TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: KINH TẾ VĨ MÔ 1
Giáo viên hướng dẫn: Trần Kim Anh
Nhóm thực hiện: Nhóm 3
Mã lớp học phần: 2312MAEC0111
HÀ NỘI 2023
ĐỀ TÀI: Tác động của dịch covid-19 đến việc làm, thất
nghiệp ở Việt Nam.
DANH SÁCH THÀNH VIÊN
ST
T
Họ và tên Mã SV Nhiệm vụ Điểm Chữ ký
Nguyễn Thị Kim
Chi
(nhóm trưởng)
22D300029
-Việt Nam trong
giai đoạn dịch
covid-19 bùng nổ
(2020-nửa đầu
năm 2022)
Nguyễn Đức Du 22D300031 -Thuyết trình
Vũ Thị Hồng
Duyên
-Powerpoint
Khúc Tiến Đạt 22D300040 -Powerpoint
Hoàng Thạch
Minh Dũng 22D300036
-Lời mở đầu
-Tính cấp thiết của
đề tài
-Cơ sở lí thuyết
Phan Thùy
Dương
-Việt Nam giai
đoạn hiện nay
Phạm Tiến Đạt 22D300043 -Tổng hợp word
Nguyễn Hữu Duy
-Việt Nam trước
khi dịch covid-19
bùng nổ (2017-
2019)
Nguyễn Anh Đức 22D300035 -Tổng kết
Nguyễn Duy Đạt -Thuyết trình
Bùi Quang Trung
-Việt Nam trong
giai đoạn dịch
covid-19 bùng nổ
(2020-nửa đầu
năm 2022)
1
MỤC LỤC
DANH SÁCH THÀNH VIÊN............................................................................1
MỤC LỤC............................................................................................................2
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................3
NỘI DUNG...........................................................................................................4
I. Cơ sở lý thuyết..............................................................................................4
1.1 Lao động và việc làm.............................................................................4
1.2 Thất nghiệp............................................................................................4
II. Sự tác động của dịch Covid-19 đến việc làm và thất nghiệp ở Việt Nam
...........................................................................................................................6
2.1 Việt nam trước khi dịch covid-19 bùng nổ (2017-2019).....................6
2.2. Việt Nam trong giai đoạn dịch covid-19 bùng nổ (2020- 2022)......11
2.3. Việt Nam giai đoạn hiện nay.............................................................17
III. Tổng kết:.............................................................................................26
3.1. Kết luận tác động của Covid-19 đến việc làm và thất nghiệp ở Việt
Nam:............................................................................................................26
3.2. Giải pháp:...........................................................................................28
KẾT LUẬN........................................................................................................30
DANH MỤC THAM KHẢO ...........................................................................31
2
LỜI MỞ ĐẦU
Trước khi bước vào bài thảo luận, nhóm 3 chúng em xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến Trường Đại học Thương Mại. Đặc biệt, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
đến giảng viên bộ môn kinh tế cô Trần Kim Anh đã truyền đạt cho chúng em
những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập vừa qua. Trong thời gian tham
gia lớp học của cô, chúng em đã thêm cho mình rất nhiều kiến thức bổ ích, những
kiến thức ấy đã giúp chúng em hiểu rõ hơn về cách thức vận hành của nền kinh tế cũng
như các vấn đề kinh tế cấp thiết cần phải giải quyết trong tương lai. Đây chắc chắn sẽ
là những kiến thức quý báu, là hành trang để chúng em có thể vững bước sau này.
* Tính cấp thiết của đề tài
Đại dịch Covid-19 được biết đến một trong những dịch bệnh nguy hiểm nhất
nhân loại từng phải trải qua. Dịch bệnh đã ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu, gây
gián đoạn chuỗi cung ứng sản phẩm hàng hóa của thế giới, đình trệ trong sản xuất -
kinh doanh, làm nền kinh tế của nhiều quốc gia bị suy thoái trầm trọng, trong đó
Việt Nam. Việt Nam là một quốc gia đang trên đà phát triển mạnh mẽ, đại dịch đã làm
ảnh hưởng tiêu cực đến tốc độ phát triển của nước ta đồng thời gây ra nhiều hệ lụy
nghiêm trọng. Trong giai đoạn hậu Covid-19 này, Nhà nước cần phải đưa ra phương
hướng giải quyết triệt để những vấn đề vẫn còn đang tồn đọng làm ảnh hưởng tới nền
kinh tế, chất lượng cuộc sống của nhân dân, đặc biệt vấn đề về việc làm thất
nghiệp ở nước ta.
Việc thực hiện đề tài nghiên cứu “Tác động của dịch bệnh Covid-19 đến việc
làm thất nghiệp Việt Nam” ý nghĩa về mặt luận thực tiễn, nguồn
liệu quan trọng nhằm cung cấp luận cứ khoa học. Nghiên cứu đề tài này sẽ giúp chúng
ta nhìn được một cách ràng hơn tác động của dịch bệnh tới vấn đề việc làm của
người dân. Từ đó nhằm đưa ra những biện pháp hiệu quả để giải quyết vấn đề này,
giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động đồng thời góp phần vào việc
phục hồi nền kinh tế nước ta sau đại dịch.
3
NỘI DUNG
I. Cơ sở lý thuyết
1.1 Lao động và việc làm
1.1.1 Khái niệm
- Trong kinh tế học, lao động được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người tạo
ra, một dịch vụ hay hàng hóa, hoạt động mục đích của con người nhằm tác
động, biến đổi các vật chất tự nhiên thành những vật phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu sinh
tồn của con người. Lao động là sử dụng sức lao động để tạo ra thứ gì đó.
- Việc làm hay công việc là một hoạt động được thường xuyên thực hiện để đổi
lấy việc hoặc tiền công, thường là nghề nghiệp của một người.thanh toán
1.1.2 Vai trò của lao động và việc làm đối với nền kinh tế
- Lao động nguồn lực sản xuất chính, không thể thiếu được trong các hoạt
động kinh tế
- Lao động là tiền đề để xã hội phân công, tổ chức, chuyên môn hóa từng ngành
nghề nhằm đạt năng lượng, hiệu quả, năng suất cao hơn
- Việc làm nhân tố tạo nên thu nhập tăng trưởng kinh tế. Nền kinh tế phải
đảm bảo tạo cầu việc làm cho từng cá nhân để duy trì mối quan hệ hài hòa giữa kinh tế
và việc làm
1.2 Thất nghiệp
1.2.1 Khái niệm liên quan và đo lường thất nghiệp
- Khái niệm:
+ Lực lượng lao động: gồm những người sẵn sàng và có khả năng lao động
+ Thất nghiệp thuật ngữ chỉ nhóm người thuộc lực lượng lao động nhưng hiện tại
vẫn chưa có việc làm.
- Để đo lường thất nghiệp trong nền kinh tế, thường sử dụng một số chỉ tiêu
sau:
+ Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm lực lượng lao động bị thất nghiệp
Tỷ lệ thất nghiệp(%) =
số người thất nghiệp
lựclượng lao động
* 100(%)
+ Tỷ lệ tham gia lực lượng lao độngtỷ lệ phần trăm dân số người lớn nằm trong
lực lượng lao động
4
Tỷ lệ tham gia LLLĐ(%) =
lựclượng laođộng
dân số người lớn
* 100(%)
1.2.2 Phân loại thất nghiệp
- Phân loại theo nguyên nhân:
+ Thất nghiệp tự nhiên là mức thất nghiệp thông thường của mọi nền kinh tế. Loại thất
nghiệp này sẽ không mất đi gần như luôn tồn tại trong hội, ngay cả khi thị
trường lao động bình ổn nó cũng không hề biến mất.
+ Thất nghiệp chu kỳ mức thất nghiệp tương ứng với từng giai đoạn trong chu kỳ
kinh tế. Nguyên nhân sinh ra loại thất nghiệp này do trạng thái tiền lương cứng
nhắc. Nó dạng thất nghiệp không tồn tại vĩnh viễn, sẽ biến mất nếu đủ điều kiện
tiên quyết.
- Phân loại theo lý do:
+ Mất việc: Nhân sự bị doanh nghiệp cho thôi việc một lý do nào đó và rơi vào tình
trạng thất nghiệp.
+ Bỏ việc: hình thức thôi việc do bản thân nhân sự đó điều không hài lòng với
đơn vị làm việc của mình nên chủ động xin thôi việc.
+ Nhập mới: lao động mới của thị trường đang tìm việc làm
+ Tái nhập: lao động đã rời khỏi thị trường trước đó, hiện muốn đi làm trở lại nhưng
chưa có được vị trí thích hợp.
1.2.3 Nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp
- Nhân lực không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng
- Công việc không đem lại được giá trị phù hợp với sức lao độngngười lao
động bỏ ra
- Do thực trạng “thừa thầy thiếu thợ” ở nước ta.
- Thiếu định hướng nghề nghiệp ngay từ ban đầu, chạy theo xu hướng, chạy
theo số đông
- Do người lao động còn thụ động, không chủ động trong việc tìm việc làm…
1.2.4 Tác động của thất nghiệp đến nền kinh tế - xã hội
- Thứ nhất, thất nghiệp tác động đến sự tăng trưởng kinh tế. Thất nghiệp xảy ra
đồng nghĩa với việc nhân công đang bị lãng phí chưa được sử dụng một cách triệt để.
5
Thất nghiệp tăng cao cũngdấu hiệu của suy thoái kinh tế nguyên nhân dẫn tới
lạm phát.
- Thứ hai, thất nghiệp gây ảnh hưởng tiêu cực đến hội. Tình trạng thất
nghiệp kéo dài sẽ sinh ra tâm lý bất mãn đối với người thất nghiệp dẫn tới những cuộc
biểu tình, tỉ lệ trộm cắp, những công việc vi phạm pháp luật cũng tăng cao.
- Thứ ba, ảnh hưởng đến đời sống của người lao động. Không việc làm
đồng nghĩa họ không thu nhập, không tiền trong tay dẫn tới chất lượng cuộc
sống sẽ giảm.
II. Sự tác động của dịch Covid-19 đến việc làm và thất nghiệp ở Việt Nam
2.1 Việt nam trước khi dịch covid-19 bùng nổ (2017-2019)
2.1.1. Tổng quan nền kinh tế
* Năm 2017
So với năm 2016 tăng trưởng không như kỳ vọng, năm 2017, kinh tế Việt Nam cho
thấy một dấu hiệu khởi sắc hơn với mức tăng trưởng cả năm 2017 đạt 6,81%, vượt chỉ
tiêu do Quốc hội đề ra.
Biểu đồ: Diễn biến tăng trưởng GDP Việt Nam theo quý trong năm 2016 - 2017 (%)
Quy nền kinh tế năm 2017 theo giá hiện hành đạt 5.007,9 nghìn tỷ đồng;
GDP bình quân đầu người ước tính đạt 53,5 triệu đồng, tương đương 2.385 USD, tăng
170 USD so với năm 2016. Không chỉ tăng trưởng GDP, báo cáo của Bộ Kế hoạch
Đầu cho biết, lần đầu tiên sau nhiềum, cả 13 chỉ tiêu kinh tế -hội đều đạt
và vượt mục tiêu đề ra. Thậm chí, năm 2017 còn được coi là năm của những kỷ lục:
- Lạm phát toàn phần trong cả năm 2017 nhìn chung suy giảm mạnh mẽ(3,35%,
thấp hơn mục tiêu đề ra), mặc sự gia tăng trong hai tháng 8 9 do yếu tố mùa
vụ. Điều này trái ngược hoàn toàn với xu thế gia tăng liên tục trong năm 2016.
6
- Trong nhiều năm qua, bên cạnh những điểm sáng về tăng trưởng kinh tế
lạm phát, nền kinh tế vẫn tồn tại một số hạn chế lớn thể gây tác động tiêu cực đến
ổn định kinh tế mô. Một trong số đó đến từ việc ngân sách nhà nước (NSNN) tiếp
tục bội chi trong nhiều m. Tuy nhiên, năm 2017, Bộ Tài chính đã hoàn thành vượt
mức dự toán thu NSNN.
- Chính sách tiền tệ trong năm 2017 tiếp tục được thực hiện một cách chặt chẽ
linh hoạt. Dự trữ ngoại hối liên tục tăng cao, đạt 51,5 tỷ USD (trên 2,7 tháng nhập
khẩu) vào cuối năm 2017 tạo thêm không gian chính sách cho Ngân hàng Nhà nước
(NHNN) can thiệp o thị trường. Bên cạnh đó, lượng kiều hối tăng trưởng ổn định
cũng hỗ trợ cho việc ổn định tỷ giá. Nhờ vào đó, NHNN thêm không gian để tiếp
tục duy trì nới lỏng tiền tệ, giảm lãi suất nhằm thúc đẩy kinh tế.
- Số lượng doanh nghiệp mới thành lập cũng kỷ lục với 126.859 doanh
nghiệp.
- Tổng vốn đầu toàn hội thực hiện năm 2017 theo giá hiện hành ước tính
đạt 1.667,4 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với năm 2016 và bằng 33,3% GDP
* Năm 2018
GDP cả năm 2018 tăng 7,08%, mức tăng cao nhất kể từ năm 2008 trở về đây
điểm nhấn nổi bật trong bức tranh tổng quan kinh tế nước ta năm 2018 (năm 2016 tăng
6,21%
- Trong năm 2018, cả nước có 131,3 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới
với tổng vốn đăng ký là 1.478,1 nghìn tỷ đồng
7
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2018 ước tính
đạt 1.272,5 nghìn tỷ đồng, bằng 96,5% dự toán năm. Tổng chi ngân sách Nhà nước từ
đầu năm đến thời điểm 15/12/2018 ước tính đạt 1.272,1 nghìn tỷ đồng, bằng 83,5% dự
toán năm.
* Năm 2019
- Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
Tăng trưởng GDP năm 2019 đạt 7,02%, vượt mục tiêu Quốc hội đề ra từ 6,6 -
6,8%, khẳng định tính kịp thời hiệu quả của các giải pháp được Chính phủ ban
hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương và ng đồng doanh
nghiê p cùng nỗ lực thực hiện để đạt vượt mục tiêu tăng trưởng. Trong đó, khu vực
nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,01%, đóng góp 4,6% vào mức tăng trưởng chung;
khu vực công nghiệp xây dựng tăng 8,9%, đóng góp 50,4%; khu vực dịch vụ tăng
7,3%, đóng góp 45%. Vềcấu kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp thủy sản chiếm
tỷ trọng 13,96% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,49%; khu vực dịch
vụ chiếm 41,64%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,91%.
- Ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì
Với những lo ngại về sự bất ổn của thị trường hàng hóa, các rủi ro trong biến động
kinh tế thế giới điều chỉnh chính sách giá trong nước, nhiều tổ chức quốc tế
trong nước đều cho rằng, áp lực lạm phát năm 2019 tương đối lớn, mục tiêu kiểm
soát lạm phát mức 4% khó khả thi. Tuy nhiên CPI bình quân cả năm 2019 tăng
2,79% - thấp nhất trong 3 năm qua. Lạm phát cơ bản bình quân tăng 2,01% so với bình
quân cùng kỳ năm 2018 cao nhất kể từ tháng 01/2016. Lạm phát bản xu
hướng tăng mạnh, đặc biệt trong tháng cuối năm có khả năng tạo sức ép lạm phát tăng
8
cao trong quý I/2020, nhất trong bối cảnh giá thực phẩm giá xăng dầu trên thế
giới đang có xu hướng tăng.
Mặt bằng lãi suất huy động, cho vay tiếp tục được duy trì ổn định trong năm 2019
và có chiều hướng giảm.
- Chính sách tài khóa được điều hành theo hướng chặt chẽ, hiệu quả
Với mục tiêu điều hành chặt chẽ, kỷ luật, kỷ cương, công tác quản lý thu ngân sách
nhà nước (NSNN) đã được triển khai chủ động theo hướng: Chủ động rà soát để trình
cấp có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các chính sách về thu
ngân sách phù hợp với tình hình thực tế các cam kết hội nhập quốc tế; Quyết liệt
triển khai các giải pháp quản thu, chống thất thu; thường xuyên tổ chức giao ban
giữa các quan chức năng để xử kịp thời các vấn đề phát sinh, đề xuất các giải
pháp quản hiệu quả hơn đối với các lĩnh vực, địa n số thu còn tồn đọng lớn;
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại các doanh nghiệp đẩy mạnh các
hoạt động chống chuyển gia, chống buôn lậu gian lận thương mại; đôn đốc thu đủ,
kịp thời số tiền thuế truy thu, phạt chậm nộp vào NSNN; Tiếp tục quản chặt chẽ
công tác hoàn thuế, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm.
Năm 2019, các chỉ tiêu về thu - chi ngân sách cơ bản đảm bảo mục tiêu đề ra. Theo
đó, thu NSNN vượt dự toán, bội chi được kiểm soát, nợ công trong giới hạn an toàn.
Ước tính năm 2019, tổng thu NSNN vượt 3,3% dự toán, tỷ lệ huy động vào NSNN đạt
23,7% GDP, trong đó thu nội địa chiếm khoảng 82%; tỷ trọng chi đầu phát triển
tăng, đạt 26,6%, cao nhất trong giai đoạn 2016 - 2019. Bội chi NSNN khoảng 3,4%
GDP, thấp hơn mức 3,46% của năm 2018. Nợ công giảm còn 56,1% GDP (năm 2018
58,4% GDP), nợ chính phủ khoảng 50% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia khoảng
46% GDP.
Trong năm 2019, chính sách tiền tệ vẫn tiếp tục được điều hành theo hướng nới
lỏng thận trọng nhằm tạo điều kiện tăng trưởng và kích thích cho nền kinh tế. Tính đến
ngày 20/12/2019, tổng phương tiện thanh toán tăng 12,1% so với cuối năm 2018 (cùng
kỳ năm 2018 tăng 11,3%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 12,5% (cùng
kỳ năm 2018 tăng 11,5%); tín dụng tăng trưởng 12,1% (năm 2018 tăng 13,3%).
cấu tín dụng tiếp tục theo hướng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh được
ưu tiên, các dự án lớn trọng tâm, trọng điểm theo chủ trương của Chính phủ nhằm hỗ
trợ có hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế.
2.1.2. Tình hình việc làm và thất nghiệp
* Năm 2017
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước năm 2017 ước tính 54,8 triệu
người, tăng 394,9 nghìn người so với năm 2016; lực lượng lao động trong độ tuổi lao
động ước tính 48,2 triệu người, tăng 511 nghìn người so với năm trước.
9
Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2017 ước tính
53,7 triệu người, tăng 416,1 nghìn người so với năm 2016. Tỷ lệ lao động trong độ
tuổi đã qua đào tạo năm 2017 ước tính đạt 21,5%, cao hơn mức 20,6% của năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2017 2,24%, trong đó khu vực
thành thị 3,18%; khu vực nông thôn 1,78%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động
trong độ tuổi lao động năm 2017 1,63%, trong đó khu vực thành thị 0,85%; khu
vực nông thôn 2,07%. Đáng chú ý, tổng số lao động đăng của các doanh nghiệp
thành lập mới trong năm 2017 là 1.161,3 nghìn người, giảm 8,4% so với năm 2016.
* Năm 2018
Lực lượng lao động trung bình cả nước năm 2018 55,35 triệu người, tăng so với
năm trước 530 nghìn người (0,96%). Lực lượng lao động bao gồm 54,25 triệu người
có việc làm hơn 1,1 triệu người thất nghiệp. Lực lượng lao động của khu vực nông
thôn chiếm 67,4%.
Năm 2018, có hơn ba phần tư (chiếm 76,8%) dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia lực
lượng lao động. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chênh lệch đáng kể giữa namnữ
không đồng đều giữa các vùng. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số khu
vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị.
Tính chung cả năm 2018, tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước ước tính 2,0%, trong
đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị 2,95%; khu vực nông thôn 1,55%. Tỷ lệ
thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2018 2,19%, trong đó khu vực thành thị
là 3,10%; khu vực nông thôn là 1,74%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên năm 2018 ước
tính là 7,06%, trong đó khu vực thành thị là 10,56%; khu vực nông thôn là 5,73%.
* Năm 2019
Tình hình lao động, việc làm năm 2019 của cả nước có sự chuyển biến tích cực, tỷ
lệ thất nghiệp, thiếu việc làm giảm, số người việc làm tăng, thu nhập của người lao
động làm công hưởng lương xu hướng tăng. Chuyển dịch cấu lao động theo
hướng tích cực, lao động trong khu vực nông,m nghiệp thủy sản giảm nhanh, lao
động trong khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số lao động của nền
kinh tế.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước năm 2019 55,8 triệu người,
tăng 417,1 nghìn người so với năm 2018; lực lượng lao động trong độ tuổi lao động
49,1 triệu người, tăng 527,7 nghìn người so với năm trước. Lao động 15 tuổi trở lên
đang làm việc năm 2019 là 54,7 triệu người.
Tính chung năm 2019, tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước ước tính là 1,98%; tỷ lệ thất
nghiệp của lao động trong độ tuổi ước tính 2,16%; tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên
10
(từ 15-24 tuổi) ước tính 6,39%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi năm
2019 ước tính 1,26%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị 0,67%; khu
vực nông thôn là 1,57%.
Tóm lại, trong bối cảnh tình hình thế giới m qua biến động phức tạp, kinh tế
thương mại toàn cầu suy giảm nhưng nhờ sự nỗ lực, quyết tâm cao của cả hệ thống
chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước nên bức tranh kinh tế - hội
Việt Nam năm 2019 đã đạt được những kết quả tích cực trên các lĩnh vực. Nền kinh tế
duy trì đà tăng trưởng cao, đây năm thứ hai liên tiếp trong giai đoạn chiến lược 10
năm nền kinh tế đạt mức tăng trưởng trên 7%, vượt mục tiêu đề ra, quy được mở
rộng với chất lượng ngày càng được cải thiện. Đây tiền đề vững chắc, hy vọng để
bước sang năm 2020 nước ta tiếp tục đạt được những thành tựu mới.
2.2. Việt Nam trong giai đoạn dịch covid-19 bùng nổ (2020- 2022)
2.2.1. Tổng quan nền kinh tế
* Năm 2020:
- Tốc độ tăng trưởng
Kinh tế - xã hội năm 2020 của Việt Nam diễn ra trong bối cảnh dịch Covid-19 bùng
phát mạnh diễn biến khó lường trên phạm vi toàn cầu, đã ảnh hưởng nghiêm trọng
đến hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn duy trì được đà tăng
trưởng với tốc độ thuộc nhóm cao nhất thế giới. Điều này cho thấy tính đúng đắn trong
chỉ đạo, điều hành nhằm khôi phục kinh tế, phòng chống dịch; sự quyết m, đồng
lòng của hệ thống chính trị; sự nỗ lực, cố gắng của người dân cộng đồng doanh
nghiệp để thực hiện hiệu quả mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch, vừa phát triển kinh
tế - xã hội”.
Tăng trưởng GDP năm 2020 đạt 2,91%, Mặc tăng trưởng GDP năm 2020 đạt
thấp nhất trong giai đoạn 2011-2020 nhưng trước những tác động tiêu cực của dịch
Covid-19 thì đó một thành công của nước ta với tốc động thuộc nhóm nước cao
nhất thế giới. Cùng với Trung Quốc Mi-an-ma, Việt Nam một trong ba quốc gia
châu Á mức tăng trưởng tích cực trong năm 2020; đồng thời quy nền kinh tế
nước ta đạt hơn 343 tỷ USD, vượt Xin-ga-po (337,5 tỷ USD) Ma-lai-xi-a (336,3 tỷ
USD), đưa Việt Nam trở thành quốc gia nền kinh tế lớn thứ 4 trong khu vực Đông
Nam Á (sau In-đô-nê-xi-a 1.088,8 tỷ USD; Thái Lan 509,2 tỷ USD và Phi-li-pin 367,4
tỷ USD) (Bộ Tài chính, 2020).
- Các yếu tố của tổng cầu tăng thấp trong những tháng đầu năm do ảnh hưởng của dịch
Covid-19, nhưng xu hướng cải thiện khá rõ nét trong những tháng cuối năm
+ Hoạt động thương mại, dịch vụ
Tính chung cả năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa doanh thu dịch vụ tiêu dùng
đạt 5.059,8 nghìn tỷ đồng, tăng 2,6% so với năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá giảm
1,2%). Theo ngành hoạt động, bán lẻ hàng hóa chiếm 79% tổng mức ngành duy
11
nhất tăng trưởng (tăng 6,8% so với năm trước); dịch vụ lưu trú, ăn uống chiếm 10,1%
tổng mức giảm 13% so với năm trước; du lịch lữ hành chiếm 0,3% tổng mức
giảm 59,5%; dịch vụ khác chiếm 10,6% tổng mức giảm 4%. Mặc tốc độ tăng
của ngành thấp nhất trong giai đoạn 2011 - 2020 nhưng thành công của Việt Nam
trong thực hiện mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch, vừa phát triển kinh tế - hội”.
Trong những tháng cuối m, doanh thu thương mại, dịch vụ tăng cao, đạt 8% trong
quý IV/2020.
+ Hoạt động xuất - nhập khẩu
Năm 2020 một năm khó khăn đối với hoạt động thương mại quốc tế toàn cầu,
trong đó Việt Nam. Tình hình kinh tế - hội thế giới chịu tác động tiêu cực của
dịch Covid-19 dẫn tới sự đứt gẫy một phần thương mại toàn cầu chuỗi cung ứng
sản xuất. Tuy nhiên, do những biện pháp kiểm soát dịch tốt, cũng như những cố gắng
của toàn nền kinh tế, tình hình xuất - nhập khẩu Việt Nam đã dần phục hồi vào cuối
năm. Xuất khẩu duy trì tăng trưởng khá mức 6,5%, nhập khẩu tăng 3,6%, xuất siêu
19,1 tỷ USD - đạt mức kỷ lục từ trước tới nay.
+ Vốn đầu tư toàn xã hội
Vốn đầu toàn hội thực hiện năm 2020 theo giá hiện hành ước
đạt 2.164,5 nghìn tỷ đồng, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước, tương đương
34,4% GDP đạt mục tiêu Quốc hội đề ra (33 - 34% GDP). Mặc tốc độ tăng
thấp nhất trong giai đoạn 2011 - 2020 nhưng xét trong bối cảnh các hoạt động kinh tế -
xã hội bị gián đoạn ảnh hưởng nặng nề, thì đây vẫn là mức tăng khá. Đóng góp chủ
yếu vào việc duy trì ng trưởng của đầu đến từ khu vực nhà nước với các nỗ lực
trong việc tăng tiến độ giải ngân đầu công. Đầu của khu vực nhà nước tăng
14,5% so với cùng kỳ (chiếm 33,7% tổng vốn đầu tư); khu vực ngoài nhà nước
tăng 3,1% (chiếm 44,9%); khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chỉ bằng
98,7% cùng kỳ (chiếm 21,4%).
- Ổn định kinh tếtiếp tục được duy trì, mặt bằng lãi suất có xu hướng giảm, tạo
điều kiện cho sản xuất - kinh doanh
Lạm phát được kiểm soát mức thấp. CPI bình quânm 2020 tăng 3,23% so với
bình quân cùng kỳ, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra là dưới 4%.
Mặt bằng lãi suất năm 2020 xu hướng giảm. Trong năm 2020, Ngân hàng Nhà
nước (NHNN) đã nhiều lần điều chỉnh giảm lãi suất điều hành vào các tháng 3, 5, 8 và
cuối tháng 9. Theo đó, các ngân hàng điều chỉnh lãi suất huy động cho vay theo
hướng giảm, nhưng nhìn chung mặt bằng lãi suất huy động/cho vay trên toàn thị
trường vẫn được duy trì ổn định.
Tỷ giá VND/USD tương đối ổn định (ngoại trừ thời điểm các tháng 2 - 4/2020, do
tác động của dịch Covid-19 bắt đầu bùng phát và thực hiện giãn cách hội). Trên thị
trường ngoại hối chính thức, trong năm 2020, tỷ giá trung tâm được điều chỉnh tăng
12
không đáng kể, mức 23.200 VND/USD vào ngày 31/12/2020, tăng 0,14% so với
cuối năm trước.
- Chính sách tài khóa tiếp tục được điều hành chặt chẽ, hiệu quả, tập trung cho an sinh
xã hội; chính sách tiền tệ được điều hành thận trọng, linh hoạt
+ Chính sách tài khóa
Mặc nguồn thu ngân sách năm 2020 bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19,
trong khi áp lực chi ngân sách gia tăng khi thực hiện các chính sách hỗ trợ để phòng
chống thiên tai, dịch bệnh, song nhờ chủ động trong điều hành n cân đối ngân sách
trung ương ngân sách của các địa phương vẫn được đảm bảo. Tổng thu NSNN tính
đến ngày 15/12 đạt 1.307,9 nghìn tỷ đồng, bằng 86,5% dự toán; trong đó, thu nội địa
đạt 87,1% dự toán; thu từ dầu thô đạt 92,9% dự toán; thu cân đối từ hoạt động xuất -
nhập khẩu đạt 82,8% dự toán.
+ Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ tiếp tục được điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt, thận
trọng, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa các chính sách kinh tế vĩ khác.
Đến cuối năm 2020, tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt khoảng 12,13% (tính đến
ngày 31/12); tổng phương tiện thanh toán ng 13,26% so với cuối năm 2019 (tính tới
ngày 28/12); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 12,87% (tính đến ngày
21/12) (cùng thời điểm năm 2019 tăng 12,48%). Trên sở cân đối, NHNN đặt mục
tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2021 khoảng 12%, gần tương đương với kết quả
tăng trưởng tín dụng của năm 2020 là 12,13%.
* Năm 2021
- Tốc độ tăng trưởng:
GDP quý IV đảo chiều, tăng 5,22% đưa GDP năm 2021 tăng 2,58% làn sóng dịch
Covid-19 bùng phát trở lại từ cuối tháng 4/2021 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời
sống, an toàn của người dân phát triển kinh tế - hội, làm tăng trưởng kinh tế
mức giảm sâu nhất vào quý III. Trước tình hình đó, Đảng Nhà nước đã ban hành
những quyết sách “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19” kịp
thời để phòng, chống dịch phát triển kinh tế -hội. Nhờ đó, các hoạt động kinh tế
- hội quý IV năm 2021 của Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ.
GDP năm 2021 tăng 2,58% so với năm trước (quý I tăng 4,72%; quý II tăng 6,73%;
quý III giảm 6,02%; quý IV tăng 5,22%). Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế,
khu vực nông, lâm nghiệp thủy sản tăng 2,9%, đóng góp 13,97%; khu vực công
nghiệp và xây dựng tăng 4,05%, đóng góp 63,80%; khu vực dịch vụ tăng 1,22%, đóng
góp 22,23%. Đáng chú ý, khu vực dịch vụ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sự bùng
phát trở lại của dịch Covid-19 từ cuối tháng 4/2021. Tăng trưởng âm của một số ngành
dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn đã làm giảm mức tăng chung của khu vực dịch vụ. Cụ thể,
năm 2021, khu vực dịch vụ chỉ tăng 1,22%. Trong đó, ngành bán buôn, bán lẻ giảm
13
0,21% so với năm 2020, làm giảm 0,02 điểm phần trăm tốc độ tăng tổng giá trị tăng
thêm của toàn nền kinh tế; ngành vận tải kho bãi giảm 5,02%, làm giảm 0,3 điểm phần
trăm; ngành dịch vụ lưu trú ăn uống giảm mạnh 20,81%, làm giảm 0,51 điểm phần
trăm.
Tổng cầu quý III sụt giảm do nhiều địa phương kinh tế trọng điểm phải thực hiện
giãn cách hội kéo dài để phòng chống dịch Covid-19, nhưng đã phục hồi vào
những tháng cuối năm
Hoạt động thương mại và dịch vụ
Hoạt động thương mại dịch vụ tiêu dùng quý IV/2021 ng tích cực 28,1% so
với quý trước nhưng cả năm 2021 vẫn giảm so với cùng kỳ năm 2020. Tổng mức bán
lẻ hàng hóa doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt khoảng 4.789,5 nghìn tỷ đồng, giảm
3,8% so với năm 2020, nếu loại trừ yếu tố giá giảm 6,2% (năm 2020 giảm 3%). Trong
đó, bán lẻ hàng hóa tăng 0,2%; dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 19,3%; du lịch lữ hành
giảm 59,9%; dịch vụ khác giảm 16,8%.
Xuất - nhập khẩu
Mặc đà tăng xuất - nhập khẩu trong quý III/2021 đã bị chững lại do ảnh hưởng
của các biện pháp giãn cách xã hội, tuy nhiên trong quý IV/2021 năng lực sản xuất của
các doanh nghiệp đã dần phục hồi góp phần thúc đẩy xuất - nhập khẩu. Kim ngạch
xuất - nhập khẩu năm 2021 đạt mốc 660 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 20 nền kinh
tế hàng đầu về thương mại quốc tế. Xuất khẩu của cả nước đạt khoảng 336,25 tỷ USD,
tăng 19% so với cùng kỳ năm 2020, cao nhất kể từ năm 2018. Xuất khẩu sang các thị
trường EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc đều tăng trưởng tốt trong năm 2021. Nhập khẩu
trong năm 2021 đạt khoảng 332,25 tUSD, tăng 26,5% so với cùng kỳ năm 2020, đây
mức tăng cao nhất trong 5 năm trở lại. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu nhập
khẩu để phục vụ sản xuất xuất khẩu tăng cao, cùng với giá cả hàng hóa thế giới xu
hướng tăng trong nửa đầu năm 2021, đặc biệt giá các loại nguyên, nhiên liệu phục
vụ sản xuất. Suất siêu trong năm 2021 đạt khoảng 4 tỷ USD, tương đương 1,19% kim
ngạch xuất khẩu. Kết quả này tiếp tục đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất siêu 6
năm liên tiếp.
Đầu tư
Vốn đầu toàn hội năm 2021 tăng trưởng thấp do ảnh hưởng của dịch Covid-
19 trong quý III/2021. Đóng góp chính vào tăng trưởng vốn đầu toàn hội đến từ
khu vực ngoài nhà nước. Vốn đầu trực tiếp nước ngoài (FDI) tuy giảm về vốn giải
ngân nhưng vẫn đạt kết quả khả quan về vốn đăng ký, cho thấy niềm tin của nhà đầu
tư nước ngoài. Trong khi đó, giải ngân vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) tiếp
tục chậm tiến độ, ảnh hưởng đến vốn đầu toàn hội đà phục hồi của kinh tế
trong nước. Năm 2021, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành đạt khoảng
2.891,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% so với năm 2020, bao gồm: khu vực nhà nước đạt
713,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 24,7% tổng vốn giảm 2,9%; khu vực ngoài nhà nước
đạt 1.720,2 nghìn tỷ đồng, bằng 59,5% tăng 7,2%; khu vực vốn FDI đạt 458,1
nghìn tỷ đồng, bằng 15,8% giảm 1,1%. Vốn đầu của khu vực nhà nước ng
chậm do giải ngân chậm tiến độ. Ngoài nguyên nhân bị ảnh hưởng bởi tình trạng phải
14
giãn cách xã hội tại nhiều địa phương trong quý III còn do tăng giá nguyên, vật liệu và
các khó khăn đã tồn tại lâu năm như công tác giải phóng mặt bằng, đấu thầu; thủ tục
đầu tư, bố trí vốn; năng lực của chủ đầu tư. Vốn thực hiện từ nguồn NSNN năm 2021
đạt khoảng 423,6 nghìn tỷ đồng, bằng 84,3% kế hoạch năm giảm 8,6% so với năm
trước (năm 2020 bằng 90,5% và tăng 33,6%).
- Ổn định kinh tế tiếp tục được duy trì, mặt bằng lãi suất xu hướng
giảm, tạo điều kiện cho sản xuất - kinh doanh
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2021 tăng 1,84% so với năm 2020 - mức
tăng thấp nhất 5 năm trở lại đây. Trong đó, 4 nhóm hàng hóa dịch vụ chỉ sgiá
giảm 7 nhóm tăng. Đáng chú ý, nhóm giao thông mức giảm nhiều nhất với
1,71%; nhóm may mặc, nón, giầy dép mức tăng cao nhất với 0,22%. Nguyên
nhân làm cho CPI tăng thấp do giá xăng dầu, gas giảm theo giá nhiên liệu thế giới;
dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước làm tổng cầu giảm; học phí
học kỳ I năm học 2021 - 2022 tiếp tục được miễn, giảm tại một số địa phương.
Cuối năm 2021 (ngày 28/12/2021), lãi suất bình quân liên ngân hàng kỳ hạn qua
đêm đang mức 0,81%/năm (ngày 29/12/2021), tăng 0,66%/năm so với cuối năm
2020. Tính chung cả năm 2021, lãi suất liên ngân hàng bình quân kỳ hạn qua đêm
0,75%/năm, giảm 17,95% so với cuối năm 2020.
Lãi suất cho vay, lãi suất ngắn hạn bình quân bằng VND đối với một số ngành lĩnh
vực mức 4,4%/năm. Lãi suất cho vay USD bình quân 3 - 6%/năm. Tính chung cả
năm 2021, mặt bằng lãi suất được giữ ổn định, tạo điều kiện cho lãi suất cho vay giảm
gần 1%/năm.
- Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ được điều hành thận trọng, linh hoạt,
tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, phục hồi sản xuất - kinh doanh
Chính sách tài khóa
Để tiếp tục hỗ trợ người dân doanh nghiệp, trong tháng 12/2021, Bộ Tài chính
ban hành Thông số 120/2021/TT-BTC ngày 24/12/2021, quy định mức thu một số
một số khoản phí, lệ phí nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho đối tượng chịu ảnh hưởng
bởi dịch Covid-19. Theo đó, 37 khoản phí, lệ phí được giảm với mức giảm từ 10 -
50% so với quy định hiện hành, tập trung chính vào các đối tượng bị ảnh hưởng do
dịch Covid-19 như du lịch, xây dựng, vận tải… Đồng thời, Bộ Tài chính đang nghiên
cứu đề xuất gói miễn, giảm thuế hỗ trợ người dân doanh nghiệp trong năm 2022 dự
kiến có quy mô hơn 60.000 tỷ đồng, tăng gấp 3 so với quy mô gói hỗ trợ vừa qua. Lũy
kế đến hết 15/12/2021, thu NSNN đạt 1.438,89 nghìn tỷ đồng, bằng 107,1% dự toán.
Thu nội địa, thu cân đối từ hoạt động xuất - nhập khẩu và thu từ dầu thô vượt dự toán
(thu nội địa là 1.178 nghìn tỷ đồng, đạt 103,9% dự toán). Chi NSNN đạt 1.338,1 nghìn
tỷ đồng, bằng 79,3% dự toán. Do tiến độ chi NSNN thấp hơn tiến độ thu NSNN nên về
tổng thể cân đối NSNN tính đến ngày 15/12/2021 có thặng dư 100,79 nghìn tỷ đồng.
Chính sách tiền tệ
Trong năm 2021, chính sách tiền tệ tiếp tục được điều hành theo hướng nới lỏng,
phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa các chính sách kinh tế khác nhằm
kiểm soát lạm phát hỗ trợ ổn định kinh tế mô, góp phần phục hồi tăng trưởng
15
kinh tế, duy trì ổn định thị trường tiền tệ ngoại hối, đặc biệt trong bối cảnh diễn
biến dịch Covid-19 ngày càng phức tạp. Tính đến ngày 24/12/2021, tín dụng toàn nền
kinh tế tăng khoảng 12,97% so với cuối năm 2020, huy động vốn của các tổ chức tín
dụng tăng 8,44%, tổng phương tiện thanh toán tăng 8,93% so với cuối năm 2020.
*Nửa đầu năm 2022
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
GDP quý II năm 2022 ước tính tăng 7,72% so với cùng kỳ năm trước, cao
hơn tốc độ tăng của quý II các năm trong giai đoạn 2011-2021
GDP 6 tháng đầu năm 2022 tăng 6,42%, cao hơn tốc độ ng 2,04% của 6
tháng đầu năm 2020 tốc độ tăng 5,74% của 6 tháng đầu năm 2021 nhưng thấp hơn
tốc độ tăng 7,28% 6,98% của cùng kỳ năm 2018 2019. Trong mức tăng chung
của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp thủy sản tăng 2,78% (đóng góp
5,07%); khu vực công nghiệp xây dựng tăng 7,70%, (đóng góp 48,33%), trong đó,
ngành công nghiệp chế biến, chế tạo động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với
tốc độ tăng 9,66%; khu vực dịch vụ tăng 6,60%, (đóng góp 46,60%).
Về cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2022, khu vực nông, lâm nghiệp
thủy sản chiếm tỷ trọng 11,05%; khu vực công nghiệp xây dựng chiếm 39,30%;
khu vực dịch vụ chiếm 40,63%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,02%.
Về sử dụng GDP 6 tháng đầu năm 2022, tiêu dùng cuối cùng tăng 6,06% so với
cùng kỳ năm 2021; tích lũy tài sản tăng 3,92%; xuất khẩu hàng hóa dịch vụ tăng
9,10%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 4,41%.
2.2.2. Tình hình việc làm và thất nghiệp
* Năm 2020:
Tình hình lao động, việc làm quý IV/2020 có nhiều dấu hiệu khởi sắc so với quý
trước nhưng do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm tính
chung cả năm 2020 cao hơn năm 2019 trong khi số người có việc làm, thu nhập của
người làm công ăn lương thấp hơn năm trước.
Tại Việt Nam, dịch Covid-19 xuất hiện từ cuối tháng 01/2020 đã gây tác động lớn
đến tình hình sản xuất - kinh doanh và việc làm của người lao động, làm cho tình trạng
tham gia thị trường lao động giảm, thất nghiệp và thiếu việc làm tăng lên, nhất là lao
động có việc làm phi chính thức, lao động không có hợp đồng, lao động có thu nhập
thấp, lao động trẻ tuổi và lao động cao tuổi.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý IV/2020 ước tính là 55,1
triệu người, tăng 563,8 nghìn người so với quý trước và giảm 860,4 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2020, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 54,6
16
triệu người, giảm 1,2 triệu người so với năm trước. Lao động 15 tuổi trở lên đang làm
việc quý IV/2020 ước tính 54 triệu người.
Tính chung năm 2020, tỷ lệ thất nghiệp chung ước tính là 2,26% . Tỷ lệ thất nghiệp
của lao động trong độ tuổi là 2,48% . Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi)
năm 2020 ước tính là 7,1%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính là
2,51% .
*Năm 2021
Tính chung cả năm 2021, trước diễn biến phức tạp và kéo dài của đợt dịch Covid-
19 lần thứ tư khiến tình hình lao động việc làm năm 2021 gặp nhiều khó khăn hơn so
với năm 2020. Lực lượng lao động, số người có việc làm giảm; tỷ lệ thiếu việc làm và
thất nghiệp tăng so với năm trước.
Cụ thể, lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm năm 2021 là 49 triệu người, giảm 1
triệu người so với năm 2020. Trong đó, giảm chủ yếu ở khu vực nông thôn và ở nam
giới. Số lao động có việc làm ở khu vực nông thôn 31,2 triệu người, giảm 1,5 triệu
người và ở nam giới 26,2 triệu người, giảm 729.500 người so với năm trước.
Trong năm 2021, tình hình dịch kéo dài và phức tạp hơn trong năm 2020 khiến hàng
triệu người mất việc, lao động trong các ngành tiếp tục giảm, đặc biệt là khu vực dịch
vụ. Lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng 16,3 triệu người (chiếm 33,2%),
giảm 254,2 nghìn người so với năm trước; khu vực dịch vụ 18,6 triệu người (chiếm
37,9%), giảm 808.000 người so với năm trước; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
14,2 triệu người (chiếm 28,9%), tăng 37.300 người so với năm trước.
Trong năm 2021, số lao động có việc làm chính thức và phi chính thức đều giảm. Số
lao động có việc làm phi chính thức là 19,8 triệu người, giảm 628.000 người, mức
giảm này cao hơn so với mức giảm ở lao động có việc làm chính thức; số lao động có
việc làm chính thức 15,4 triệu người, giảm 469.800 người so với năm 2020.
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2021 hơn 1,4 triệu người, tăng
203.700 người so với năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động 3,22%, tăng
0,54 điểm phần trăm so với năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị 4,42%,
cao hơn 1,94 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh
niên (15 - 24 tuổi) 8,48%, tăng 0,52 điểm phần trăm so với năm trước. Tỷ lệ thất
nghiệp của thanh niên khu vực thành thị 11,91%, tăng 1,33 điểm phần trăm so với năm
trước.
Mặc dù Chính phủ đã có các chính sách chủ động thích ứng linh hoạt trong phòng
chống Covid-19, vừa thực hiện phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội, nhưng tính chung
cả năm 2021, thị trường lao động vẫn gặp nhiều khó khăn với tỷ lệ thất nghiệp năm
nay cao hơn năm trước, trong đó khu vực thành thị vượt mốc 4%.
* Nửa đầu năm 2022
- Lực lượng lao động
17
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên 6 tháng đầu năm 2022 đạt 51,4 triệu người,
cao hơn 0,4 triệu người so với cùng kỳ m trước. Lực lượng lao động khu vực
thành thị 19,1 triệu người, chiếm 37,2% lực lượng lao động; lực lượng lao động nữ
đạt 24,0 triệu người, chiếm 46,8% lực lượng lao động của cả nước.
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 6 tháng đầu năm 2022 68,3%, giảm 0,3 điểm
phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Lực lượng lao động đã qua đào tạo từ trình độ “Sơ cấp” trở n 6 tháng đầu m
2022 ước tính 13,4 triệu người, chiếm 26,1%, không thay đổi so với cùng kỳ năm
trước.
- Lao động có việc làm
Lao động từ 15 tuổi trở lên việc làm trong 6 tháng đầu năm 2022 50,3 triệu
người, tăng 417,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động việc
làm ở khu vực thành thị 18,6 triệu người, tăng 762,0 nghìn người. Lao động nam
26,7 triệu người, chiếm 53,1% tổng số lao động và tăng 286,5 nghìn người, tương ứng
tăng gần 1,1% so với cùng kỳ năm trước và mức tăng lao động nam giới cao hơn gấp 2
lần so với mức tăng này ở lao động nữ (1,1% so với 0,6%).
Lao động việc làm 6 tháng đầu năm 2022 trong khu vực nông, lâm nghiệp
thuỷ sản 13,9 triệu người, (chiếm 27,7%), giảm 27,1 nghìn người so với cùng kỳ
năm trước; khu vực công nghiệp xây dựng là 16,8 triệu người (chiếm 33,4%), tăng
435,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực dịch vụ 19,6 triệu người
(chiếm 38,9%), tăng 8,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức của cả nước trong 6 tháng đầu năm 2022
55,9%, giảm 1,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; xu hướng giảm thể
thấy được cả khu vực thành thị, nông thôn, cả nam giớinữ giới. Tỷ lệ lao động
có việc làm phi chính thức lần lượt47,8% (giảm 0,7 điểm phần trăm), 62,6% (giảm
1,9 điểm phần trăm), 60,3% (giảm 1,0 điểm phần trăm) 50,8% (giảm 1,9 phần
trăm).
- Lao động thiếu việc làm
Thiếu việc m trong độ tuổi 6 tháng đầu năm 2022 hơn 1,1 triệu người, giảm
30,2 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ
tuổi 6 tháng đầu năm 2022 2,48%, giảm 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm
trước. Tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực thành thị thấp hơn khu vực nông thôn (tương ứng
là 1,88% và 2,85%).
- Thất nghiệp trong độ tuổi lao động
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động 6 tháng đầu năm 2022gần 1,1 triệu
người, giảm 47,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ
18
tuổi lao động 6 tháng đầu năm 2022 2,39%, giảm 0,13 điểm phần trăm so với cùng
kỳ năm trước.
Số thanh niên (người từ 15-24 tuổi) thất nghiệp 6 tháng đầu năm 2022 khoảng
410,3 nghìn người, chiếm 36,8% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của
thanh niên trong 6 tháng đầu năm 2022 7,78%, tăng 0,33 điểm phần trăm so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị 9,21%, giảm
0,76 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước
2.3. Việt Nam giai đoạn hiện nay
2.3.1. Tổng quan nền kinh tế
* Nửa cuối năm 2022
- Tốc độ tăng trưởng GDP
GDP m 2022 tăng 8,02% so với năm trước, đạt mức tăng cao nhất trong giai
đoạn 2011 - 2022(3) do nền kinh tế khôi phục trở lại. Trong mức tăng của tổng giá trị
tăng thêm toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp thủy sản tăng 3,36%, đóng
góp 5,11%; khu vực công nghiệp vày dựng tăng 7,78%, đóng góp 38,24%; khu vực
dịch vụ tăng 9,99%, đóng góp 56,65%(4). Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều
biến động mạnh khó đoán định, tăng trưởng hầu hết các quốc gia khu vực cho
thấy nhiều bất ổn thách thức, tăng trưởng kinh tế Việt Nam được đánh giá cao bởi
kết quả thực tế ở các giai đoạn 6 tháng, 9 tháng và cả năm 2022 đều nằm trong và vượt
dự báo tăng trưởng theo kịch bản đưa ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP. Thực tế này
phần nào cho thấy hiệu quả của công tác điều hành hỗ trợ cho đà phục hồi và cải thiện
khả năng chống chịu của nền kinh tế.
- Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Theo báo cáo của Cục Đăng kinh doanh, trong năm 2022, tình hình hoạt động
của doanh nghiệp phần ổn định và tích cực hơn. Tính cả năm 2022, có 148,5 nghìn
doanh nghiệp đăng ký thành lập mới (tăng 27,1%), với tổng số vốn đăng ký1.590,9
nghìn tỷ đồng (giảm 1,3%) và tổng số lao động đăng981,3 nghìn lao động (tăng
14,9%). Đáng lưu ý, sự phục hồi của ngành dịch vụ cũng thu hút gần 6.500 doanh
nghiệp phân ngành dịch vụ lưu trú ăn uống thành lập mới, tăng tới 53,0% so với
cùng kỳ năm 2021. Tính chung cả năm 2022, 59,8 nghìn doanh nghiệp quay trở lại
hoạt động, tăng 38,8%. Mức gia tăng nhanh của các doanh nghiệp mới doanh
nghiệp quay trở lại hoạt động cho thấy một bộ phận đáng kể các doanh nghiệp đã nhìn
nhận những hội kinh doanh mới khi kinh tế Việt Nam phục hồi. Tuy nhiên, số
doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh thời hạn số doanh nghiệp hoàn tất giải thể
trong năm 2022 vẫn gia tăng. Tính chung trong năm 2022, số doanh nghiệp tạm ngừng
kinh doanh thời hạn 73,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 34,3% so với năm 2021; gần
50,8 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 5,5%; 18,6
nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 11,2%. Bình quân một tháng có 11,9
nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Thực tế trong những tháng cuối năm 2022
cũng chứng kiến nhiều khó khăn đối với cộng đồng doanh nghiệp: 1- Tác động từ
chính sách thắt chặt tiền tệ để chống lạm phát nguy suy thoái kinh tế tại nhiều
19

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: KINH TẾ VĨ MÔ 1
ĐỀ TÀI: Tác động của dịch covid-19 đến việc làm, thất nghiệp ở Việt Nam.
Giáo viên hướng dẫn: Trần Kim Anh Nhóm thực hiện: Nhóm 3
Mã lớp học phần: 2312MAEC0111 HÀ NỘI 2023 DANH SÁCH THÀNH VIÊN ST Họ và tên Mã SV Nhiệm vụ Điểm Chữ ký T -Việt Nam trong Nguyễn Thị Kim giai đoạn dịch Chi 22D300029 covid-19 bùng nổ (nhóm trưởng) (2020-nửa đầu năm 2022) Nguyễn Đức Du 22D300031 -Thuyết trình Vũ Thị Hồng -Powerpoint Duyên Khúc Tiến Đạt 22D300040 -Powerpoint -Lời mở đầu Hoàng Thạch -Tính cấp thiết của Minh Dũng 22D300036 đề tài -Cơ sở lí thuyết Phan Thùy -Việt Nam giai Dương đoạn hiện nay Phạm Tiến Đạt 22D300043 -Tổng hợp word -Việt Nam trước khi dịch covid-19 Nguyễn Hữu Duy bùng nổ (2017- 2019) Nguyễn Anh Đức 22D300035 -Tổng kết Nguyễn Duy Đạt -Thuyết trình -Việt Nam trong giai đoạn dịch Bùi Quang Trung covid-19 bùng nổ (2020-nửa đầu năm 2022) 1 MỤC LỤC
DANH SÁCH THÀNH VIÊN............................................................................1
MỤC LỤC............................................................................................................2
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................3
NỘI DUNG...........................................................................................................4
I. Cơ sở lý thuyết..............................................................................................4
1.1 Lao động và việc làm.............................................................................4
1.2 Thất nghiệp............................................................................................4
II. Sự tác động của dịch Covid-19 đến việc làm và thất nghiệp ở Việt Nam
...........................................................................................................................6
2.1 Việt nam trước khi dịch covid-19 bùng nổ (2017-2019).....................6
2.2. Việt Nam trong giai đoạn dịch covid-19 bùng nổ (2020- 2022)......11
2.3. Việt Nam giai đoạn hiện nay.............................................................17 III.
Tổng kết:.............................................................................................26
3.1. Kết luận tác động của Covid-19 đến việc làm và thất nghiệp ở Việt
Nam:............................................................................................................26
3.2. Giải pháp:...........................................................................................28
KẾT LUẬN........................................................................................................30
DANH MỤC THAM KHẢO ...........................................................................31 2 LỜI MỞ ĐẦU
Trước khi bước vào bài thảo luận, nhóm 3 chúng em xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến Trường Đại học Thương Mại. Đặc biệt, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
đến giảng viên bộ môn kinh tế vĩ mô – cô Trần Kim Anh đã truyền đạt cho chúng em
những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập vừa qua. Trong thời gian tham
gia lớp học của cô, chúng em đã có thêm cho mình rất nhiều kiến thức bổ ích, những
kiến thức ấy đã giúp chúng em hiểu rõ hơn về cách thức vận hành của nền kinh tế cũng
như các vấn đề kinh tế cấp thiết cần phải giải quyết trong tương lai. Đây chắc chắn sẽ
là những kiến thức quý báu, là hành trang để chúng em có thể vững bước sau này.
* Tính cấp thiết của đề tài
Đại dịch Covid-19 được biết đến là một trong những dịch bệnh nguy hiểm nhất
mà nhân loại từng phải trải qua. Dịch bệnh đã ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu, gây
gián đoạn chuỗi cung ứng sản phẩm hàng hóa của thế giới, đình trệ trong sản xuất -
kinh doanh, làm nền kinh tế của nhiều quốc gia bị suy thoái trầm trọng, trong đó có
Việt Nam. Việt Nam là một quốc gia đang trên đà phát triển mạnh mẽ, đại dịch đã làm
ảnh hưởng tiêu cực đến tốc độ phát triển của nước ta đồng thời gây ra nhiều hệ lụy
nghiêm trọng. Trong giai đoạn hậu Covid-19 này, Nhà nước cần phải đưa ra phương
hướng giải quyết triệt để những vấn đề vẫn còn đang tồn đọng làm ảnh hưởng tới nền
kinh tế, chất lượng cuộc sống của nhân dân, đặc biệt là vấn đề về việc làm và thất nghiệp ở nước ta.
Việc thực hiện đề tài nghiên cứu “Tác động của dịch bệnh Covid-19 đến việc
làm và thất nghiệp ở Việt Nam” có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn, là nguồn tư
liệu quan trọng nhằm cung cấp luận cứ khoa học. Nghiên cứu đề tài này sẽ giúp chúng
ta nhìn được một cách rõ ràng hơn tác động của dịch bệnh tới vấn đề việc làm của
người dân. Từ đó nhằm đưa ra những biện pháp hiệu quả để giải quyết vấn đề này,
giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động đồng thời góp phần vào việc
phục hồi nền kinh tế nước ta sau đại dịch. 3 NỘI DUNG I. Cơ sở lý thuyết
1.1 Lao động và việc làm 1.1.1 Khái niệm
- Trong kinh tế học, lao động được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người tạo
ra, là một dịch vụ hay hàng hóa, là hoạt động có mục đích của con người nhằm tác
động, biến đổi các vật chất tự nhiên thành những vật phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu sinh
tồn của con người. Lao động là sử dụng sức lao động để tạo ra thứ gì đó.
- Việc làm hay công việc là một hoạt động được thường xuyên thực hiện để đổi
lấy việc thanh toán hoặc tiền công, thường là nghề nghiệp của một người.
1.1.2 Vai trò của lao động và việc làm đối với nền kinh tế
- Lao động là nguồn lực sản xuất chính, không thể thiếu được trong các hoạt động kinh tế
- Lao động là tiền đề để xã hội phân công, tổ chức, chuyên môn hóa từng ngành
nghề nhằm đạt năng lượng, hiệu quả, năng suất cao hơn
- Việc làm là nhân tố tạo nên thu nhập và tăng trưởng kinh tế. Nền kinh tế phải
đảm bảo tạo cầu việc làm cho từng cá nhân để duy trì mối quan hệ hài hòa giữa kinh tế và việc làm 1.2 Thất nghiệp
1.2.1 Khái niệm liên quan và đo lường thất nghiệp - Khái niệm:
+ Lực lượng lao động: gồm những người sẵn sàng và có khả năng lao động
+ Thất nghiệp là thuật ngữ chỉ nhóm người thuộc lực lượng lao động nhưng hiện tại vẫn chưa có việc làm.
- Để đo lường thất nghiệp trong nền kinh tế, thường sử dụng một số chỉ tiêu sau:
+ Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm lực lượng lao động bị thất nghiệp
Tỷ lệ thất nghiệp(%) = số người thất nghiệp * 100(%) lựclượng lao động
+ Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là tỷ lệ phần trăm dân số là người lớn nằm trong lực lượng lao động 4
Tỷ lệ tham gia LLLĐ(%) = lựclượng laođộng * 100(%) dân số làngười lớn
1.2.2 Phân loại thất nghiệp
- Phân loại theo nguyên nhân:
+ Thất nghiệp tự nhiên là mức thất nghiệp thông thường của mọi nền kinh tế. Loại thất
nghiệp này sẽ không mất đi mà gần như luôn tồn tại trong xã hội, ngay cả khi thị
trường lao động bình ổn nó cũng không hề biến mất.
+ Thất nghiệp chu kỳ là mức thất nghiệp tương ứng với từng giai đoạn trong chu kỳ
kinh tế. Nguyên nhân sinh ra loại thất nghiệp này là do trạng thái tiền lương cứng
nhắc. Nó là dạng thất nghiệp không tồn tại vĩnh viễn, sẽ biến mất nếu có đủ điều kiện tiên quyết. - Phân loại theo lý do:
+ Mất việc: Nhân sự bị doanh nghiệp cho thôi việc vì một lý do nào đó và rơi vào tình trạng thất nghiệp.
+ Bỏ việc: là hình thức thôi việc do bản thân nhân sự đó có điều không hài lòng với
đơn vị làm việc của mình nên chủ động xin thôi việc.
+ Nhập mới: lao động mới của thị trường đang tìm việc làm
+ Tái nhập: lao động đã rời khỏi thị trường trước đó, hiện muốn đi làm trở lại nhưng
chưa có được vị trí thích hợp.
1.2.3 Nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp
- Nhân lực không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng
- Công việc không đem lại được giá trị phù hợp với sức lao động mà người lao động bỏ ra
- Do thực trạng “thừa thầy thiếu thợ” ở nước ta.
- Thiếu định hướng nghề nghiệp ngay từ ban đầu, chạy theo xu hướng, chạy theo số đông
- Do người lao động còn thụ động, không chủ động trong việc tìm việc làm…
1.2.4 Tác động của thất nghiệp đến nền kinh tế - xã hội
- Thứ nhất, thất nghiệp tác động đến sự tăng trưởng kinh tế. Thất nghiệp xảy ra
đồng nghĩa với việc nhân công đang bị lãng phí chưa được sử dụng một cách triệt để. 5
Thất nghiệp tăng cao cũng là dấu hiệu của suy thoái kinh tế và là nguyên nhân dẫn tới lạm phát.
- Thứ hai, thất nghiệp gây ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội. Tình trạng thất
nghiệp kéo dài sẽ sinh ra tâm lý bất mãn đối với người thất nghiệp dẫn tới những cuộc
biểu tình, tỉ lệ trộm cắp, những công việc vi phạm pháp luật cũng tăng cao.
- Thứ ba, nó ảnh hưởng đến đời sống của người lao động. Không có việc làm
đồng nghĩa họ không có thu nhập, không có tiền trong tay dẫn tới chất lượng cuộc sống sẽ giảm.
II. Sự tác động của dịch Covid-19 đến việc làm và thất nghiệp ở Việt Nam
2.1 Việt nam trước khi dịch covid-19 bùng nổ (2017-2019)
2.1.1. Tổng quan nền kinh tế * Năm 2017
So với năm 2016 tăng trưởng không như kỳ vọng, năm 2017, kinh tế Việt Nam cho
thấy một dấu hiệu khởi sắc hơn với mức tăng trưởng cả năm 2017 đạt 6,81%, vượt chỉ
tiêu do Quốc hội đề ra.
Biểu đồ: Diễn biến tăng trưởng GDP Việt Nam theo quý trong năm 2016 - 2017 (%)
Quy mô nền kinh tế năm 2017 theo giá hiện hành đạt 5.007,9 nghìn tỷ đồng;
GDP bình quân đầu người ước tính đạt 53,5 triệu đồng, tương đương 2.385 USD, tăng
170 USD so với năm 2016. Không chỉ là tăng trưởng GDP, báo cáo của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư cho biết, lần đầu tiên sau nhiều năm, cả 13 chỉ tiêu kinh tế - xã hội đều đạt
và vượt mục tiêu đề ra. Thậm chí, năm 2017 còn được coi là năm của những kỷ lục:
- Lạm phát toàn phần trong cả năm 2017 nhìn chung suy giảm mạnh mẽ(3,35%,
thấp hơn mục tiêu đề ra), mặc dù có sự gia tăng trong hai tháng 8 và 9 do yếu tố mùa
vụ. Điều này trái ngược hoàn toàn với xu thế gia tăng liên tục trong năm 2016. 6
- Trong nhiều năm qua, bên cạnh những điểm sáng về tăng trưởng kinh tế và
lạm phát, nền kinh tế vẫn tồn tại một số hạn chế lớn có thể gây tác động tiêu cực đến
ổn định kinh tế vĩ mô. Một trong số đó đến từ việc ngân sách nhà nước (NSNN) tiếp
tục bội chi trong nhiều năm. Tuy nhiên, năm 2017, Bộ Tài chính đã hoàn thành vượt mức dự toán thu NSNN.
- Chính sách tiền tệ trong năm 2017 tiếp tục được thực hiện một cách chặt chẽ
và linh hoạt. Dự trữ ngoại hối liên tục tăng cao, đạt 51,5 tỷ USD (trên 2,7 tháng nhập
khẩu) vào cuối năm 2017 tạo thêm không gian chính sách cho Ngân hàng Nhà nước
(NHNN) can thiệp vào thị trường. Bên cạnh đó, lượng kiều hối tăng trưởng ổn định
cũng hỗ trợ cho việc ổn định tỷ giá. Nhờ vào đó, NHNN có thêm không gian để tiếp
tục duy trì nới lỏng tiền tệ, giảm lãi suất nhằm thúc đẩy kinh tế.
- Số lượng doanh nghiệp mới thành lập cũng là kỷ lục với 126.859 doanh nghiệp.
- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2017 theo giá hiện hành ước tính
đạt 1.667,4 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với năm 2016 và bằng 33,3% GDP * Năm 2018
GDP cả năm 2018 tăng 7,08%, mức tăng cao nhất kể từ năm 2008 trở về đây là
điểm nhấn nổi bật trong bức tranh tổng quan kinh tế nước ta năm 2018 (năm 2016 tăng 6,21%
- Trong năm 2018, cả nước có 131,3 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới
với tổng vốn đăng ký là 1.478,1 nghìn tỷ đồng 7
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2018 ước tính
đạt 1.272,5 nghìn tỷ đồng, bằng 96,5% dự toán năm. Tổng chi ngân sách Nhà nước từ
đầu năm đến thời điểm 15/12/2018 ước tính đạt 1.272,1 nghìn tỷ đồng, bằng 83,5% dự toán năm. * Năm 2019
- Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
Tăng trưởng GDP năm 2019 đạt 7,02%, vượt mục tiêu Quốc hội đề ra từ 6,6 -
6,8%, khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các giải pháp được Chính phủ ban
hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương và cô ‚ng đồng doanh nghiê ‚
p cùng nỗ lực thực hiện để đạt và vượt mục tiêu tăng trưởng. Trong đó, khu vực
nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,01%, đóng góp 4,6% vào mức tăng trưởng chung;
khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,9%, đóng góp 50,4%; khu vực dịch vụ tăng
7,3%, đóng góp 45%. Về cơ cấu kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm
tỷ trọng 13,96% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,49%; khu vực dịch
vụ chiếm 41,64%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,91%.
- Ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì
Với những lo ngại về sự bất ổn của thị trường hàng hóa, các rủi ro trong biến động
kinh tế thế giới và điều chỉnh chính sách giá trong nước, nhiều tổ chức quốc tế và
trong nước đều cho rằng, áp lực lạm phát năm 2019 là tương đối lớn, mục tiêu kiểm
soát lạm phát ở mức 4% là khó khả thi. Tuy nhiên CPI bình quân cả năm 2019 tăng
2,79% - thấp nhất trong 3 năm qua. Lạm phát cơ bản bình quân tăng 2,01% so với bình
quân cùng kỳ năm 2018 và cao nhất kể từ tháng 01/2016. Lạm phát cơ bản có xu
hướng tăng mạnh, đặc biệt trong tháng cuối năm có khả năng tạo sức ép lạm phát tăng 8
cao trong quý I/2020, nhất là trong bối cảnh giá thực phẩm và giá xăng dầu trên thế
giới đang có xu hướng tăng.
Mặt bằng lãi suất huy động, cho vay tiếp tục được duy trì ổn định trong năm 2019
và có chiều hướng giảm.
- Chính sách tài khóa được điều hành theo hướng chặt chẽ, hiệu quả
Với mục tiêu điều hành chặt chẽ, kỷ luật, kỷ cương, công tác quản lý thu ngân sách
nhà nước (NSNN) đã được triển khai chủ động theo hướng: Chủ động rà soát để trình
cấp có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các chính sách về thu
ngân sách phù hợp với tình hình thực tế và các cam kết hội nhập quốc tế; Quyết liệt
triển khai các giải pháp quản lý thu, chống thất thu; thường xuyên tổ chức giao ban
giữa các cơ quan chức năng để xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh, đề xuất các giải
pháp quản lý hiệu quả hơn đối với các lĩnh vực, địa bàn có số thu còn tồn đọng lớn;
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại các doanh nghiệp và đẩy mạnh các
hoạt động chống chuyển gia, chống buôn lậu và gian lận thương mại; đôn đốc thu đủ,
kịp thời số tiền thuế truy thu, phạt chậm nộp vào NSNN; Tiếp tục quản lý chặt chẽ
công tác hoàn thuế, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm.
Năm 2019, các chỉ tiêu về thu - chi ngân sách cơ bản đảm bảo mục tiêu đề ra. Theo
đó, thu NSNN vượt dự toán, bội chi được kiểm soát, nợ công trong giới hạn an toàn.
Ước tính năm 2019, tổng thu NSNN vượt 3,3% dự toán, tỷ lệ huy động vào NSNN đạt
23,7% GDP, trong đó thu nội địa chiếm khoảng 82%; tỷ trọng chi đầu tư phát triển
tăng, đạt 26,6%, cao nhất trong giai đoạn 2016 - 2019. Bội chi NSNN khoảng 3,4%
GDP, thấp hơn mức 3,46% của năm 2018. Nợ công giảm còn 56,1% GDP (năm 2018
là 58,4% GDP), nợ chính phủ khoảng 50% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 46% GDP.
Trong năm 2019, chính sách tiền tệ vẫn tiếp tục được điều hành theo hướng nới
lỏng thận trọng nhằm tạo điều kiện tăng trưởng và kích thích cho nền kinh tế. Tính đến
ngày 20/12/2019, tổng phương tiện thanh toán tăng 12,1% so với cuối năm 2018 (cùng
kỳ năm 2018 tăng 11,3%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 12,5% (cùng
kỳ năm 2018 tăng 11,5%); tín dụng tăng trưởng 12,1% (năm 2018 tăng 13,3%). Cơ
cấu tín dụng tiếp tục theo hướng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh được
ưu tiên, các dự án lớn trọng tâm, trọng điểm theo chủ trương của Chính phủ nhằm hỗ
trợ có hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế.
2.1.2. Tình hình việc làm và thất nghiệp * Năm 2017
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước năm 2017 ước tính là 54,8 triệu
người, tăng 394,9 nghìn người so với năm 2016; lực lượng lao động trong độ tuổi lao
động ước tính 48,2 triệu người, tăng 511 nghìn người so với năm trước. 9
Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2017 ước tính
53,7 triệu người, tăng 416,1 nghìn người so với năm 2016. Tỷ lệ lao động trong độ
tuổi đã qua đào tạo năm 2017 ước tính đạt 21,5%, cao hơn mức 20,6% của năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2017 là 2,24%, trong đó khu vực
thành thị là 3,18%; khu vực nông thôn là 1,78%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động
trong độ tuổi lao động năm 2017 là 1,63%, trong đó khu vực thành thị là 0,85%; khu
vực nông thôn là 2,07%. Đáng chú ý, tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp
thành lập mới trong năm 2017 là 1.161,3 nghìn người, giảm 8,4% so với năm 2016. * Năm 2018
Lực lượng lao động trung bình cả nước năm 2018 là 55,35 triệu người, tăng so với
năm trước 530 nghìn người (0,96%). Lực lượng lao động bao gồm 54,25 triệu người
có việc làm và hơn 1,1 triệu người thất nghiệp. Lực lượng lao động của khu vực nông thôn chiếm 67,4%.
Năm 2018, có hơn ba phần tư (chiếm 76,8%) dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia lực
lượng lao động. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chênh lệch đáng kể giữa nam và nữ
và không đồng đều giữa các vùng. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số khu
vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị.
Tính chung cả năm 2018, tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước ước tính là 2,0%, trong
đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 2,95%; khu vực nông thôn là 1,55%. Tỷ lệ
thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2018 là 2,19%, trong đó khu vực thành thị
là 3,10%; khu vực nông thôn là 1,74%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên năm 2018 ước
tính là 7,06%, trong đó khu vực thành thị là 10,56%; khu vực nông thôn là 5,73%. * Năm 2019
Tình hình lao động, việc làm năm 2019 của cả nước có sự chuyển biến tích cực, tỷ
lệ thất nghiệp, thiếu việc làm giảm, số người có việc làm tăng, thu nhập của người lao
động làm công hưởng lương có xu hướng tăng. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo
hướng tích cực, lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm nhanh, lao
động trong khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số lao động của nền kinh tế.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước năm 2019 là 55,8 triệu người,
tăng 417,1 nghìn người so với năm 2018; lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là
49,1 triệu người, tăng 527,7 nghìn người so với năm trước. Lao động 15 tuổi trở lên
đang làm việc năm 2019 là 54,7 triệu người.
Tính chung năm 2019, tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước ước tính là 1,98%; tỷ lệ thất
nghiệp của lao động trong độ tuổi ước tính là 2,16%; tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 10
(từ 15-24 tuổi) ước tính là 6,39%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi năm
2019 ước tính là 1,26%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,67%; khu vực nông thôn là 1,57%.
Tóm lại, trong bối cảnh tình hình thế giới năm qua biến động phức tạp, kinh tế và
thương mại toàn cầu suy giảm nhưng nhờ sự nỗ lực, quyết tâm cao của cả hệ thống
chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước nên bức tranh kinh tế - xã hội
Việt Nam năm 2019 đã đạt được những kết quả tích cực trên các lĩnh vực. Nền kinh tế
duy trì đà tăng trưởng cao, đây là năm thứ hai liên tiếp trong giai đoạn chiến lược 10
năm nền kinh tế đạt mức tăng trưởng trên 7%, vượt mục tiêu đề ra, quy mô được mở
rộng với chất lượng ngày càng được cải thiện. Đây là tiền đề vững chắc, là hy vọng để
bước sang năm 2020 nước ta tiếp tục đạt được những thành tựu mới.
2.2. Việt Nam trong giai đoạn dịch covid-19 bùng nổ (2020- 2022)
2.2.1. Tổng quan nền kinh tế * Năm 2020: - Tốc độ tăng trưởng
Kinh tế - xã hội năm 2020 của Việt Nam diễn ra trong bối cảnh dịch Covid-19 bùng
phát mạnh và diễn biến khó lường trên phạm vi toàn cầu, đã ảnh hưởng nghiêm trọng
đến hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn duy trì được đà tăng
trưởng với tốc độ thuộc nhóm cao nhất thế giới. Điều này cho thấy tính đúng đắn trong
chỉ đạo, điều hành nhằm khôi phục kinh tế, phòng chống dịch; sự quyết tâm, đồng
lòng của hệ thống chính trị; sự nỗ lực, cố gắng của người dân và cộng đồng doanh
nghiệp để thực hiện hiệu quả mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch, vừa phát triển kinh tế - xã hội”.
Tăng trưởng GDP năm 2020 đạt 2,91%, Mặc dù tăng trưởng GDP năm 2020 đạt
thấp nhất trong giai đoạn 2011-2020 nhưng trước những tác động tiêu cực của dịch
Covid-19 thì đó là một thành công của nước ta với tốc độ tăng thuộc nhóm nước cao
nhất thế giới. Cùng với Trung Quốc và Mi-an-ma, Việt Nam là một trong ba quốc gia
ở châu Á có mức tăng trưởng tích cực trong năm 2020; đồng thời quy mô nền kinh tế
nước ta đạt hơn 343 tỷ USD, vượt Xin-ga-po (337,5 tỷ USD) và Ma-lai-xi-a (336,3 tỷ
USD), đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền kinh tế lớn thứ 4 trong khu vực Đông
Nam Á (sau In-đô-nê-xi-a 1.088,8 tỷ USD; Thái Lan 509,2 tỷ USD và Phi-li-pin 367,4
tỷ USD) (Bộ Tài chính, 2020).
- Các yếu tố của tổng cầu tăng thấp trong những tháng đầu năm do ảnh hưởng của dịch
Covid-19, nhưng xu hướng cải thiện khá rõ nét trong những tháng cuối năm
+ Hoạt động thương mại, dịch vụ
Tính chung cả năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
đạt 5.059,8 nghìn tỷ đồng, tăng 2,6% so với năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá giảm
1,2%). Theo ngành hoạt động, bán lẻ hàng hóa chiếm 79% tổng mức và là ngành duy 11
nhất tăng trưởng (tăng 6,8% so với năm trước); dịch vụ lưu trú, ăn uống chiếm 10,1%
tổng mức và giảm 13% so với năm trước; du lịch lữ hành chiếm 0,3% tổng mức và
giảm 59,5%; dịch vụ khác chiếm 10,6% tổng mức và giảm 4%. Mặc dù tốc độ tăng
của ngành thấp nhất trong giai đoạn 2011 - 2020 nhưng là thành công của Việt Nam
trong thực hiện mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch, vừa phát triển kinh tế - xã hội”.
Trong những tháng cuối năm, doanh thu thương mại, dịch vụ tăng cao, đạt 8% trong quý IV/2020.
+ Hoạt động xuất - nhập khẩu
Năm 2020 là một năm khó khăn đối với hoạt động thương mại quốc tế toàn cầu,
trong đó có Việt Nam. Tình hình kinh tế - xã hội thế giới chịu tác động tiêu cực của
dịch Covid-19 dẫn tới sự đứt gẫy một phần thương mại toàn cầu và chuỗi cung ứng
sản xuất. Tuy nhiên, do những biện pháp kiểm soát dịch tốt, cũng như những cố gắng
của toàn nền kinh tế, tình hình xuất - nhập khẩu Việt Nam đã dần phục hồi vào cuối
năm. Xuất khẩu duy trì tăng trưởng khá ở mức 6,5%, nhập khẩu tăng 3,6%, xuất siêu
19,1 tỷ USD - đạt mức kỷ lục từ trước tới nay.
+ Vốn đầu tư toàn xã hội
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2020 theo giá hiện hành ước
đạt 2.164,5 nghìn tỷ đồng, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước, tương đương
34,4% GDP và đạt mục tiêu Quốc hội đề ra (33 - 34% GDP). Mặc dù là tốc độ tăng
thấp nhất trong giai đoạn 2011 - 2020 nhưng xét trong bối cảnh các hoạt động kinh tế -
xã hội bị gián đoạn và ảnh hưởng nặng nề, thì đây vẫn là mức tăng khá. Đóng góp chủ
yếu vào việc duy trì tăng trưởng của đầu tư đến từ khu vực nhà nước với các nỗ lực
trong việc tăng tiến độ giải ngân đầu tư công. Đầu tư của khu vực nhà nước tăng
14,5% so với cùng kỳ (chiếm 33,7% tổng vốn đầu tư); khu vực ngoài nhà nước
tăng 3,1% (chiếm 44,9%); khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chỉ bằng
98,7% cùng kỳ (chiếm 21,4%).
- Ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì, mặt bằng lãi suất có xu hướng giảm, tạo
điều kiện cho sản xuất - kinh doanh
Lạm phát được kiểm soát ở mức thấp. CPI bình quân năm 2020 tăng 3,23% so với
bình quân cùng kỳ, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra là dưới 4%.
Mặt bằng lãi suất năm 2020 có xu hướng giảm. T
rong năm 2020, Ngân hàng Nhà
nước (NHNN) đã nhiều lần điều chỉnh giảm lãi suất điều hành vào các tháng 3, 5, 8 và
cuối tháng 9. Theo đó, các ngân hàng điều chỉnh lãi suất huy động và cho vay theo
hướng giảm, nhưng nhìn chung mặt bằng lãi suất huy động/cho vay trên toàn thị
trường vẫn được duy trì ổn định.
Tỷ giá VND/USD tương đối ổn định (ngoại trừ thời điểm các tháng 2 - 4/2020, do
tác động của dịch Covid-19 bắt đầu bùng phát và thực hiện giãn cách xã hội). Trên thị
trường ngoại hối chính thức, trong năm 2020, tỷ giá trung tâm được điều chỉnh tăng 12
không đáng kể, ở mức 23.200 VND/USD vào ngày 31/12/2020, tăng 0,14% so với cuối năm trước.
- Chính sách tài khóa tiếp tục được điều hành chặt chẽ, hiệu quả, tập trung cho an sinh
xã hội; chính sách tiền tệ được điều hành thận trọng, linh hoạt + Chính sách tài khóa
Mặc dù nguồn thu ngân sách năm 2020 bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19,
trong khi áp lực chi ngân sách gia tăng khi thực hiện các chính sách hỗ trợ để phòng
chống thiên tai, dịch bệnh, song nhờ chủ động trong điều hành nên cân đối ngân sách
trung ương và ngân sách của các địa phương vẫn được đảm bảo. Tổng thu NSNN tính
đến ngày 15/12 đạt 1.307,9 nghìn tỷ đồng, bằng 86,5% dự toán; trong đó, thu nội địa
đạt 87,1% dự toán; thu từ dầu thô đạt 92,9% dự toán; thu cân đối từ hoạt động xuất -
nhập khẩu đạt 82,8% dự toán. + Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ tiếp tục được điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt, thận
trọng, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác.
Đến cuối năm 2020, tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt khoảng 12,13% (tính đến
ngày 31/12); tổng phương tiện thanh toán tăng 13,26% so với cuối năm 2019 (tính tới
ngày 28/12); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 12,87% (tính đến ngày
21/12) (cùng thời điểm năm 2019 tăng 12,48%). Trên cơ sở cân đối, NHNN đặt mục
tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2021 khoảng 12%, gần tương đương với kết quả
tăng trưởng tín dụng của năm 2020 là 12,13%. * Năm 2021
- Tốc độ tăng trưởng:
GDP quý IV đảo chiều, tăng 5,22% đưa GDP năm 2021 tăng 2,58% làn sóng dịch
Covid-19 bùng phát trở lại từ cuối tháng 4/2021 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời
sống, an toàn của người dân và phát triển kinh tế - xã hội, làm tăng trưởng kinh tế có
mức giảm sâu nhất vào quý III. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành
những quyết sách “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19” kịp
thời để phòng, chống dịch và phát triển kinh tế - xã hội. Nhờ đó, các hoạt động kinh tế
- xã hội quý IV và năm 2021 của Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ.
GDP năm 2021 tăng 2,58% so với năm trước (quý I tăng 4,72%; quý II tăng 6,73%;
quý III giảm 6,02%; quý IV tăng 5,22%). Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế,
khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,9%, đóng góp 13,97%; khu vực công
nghiệp và xây dựng tăng 4,05%, đóng góp 63,80%; khu vực dịch vụ tăng 1,22%, đóng
góp 22,23%. Đáng chú ý, khu vực dịch vụ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sự bùng
phát trở lại của dịch Covid-19 từ cuối tháng 4/2021. Tăng trưởng âm của một số ngành
dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn đã làm giảm mức tăng chung của khu vực dịch vụ. Cụ thể,
năm 2021, khu vực dịch vụ chỉ tăng 1,22%. Trong đó, ngành bán buôn, bán lẻ giảm 13
0,21% so với năm 2020, làm giảm 0,02 điểm phần trăm tốc độ tăng tổng giá trị tăng
thêm của toàn nền kinh tế; ngành vận tải kho bãi giảm 5,02%, làm giảm 0,3 điểm phần
trăm; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm mạnh 20,81%, làm giảm 0,51 điểm phần trăm.
Tổng cầu quý III sụt giảm do nhiều địa phương kinh tế trọng điểm phải thực hiện
giãn cách xã hội kéo dài để phòng chống dịch Covid-19, nhưng đã phục hồi vào những tháng cuối năm
Hoạt động thương mại và dịch vụ
Hoạt động thương mại và dịch vụ tiêu dùng quý IV/2021 tăng tích cực 28,1% so
với quý trước nhưng cả năm 2021 vẫn giảm so với cùng kỳ năm 2020. Tổng mức bán
lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt khoảng 4.789,5 nghìn tỷ đồng, giảm
3,8% so với năm 2020, nếu loại trừ yếu tố giá giảm 6,2% (năm 2020 giảm 3%). Trong
đó, bán lẻ hàng hóa tăng 0,2%; dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 19,3%; du lịch lữ hành
giảm 59,9%; dịch vụ khác giảm 16,8%. Xuất - nhập khẩu
Mặc dù đà tăng xuất - nhập khẩu trong quý III/2021 đã bị chững lại do ảnh hưởng
của các biện pháp giãn cách xã hội, tuy nhiên trong quý IV/2021 năng lực sản xuất của
các doanh nghiệp đã dần phục hồi góp phần thúc đẩy xuất - nhập khẩu. Kim ngạch
xuất - nhập khẩu năm 2021 đạt mốc 660 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 20 nền kinh
tế hàng đầu về thương mại quốc tế. Xuất khẩu của cả nước đạt khoảng 336,25 tỷ USD,
tăng 19% so với cùng kỳ năm 2020, cao nhất kể từ năm 2018. Xuất khẩu sang các thị
trường EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc đều tăng trưởng tốt trong năm 2021. Nhập khẩu
trong năm 2021 đạt khoảng 332,25 tỷ USD, tăng 26,5% so với cùng kỳ năm 2020, đây
là mức tăng cao nhất trong 5 năm trở lại. Nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu nhập
khẩu để phục vụ sản xuất xuất khẩu tăng cao, cùng với giá cả hàng hóa thế giới có xu
hướng tăng trong nửa đầu năm 2021, đặc biệt là giá các loại nguyên, nhiên liệu phục
vụ sản xuất. Suất siêu trong năm 2021 đạt khoảng 4 tỷ USD, tương đương 1,19% kim
ngạch xuất khẩu. Kết quả này tiếp tục đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất siêu 6 năm liên tiếp. Đầu tư
Vốn đầu tư toàn xã hội năm 2021 tăng trưởng thấp do ảnh hưởng của dịch Covid-
19 trong quý III/2021. Đóng góp chính vào tăng trưởng vốn đầu tư toàn xã hội đến từ
khu vực ngoài nhà nước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tuy giảm về vốn giải
ngân nhưng vẫn đạt kết quả khả quan về vốn đăng ký, cho thấy niềm tin của nhà đầu
tư nước ngoài. Trong khi đó, giải ngân vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) tiếp
tục chậm tiến độ, ảnh hưởng đến vốn đầu tư toàn xã hội và đà phục hồi của kinh tế
trong nước. Năm 2021, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành đạt khoảng
2.891,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% so với năm 2020, bao gồm: khu vực nhà nước đạt
713,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 24,7% tổng vốn và giảm 2,9%; khu vực ngoài nhà nước
đạt 1.720,2 nghìn tỷ đồng, bằng 59,5% và tăng 7,2%; khu vực có vốn FDI đạt 458,1
nghìn tỷ đồng, bằng 15,8% và giảm 1,1%. Vốn đầu tư của khu vực nhà nước tăng
chậm do giải ngân chậm tiến độ. Ngoài nguyên nhân bị ảnh hưởng bởi tình trạng phải 14
giãn cách xã hội tại nhiều địa phương trong quý III còn do tăng giá nguyên, vật liệu và
các khó khăn đã tồn tại lâu năm như công tác giải phóng mặt bằng, đấu thầu; thủ tục
đầu tư, bố trí vốn; năng lực của chủ đầu tư. Vốn thực hiện từ nguồn NSNN năm 2021
đạt khoảng 423,6 nghìn tỷ đồng, bằng 84,3% kế hoạch năm và giảm 8,6% so với năm
trước (năm 2020 bằng 90,5% và tăng 33,6%).
- Ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì, mặt bằng lãi suất có xu hướng
giảm, tạo điều kiện cho sản xuất - kinh doanh
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2021 tăng 1,84% so với năm 2020 - mức
tăng thấp nhất 5 năm trở lại đây. Trong đó, 4 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá
giảm và 7 nhóm tăng. Đáng chú ý, nhóm giao thông có mức giảm nhiều nhất với
1,71%; nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép có mức tăng cao nhất với 0,22%. Nguyên
nhân làm cho CPI tăng thấp là do giá xăng dầu, gas giảm theo giá nhiên liệu thế giới;
dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước làm tổng cầu giảm; học phí
học kỳ I năm học 2021 - 2022 tiếp tục được miễn, giảm tại một số địa phương.
Cuối năm 2021 (ngày 28/12/2021), lãi suất bình quân liên ngân hàng kỳ hạn qua
đêm đang ở mức 0,81%/năm (ngày 29/12/2021), tăng 0,66%/năm so với cuối năm
2020. Tính chung cả năm 2021, lãi suất liên ngân hàng bình quân kỳ hạn qua đêm là
0,75%/năm, giảm 17,95% so với cuối năm 2020.
Lãi suất cho vay, lãi suất ngắn hạn bình quân bằng VND đối với một số ngành lĩnh
vực ở mức 4,4%/năm. Lãi suất cho vay USD bình quân 3 - 6%/năm. Tính chung cả
năm 2021, mặt bằng lãi suất được giữ ổn định, tạo điều kiện cho lãi suất cho vay giảm gần 1%/năm.
- Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ được điều hành thận trọng, linh hoạt,
tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, phục hồi sản xuất - kinh doanh Chính sách tài khóa
Để tiếp tục hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, trong tháng 12/2021, Bộ Tài chính
ban hành Thông tư số 120/2021/TT-BTC ngày 24/12/2021, quy định mức thu một số
một số khoản phí, lệ phí nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho đối tượng chịu ảnh hưởng
bởi dịch Covid-19. Theo đó, có 37 khoản phí, lệ phí được giảm với mức giảm từ 10 -
50% so với quy định hiện hành, tập trung chính vào các đối tượng bị ảnh hưởng do
dịch Covid-19 như du lịch, xây dựng, vận tải… Đồng thời, Bộ Tài chính đang nghiên
cứu đề xuất gói miễn, giảm thuế hỗ trợ người dân và doanh nghiệp trong năm 2022 dự
kiến có quy mô hơn 60.000 tỷ đồng, tăng gấp 3 so với quy mô gói hỗ trợ vừa qua. Lũy
kế đến hết 15/12/2021, thu NSNN đạt 1.438,89 nghìn tỷ đồng, bằng 107,1% dự toán.
Thu nội địa, thu cân đối từ hoạt động xuất - nhập khẩu và thu từ dầu thô vượt dự toán
(thu nội địa là 1.178 nghìn tỷ đồng, đạt 103,9% dự toán). Chi NSNN đạt 1.338,1 nghìn
tỷ đồng, bằng 79,3% dự toán. Do tiến độ chi NSNN thấp hơn tiến độ thu NSNN nên về
tổng thể cân đối NSNN tính đến ngày 15/12/2021 có thặng dư 100,79 nghìn tỷ đồng. Chính sách tiền tệ
Trong năm 2021, chính sách tiền tệ tiếp tục được điều hành theo hướng nới lỏng,
phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm
kiểm soát lạm phát và hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần phục hồi tăng trưởng 15
kinh tế, duy trì ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối, đặc biệt là trong bối cảnh diễn
biến dịch Covid-19 ngày càng phức tạp. Tính đến ngày 24/12/2021, tín dụng toàn nền
kinh tế tăng khoảng 12,97% so với cuối năm 2020, huy động vốn của các tổ chức tín
dụng tăng 8,44%, tổng phương tiện thanh toán tăng 8,93% so với cuối năm 2020. *Nửa đầu năm 2022
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
– GDP quý II năm 2022 ước tính tăng 7,72% so với cùng kỳ năm trước, cao
hơn tốc độ tăng của quý II các năm trong giai đoạn 2011-2021
– GDP 6 tháng đầu năm 2022 tăng 6,42%, cao hơn tốc độ tăng 2,04% của 6
tháng đầu năm 2020 và tốc độ tăng 5,74% của 6 tháng đầu năm 2021 nhưng thấp hơn
tốc độ tăng 7,28% và 6,98% của cùng kỳ năm 2018 và 2019. Trong mức tăng chung
của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,78% (đóng góp
5,07%); khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,70%, (đóng góp 48,33%), trong đó,
ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với
tốc độ tăng 9,66%; khu vực dịch vụ tăng 6,60%, (đóng góp 46,60%).
– Về cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2022, khu vực nông, lâm nghiệp và
thủy sản chiếm tỷ trọng 11,05%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 39,30%;
khu vực dịch vụ chiếm 40,63%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,02%.
Về sử dụng GDP 6 tháng đầu năm 2022, tiêu dùng cuối cùng tăng 6,06% so với
cùng kỳ năm 2021; tích lũy tài sản tăng 3,92%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng
9,10%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 4,41%.
2.2.2. Tình hình việc làm và thất nghiệp * Năm 2020:
Tình hình lao động, việc làm quý IV/2020 có nhiều dấu hiệu khởi sắc so với quý
trước nhưng do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm tính
chung cả năm 2020 cao hơn năm 2019 trong khi số người có việc làm, thu nhập của
người làm công ăn lương thấp hơn năm trước.
Tại Việt Nam, dịch Covid-19 xuất hiện từ cuối tháng 01/2020 đã gây tác động lớn
đến tình hình sản xuất - kinh doanh và việc làm của người lao động, làm cho tình trạng
tham gia thị trường lao động giảm, thất nghiệp và thiếu việc làm tăng lên, nhất là lao
động có việc làm phi chính thức, lao động không có hợp đồng, lao động có thu nhập
thấp, lao động trẻ tuổi và lao động cao tuổi.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý IV/2020 ước tính là 55,1
triệu người, tăng 563,8 nghìn người so với quý trước và giảm 860,4 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2020, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 54,6 16
triệu người, giảm 1,2 triệu người so với năm trước. Lao động 15 tuổi trở lên đang làm
việc quý IV/2020 ước tính 54 triệu người.
Tính chung năm 2020, tỷ lệ thất nghiệp chung ước tính là 2,26% . Tỷ lệ thất nghiệp
của lao động trong độ tuổi là 2,48% . Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi)
năm 2020 ước tính là 7,1%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính là 2,51% . *Năm 2021
Tính chung cả năm 2021, trước diễn biến phức tạp và kéo dài của đợt dịch Covid-
19 lần thứ tư khiến tình hình lao động việc làm năm 2021 gặp nhiều khó khăn hơn so
với năm 2020. Lực lượng lao động, số người có việc làm giảm; tỷ lệ thiếu việc làm và
thất nghiệp tăng so với năm trước.
Cụ thể, lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm năm 2021 là 49 triệu người, giảm 1
triệu người so với năm 2020. Trong đó, giảm chủ yếu ở khu vực nông thôn và ở nam
giới. Số lao động có việc làm ở khu vực nông thôn 31,2 triệu người, giảm 1,5 triệu
người và ở nam giới 26,2 triệu người, giảm 729.500 người so với năm trước.
Trong năm 2021, tình hình dịch kéo dài và phức tạp hơn trong năm 2020 khiến hàng
triệu người mất việc, lao động trong các ngành tiếp tục giảm, đặc biệt là khu vực dịch
vụ. Lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng 16,3 triệu người (chiếm 33,2%),
giảm 254,2 nghìn người so với năm trước; khu vực dịch vụ 18,6 triệu người (chiếm
37,9%), giảm 808.000 người so với năm trước; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
14,2 triệu người (chiếm 28,9%), tăng 37.300 người so với năm trước.
Trong năm 2021, số lao động có việc làm chính thức và phi chính thức đều giảm. Số
lao động có việc làm phi chính thức là 19,8 triệu người, giảm 628.000 người, mức
giảm này cao hơn so với mức giảm ở lao động có việc làm chính thức; số lao động có
việc làm chính thức 15,4 triệu người, giảm 469.800 người so với năm 2020.
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2021 hơn 1,4 triệu người, tăng
203.700 người so với năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động 3,22%, tăng
0,54 điểm phần trăm so với năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị 4,42%,
cao hơn 1,94 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh
niên (15 - 24 tuổi) 8,48%, tăng 0,52 điểm phần trăm so với năm trước. Tỷ lệ thất
nghiệp của thanh niên khu vực thành thị 11,91%, tăng 1,33 điểm phần trăm so với năm trước.
Mặc dù Chính phủ đã có các chính sách chủ động thích ứng linh hoạt trong phòng
chống Covid-19, vừa thực hiện phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội, nhưng tính chung
cả năm 2021, thị trường lao động vẫn gặp nhiều khó khăn với tỷ lệ thất nghiệp năm
nay cao hơn năm trước, trong đó khu vực thành thị vượt mốc 4%. * Nửa đầu năm 2022 - Lực lượng lao động 17
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên 6 tháng đầu năm 2022 đạt 51,4 triệu người,
cao hơn 0,4 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Lực lượng lao động ở khu vực
thành thị là 19,1 triệu người, chiếm 37,2% lực lượng lao động; lực lượng lao động nữ
đạt 24,0 triệu người, chiếm 46,8% lực lượng lao động của cả nước.
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 6 tháng đầu năm 2022 là 68,3%, giảm 0,3 điểm
phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Lực lượng lao động đã qua đào tạo từ trình độ “Sơ cấp” trở lên 6 tháng đầu năm
2022 ước tính là 13,4 triệu người, chiếm 26,1%, không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. - Lao động có việc làm
Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong 6 tháng đầu năm 2022 là 50,3 triệu
người, tăng 417,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động có việc
làm ở khu vực thành thị là 18,6 triệu người, tăng 762,0 nghìn người. Lao động nam là
26,7 triệu người, chiếm 53,1% tổng số lao động và tăng 286,5 nghìn người, tương ứng
tăng gần 1,1% so với cùng kỳ năm trước và mức tăng lao động nam giới cao hơn gấp 2
lần so với mức tăng này ở lao động nữ (1,1% so với 0,6%).
Lao động có việc làm 6 tháng đầu năm 2022 trong khu vực nông, lâm nghiệp và
thuỷ sản là 13,9 triệu người, (chiếm 27,7%), giảm 27,1 nghìn người so với cùng kỳ
năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 16,8 triệu người (chiếm 33,4%), tăng
435,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực dịch vụ là 19,6 triệu người
(chiếm 38,9%), tăng 8,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức của cả nước trong 6 tháng đầu năm 2022
là 55,9%, giảm 1,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; xu hướng giảm có thể
thấy được ở cả khu vực thành thị, nông thôn, ở cả nam giới và nữ giới. Tỷ lệ lao động
có việc làm phi chính thức lần lượt là 47,8% (giảm 0,7 điểm phần trăm), 62,6% (giảm
1,9 điểm phần trăm), 60,3% (giảm 1,0 điểm phần trăm) và 50,8% (giảm 1,9 phần trăm).
- Lao động thiếu việc làm
Thiếu việc làm trong độ tuổi 6 tháng đầu năm 2022 là hơn 1,1 triệu người, giảm
30,2 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ
tuổi 6 tháng đầu năm 2022 là 2,48%, giảm 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm
trước. Tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực thành thị thấp hơn khu vực nông thôn (tương ứng là 1,88% và 2,85%).
- Thất nghiệp trong độ tuổi lao động
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động 6 tháng đầu năm 2022 là gần 1,1 triệu
người, giảm 47,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ 18
tuổi lao động 6 tháng đầu năm 2022 là 2,39%, giảm 0,13 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Số thanh niên (người từ 15-24 tuổi) thất nghiệp 6 tháng đầu năm 2022 là khoảng
410,3 nghìn người, chiếm 36,8% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của
thanh niên trong 6 tháng đầu năm 2022 là 7,78%, tăng 0,33 điểm phần trăm so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 9,21%, giảm
0,76 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước
2.3. Việt Nam giai đoạn hiện nay
2.3.1. Tổng quan nền kinh tế * Nửa cuối năm 2022
- Tốc độ tăng trưởng GDP
GDP năm 2022 tăng 8,02% so với năm trước, đạt mức tăng cao nhất trong giai
đoạn 2011 - 2022(3) do nền kinh tế khôi phục trở lại. Trong mức tăng của tổng giá trị
tăng thêm toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,36%, đóng
góp 5,11%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,78%, đóng góp 38,24%; khu vực
dịch vụ tăng 9,99%, đóng góp 56,65%(4). Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu có nhiều
biến động mạnh và khó đoán định, tăng trưởng ở hầu hết các quốc gia và khu vực cho
thấy nhiều bất ổn và thách thức, tăng trưởng kinh tế Việt Nam được đánh giá cao bởi
kết quả thực tế ở các giai đoạn 6 tháng, 9 tháng và cả năm 2022 đều nằm trong và vượt
dự báo tăng trưởng theo kịch bản đưa ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP. Thực tế này
phần nào cho thấy hiệu quả của công tác điều hành hỗ trợ cho đà phục hồi và cải thiện
khả năng chống chịu của nền kinh tế.
- Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Theo báo cáo của Cục Đăng ký kinh doanh, trong năm 2022, tình hình hoạt động
của doanh nghiệp có phần ổn định và tích cực hơn. Tính cả năm 2022, có 148,5 nghìn
doanh nghiệp đăng ký thành lập mới (tăng 27,1%), với tổng số vốn đăng ký là 1.590,9
nghìn tỷ đồng (giảm 1,3%) và tổng số lao động đăng ký là 981,3 nghìn lao động (tăng
14,9%). Đáng lưu ý, sự phục hồi của ngành dịch vụ cũng thu hút gần 6.500 doanh
nghiệp phân ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống thành lập mới, tăng tới 53,0% so với
cùng kỳ năm 2021. Tính chung cả năm 2022, có 59,8 nghìn doanh nghiệp quay trở lại
hoạt động, tăng 38,8%. Mức gia tăng nhanh của các doanh nghiệp mới và doanh
nghiệp quay trở lại hoạt động cho thấy một bộ phận đáng kể các doanh nghiệp đã nhìn
nhận những cơ hội kinh doanh mới khi kinh tế Việt Nam phục hồi. Tuy nhiên, số
doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và số doanh nghiệp hoàn tất giải thể
trong năm 2022 vẫn gia tăng. Tính chung trong năm 2022, số doanh nghiệp tạm ngừng
kinh doanh có thời hạn là 73,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 34,3% so với năm 2021; gần
50,8 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 5,5%; 18,6
nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 11,2%. Bình quân một tháng có 11,9
nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Thực tế trong những tháng cuối năm 2022
cũng chứng kiến nhiều khó khăn đối với cộng đồng doanh nghiệp: 1- Tác động từ
chính sách thắt chặt tiền tệ để chống lạm phát và nguy cơ suy thoái kinh tế tại nhiều 19