12
QUẢN LÝ, CHỐNG THẤT THU THUẾ KHU VỰC KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC
phi chính thức tới tăng trưởng kinh tế không dễ dàng.
Với mục tiêu phân tích các tác động của khu vực kinh
tế phi chính thức tới tăng trưởng kinh tế trong điều
kiện thiếu nhiều số liệu thống kê, bài viết sử dụng
phân tích thống đơn giản phương pháp hồi
quy tuyến tính với 2 biến số chính là tỷ trọng kinh tế
phi chính thức so với GDP (đơn vị %) và tốc độ tăng
trưởng của GDP (đơn vị %).
Để phân tích quan hệ nhân quả giữa kinh tế phi
chính thức tăng trưởng kinh tế, bài viết sử dụng
kiểm định nhân quả Granger sau khi biến số kinh tế
phi chính thức đã được loại trừ các tác nhân từ phía
Chính phủ và hệ thống quản trị.
Một số tác động của kinh tế
phi chính thức đến tăng trưởng kinh tế
Diễn biến của khu vực kinh tế phi chính thức
Để ước lượng được độ lớn của khu vực kinh tế
phi chính thức, bài viết áp dụng phương pháp ước
lượng do Schneider Enste (2000) đề xuất được
Nguyen (2019) áp dụng đối với trường hợp của Việt
Nam. Bên cạnh đó, tác giả mở rộng bộ dữ liệu đã
được Nguyen (2019) sử dụng cho giai đoạn 1995
2017 để làm sở ước tính dự báo cho năm 2018
và năm 2019.
Nhìn vào diễn biến về độ lớn của kinh tế phi chính
thức trong giai đoạn 1995 – 2019 (Hình 1) có thể thấy,
mức độ biến động của khác với xu hướng biến
động của tốc độ tăng trưởng GDP. Dường như 2 xu
hướng thay đổi này không mối tương quan với
nhau. Tỷ trọng của kinh tế phi chính thức trên GDP
thấp nhất vào năm 2006 (với mức xấp xỉ 15%) và cao
Khu vực kinh tế phi chính thức hàm chứa
nhiều hoạt động kinh tế khác nhau đa
dạng về mặt hình thức biểu hiện. Điều này
làm cho việc đánh giá tác động của khu vực kinh tế
TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC
ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
ĐỖ TT CƯỜNG
Trong điều kiện số liệu, dữ liệu về kinh tế phi chính thức ở Việt Nam còn ít và chưa hệ thống, bài viết sử
dụng tối đa các nguồn dữ liệu sẵn có kết hợp với phương pháp phân tích hồi quy theo chuỗi thời gian.
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, giữa kinh tế phi chính thức và tăng trưởng kinh tế không tồn tại
quan hệ nhân quả mà chỉ tồn tại quan hệ ảnh hưởng của kinh tế phi chính thức tới tăng trưởng kinh tế.
Trong kỳ nghiên cứu, quy mô kinh tế phi chính thức tăng 1% thì dẫn tới tốc độ tăng trưởng kinh tế mất
đi 0,06 điểm %. Để nhằm hạn chế ảnh hưởng xấu tới tăng trưởng kinh tế, bài viết đưa ra một số hàm ý
chính sách tập trung vào việc cải thiện hiệu quả quản trị quốc gia của Nhà nước.
Từ khóa: Kinh tế phi chính thức, tăng trưởng kinh tế, Việt Nam
IMPACTS OF THE INFORMAL ECONOMY ON ECONOMIC GROWTH
Do Tat Cuong
In the situation that the data and information of
the informal economy in Vietnam are still small
and not systematic, the paper has made maximum
use of available data sources in combination with
the regression analysis method in time series.
The results of the regression analysis show that
there is no cause and effect relationship between
the informal economy and economic growth, but
only the influence relationship of the informal
economy on economic growth has found. In the
research period, the size of the informal economy
increased by 1%, leading to the economic growth
rate losing 0.06 percentage points. In order to
limit the negative impact on economic growth,
the paper provides some policy implications
focusing on improving the state governance
efficiency of the State.
Keywords: Informal economy, economic growth, Vietnam
Ngày nhận bài: 25/6/2019
Ngày hoàn thiện biên tập: 22/7/2019
Ngày duyệt đăng: 29/7/2019
TÀI CHÍNH - Tháng 08/2019
13
nhất năm 2016 (khoảng 27,5%), trong khi đó, tốc
độ tăng trưởng GDP của năm 2006 cao hơn năm 2016
0,77 điểm %. Điều này hàm ý rằng, giữa kinh tế
phi chính thức và tăng trưởng kinh tế chỉ tồn tại mối
quan hệ một chiều. thể kinh tế phi chính thức
có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế hoặc ngược lại
nếu chỉ xét riêng 2 biến số này.
Cùng với sự gia tăng về quy của kinh tế phi
chính thức sự gia tăng về quy của lượng thuế
thất thu tính trên GDP. Trong giai đoạn 1995 – 2018,
tính bình quân mỗi năm lượng thuế thất thu khoảng
4,01% GDP/năm. Nếu tính bình quân theo từng giai
đoạn 5 năm: (i) Giai đoạn 1995 – 1999, bình quân thất
thu thuế khoảng 3,59% GDP/năm; (ii) Giai đoạn 2000
2004, bình quân thất thu thuế khoảng 3,62% GDP/
năm; (iii) Giai đoạn 2005 2009, bình quân thất thu
thuế khoảng 3,63% GDP/năm; (iv) Giai đoạn 2010
2014, bình quân thất thu thuế khoảng 4,37% GDP/
năm; (v) Giai đoạn 2015 2018, bình quân thất thu
thuế khoảng 5,34% GDP/năm.
Kết quả ước lượng ảnh hưởng
của kinh tế phi chính thức tới tăng trưởng kinh tế
giai đoạn 1995 – 2018
Để ước lượng được ảnh hưởng của kinh
tế phi chính thức tới tăng trưởng kinh tế,
biến số đo lường quy của kinh tế phi
chính thức cần được loại trừ các yếu tố
ảnh hưởng từ thể chế. Trên sở phân tích
nghiên cứu của Nguyen (2019), Enste (2010)
Schneider Enste (2000) cho thấy, chất
lượng thể chế quản trị nhà nước ảnh
hưởng tới tăng trưởng kinh tế. Do đó, chất
lượng thể chế quản trị nhà nước thể
tác động làm thay đổi sự tác động của kinh
tế phi chính thức tới tăng trưởng kinh tế. Kết
quả ước lượng mối quan hệ giữa 2 biến số
này được trình bày Bảng 1.
Phân tích Bảng 1 cho thấy, mối tương
quan giữa quy của kinh tế phi chính
thức tăng trưởng kinh tế quan hệ tỷ
lệ nghịch. Điều đó hàm ý, nếu quy của
kinh tế phi chính thức được mở rộng thì sẽ
nhiều khả năng tốc độ tăng trưởng kinh
tế giảm xuống. Với kết quả ước lượng trình
bày tại Bảng 1 cho thấy, nếu quy của
kinh tế phi chính thức tăng thêm 1% thì tốc
độ tăng trưởng kinh tế thể bị giảm đi
khoảng 0,06%.
Tiếp theo, để có thể kiểm định mối quan
hệ nhân quả giữa kinh tế phi chính thức
tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong
giai đoạn 1995 2018, kiểm định nhân quả
Granger sẽ được sử dụng. Tác giả kỳ vọng giữa 2
biến số này có mối quan hệ nhân quả với nhau. Nếu
giữa chúng tồn tại mối quan hệ nhân quả, việc hoạch
định chính sách của Chính phủ sẽ đem lại những kết
quả thể dự đoán được. Trong tình huống không
tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa 2 biến số, các
chính sách của Chính phủ trong quá trình triển khai
phải được cân nhắc kỹ, nhằm tránh lãng phí nguồn
lực của Chính phủ không đem lại kết quả như
mong muốn.
Nhìn vào kết quả ước lượng được trình bày trong
Bảng 2 thể thấy, mối quan hệ giữa kinh tế phi
chính thức tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn
1995 2018 chưa phải mối quan hệ nhân quả
chỉ tồn tại mối quan hệ tác động một chiều. Qua phân
tích số liệu ước lượng cho thấy, việc mở rộng quy mô
của kinh tế phi chính thức làm gia tăng tốc độ tăng
trưởng kinh tế. Sự tác động này thể tin cậy được
mặc dù mới chỉ mức ý nghĩa 10%.
Như vậy, kết hợp kết quả tại Bảng 1 Bảng 2
HÌNH 1: DIỄN BIẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG GDP VÀ TỶ TRỌNG KINH TẾ PHI
CHÍNH THỨC GIAI ĐOẠN 1995 – 2019 (%)
Nguồn: Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam và báo cáo của Chính phủ; số liệu
về tỷ trọng kinh tế phi chính thức trên GDP từ năm 1995 – 2015 lấy từ Nguyen (2019); số liệu về
tỷ trọng kinh tế phi chính thức trên GDP từ năm 2016 – 2019 được ước tính bởi tác giả
HÌNH 2: PHẦN THUẾ BỊ MẤT TỪ KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC (%GDP)
Nguồn: Từ năm 1995 – 2015 tổng hợp số liệu từ Nguyen (2019); giai đoạn 2016 – 2018, tác
14
QUẢN LÝ, CHỐNG THẤT THU THUẾ KHU VỰC KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC
thể thấy rõ bức tranh toàn cảnh của mối quan hệ giữa
kinh tế phi chính thức tăng trưởng kinh tế Việt
Nam giai đoạn 1995 2018. Nếu như Bảng 1 kinh
tế phi chính thức tác động ngược chiều tới tăng
trưởng kinh tế nhưng chưa biết được sự tác động đó
như thế nào; tại Bảng 2 cho thấy, mối quan hệ kéo
theo giữa 2 biến số nhưng lại không biết được độ
lớn của mối quan hệ kéo theo đó là gì? Chính vì vậy,
khi kết hợp kết quả nghiên cứu tại Bảng 1 Bảng
2, thể khẳng định, trong giai đoạn 1995 2018,
việc cho phép mở rộng quy mô của kinh tế phi chính
thức kéo theo việc tốc độ tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam chưa đạt được mức tối đa vốn có. Nghĩa
là, nếu Chính phủ những biện pháp mạnh mẽ để
chính thức hóa kinh tế phi chính thức, thì tốc độ tăng
trưởng kinh tế sẽ nhiều khả năng được cải thiện,
cụ thể là có thể làm tăng thêm 0,064 điểm % mỗi năm
trong giai đoạn tới đây.
Chính phủ cần làm gì để quản lý kinh tế phi chính thức?
Kinh tế phi chính thức một thành tố cấu thành
của nền kinh tế Việt Nam. Các chính sách kinh tế của
Nhà nước đã đang được triển khai đều bao trùm
tới khu vực kinh tế này. Hay nói cách khác, một số
chủ thể tham gia kinh tế phi chính thức
được hưởng lợi ích từ chính sách của Nhà
nước, nhưng lại không tham gia đóng góp
tương xứng với nguồn lợi ích họ đang
được hưởng.
Để quản lý kinh tế phi chính thức hiệu
quả, bài viết tìm hiểu một số nguyên nhân
làm mở rộng quy khu vực kinh tế phi
chính thức trong giai đoạn 1995 – 2018. Do
hạn chế về nguồn số liệu, dữ liệu liên quan
đến kinh tế khu vực phi chính thức, nên
tác giả chỉ có thể kiểm định giả thuyết mối
tương quan tỷ lệ thuận giữa hệ thống thể
chế tốt, ít tham nhũng quy kinh tế
phi chính thức.
Nhiều kết quả nghiên cứu thực nghiệm
cho thấy, trong nhiều nền kinh tế tham
nhũng, chất lượng hệ thống thể chế pháp
lý thấp, niềm tin của người dân vào sự thực thi pháp
luật thấp chính những nguồn chính để nuôi dưỡng
sự mở rộng quy của kinh tế phi chính thức.
dụ: Việc tồn tại nhiều lao động chấp nhận làm việc
không có hợp đồng lao động là một minh chứng cho
việc chất lượng của thể chế pháp còn nhiều bất
cập. Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù Việt
Nam đã có nhiều cố gắng cải cách thể chế nhưng chất
lượng thể chế của nước ta vẫn còn đang ở mức trung
bình của thế giới, đặc biệt Việt Nam điểm số về
chất lượng luật pháp mức rất thấp. Hiện trạng đó
thể sẽ tiếp tục nuôi dưỡng sự phát triển về quy
của kinh tế phi chính thức ở nước ta trong giai đoạn
sắp tới (Bảng 3).
Theo kết quả ước lượng tại Bảng 3, trong các chỉ số
đo lường chất lượng quản trị của Nhà nước, chỉ số đo
lường mức độ tham nhũng ảnh hưởng nhất định
tới sự phát triển quy kinh tế phi chính thức. Chỉ
số đo lường chất lượng của luật pháp không ảnh
hưởng tới kinh tế phi chính thức Việt Nam trong
kỳ nghiên cứu. Các hệ số ước lượng đều mang dấu
dương hàm ý một mối quan hệ nghịch chiều giữa
kinh tế phi chính thức và chất lượng của quản trị nhà
nước. Các chỉ số đo lường mức độ tham nhũng, hiệu
quả của Chính phủ, mức độ tuân thủ pháp luật của
người dân ở Việt Nam đều nằm trong nhóm thấp của
thế giới; song hành với đó quy của kinh tế phi
chính thức ở Việt Nam khá lớn so với thế giới.
Trên sở phân tích bài viết, hàm ý chính sách
nhằm gia tăng công tác quản của Nhà nước đối
với khu vực kinh tế phi chính thức, thời gian tới cần
tập trung cải thiện thể chế quản trị quốc gia của Nhà
nước. Nội dung cải thiện thể chế quản trị quốc gia
bao gồm những hoạt động sau:
BẢNG 1: ƯỚC LƯỢNG MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995 – 2018
Mô hình 1: Ước
lượng theo
phương pháp bình
phương nhỏ nhất
Mô hình 2: Ước
lượng theo
phương pháp
biến công cụ
Biến phụ thuộc: Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Quy mô của kinh tế phi chính thức -0,078**
(0,032)
-0,064*
(0,037)
Hằng số 8.381***
(0,752)
7,838***
(0,787)
Độ phù hợp của mô hình 0,062 0,081
Kiểm định biến công cụ
của Kleibergen-Paap 9,683**
Kiểm định biến công cụ của Hansen 8,618**
Chú ý: - Số ở trong ngoặc đơn là độ lệch chuẩn;
- ***, **, *: Hệ số ước lượng có ý nghĩa thống kê ở các mức 1%, 5% và 10%
Nguồn: Ước lượng của tác giả
BẢNG 2: MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ GRANGER GIỮA KINH TẾ
PHI CHÍNH THỨC VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1995 – 2018
Mối quan hệ Thống kê F
Tăng trưởng kinh tế dẫn tới gia tăng
quy mô kinh tế phi chính thức
0,236
Gia tăng quy mô kinh tế phi chính
thức dẫn tới tăng trưởng kinh tế
3,357*
Chú ý: *: có ý nghĩa thống kê ở mức 10% Nguồn: Ước lượng của tác giả
TÀI CHÍNH - Tháng 08/2019
15
Thứ nhất, Chính phủ Việt Nam cần triển khai
những hành động thiết thực nhằm hạn chế đà gia
tăng quy mô kinh tế phi chính thức.
Việc mở rộng quy kinh tế phi chính thức sẽ
không chỉ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế,
còn gia tăng sự thất thu thuế của Chính phủ. Một
trong những nguyên nhân của hiện tượng này
mức độ, quy mô và phạm vi của các hoạt động tham
nhũng. Chính vì vậy, cần không ngừng ngăn ngừa
phòng chống các hành vi tham nhũng, đặc biệt tham
nhũng về mặt chính sách. Chính các hành vi này đã
góp phần nuôi dưỡng sự phát triển, mở rộng quy
của kinh tế phi chính thức Việt Nam. Điều đó gián
tiếp làm giảm đi tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giai
đoạn trước đây.
Thứ hai, Chính phủ cần thực hiện đa dạng các biện
pháp nhằm gia tăng hiệu quả hoạt động của Chính
phủ, đặc biệt đối với quản sự phát triển, mở rộng
quy mô của kinh tế phi chính thức.
Hiệu quả hoạt động của Chính phủ được thể hiện
những điểm sau đây: (i) Mức độ hiệu quả trong thực
hiện các chủ trương, chính sách lớn của Nhà nước đối
với kinh tế phi chính thức; (ii) Mức độ hiệu quả của
các cơ quan quản trong tham mưu các chính sách,
biện pháp quản lý đối với kinh tế phi chính thức; (iii)
Sự tiết kiệm nguồn lực trong thực hiện các chính sách
quản lý đối với kinh tế phi chính thức.
Để thể thực hiện hiệu quả công tác quản lý kinh
tế phi chính thức, Chính phủ cần thực hiện các nội
dung sau:
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về các loại hình
kinh tế phi chính thức và cung cấp quyền tiếp cận cơ
sở dữ liệu này cho các cơ quan của Nhà nước và các
Trung tâm nghiên cứu quốc gia để sử dụng trong các
nghiên cứu đề xuất giải pháp tới Chính phủ. Đặc biệt,
sở dữ liệu đó cần được liên thông từ Trung ương
đến địa phương;
- Tăng cường khả năng nhận diện các loại hình
kinh tế phi chính thức cho đội ngũ cán bộ hoạch định
chính sách cấp địa phương, hạn chế sự bỏ sót loại
hình trong quá trình xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu;
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu theo dõi, đánh giá
mức độ phát triển, quy mô phát triển của kinh tế phi
chính thức để cung cấp dữ liệu và số liệu cho các bên
có liên quan trong quá trình hoạch định chính sách.
Thứ ba, gia tăng mức độ tuân thủ pháp luật của
người dân bằng nhiều biện pháp hữu hiệu và thực tế.
Việc gia tăng này nhằm đảm bảo không có một ai
có thể can thiệp vào quá trình thực hiện các điều luật
quy định của hệ thống luật pháp. Hàm ý chính
sách này mối tương quan khá chặt chẽ với hàm
ý chính sách thứ nhất khi Chính phủ phải không
ngừng thực hiện phòng chống tham nhũng.
Sự gia tăng mức độ tuân thủ luật pháp của người
dân và giảm tham nhũng là 2 xu hướng có mối tương
quan chặt chẽ với nhau. Khi người dân hiểu được
rằng, họ không thể can thiệp hoặc dàn xếp bất cứ một
khâu nào trong quá trình thực hiện các quy định của
pháp luật thì họ sẽ tuân thủ nghiêm các điều luật.
Ngược lại, người dân cũng sẽ tuân thủ pháp luật
khi họ hiểu được các hậu quả sẽ phải gánh chịu khi
không tuân thủ luật pháp.
Tài liệu tham khảo:
1. Tổng cục Thống kê (1996 – 2018), Niên giám thống kê các năm,
, Hà Nội;
2. Nguyễn Quang Dong và Nguyễn Thị Minh (2013), Giáo trình Ki
NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội;
3. Enste, D. H. (2010), “Regulation and shadow economy: Empirica
OECD countries, Constitutional Political Economy, Vol 21, No.3
4. Nguyen Thai Hoa (2019), “How large is Vietnams informal econ
Economic Affairs, Vol 39, pp. 81 – 100;
5. Schneider, F. & Enste, H. D. (2000), “Shadow economies: Sizes,
consequences”, Journal of Economic Literature, Vol 38, No.1, pp.7
Thông tin tác giả:
TS. Đỗ Tất Cường - Viện Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc
Email: cuongdt@hcma.vn
BẢNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ TỚI KINH TẾ
PHI CHÍNH THỨC Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995 – 2018
Biến số Giá trị
Biến phụ thuộc là quy mô kinh tế phi chính thức trên GDP
Chỉ số đo lường mức độ tham nhũng 22,989***
(3,774)
Chỉ số đo lường mức độ hiệu quả của Chính phủ 6,364**
(2,421)
Chỉ số đo lường chất lượng của luật pháp -3,459
(6,811)
Chỉ số đo lường mức độ tuân thủ
luật pháp của người dân
8,602***
(2,482)
Hằng số 36,925***
(3,259)
Độ phù hợp của mô hình 0,8558
Chú ý: - Số trong ngoặc đơn là độ lệch chuẩn; ***, **:
Có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1% và 5%
Nguồn: Ước lượng của tác giả
Việc mở rộng quy mô kinh tế phi chính thức sẽ
không chỉ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh
tế, mà còn gia tăng sự thất thu thuế của Chính
phủ. Một trong những nguyên nhân của hiện
tượng này là mức độ, quy mô và phạm vi của
các hoạt động tham nhũng.

Preview text:

QUẢN LÝ, CHỐNG THẤT THU THUẾ KHU VỰC KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC
TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC
ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ĐỖ TẤT CƯỜNG
Trong điều kiện số liệu, dữ liệu về kinh tế phi chính thức ở Việt Nam còn ít và chưa hệ thống, bài viết sử
dụng tối đa các nguồn dữ liệu sẵn có kết hợp với phương pháp phân tích hồi quy theo chuỗi thời gian.
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, giữa kinh tế phi chính thức và tăng trưởng kinh tế không tồn tại
quan hệ nhân quả mà chỉ tồn tại quan hệ ảnh hưởng của kinh tế phi chính thức tới tăng trưởng kinh tế.
Trong kỳ nghiên cứu, quy mô kinh tế phi chính thức tăng 1% thì dẫn tới tốc độ tăng trưởng kinh tế mất
đi 0,06 điểm %. Để nhằm hạn chế ảnh hưởng xấu tới tăng trưởng kinh tế, bài viết đưa ra một số hàm ý
chính sách tập trung vào việc cải thiện hiệu quả quản trị quốc gia của Nhà nước.
Từ khóa: Kinh tế phi chính thức, tăng trưởng kinh tế, Việt Nam
phi chính thức tới tăng trưởng kinh tế không dễ dàng.
Với mục tiêu phân tích các tác động của khu vực kinh
IMPACTS OF THE INFORMAL ECONOMY ON ECONOMIC GROWTH
tế phi chính thức tới tăng trưởng kinh tế trong điều Do Tat Cuong
kiện thiếu nhiều số liệu thống kê, bài viết sử dụng
phân tích thống kê đơn giản và phương pháp hồi
In the situation that the data and information of
quy tuyến tính với 2 biến số chính là tỷ trọng kinh tế
the informal economy in Vietnam are still small
phi chính thức so với GDP (đơn vị %) và tốc độ tăng
and not systematic, the paper has made maximum
trưởng của GDP (đơn vị %).
use of available data sources in combination with
Để phân tích quan hệ nhân quả giữa kinh tế phi
the regression analysis method in time series.
chính thức và tăng trưởng kinh tế, bài viết sử dụng
The results of the regression analysis show that
there is no cause and effect relationship between
kiểm định nhân quả Granger sau khi biến số kinh tế
phi chính thức đã được loại trừ các tác nhân từ phía
the informal economy and economic growth, but
only the influence relationship of the informal
Chính phủ và hệ thống quản trị.
economy on economic growth has found. In the
Một số tác động của kinh tế
phi chính thức đến tăng trưởng kinh tế
research period, the size of the informal economy
increased by 1%, leading to the economic growth
rate losing 0.06 percentage points. In order to
Diễn biến của khu vực kinh tế phi chính thức
limit the negative impact on economic growth,
Để ước lượng được độ lớn của khu vực kinh tế
the paper provides some policy implications
phi chính thức, bài viết áp dụng phương pháp ước
focusing on improving the state governance efficiency of the State.
lượng do Schneider và Enste (2000) đề xuất và được
Nguyen (2019) áp dụng đối với trường hợp của Việt
KKeywords: Informal economy, economic growth, VietnamNam. Bên cạnh đó, tác giả mở rộng bộ dữ liệu đã
hu vực kinh tế phi chính thức hàm chứa
được Nguyen (2019) sử dụng cho giai đoạn 1995 –
2017 để làm cơ sở ước tính và dự báo cho năm 2018 Ngày nhận bài: 25/6/2019 và năm 2019.
Ngày hoàn thiện biên tập: 22/7/2019
Nhìn vào diễn biến về độ lớn của kinh tế phi chính
Ngày duyệt đăng: 29/7/2019
thức trong giai đoạn 1995 – 2019 (Hình 1) có thể thấy,
mức độ biến động của nó khác với xu hướng biến
động của tốc độ tăng trưởng GDP. Dường như 2 xu
nhiều hoạt động kinh tế khác nhau và đa
hướng thay đổi này không có mối tương quan với
dạng về mặt hình thức biểu hiện. Điều này
nhau. Tỷ trọng của kinh tế phi chính thức trên GDP
làm cho việc đánh giá tác động của khu vực kinh tế
thấp nhất vào năm 2006 (với mức xấp xỉ 15%) và cao 12 TÀI CHÍNH - Tháng 08/2019
HÌNH 1: DIỄN BIẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG GDP VÀ TỶ TRỌNG KINH TẾ PHI tế phi chính thức tới tăng trưởng kinh tế. Kết
CHÍNH THỨC GIAI ĐOẠN 1995 – 2019 (%)
quả ước lượng mối quan hệ giữa 2 biến số
này được trình bày ở Bảng 1.
Phân tích Bảng 1 cho thấy, mối tương
quan giữa quy mô của kinh tế phi chính
thức và tăng trưởng kinh tế là quan hệ tỷ
lệ nghịch. Điều đó hàm ý, nếu quy mô của
kinh tế phi chính thức được mở rộng thì sẽ
có nhiều khả năng tốc độ tăng trưởng kinh
tế giảm xuống. Với kết quả ước lượng trình
bày tại Bảng 1 cho thấy, nếu quy mô của
kinh tế phi chính thức tăng thêm 1% thì tốc
độ tăng trưởng kinh tế có thể bị giảm đi khoảng 0,06%.
Nguồn: Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê V Tiếp theo, để có thể
iệt Nam và báo cáo của Chính phủ; số liệu kiểm định mối quan
về tỷ trọng kinh tế phi chính thức trên GDP hệ
từ năm 1995 – 2015 lấy từ Nguy nhân quả giữa
en (2019); số liệu về kinh tế phi chính thức
tỷ trọng kinh tế phi chính thức trên GDP từ năm 2016 – 2019 được ước tính bởi tác giả
và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong
nhất là năm 2016 (khoảng 27,5%), trong khi đó, tốc
giai đoạn 1995 – 2018, kiểm định nhân quả
độ tăng trưởng GDP của năm 2006 cao hơn năm 2016
Granger sẽ được sử dụng. Tác giả kỳ vọng giữa 2
là 0,77 điểm %. Điều này hàm ý rằng, giữa kinh tế
biến số này có mối quan hệ nhân quả với nhau. Nếu
phi chính thức và tăng trưởng kinh tế chỉ tồn tại mối
giữa chúng tồn tại mối quan hệ nhân quả, việc hoạch
quan hệ một chiều. Có thể là kinh tế phi chính thức
định chính sách của Chính phủ sẽ đem lại những kết
có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế hoặc ngược lại
quả có thể dự đoán được. Trong tình huống không
nếu chỉ xét riêng 2 biến số này.
tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa 2 biến số, các
Cùng với sự gia tăng về quy mô của kinh tế phi
chính sách của Chính phủ trong quá trình triển khai
chính thức là sự gia tăng về quy mô của lượng thuế
phải được cân nhắc kỹ, nhằm tránh lãng phí nguồn
thất thu tính trên GDP. Trong giai đoạn 1995 – 2018,
lực của Chính phủ mà không đem lại kết quả như
tính bình quân mỗi năm lượng thuế thất thu khoảng mong muốn.
4,01% GDP/năm. Nếu tính bình quân theo từng giai
Nhìn vào kết quả ước lượng được trình bày trong
đoạn 5 năm: (i) Giai đoạn 1995 – 1999, bình quân thất
Bảng 2 có thể thấy, mối quan hệ giữa kinh tế phi
thu thuế khoảng 3,59% GDP/năm; (ii) Giai đoạn 2000
chính thức và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn
– 2004, bình quân thất thu thuế khoảng 3,62% GDP/
1995 – 2018 chưa phải là mối quan hệ nhân quả mà
năm; (iii) Giai đoạn 2005 – 2009, bình quân thất thu
chỉ tồn tại mối quan hệ tác động một chiều. Qua phân
thuế khoảng 3,63% GDP/năm; (iv) Giai đoạn 2010 –
tích số liệu ước lượng cho thấy, việc mở rộng quy mô
2014, bình quân thất thu thuế khoảng 4,37% GDP/
của kinh tế phi chính thức làm gia tăng tốc độ tăng
năm; (v) Giai đoạn 2015 – 2018, bình quân thất thu
trưởng kinh tế. Sự tác động này có thể tin cậy được
thuế khoảng 5,34% GDP/năm.
mặc dù mới chỉ ở mức ý nghĩa 10%.
Kết quả ước lượng ảnh hưởng
Như vậy, kết hợp kết quả tại Bảng 1 và Bảng 2 có
của kinh tế phi chính thức tới tăng trưởng kinh tế
HÌNH 2: PHẦN THUẾ BỊ MẤT TỪ KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC (%GDP) giai đoạn 1995 – 2018
Để ước lượng được ảnh hưởng của kinh
tế phi chính thức tới tăng trưởng kinh tế,
biến số đo lường quy mô của kinh tế phi
chính thức cần được loại trừ các yếu tố
ảnh hưởng từ thể chế. Trên cơ sở phân tích
nghiên cứu của Nguyen (2019), Enste (2010)
và Schneider và Enste (2000) cho thấy, chất
lượng thể chế và quản trị nhà nước ảnh
hưởng tới tăng trưởng kinh tế. Do đó, chất
lượng thể chế và quản trị nhà nước có thể
tác động làm thay đổi sự tác động của kinh
Nguồn: Từ năm 1995 – 2015 tổng hợp số liệu từ Nguyen (2019); giai đoạn 2016 – 2018, tác 13
QUẢN LÝ, CHỐNG THẤT THU THUẾ KHU VỰC KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC
BẢNG 1: ƯỚC LƯỢNG MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC
chủ thể tham gia kinh tế phi chính thức
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995 – 2018
được hưởng lợi ích từ chính sách của Nhà
Mô hình 1: Ước Mô hình 2: Ước nước, nhưng lại không tham gia đóng góp lượng theo lượng theo
phương pháp bình phương pháp
tương xứng với nguồn lợi ích mà họ đang
phương nhỏ nhất biến công cụ được hưởng.
Để quản lý kinh tế phi chính thức hiệu
Biến phụ thuộc: Tốc độ tăng trưởng kinh tế
quả, bài viết tìm hiểu một số nguyên nhân
Quy mô của kinh tế phi chính thức -0,078** -0,064* (0,032) (0,037)
làm mở rộng quy mô khu vực kinh tế phi 7,838***
chính thức trong giai đoạn 1995 – 2018. Do Hằng số 8.381*** (0,752) (0,787)
hạn chế về nguồn số liệu, dữ liệu liên quan
Độ phù hợp của mô hình 0,062 0,081
đến kinh tế khu vực phi chính thức, nên
Kiểm định biến công cụ
tác giả chỉ có thể kiểm định giả thuyết mối của Kleibergen-Paap 9,683**
tương quan tỷ lệ thuận giữa hệ thống thể
Kiểm định biến công cụ của Hansen
8,618** chế tốt, ít tham nhũng và quy mô kinh tế phi chính thức.
Chú ý: - Số ở trong ngoặc đơn là độ lệch chuẩn;
Nhiều kết quả nghiên cứu thực nghiệm
- ***, **, *: Hệ số ước lượng có ý nghĩa thống kê ở các mức 1%, 5% và 10%
cho thấy, trong nhiều nền kinh tế tham
Nguồn: Ước lượng của tác giả
nhũng, chất lượng hệ thống thể chế pháp
BẢNG 2: MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ GRANGER GIỮA KINH TẾ
lý thấp, niềm tin của người dân vào sự thực thi pháp
PHI CHÍNH THỨC VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
luật thấp chính là những nguồn chính để nuôi dưỡng GIAI ĐOẠN 1995 – 2018
sự mở rộng quy mô của kinh tế phi chính thức. Ví Mối quan hệ
Thống kê Fdụ: Việc tồn tại nhiều lao động chấp nhận làm việc
Tăng trưởng kinh tế dẫn tới gia tăng 0,236
không có hợp đồng lao động là một minh chứng cho
quy mô kinh tế phi chính thức
việc chất lượng của thể chế pháp lý còn nhiều bất
Gia tăng quy mô kinh tế phi chính 3,357*
cập. Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù Việt
thức dẫn tới tăng trưởng kinh tế
Nam đã có nhiều cố gắng cải cách thể chế nhưng chất
Chú ý: *: có ý nghĩa thống kê ở mức 10% lượng thể chế của
Nguồn: Ước lượng của tác giả
nước ta vẫn còn đang ở mức trung
bình của thế giới, đặc biệt Việt Nam có điểm số về
thể thấy rõ bức tranh toàn cảnh của mối quan hệ giữa
chất lượng luật pháp ở mức rất thấp. Hiện trạng đó
kinh tế phi chính thức và tăng trưởng kinh tế ở Việt
có thể sẽ tiếp tục nuôi dưỡng sự phát triển về quy mô
Nam giai đoạn 1995 – 2018. Nếu như ở Bảng 1 kinh
của kinh tế phi chính thức ở nước ta trong giai đoạn
tế phi chính thức có tác động ngược chiều tới tăng sắp tới (Bảng 3).
trưởng kinh tế nhưng chưa biết được sự tác động đó
Theo kết quả ước lượng tại Bảng 3, trong các chỉ số
như thế nào; tại Bảng 2 cho thấy, mối quan hệ kéo
đo lường chất lượng quản trị của Nhà nước, chỉ số đo
theo giữa 2 biến số nhưng lại không biết được độ
lường mức độ tham nhũng có ảnh hưởng nhất định
lớn của mối quan hệ kéo theo đó là gì? Chính vì vậy,
tới sự phát triển quy mô kinh tế phi chính thức. Chỉ
khi kết hợp kết quả nghiên cứu tại Bảng 1 và Bảng
số đo lường chất lượng của luật pháp không có ảnh
2, có thể khẳng định, trong giai đoạn 1995 – 2018,
hưởng tới kinh tế phi chính thức ở Việt Nam trong
việc cho phép mở rộng quy mô của kinh tế phi chính
kỳ nghiên cứu. Các hệ số ước lượng đều mang dấu
thức kéo theo việc tốc độ tăng trưởng kinh tế của
dương hàm ý một mối quan hệ nghịch chiều giữa
Việt Nam chưa đạt được mức tối đa vốn có. Nghĩa
kinh tế phi chính thức và chất lượng của quản trị nhà
là, nếu Chính phủ có những biện pháp mạnh mẽ để
nước. Các chỉ số đo lường mức độ tham nhũng, hiệu
chính thức hóa kinh tế phi chính thức, thì tốc độ tăng
quả của Chính phủ, mức độ tuân thủ pháp luật của
trưởng kinh tế sẽ có nhiều khả năng được cải thiện,
người dân ở Việt Nam đều nằm trong nhóm thấp của
cụ thể là có thể làm tăng thêm 0,064 điểm % mỗi năm
thế giới; song hành với đó là quy mô của kinh tế phi
trong giai đoạn tới đây.
chính thức ở Việt Nam khá lớn so với thế giới.
Chính phủ cần làm gì để quản lý kinh tế phi chính thức?
Trên cơ sở phân tích bài viết, hàm ý chính sách
nhằm gia tăng công tác quản lý của Nhà nước đối
Kinh tế phi chính thức là một thành tố cấu thành
với khu vực kinh tế phi chính thức, thời gian tới cần
của nền kinh tế Việt Nam. Các chính sách kinh tế của
tập trung cải thiện thể chế quản trị quốc gia của Nhà
Nhà nước đã và đang được triển khai đều bao trùm
nước. Nội dung cải thiện thể chế quản trị quốc gia
tới khu vực kinh tế này. Hay nói cách khác, một số
bao gồm những hoạt động sau: 14 TÀI CHÍNH - Tháng 08/2019
BẢNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ TỚI KINH TẾ
quản lý đối với kinh tế phi chính thức.
PHI CHÍNH THỨC Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995 – 2018
Để có thể thực hiện hiệu quả công tác quản lý kinh Biến số Giá trị
tế phi chính thức, Chính phủ cần thực hiện các nội dung sau:
Biến phụ thuộc là quy mô kinh tế phi chính thức trên GDP
Chỉ số đo lường mức độ tham nhũng 22,989***
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về các loại hình (3,774)
kinh tế phi chính thức và cung cấp quyền tiếp cận cơ
Chỉ số đo lường mức độ hiệu quả của Chính phủ sở
6,364** dữ liệu này cho các cơ quan của Nhà nước và các (2,421)
Trung tâm nghiên cứu quốc gia để sử dụng trong các
Chỉ số đo lường chất lượng của luật pháp
-3,459 nghiên cứu đề xuất giải pháp tới Chính phủ. Đặc biệt, (6,811)
cơ sở dữ liệu đó cần được liên thông từ Trung ương
Chỉ số đo lường mức độ tuân thủ 8,602*** (2,482) đến địa phương;
luật pháp của người dân
- Tăng cường khả năng nhận diện các loại hình Hằng số 36,925*** (3,259)
kinh tế phi chính thức cho đội ngũ cán bộ hoạch định
Độ phù hợp của mô hình 0,8558
chính sách ở cấp địa phương, hạn chế sự bỏ sót loại
hình trong quá trình xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu;
Chú ý: - Số trong ngoặc đơn là độ lệch chuẩn; ***, **:
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu theo dõi, đánh giá
Có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1% và 5% mức độ phát triển,
Nguồn: Ước lượng của tác giả
quy mô phát triển của kinh tế phi
chính thức để cung cấp dữ liệu và số liệu cho các bên
Thứ nhất, Chính phủ Việt Nam cần triển khai
có liên quan trong quá trình hoạch định chính sách.
những hành động thiết thực nhằm hạn chế đà gia
Thứ ba, gia tăng mức độ tuân thủ pháp luật của
tăng quy mô kinh tế phi chính thức.
người dân bằng nhiều biện pháp hữu hiệu và thực tế.
Việc gia tăng này nhằm đảm bảo không có một ai
Việc mở rộng quy mô kinh tế phi chính thức sẽ
có thể can thiệp vào quá trình thực hiện các điều luật
không chỉ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh
và quy định của hệ thống luật pháp. Hàm ý chính
tế, mà còn gia tăng sự thất thu thuế của Chính
sách này có mối tương quan khá chặt chẽ với hàm
phủ. Một trong những nguyên nhân của hiện
ý chính sách thứ nhất khi Chính phủ phải không
tượng này là mức độ, quy mô và phạm vi của
ngừng thực hiện phòng và chống tham nhũng.
các hoạt động tham nhũng.
Sự gia tăng mức độ tuân thủ luật pháp của người
dân và giảm tham nhũng là 2 xu hướng có mối tương
Việc mở rộng quy mô kinh tế phi chính thức sẽ
quan chặt chẽ với nhau. Khi người dân hiểu được
không chỉ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, mà
rằng, họ không thể can thiệp hoặc dàn xếp bất cứ một
còn gia tăng sự thất thu thuế của Chính phủ. Một
khâu nào trong quá trình thực hiện các quy định của
trong những nguyên nhân của hiện tượng này là
pháp luật thì họ sẽ tuân thủ nghiêm các điều luật.
mức độ, quy mô và phạm vi của các hoạt động tham
Ngược lại, người dân cũng sẽ tuân thủ pháp luật
nhũng. Chính vì vậy, cần không ngừng ngăn ngừa và
khi họ hiểu được các hậu quả sẽ phải gánh chịu khi
phòng chống các hành vi tham nhũng, đặc biệt tham
không tuân thủ luật pháp.
nhũng về mặt chính sách. Chính các hành vi này đã Tài liệu tham khảo:
góp phần nuôi dưỡng sự phát triển, mở rộng quy mô
của kinh tế phi chính thức ở Việt Nam. Điều đó gián
1. Tổng cục Thống kê (1996 – 2018), Niên giám thống kê các năm,
tiếp làm giảm đi tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giai kê, Hà Nội; đoạn trước đây.
2. Nguyễn Quang Dong và Nguyễn Thị Minh (2013), Giáo trình Ki
Thứ hai, Chính phủ cần thực hiện đa dạng các biện
NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội;
pháp nhằm gia tăng hiệu quả hoạt động của Chính
3. Enste, D. H. (2010), “Regulation and shadow economy: Empirica
phủ, đặc biệt đối với quản lý sự phát triển, mở rộng
OECD countries”, Constitutional Political Economy, Vol 21, No.3
quy mô của kinh tế phi chính thức.
4. Nguyen Thai Hoa (2019), “How large is Vietnam’s informal econ
Hiệu quả hoạt động của Chính phủ được thể hiện
Economic Affairs, Vol 39, pp. 81 – 100;
ở những điểm sau đây: (i) Mức độ hiệu quả trong thực
5. Schneider, F. & Enste, H. D. (2000), “Shadow economies: Sizes,
hiện các chủ trương, chính sách lớn của Nhà nước đối
consequences”, Journal of Economic Literature, Vol 38, No.1, pp.7
với kinh tế phi chính thức; (ii) Mức độ hiệu quả của Thông tin tác giả:
các cơ quan quản lý trong tham mưu các chính sách,
biện pháp quản lý đối với kinh tế phi chính thức; (iii)
TS. Đỗ Tất Cường - Viện Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc
Sự tiết kiệm nguồn lực trong thực hiện các chính sách Email: cuongdt@hcma.vn 15