sản xuất và xoay vòng vốn
để thực hiện những đơn hàng mới.
- Hiện nay, có 4 gói chính sách lớn để hỗ trợ doanh nghiệp là gói hỗ trợ tín
dụng 250 nghìn tỷ đồng, gói hỗ trợ an sinh xã hội 62 nghìn tỷ đồng, gói
hỗ trợ thuế phí 180 nghìn tỷ đồng, gói hỗ trợ trả lương lao động 16 nghìn
tỷ đồng. Trong đó, gói chính sách gia hạn về thuế được tiếp cận nhiều
nhất lần đầu tiên là nghị định 41/2020/NĐ-CP về gia hạn nộp thuế và tiến
thuê đất và năm nay là Nghị định 52/2021/NĐ-CP ngày 19/4/2021 gia
hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế
thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2021. Nếu như Nghị định 41
được cho là chưa thực sự hiệu quả vì thời gian năm 2020, đa phần các
doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản do gánh nặng chi phí đến từ nợ
lương, nợ máy móc, nhà xưởng mà việc gia hạn nộp thuế lại dồn tiền thuế
phải nộp về một thời điểm cho nên nó chưa thực sự hiệu quả. Nhưng đến
nghị định 52, lúc này nền kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi và các doanh
nghiệp đã có những bước tiến mới về sản xuất, hơn nữa nghị định 52 đã
mở rộng đối tượng tiếp cận không chỉ những doanh nghiệp bị tác động
nặng nề bởi dịch bệnh Covid-19 như bán lẻ, logistics, du lịch mà kể cả
những DN bị tác động ít hơn như khai khoáng... cũng được thụ hưởng.
Các doanh nghiệp tiếp cận nhiều với chính sách thuế vì điều kiện áp dụng
dễ dàng, chính sách thuế sẽ giúp cho các doanh nghiệp có thêm nguồn lực
tài chính duy trì và khôi phục sản xuất, góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cả năm 2021.
- Mặc dù chính sách vay tín dụng 0% để trả lương cho lao động nhận được
nhiều kì vọng tuy nhiên đây lại là chính sách doanh nghiệp khó tiếp cận
nhất vì điều kiện để vay quá khắt khe. Đơn cử, doanh nghiệp phải khó
khăn về tài chính, không cân đối đủ nguồn để trả lương cho người lao
động, do ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Sau đó, nhằm giúp doanh
nghiệp vay được gói tín dụng ưu đãi trên để trả lương cho người lao động,
giữa tháng 10 năm ngoái, Thủ tướng đã ban hành quyết định 32 sửa đổi
quyết định 15, nới lỏng các điều kiện vay vốn. Cụ thể, để được vay vốn
ưu đãi của gói này, doanh nghiệp phải đáp ứng một trong những điều kiện
là doanh thu quý 1-2020 giảm 20% trở lên so với quý 4-2019, hoặc doanh
thu quý liền kề khi xét vay giảm 20% so với quý cùng kỳ năm 2019.
- Từ những phân tích trên, các giải pháp mà Chính phủ có thể thực hiện
trong năm 2021 để giảm các tác động tiêu cực đối với nền kinh tế và
doanh nghiệp đó là: Chính phủ có thể tiếp tục thực hiện những chính sách
giãn, gia hạn nộp thuế; cắt giảm các chi phí về thủ tục hành chính vì đối
với cắt giảm chi phí thủ tục tài chính Nhà nước không cần phải sử dụng
nguồn lực từ bên ngoài mà đối tượng thụ hưởng lớn từ doanh nghiệp nhỏ
đến doanh nghiệp lớn. Chính phủ phải nỗ lực đưa các chính sách đến gần
hơn với các doanh nghiệp vì không phải chính sách nào cũng có thể tiếp
cận với các doanh nghiệp, hạn chế các rào cản.
- Chính phủ có thể đưa ra các chính sách về hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới
sáng tạo, bổ sung các gói hỗ trợ phục hồi giai đoạn 2021-2025. Trong các
doanh nghiệp hiện nay, chi phí trả cho đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã
hội cho lao động là rất lớn cho nên Chính phủ có thể đưa ra các gói chính
sách để giảm hoặc gia hạn thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho doanh nghiệp.
2. Sáng tạo mới của chính doanh nghiệp:
- Các doanh nghiệp có thể tận dụng nguồn lao động và nguồn vốn sẵn có
hoặc nguồn vốn được hỗ trợ cùng với nắm bắt nhu cầu thị trường để
chuyển đổi cơ cấu doanh nghiệp, tái cấu trúc doanh nghiệp. Tuy nhiên
việc này cũng có những khó khăn nhất định vì hiện tại một số doanh
nghiệp với nguồn vốn không ổn định thì không đủ lực để tái cấu trúc hơn
nữa khi chuyển hướng thì việc tổ chức lại cơ cấu trong doanh nghiệp
cũng là một vấn đề được đặt ra. Đây là một bài toán cần thời gian và
nguồn lực lâu dài không thể làm trong một sớm một chiều.
- Những tác động của dịch khiến cho việc chuyển đổi công nghệ số của
Việt Nam tăng mạnh hơn bao giờ hết. Khoảng cách công nghệ của Việt
Nam với các nước trên thế giới đã được thu hẹp lại rất nhiều. Doanh
nghiệp nên tận dụng điều này để đẩy mạnh sản xuất đặc biệt là trong khâu
xuất sản phẩm ra thị trường. Chẳng hạn với một số doanh nghiệp gỗ, đặc
thù của ngành này là khách hàng sẽ phải xem xét sản phẩm kĩ trước khi
mua. Khi giãn cách xã hội và hạn chế giao tiếp, đi lại đã tác động đến
doanh số của doanh nghiệp khi không thể trực tiếp làm việc cùng với các
đối tác. Vậy thì họ có thể dùng mạng xã hội để phát trực tiếp các buổi
triển lãm hoặc mở những cuộc họp, cuộc gặp gỡ trực tuyến để đưa sản
phẩm đến với khách hàng mà không phải ra showroom.
- Một trong những giải pháp mà các doanh nghiệp có thể lựa chọn đó là
việc cùng nhau hợp tác. Doanh nghiệp trong ngành này có thể hợp tác với
doanh nghiệp trong ngành khác để cùng nhau sản xuất đưa ra thị trường
các sản phẩm đa dạng ví dụ như ngành gỗ có thể kết hợp với các hãng mỹ
phẩm để thiết kế những mẫu hộp đựng bằng gỗ vừa tạo thiết kế mới lạ
cho sản phẩm vừa giúp cho sản phẩm thân thiện với môi trường và không lãng phí nguồn lực.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh cũng là một khía cạnh đáng quan tâm vì
trên thị trường hiện nay, những doanh nghiệp nước ngoài đang có thị
phần lớn. Như trong ngành thời trang các hãng thời trang nước ngoài như
… chiếm ưu thế lớn và việc cạnh tranh của các doanh nghiệp cũng gặp
khó khăn. Vì vậy chúng ta cần phải đa dạng sản phẩm, mẫu mã với giá
thành phải chăng sẽ níu chân được người tiêu dùng. C. Kết luận: