
















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA VĂN HỌC
MÔN: ĐẠI CƯƠNG THỂ LOẠI ĐIỆN ẢNH – TRUYỀN HÌNH ĐỀ TÀI
THỂ LOẠI PHIM KHOA HỌC VIỄN TƯỞNG – BỘ PHIM INTERSTELLAR Giảng viên: TS. Lê Thị Tuân Lớp học phần: CIN2002 Nhóm: 5 Thành viên:
Phạm Khánh Ngọc – 24030379 Phạm Thị Thanh Mai – 24030373 Vương Tâm My - 24030373
Triệu Đàm Quang Nghĩa – 24030378 Nguyễn Trà My – 24030376 Đặng Tài Nam 23031707
Nguyễn Bảo Ngọc – 24030381
Nguyễn Ngọc Bảo Linh – 24030370 Hà Nội/202 1 MỤC LỤC I.
THỂ LOẠI VÀ GIỚI THIỆU VỀ PHIM ...............................................3
1. Thể loại khoa học viễn tưởng .............................................................3
a) Cốt truyện......................................................................................3
b) Bối cảnh.........................................................................................3
c) Nhân vật.........................................................................................4
2. Giới thiệu về phim Intersalla..............................................................4
a) Đạo diễn.........................................................................................4
b) Bộ phim Intersalla............................................................................5 II.
NGÔN NGỮ ĐIỆN ẢNH .......................................................................6
1. Dàn cảnh ............................................................................................6
a) Bối cảnh, hình ảnh, ánh sáng, màu sắc..........................................7
b) Diễn xuất .......................................................................................7
c) Chủ đề và biểu tượng.....................................................................8
2. Dựng phim .........................................................................................8
a) Cốt truyện phi tuyến tính ..............................................................8
b) Dựng song hành.............................................................................9
3. Quay phim ..........................................................................................9
a) Góc máy ........................................................................................9
b) Chuyển động máy quay.................................................................10
4. Âm thanh.............................................................................................10
a) Thiết kế âm thanh..........................................................................10
b) Nhạc nền .......................................................................................11
III. YẾU TỐ THỜI ĐẠI CỦA BỘ PHIM ....................................................11
1. Khủng hoảng môi trường và tương lai của nhân loại..........................11
2.Sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kĩ thuật.................................................12
3.Tình cảm gia đình và giá trị nhân văn.......................................................12
4.Khám phá vũ trụ và những câu hỏi lớn về cuộc sống ...............................13
5.Sự hớp tác quốc tế ....................................................................................13
IV. SO SÁNH VỚI CÁC BỘ PHIM CÙNG THỂ LOẠI .............................13 2
I - THỂ LOẠI PHIM KHOA HỌC VIỄN TƯỞNG, PHÂN TÍCH BỘ PHIM
DƯỚI GÓC NHÌN THỂ LOẠI 1.
Thể loại phim khoa học viễn tưởng
Phim khoa học viễn tưởng/ giả tưởng (hoặc sci-fi, viết tắt của từ Science
fiction) là một thể loại phim sử dụng những mô tả mang tính tiên đoán và hư cấu
dựa trên khoa học về các hiện tượng mà khoa học chính thống không chấp nhận
đầy đủ như sinh vật ngoài Trái Đất, thế giới người ngoài hành tinh, ngoại cảm và
du hành thời gian cùng với các yếu tố tương lai như tàu vũ trụ, robot, sinh vật cơ
khí hóa, du hành liên sao hoặc các kỹ thuật khác.
Thể loại phim không phải là mới là đã xuất hiện từ thời kỳ phim câm như các
bộ phim Chuyến đi tới Mặt Trăng của Georges Melies (1902) Metropolis (1927). a) Cốt truyện:
Cốt truyện dựa trên giả thuyết khoa học có thể là những giả thuyết đã được
chứng minh hoặc hoàn toàn là những nội dung hư cấu. Những bộ phim sẽ đề cập
đến những công nghệ tương lai miêu tả những công nghệ tiên tiến vượt xa khả
năng của con người thời điểm hiện tại.
Chủ yếu sẽ gồm những yếu tố về du hành thời gian: các nhân vật trong bộ
phim sẽ có khả năng hoặc điều kiện để dịch chuyển đến những dòng thời gian khác
nhau từ đó sẽ tạo ra những vòng thời gian luân hồi hay những thay đổi mang tính
lịch sử với những cuộc gặp gỡ ở quá khứ và tương lai. Bên cạnh đó cũng có những
bộ phim chọn chủ đề về một thế giới tương lai đen tối với một thế giới bất công rối
ren nơi con người phải đối mặt với những nguy hiểm xã hội, sống trong môi
trường ô nhiễm, thế giới chính trị khủng hoảng, trí tuệ AI phát triển mất kiểm soát.
Không chỉ du hành về mặt thời gian những bộ phim khoa học viễn tưởng còn
thường sẽ đi sâu khai thác về mặt du hành không gian: những hành tinh, vũ trụ
khác tạo ra những gặp gỡ giữa những nền văn minh ngoài trái đất hoặc đối mặt với
những nguy hiểm ở ngoài hệ mặt trời. Ngoài ra có cả những bộ phim khai thác nội
dung về vũ trụ song song về việc di chuyển giữa vũ trụ này với vũ trụ khác hoặc
những đụng độ giao thoa với các vũ trụ tạo ra những tình huống phức tạp và bất ngờ.
Sự sống ngoài trái đất cũng là tuyến cốt truyện thú vị với những nhà làm phim
khi nó khai thác về sự sống khác ngoài con người bên ngoài vũ trụ, hành tinh rộng
lớn tạo nên chủ đề thú vị thu hút sự tò mò với nhiều khán giả yêu thích điện ảnh. b) Bối cảnh:
Đa dạng, phong phú, kì ảo và phi hiện thực. Bối cảnh thường sẽ lựa chọn ở thì
tương lai xa: có thể là trái đất không còn là nơi tồn tại an toàn của con người, con
người du hành vũ trụ, tìm kiếm hành tinh mới, nơi có thể là những hành tinh có ở
thực tế hoặc là những hành tinh giả tưởng. Với không gian bao la của vũ trụ rộng 3
lớn sự sáng tạo của các nhà làm phim sẽ không bao giờ bị giới hạn. Ngoài ra bối
cảnh ở quá khứ cũng xuất hiện nhiều trong một số bộ phim khoa học viễn tưởng
với mục đích là các nhân vật quay về quá khứ để thay đổi những sự kiện xảy ra
trong hiện tại hoặc tương lai.
Bối cảnh không chỉ là phông nền mà còn là một phần quan trọng trong phim.
Nó quyết định bầu không khí của bộ phim và tạo nên những tình huống, thử thách
cho nhân vật, đồng thời cũng phản ánh những quan niệm, nỗi sợ hãi và ước mơ của
con người.Những bối cảnh mới lạ, kỳ ảo luôn kích thích sự tò mò của khán giả đại
chúng, khiến họ muốn khám phá và tìm hiểu thêm về thế giới ảo trong phim. Nhiều
bộ phim khoa học viễn tưởng sử dụng bối cảnh để phản ánh những vấn đề xã hội
hiện tại, như ô nhiễm môi trường, bất bình đẳng, chiến tranh,...Bằng cách đặt con
người vào những tình huống cực đoan, các bộ phim khoa học viễn tưởng giúp
chúng ta suy ngẫm về bản chất của cuộc sống, về đạo đức, về giá trị của khoa học và công nghệ. c) Nhân vật
Tuyến nhân vật chính diện: Thường là những người có phẩm chất tốt đẹp,
dũng cảm, thông minh và quyết tâm bảo vệ cuộc sống của chính mình cũng như
bảo vệ thế giới. Họ có thể là những nhà khoa học, phi hành gia, hoặc những người
bình thường bất ngờ sở hữu những khả năng đặc biệt như siêu năng lực. Con người
hoặc các sinh vật khác sở hữu những khả năng đặc biệt vượt qua giới hạn của con
người bình thường, tạo ra những cuộc chiến giữa những người có siêu năng lực
hoặc những cuộc đấu tranh để bảo vệ thế giới.·
Tuyến nhân vật phản diện: Thường là những thế lực xấu xa với những âm
mưu phá hoại thế giới hoặc tham vọng trở thành bá chủ đối kháng với nhân vật
chính, có thể là những kẻ xấu xa, những sinh vật ngoài hành tinh thù địch, hoặc
những trí tuệ nhân tạo nổi loạn.
Những đặc điểm tính cách nổi bật của nhân vật trong phim khoa học viễn
tưởng: Phức tạp và đa chiều: Nhân vật không chỉ đơn thuần là người tốt hoặc
người xấu mà thường sẽ luôn có những câu chuyện quá khứ riêng của bản thân có
những mâu thuẫn nội tâm, những quyết định khó khăn và những câu hỏi về bản
thân từ đó có thể trở thành động cơ để nảy sinh ra những hành động dũng cảm dám
dấn thân quyết tâm khám phá thế giới. Phát triển qua từng giai đoạn: Nhân vật
thường trải qua những sự kiện mang tính thay đổi lớn trong quá trình phát triển
tuyến cốt truyện từ một người bình thường trở thành một anh hùng hoặc ngược lại.
Đại diện cho những vấn đề xã hội: Nhân vật có thể đại diện cho những vấn đề xã
hội như phân biệt chủng tộc, bất bình đẳng, hoặc những lo ngại về tương lai của nhân loại.
2. Giới thiệu về bộ phim: a) Đạo diễn 4
Christopher Nolan là vị đạo diễn nổi tiếng người Mỹ gốc Anh, những tác
phẩm điện ảnh của ông luôn thu hút được lượng lớn sự quan tâm yêu thích của
công chúng. Trong hơn 20 năm theo đuổi đam mê điện ảnh ông đã cho ra đời rất
nhiều bộ phim nổi tiếng: Inception (2010), Thể Dark Knight (2008), Oppenheimer
(2023), Tenet (2020), Memento (2000),... Phong cách làm phim của ông rất độc
đáo để lại một dấu ấn riêng. Ông thích sử dụng ánh sáng tự nhiên, hợp tác với các
diễn viên, đồng nghiệp cũ, ưu tiên tạo các hiệu ứng thực tế,... Ông đặc biệt yêu
thích chủ đề về khoa học, vũ trụ và bị hấp dẫn mạnh mẽ bởi thời gian. Thời gian có
thể coi là yếu tố không thể không nhắc đến khi đề cập đến những bộ phim của vị đạo diễn này. b) Bộ phim Interstellar
Bộ phim Interstellar ra mắt năm 2014 của vị đạo diễn Christopher Nolan là
một tác phẩm tiêu biểu của thể loại phim khoa học viễn tưởng. Tác phẩm đã nhận
được rất nhiều lời khen và phần thưởng: giải Best Visual Effects của Oscar (2015),
giải Best Score Soundtrack for Visual Media của Grammy Awards (2016),....
Bộ phim lấy bối cảnh trong tương lai không xa khi trái đất dần không còn là
ngôi nhà thích hợp để con người sinh sống. Môi trường bị ô nhiễm, những đợt hạn
hán nghiêm trọng, dịch bệnh, cây lương thực chết,... đã đẩy con người vào tình thế
nguy hiểm. Buộc những nhà nghiên cứu phải tìm ra những giải pháp để thay đổi
hoàn cảnh trước khi toàn bộ nhân loại bị tiêu diệt. Cooper nhân vật chính của bộ
phim, trước khi về nông trại làm việc cùng với gia đình đã từng là một phi công và
là một kĩ sư tài giỏi. Anh nhận lời mời tham gia vào một dự án mật của Nasa có tên
Larazus do tiến sĩ Dr. Brand đứng đầu nghiên cứu với mục đích tìm kiếm một hành
tinh khác thay thế trái đất. Dự án gồm hai phương án, phương án A là lợi dụng
trọng lực để đưa con người vào không gian nhưng chưa thể thực hiện được vì thiếu
dữ liệu và bài toán về phương trình trọng lực chưa được giải xong. Trong khi đó
phương án B khả thi hơn rất nhiều khi mang theo 5000 phôi người tìm kiếm một
hành tinh có sự sống và bắt đầu làm lại từ đầu. Từ đây, một cuộc hành dài và đầy
khó khăn đang chờ đợi đoàn phi hành gia phía trước, họ đã đi qua những hành tinh
khắc nghiệt và phải đưa ra những thử thách khó khăn. Bộ phim không đơn thuần
chỉ nói về những kiến thức khoa học khô khan, hành trình giải cứu trái đất,... mà
còn đề cập đến những khía cạnh khác của cuộc sống như tình cảm gia đình, khát vọng, lý tưởng,....
Interstellar sử dụng rất nhiều lý thuyết vật lý, khoa học: lực hấp dẫn, trọng
lực, hố đen,...làm cơ sở xây dựng bộ phim. Đặc biệt trong đó là kiến thức về lỗ sâu
và sự giãn nở thời gian. Lỗ sâu là một lối đi trên lý thuyết xuyên qua không-thời
gian, tạo nên lối tắt cho các cuộc hành trình dài qua vũ trụ. Trong bộ phim nhờ vào
lỗ sâu do một thế lực siêu nhiên ngoài hành tinh ở một nền văn minh hiện đại hơn
tạo nên mà nhóm phi hành gia mới có thể đi đến một thiên hà khác tìm kiếm sự
sống cho trái đất. Trong phân cảnh ở hành tinh nước, bộ phim đã sử dụng đến 5
thuyết tương đối của Albert Einstein, ta biết được rằng thời gian ở đây trôi qua một
giờ bằng bảy năm trái đất do lực hấp dẫn quá mạnh của hố đen Gargantua đã làm
thay đổi dòng chảy của thời gian. Bên cạnh đó bộ phim còn đề cập đến không gian
5 chiều khác với không gian 4 chiều mà ta đang sinh sống. Ở chiều không gian này
thời gian trở thành một đơn vị vật lý, ta có dễ dàng du hành thời gian đi đến tương lai hay quay về quá khứ. II -
PHÂN TÍCH NGÔN NGỮ ĐIỆN ẢNH PHIM 1. Dàn cảnh
a) Bối cảnh, hình ảnh, ánh sáng, màu sắc:
Bộ phim bao gồm 2 bối cảnh chính là: Trái Đất và ngoài không gian:
Trái Đất: Lấy chủ đề du hành vũ trụ tuy nhiên bộ phim xây dựng bối cảnh mở
đầu tại Trái Đất, đó là một tương lai hoang tàn, nơi môi trường suy thoái nghiêm
trọng với bão bụi và đất đai cằn cỗi. Hình ảnh cánh đồng ngô phủ bụi là một chi
tiết quan trọng, tượng trưng cho sự tàn lụi của thiên nhiên và nguồn sống mong manh cuối cùng.
Bối cảnh thực tế này không sử dụng kỹ xảo, tạo sự chân thực. Bên cạnh đó, nó
được phủ bởi tông màu vàng nhạt và nâu, cùng với ánh sáng ảm đạm gợi lên cảm
giác hoài cổ và thiên nhiên cằn cỗi nhấn mạnh tính hiện thực của một Trái Đất đang diệt vong.
Vai trò của bối cảnh Trái Đất như một hình ảnh phản chiếu về tương lai và
mối quan hệ nhân quả, nhấn mạnh cách mà sự suy thoái môi trường đẩy loài người
đến ngưỡng cửa phải rời bỏ hành tinh này, tạo ra động lực vươn lên vũ trụ của nhân vật chính.
Vũ trụ:Sau đó là bối cảnh không gian vũ trụ bao la. Màu đen chủ đạo của vũ
trụ mang đến cảm giác trống rỗng, bí ẩn và đáng sợ, thể hiện sự vô hạn và lạnh lẽo
của không gian. Ánh sáng trắng xanh le lói từ các hành tinh và ngôi sao tạo điểm
nhấn trên nền đen sâu thẳm của không gian vũ trụ. Tương phản mạnh giữa ánh
sáng trắng từ tàu vũ trụ hoặc các vì sao với bóng tối xung quanh nhấn mạnh sự
mong manh, đơn độc của con người trong vũ trụ ẩn chứa nhiều hiểm nguy.
Hố đen Gargantua: Hố đen với quầng sáng trắng-vàng, những ngôi sao lấp lánh
bao quanh tạo sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, tạo ra vẻ đẹp huyền ảo nhưng
bí ẩn, đáng sợ. Hình ảnh hố đen trong phim với những khung hình bóp méo khi tàu
vũ trụ của nhân vật tiếp cận thể hiện sự hỗn loạn của không gian. Sự đối xứng giữa
vũ trụ và con người nhỏ bé. Xây dựng hình ảnh hố đen trong phim có sự giúp sức
từ nhà vật lý lý thuyết từng đoạt giải Nobel Kip Thorne Các hành tinh mới:
Hành tinh nước (Miller): với màu xám và xanh đục bao trùm, tạo cảm giác
lạnh lẽo, áp lực và đầy nguy hiểm. Những cơn sóng thủy triều khổng lồ càng làm 6
nổi bật tông màu tối tăm, nhấn mạnh sự khắc nghiệt của thiên nhiên, môi trường;
Hành tinh băng (Mann): Toàn bộ không gian phủ màu trắng xanh của tuyết và
băng, tạo cảm giác cô lập và lạnh giá. Màu sắc này tượng trưng cho sự trống rỗng
và dối trá, phản ánh bản chất nhân vật tiến sĩ Mann; Hành tinh Edmunds: Mang
ánh sáng dịu và màu sắc ấm áp hơn (vàng nhạt, cam), tượng trưng cho hy vọng và
khả năng hồi sinh của nhân loại. Đây là hành tinh duy nhất mang lại cảm giác an toàn và sự sống.
Không gian 5 chiều tesseract: nơi Cooper tương tác với ký ức của Murph, sử
dụng màu sắc rực rỡ, gợi lên cảm giác siêu thực và phi vật lý. Được dựng hoàn
toàn thực tế trong một phim trường thật trong một khối hộp rỗng khổng lồ gồm có
nhiều máy chiếu mô phỏng không gian lưới, thể hiện ý tưởng vượt thời gian và
không gian của tình yêu và ký ức.
Bên cạnh việc sử dụng công nghệ tiên tiến để tái hiện các bối cảnh và hình
ảnh ngoài không gian, đạo diễn Christopher Nolan chủ trương hạn chế tối đa việc
sử dụng CGI và phông xanh. Ông chú trọng vào tính chân thực trong từng khung
hình, không chỉ nhằm hỗ trợ diễn viên thể hiện cảm xúc một cách tự nhiên mà còn
mang đến cho khán giả một trải nghiệm chân thật và sống động hơn khi thưởng
thức bộ phim. Các bối cảnh đó đã góp phần quan trọng tạo ra sự liên kết giữa cốt
truyện, từ đó, gây ấn tượng mạnh mẽ cho người xem bởi tính khoa học và hình tượng của nó. b) Diễn xuất
Diễn xuất là một phần quan trọng của ngôn ngữ điện ảnh, giúp khán giả
không chỉ cảm nhận được hành trình của nhân vật mà còn đồng điệu với những
thông điệp triết lý và cảm xúc của bộ phim.
Matthew McConaughey (vai Cooper): McConaughey thể hiện một nhân vật
giàu chiều sâu, từ tình yêu của một người cha đến quyết tâm sống còn của một phi
hành gia. Những cảnh quay như lúc Cooper xem lại các đoạn video từ con mình
(Murphy) trong không gian đã trở thành biểu tượng của phim.Ngôn ngữ cơ thể: Sự
co giật ở khuôn mặt, những giọt nước mắt và ánh mắt đong đầy cảm xúc để kể câu
chuyện, tạo nên một hình ảnh chân thực và đồng cảm với khán giả. Giọng nói:
Cooper bộc lộ nỗi đau, niềm hy vọng và sự bất lực chỉ qua những thay đổi tinh tế
trong giọng điệu, nhấn mạnh tính nhân văn của nhân vật.
Tương tác giữa các nhân vật: Sự tương phản giữa Cooper và Brand (Anne
Hathaway): Mối quan hệ giữa hai nhân vật này được xây dựng qua lời thoại, hành
động và sự thay đổi thái độ. Anne Hathaway thể hiện Brand như một người vừa lý
trí vừa nhạy cảm, và sự bất đồng giữa họ tạo nên chiều sâu cho các cuộc thảo luận
về tình yêu, trách nhiệm và sự hy sinh. Tương tác cha con: Một trong những trụ cột
của phim là mối quan hệ cha con giữa Cooper và Murphy. Qua những bức thư
video, dù không thể đối thoại trực tiếp, McConaughey và các diễn viên nhí 7
(Mackenzie Foy) hay trưởng thành (Jessica Chastain) đã tạo nên một sự kết nối cảm xúc mạnh mẽ
Sự căng thẳng giữa các nhân vật: Những khoảnh khắc căng thẳng giữa
Cooper và Dr. Mann hoặc giữa Cooper và Amelia đều được khắc họa qua ánh mắt
và ngôn ngữ cơ thể, làm nổi bật sự đối lập về lý tưởng và quan điểm giữa họ.
c) Chủ đề và biểu tượng
Khoa học và tình yêu:Phim sử dụng ngôn ngữ điện ảnh để nhấn mạnh sự căng
thẳng giữa khoa học và cảm xúc, đặc biệt qua nhân vật Amelia Brand khi cô khẳng
định tình yêu là một lực kết nối không thể giải thích bằng khoa học. Điều đó được
minh chứng qua việc tình cảm giữa Cooper và con gái Murph trở thành sợi dây kéo
anh quay trở lại Trái Đất.
Biểu tượng: Không gian 5 chiều: Cảnh tượng Cooper đi vào "tesseract" (khối
lập phương 5 chiều) là một trong những hình tượng phức tạp và độc đáo. Qua đó,
phim khai thác ý tưởng rằng tình yêu và ký ức có khả năng vượt thời gian, không
gian – điều mà khoa học không thể giải thích. Là biểu tượng của sự vượt qua giới
hạn vật lý, nơi ký ức và tình yêu tồn tại vượt thời gian.Hố đen Gargantua: Hố đen
vũ trụ từ trước đến nay vẫn luôn là một chủ đề hấp dẫn với những người yêu thích
khám phá vũ trụ, vừa đáng sợ vừa cuốn hút. Hố đen Gargantua được thiết kế bởi
các nhà khoa học và chuyên gia đồ họa dựa trên các phương trình vật lý thực tế,
với hình ảnh xoáy đen và ánh sáng bẻ cong, là biểu tượng trực quan của sự hỗn
loạn và bí ẩn vũ trụ.Hy sinh và sự sống còn: Các nhân vật trong phim như Cooper
hay Amelia đều thể hiện khát vọng bảo vệ nhân loại, trong khi Dr. Mann lại đại
diện cho sự ích kỷ và tuyệt vọng khi đối mặt với diệt vong. Nhân vật Murphy
Cooper: Cái tên Murph gợi liên tưởng đến Định luật Murphy, “Anything that can
go wrong will go wrong” (Bất cứ điều gì có thể sai, sẽ sai), nhưng lại mang ý nghĩa
biểu tượng cho hy vọng và khả năng vượt qua nghịch cảnh. Murph vượt qua
nghịch lý khoa học khi giải mã dữ liệu từ "bóng ma" để cứu nhân loại. Cái tên này
không chỉ là chi tiết ngẫu nhiên mà nhấn mạnh tinh thần biến thất bại thành cơ hội,
kết nối tình yêu và khoa học giữa hai thế hệ. Ngay từ cái tên nhân vật, nhà làm
phim đã tiên tri vai trò của chính nhân vật Murph, là chìa khóa giúp cứu nhân loại.
Murph trở thành hiện thân của trí tuệ, ý chí và tình yêu – ba yếu tố trung tâm định
hình hành trình nhân loại trong Interstellar. 2.
Dựng phim và cách kể chuyện
Phim Interstellar của Christopher Nolan là một minh chứng xuất sắc cho sự
sáng tạo và phức tạp trong cách dựng phim và kể chuyện. Bộ phim nổi bật với cấu
trúc phi tuyến tính và phong cách dựng song song, tạo nên một trải nghiệm độc đáo
khi thời gian và không gian liên tục đan xen, thách thức người xem phải tự sắp xếp
và suy ngẫm về các sự kiện.
a) Cốt truyện phi tuyến tính: 8
Phim phá vỡ mạch thời gian thông thường, liên tục chuyển đổi giữa quá khứ,
hiện tại và tương lai, kết hợp các tuyến truyện khác nhau trong các không gian và
thời gian riêng biệt, như trên Trái Đất, ngoài vũ trụ, và không gian 5 chiều. Tuyến
truyện được xây dựng qua nhiều lát cắt, khiến khán giả phải dõi theo và ghép nối
các chi tiết để hiểu được bức tranh toàn cảnh. Cách kể chuyện phi tuyến tính không
chỉ phản ánh sự hỗn loạn của thời gian trong bối cảnh vũ trụ mà còn làm nổi bật
những khía cạnh triết lý sâu sắc về mối quan hệ giữa thời gian, không gian và con
người. Điều này đẩy người xem vào trạng thái liên tục suy ngẫm, tự kết nối các sự
kiện để hiểu mạch phim. b)Dựng song hành:
Christopher Nolan sử dụng phương pháp dựng phim song song để trình bày
các tuyến truyện diễn ra ở những không gian và dòng thời gian khác nhau, mặc dù
các sự kiện này không xảy ra đồng thời. Trong phim, có rất nhiều phân cảnh được
dựng song song giữa các tuyến truyện của Cooper trong vũ trụ và Murph trên Trái
Đất. Nhưng nếu nhìn theo cách kể phi tuyến tính của tác phẩm ta sẽ thấy được
khác nhau của không - thời gian, tuyến truyện của Murph trên thực tế là quá khứ so
với thời gian của Cooper, nhưng được dựng đan xen tạo cảm giác như hai sự kiện
diễn ra đồng thời. Phong cách này không chỉ làm nổi bật sự tương phản mà còn tái
hiện sự hỗn loạn của không gian và thời gian, đồng thời tăng cường tính hồi hộp
bằng cách đẩy các xung đột lên cao trào trên cả hai tuyến truyện. Qua đó, khán giả
cảm nhận rõ hơn mối liên kết tình cảm sâu sắc giữa cha và con, tạo nên sự kết nối
mạnh mẽ về mặt cảm xúc. (như khi Cooper đối mặt với tiến sĩ Mann, còn Murph
giải mã thông điệp từ người cha.) 3. Quay phim
Interstellar sử dụng nhiều góc máy quay ấn tượng không chỉ nhấn mạnh
những cảm xúc, xung đột nội tâm sâu sắc của nhân vật mà còn giúp người xem
hình dung về không gian xung quanh một cách trực quan nhất. Ngoài ra, nhà quay
phim Hoyte van Hoytema sử dụng máy quay IMAX – một phương thức quay phim
đắt đỏ bậc nhất, để tạo nên những cảnh quay rộng lớn, hùng vĩ, giúp khán giả có
một trải nghiệm điện ảnh chân thực, mãn nhãn qua sự vô tận và đáng sợ của vũ trụ. a. Góc máy:
Toàn cảnh (Wide Shot): Các cảnh quay rộng, toàn cảnh được sử dụng để nhấn
mạnh sự nhỏ bé, mong manh của con người trong không gian vũ trụ vô tận. Đạo
diễn Nolan đặc biệt sử dụng những cảnh quay từ trên cao nhìn xuống. Những cảnh
quay tại hành tinh xa lạ hay khi phi thuyền trôi trong vũ trụ là minh chứng rõ ràng
cho thấy sự nhỏ bé yếu đuối của con người trong không gian rộng lớn, cảm giác
như bất cứ khi nào họ cũng có thể bị nuốt chửng. (Một trong những phân cảnh nổi
bật nhất là khi Cooper và phi hành đoàn tiếp cận đĩa hố đen, con tàu trước vũ trụ
hùng vĩ chỉ như một hạt cát nhỏ li ti.) 9
Cận cảnh (Close-Up): Các cảnh quay cận tập trung vào khuôn mặt của nhân
vật nhằm nhấn mạnh cảm xúc. Đặc biệt là Cooper, nó giúp lột tả cảm xúc mãnh liệt
– từ nỗi đau chia xa con gái đến niềm hy vọng khi khám phá các hành tinh mới, rồi
sự đau đớn, tuyệt vọng,... Góc cận cảnh này tạo sự đồng cảm đồng thời là sự kết
nối cảm xúc mạnh mẽ giữa khán giả và nhân vật.
Góc máy nghiêng (Tilted Shot): Được sử dụng trong các cảnh căng thẳng, ví
dụ như khi tàu vũ trụ Endurance xoay tròn trong không gian, tạo cảm giác mất cân
bằng, choáng ngợp và tăng cường sự kịch tính. b. Chuyển động máy quay:
Máy quay di chuyển linh hoạt, đặc biệt trong các cảnh không gian, mô phỏng
sinh động cảm giác của các phi hành gia.
Máy quay xoay quanh vật thể (Tracking Shot): Điển hình là cảnh quay xung
quanh phi thuyền Endurance, mang đến cảm giác về sự di chuyển liên tục trong
không gian ba chiều, giúp khán giả hình dung rõ ràng về không gian vật lý của con
tàu. Cách quay này cũng làm khán giả cảm nhận rõ rệt sự cô lập và trống trải trong không gian vũ trụ.
Máy quay tĩnh (Static Camera) và chuyển động chậm (Slow Motion): Những
cảnh quay quan trọng mang tính biểu tượng, như khoảnh khắc Cooper nhảy vào hố
đen Gargantua hoặc khi các nhân vật đặt chân lên bề mặt hành tinh Mann, thường
được thực hiện bằng máy quay tĩnh kết hợp chuyển động chậm. Qua đó, nhấn
mạnh sự trang trọng, ý nghĩa của khoảnh khắc và cho phép người xem cảm nhận
chi tiết cảm xúc lẫn hành động. Chuyển động chậm cũng tăng tính kịch tính và
chiều sâu triết lý cho các cảnh phim.
Máy quay di chuyển nhanh (Rapid Movement Camera): Sử dụng trong các
cảnh hành động căng thẳng, như khi phi hành đoàn cố gắng trốn thoát khỏi sóng
thủy triều khổng lồ trên hành tinh Miller. Máy quay chuyển động nhanh, theo sát
các nhân vật và tình huống, tạo cảm giác gấp gáp và hồi hộp. Truyền tải cường độ
cảm xúc cao và sự khẩn cấp của tình huống.
Ngoài ra còn có các cảnh quay nghiêng, lắc tăng cường sự căng thẳng trong
những phân đoạn hành động. (khi phi thuyền đi qua hố đen) 4. Âm thanh và nhạc nền
Âm thanh và nhạc nền là một trong những yếu tố ngôn ngữ điện ảnh quan trọng
góp phần tạo nên chiều sâu cảm xúc và sự tráng lệ cho Interstellar.
Christopher Nolan kết hợp tài tình giữa thiết kế âm thanh và nhạc nền của Hans
Zimmer để truyền tải không chỉ nội dung mà còn các ý niệm triết lý về thời gian,
không gian, và tình cảm gia đình. a) Thiết kế âm thanh:
Hiện thực hóa không gian vũ trụ: Đạo diễn như biến âm thanh thành một
phương thức để thể hiện không gian và thời gian, đặt người xem vào những cảm 10
giác chân thực nhất, đồng thời nó cũng là một dấu hiệu một lời nhắc nhở cảnh báo
với nhân vật như một lời thoại trong phim
Im lặng trong không gian: đạo diễn Nolan tôn trọng đặc tính của không gian
vũ trụ, nơi âm thanh không thể truyền đi. Nhiều cảnh chỉ có sự tĩnh lặng tuyệt đối
hoặc âm thanh bị bóp nghẹt. Sự im lặng tuyệt đối trong các cảnh ngoài không gian
nhấn mạnh cảm giác cô đơn và trống rỗng mà các phi hành gia phải trải qua giúp tạo nên sự chân thực.
Âm thanh tự nhiên: Tiếng sóng thủy triều ở hành tinh Miller, tiếng gió trên
hành tinh Mann góp phần làm nổi bật tính chân thực và sự khắc nghiệt của các môi
trường khác nhau. Trong cảnh sóng thủy triều trên hành tinh Miller, âm thanh của
nước dâng lên, kết hợp với tiếng gió và nhạc nền, tạo cảm giác căng thẳng cực độ. b. Nhạc nền:
Hans Zimmer sử dụng pipe organ (đàn organ ống) làm nhạc cụ chủ đạo, gợi
liên tưởng đến sự thiêng liêng và tầm vóc vũ trụ. Âm thanh của đàn organ kết hợp
với dàn nhạc giao hưởng mang đến cảm giác vừa gần gũi, vừa hùng vĩ, phù hợp
với chủ đề khoa học triết lý và tình cảm gia đình của phim. Âm nhạc vừa mang
tính cổ điển vừa hiện đại, trở thành nhân tố quan trọng trong việc dẫn dắt cảm xúc người xem.
Một số soundtrack nổi bật làm nên thành công của bộ phim: “Cornfield
Chase”, “No Time for Caution”, ‘Stay”
Trên hành tinh Miller, mỗi giây trôi qua tương đương với 7 năm trên Trái Đất,
biến thời gian thành một lực lượng vô hình nhưng đầy ám ảnh. Hans Zimmer đã
khéo léo lồng ghép âm thanh "tích tắc" nhịp nhàng, tựa như nhịp đập của một chiếc
đồng hồ khổng lồ, làm nổi bật sự tàn khốc của thời gian. Giai điệu căng thẳng này
không chỉ nhấn mạnh sự cấp bách mà còn để lại ấn tượng sâu sắc, khiến khán giả
cảm nhận rõ áp lực và sự trôi chảy không ngừng của thời gian. Nhạc nền giúp tạo
nhịp điệu cảm xúc và đẩy kịch tính lên cao trào.
III - YẾU TỐ THỜI ĐẠI CỦA BỘ PHIM
Hố đen tử thần không chỉ là một bộ phim khoa học viễn tưởng hấp dẫn mà
còn là một tác phẩm mang đậm dấu ấn của thời đại. Bộ phim phản ánh những lo
ngại sâu sắc của nhân loại về tương lai, về sự tồn tại và về những câu hỏi lớn về vũ
trụ và thời gian.Sau đây là một số vấn đề lớn của thời đại được phản ánh qua bộ phim
1. Khủng hoảng môi trường và tương lai của nhân loại
Vấn đề môi trường: Bộ phim đặt ra một viễn cảnh tương lai nơi Trái đất đang
dần trở nên khắc nghiệt do biến đổi khí hậu, hạn hán và bão cát tàn phá, đất đai suy
thoái mất mùa còn con người cũng gặp nhiều vấn đề về sức khỏe mà điển hình là
viêm phổi. Điều này phản ánh một trong những mối lo ngại lớn nhất của thế giới 11
hiện nay : sự suy giảm tài nguyên thiên nhiên, biến đổi khí hậu và sự tàn phá của
môi trường. Các cuộc thảo luận về bảo vệ hành tinh và chuyển đổi sang các nguồn
năng lượng bền vững là một trong những vấn đề chính của thế kỷ 21.
Tìm kiếm một ngôi nhà mới: Việc các nhà khoa học và phi hành gia phải lên
đường tìm kiếm một hành tinh mới để con người sinh sống là một phản ánh trực
tiếp của nỗi lo sợ về sự tuyệt chủng của loài người nếu không tìm ra giải pháp cho
các vấn đề môi trường. Cuộc hành trình của các phi hành gia không chỉ là một
cuộc phiêu lưu khám phá vũ trụ mà còn là một trách nhiệm nặng nề đối với thế hệ
tương lai .Thông qua đó , bộ phim cũng đặt ra câu hỏi về trách nhiệm của con
người đối với hành tinh và tương lai của các thế hệ sau này
2.Sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ
Tiến bộ khoa học: Phim cũng phản ánh một thời đại trong đó khoa học và
công nghệ có vai trò quyết định trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu.Bộ phim
đưa ra một viễn cảnh nơi con người đã có thể nghiên cứu và khám phá các hố đen,
thậm chí vượt qua chúng để tìm kiếm sự sống mới ngoài hành tinh. Trong bối cảnh
thực tế hiện nay, khi công nghệ không gian đang phát triển mạnh mẽ, với những dự
án như của SpaceX và NASA về việc đưa con người lên sao Hỏa, “Hố đen tử thần
” phản ánh một niềm tin vào tương lai của khám phá vũ trụ, cũng như sự khát khao
tìm kiếm giải pháp thay thế cho Trái Đất đang dần kiệt quệ.
Một yếu tố nổi bật trong “Hố đen tử thần” là sự khám phá về bản chất của
thời gian và không gian, đặc biệt là qua thuyết tương đối của Einstein. Phim tạo ra
một cách tiếp cận độc đáo về thời gian, khi mà thời gian không chỉ là một chiều đo
lường tuyến tính mà có thể thay đổi tùy thuộc vào điều kiện không gian khiến
người xem phải suy ngẫm về bản chất của không gian và thời gian. Đây là một sự
phản ánh của sự quan tâm lớn hiện nay đối với các lý thuyết vật lý tiên tiến, như
thuyết tương đối rộng, thuyết lượng tử, và các nghiên cứu về hố đen. Những vấn đề
về thời gian và không gian không chỉ là chủ đề trong khoa học mà còn là những
chủ đề phổ biến trong văn hóa đương đại, đặc biệt trong các bộ phim khoa học viễn tưởng.
Vai trò của khoa học trong việc giải quyết vấn đề: Khoa học được xem là hy vọng
cuối cùng của nhân loại trong việc vượt qua khủng hoảng. Các nhà khoa học trong
phim là những người anh hùng, những người dũng cảm khám phá những vùng đất
chưa biết để tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi lớn của nhân loại. Điều này thể
hiện khát vọng của con người trong việc chinh phục không gian và tìm kiếm những
phương thức để duy trì sự sống. Công nghệ hiện đại, đặc biệt là trong lĩnh vực du
hành không gian và vật lý lý thuyết, đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi
nhận thức và tương lai của nhân loại.
3. Tình cảm gia đình và giá trị nhân văn
Sự hy sinh vì gia đình: Các nhân vật trong phim phải đối mặt với những lựa
chọn khó khăn, họ phải hy sinh tình yêu và gia đình để hoàn thành sứ mệnh của 12
mình. Mặc dù lấy bối cảnh khoa học viễn tưởng, Hố đen tử thần vẫn giữ trọng tâm
vào tình cảm gia đình, đặc biệt là mối quan hệ giữa cha và con. Sự hi sinh của
Cooper cho thấy tầm quan trọng của gia đình và tình yêu thương, là động lực mạnh
mẽ thúc đẩy hành động của con người. Đây là yếu tố nhân văn sâu sắc, nhấn mạnh
rằng dù khoa học tiến bộ đến đâu, tình người vẫn là cốt lõi ,là yếu tố quyết định sự tồn vong của con người
Ý nghĩa của cuộc sống: Bộ phim đặt ra những câu hỏi về ý nghĩa của cuộc
sống, về sự tồn tại của con người trong vũ trụ bao la.Từ đó bộ phim cũng ngầm
mang đến thông điệp qua chủ đề xuyên suốt trong bộ phim là sự hy sinh cá nhân vì
lợi ích chung, tình yêu giữa cha con, tình yêu giữa con người với nhau và với hành
tinh : Trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với các vấn đề toàn cầu như chiến
tranh, dịch bệnh, và biến đổi khí hậu, “ Hố đen tử thần” nhấn mạnh tầm quan trọng
của việc duy trì các giá trị nhân văn, tình cảm và đoàn kết trong cuộc sống.
4. Khám phá vũ trụ và những câu hỏi lớn về cuộc sống
Hố đen và lỗ sâu: Những hiện tượng thiên văn học này không chỉ là những
yếu tố khoa học viễn tưởng mà còn là biểu tượng cho những điều bí ẩn và chưa
được khám phá của vũ trụ.
Tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất: Câu hỏi về việc liệu có sự sống ngoài Trái
đất hay không là một câu hỏi luôn ám ảnh nhân loại. Bộ phim đã đưa ra một góc
nhìn mới về vấn đề này.
Tinh thần khám phá và khát vọng của con người: Bộ phim tôn vinh tinh thần
khám phá và khát vọng vượt qua giới hạn của con người, từ việc khám phá không
gian xa xôi đến tìm kiếm các giải pháp mới cho sự sống. Đây là một yếu tố thời đại
rõ ràng khi mà con người ngày càng đẩy mạnh các sứ mệnh khám phá không gian.
(Trung Quốc hoàn thành trạm Thiên Cung hình chữ T: Trung Quốc mất chưa đầy
hai năm để lắp ráp xong cấu trúc chính hình chữ T của trạm Thiên Cung với 3
module Thiên Hòa, Vấn Thiên và Mộng Thiên. Phi hành đoàn Thần Châu 12 là
những người đầu tiên bay lên trạm Thiên Cung vào tháng 6/2021. Sau đó, các phi
hành đoàn Thần Châu 13 và Thần Châu 14 cũng lần lượt bay lên rồi trở về an toàn.
Hiện tại, trạm do phi hành đoàn Thần Châu 15 phụ trách hay NASA phóng thành
công tên lửa thuộc sứ mệnh Artemis 1: Ngày 16/11, siêu tên lửa Hệ thống phóng
không gian (SLS) của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) đã rời bệ phóng
tại Trung tâm Vũ trụ Kennedy, bang Florida (Mỹ), mang theo tàu vũ trụ Orion thực
hiện chuyến bay quanh Mặt trăng và trở lại Trái đất trong vòng 3 tuần)
5. Sự hợp tác quốc tế:
Bộ phim cho thấy sự hợp tác giữa các nhà khoa học và chính phủ các nước
khác nhau để đối phó với khủng hoảng toàn cầu. Điều này phản ánh tầm quan
trọng của hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề chung của nhân loại.
( Năm 1988: Mỹ và Nga hợp tác hai dự án lớn là:Trạm vũ trụ Tự do của Hoa Kỳ
(Freedom) và Trạm vũ trụ Bình Minh 2 ( Mir-2 ) của Nga. Ngoài các mô-đun của 13
Hoa Kỳ và của Nga đã được lên kế hoạch, các mô-đun Columbus của Châu Âu và
Mô-đun thí nghiệm của Nhật Bản cũng sẽ được ghép vào trạm)
Như vậy , Hố đen tử thần là một bộ phim không chỉ giải trí mà còn mang đến
cho người xem nhiều suy ngẫm về cuộc sống, về tương lai của nhân loại và về vị
trí của chúng ta trong vũ trụ bao la. Bộ phim đã thành công trong việc kết hợp giữa
yếu tố khoa học viễn tưởng, tình cảm gia đình và những vấn đề xã hội nóng hổi để
tạo nên một tác phẩm điện ảnh có giá trị.
IV - SO SÁNH VỚI CÁC BỘ PHIM KHÁC CÙNG THỂ LOẠI
Trong dòng phát triển không ngừng của điện ảnh khoa học viễn tưởng, vào
thời điểm bấy giờ bên cạnh sự hấp dẫn của tác phẩm “Interstellar” (2014) ta còn
thấy được sự thành công của nhiều tác phẩm điện ảnh xuất sắc như “Gravity”
(2013), “The Martian” (2015) hay “Edge of Tomorrow” (2014). Cùng là những bộ
phim đặc sắc thuộc thể loại phim khoa học viễn tưởng, nhưng khi đặt “Interstella”
lên bàn cân ta có thể phát hiện ra sự khác biệt đầy thú vị và những nét nghĩa nhân
văn sâu sắc của tác phẩm này
Trước hết, sự khác biệt của "Interstellar" được định hình bởi một cốt truyện
không chỉ đơn thuần là cuộc hành trình khám phá không gian, mà còn là cuộc hành
trình của tâm hồn với những câu hỏi triết lý về thời gian, tình yêu và sự tồn tại.
Trong khi "Gravity" tập trung vào cuộc đấu tranh sinh tồn và "The Martian" thì
vào kỹ thuật sinh tồn trên sao Hỏa, "Interstellar" đưa khán giả đến với những khái
niệm phức tạp như hố đen và chiều không gian thứ tư. Những câu hỏi về bản chất
của con người và vũ trụ được lồng ghép một cách tinh tế, tạo nên một trải nghiệm điện ảnh vượt trội.
Sự khác biệt tạo nên nét độc đáo cho tác phẩm, ta không thể không nhắc tới
cấu trúc tự sự ở “Interstellar”: Christopher Nolan với tài năng kể chuyện và xây
dựng kịch bản phức tạp đã tạo ra một tác phẩm điện ảnh có cấu trúc độc đáo kể
chuyện không tuyến tính, kết hợp giữa hiện tại, quá khứ và tương lai. Các lớp câu
chuyện đan xen tạo nên sự phức tạp và chiều sâu từ đó truyền tải thông điệp triết lý
và cảm xúc sâu lắng. Sự kết hợp giữa khoa học viễn tưởng và triết lý, đã tạo nên
một bộ phim vừa hàn lâm vừa giải trí. “Gravity” hay “The Martian” lại tuân theo
các đặc trưng của Hollywood kinh điển với cách lối kể chuyện tuyến tính (Kể
chuyện tuyến tính với nhịp độ nhanh và căng thẳng ở “Gravity”; Kể chuyện tuyến
tính, xen kẽ giữa sao Hỏa và Trái Đất, thể hiện quá trình sống sót của nhân vật
chính trong “ The Martin”). Chính những điều trên làm cho "Interstellar" trở nên khác biệt và đáng nhớ.
Bên cạnh đó, khi nhìn vào kỹ thuật làm phim ta có thể thấy kỹ xảo của
"Interstellar" thật sự là một kiệt tác, với những cảnh quay vũ trụ hoành tráng và
chân thực. Khung cảnh hố đen Gargantua, được mô phỏng dựa trên các công thức 14
khoa học thực tế, khiến khán giả không khỏi kinh ngạc. Sử dụng ánh sáng tự nhiên
và hiệu ứng đặc biệt để tạo ra không gian vũ trụ sống động. So với "Gravity" với
các kỹ xảo CGI tiên tiến để tạo ra môi trường không gian chân thực, "Interstellar"
còn vượt trội hơn khi khắc họa những hiện tượng vật lý đầy bí ẩn và huyền ảo.
Một điều đặc biệt nữa của “Interstellar” nằm ở phần âm nhạc phim do “phù thủy”
Hans Zimmer sáng tác, với những âm thanh đặc biệt của organ và dàn nhạc, đã tạo
ra một bầu không khí đầy cảm xúc và mạnh mẽ. Âm nhạc không chỉ đóng vai trò là
nền cho các cảnh quay mà còn trở thành một phần không thể thiếu trong việc
truyền tải cảm xúc và ý nghĩa của câu chuyện. So với "The Martian" với âm nhạc
chủ yếu hỗ trợ cho tinh thần lạc quan, nhạc phim của "Interstellar" mang đến
những cảm xúc sâu lắng và đầy mê hoặc.
Không chỉ dừng lại ở việc chau chuốt trong các khuôn hình, mà về phần
nguyên liệu để dựng kịch bản cũng được các nhà làm phim của "Interstellar"
nghiên cứu kĩ lượng và bỏ nhiều tâm sức khi đã hợp tác với nhà vật lý Kip Thorne
để đảm bảo tính chính xác khoa học của các hiện tượng vật lý. Điều này không chỉ
giúp phim trở nên thuyết phục mà còn mang lại cho khán giả những hiểu biết mới
về vật lý vũ trụ. Trong khi "The Martian" tập trung vào kỹ thuật sinh tồn thực tế
trên sao Hỏa, "Interstellar" khai thác những khía cạnh khoa học cao cấp và đầy thách thức hơn.
Xét về yếu tố doanh thu, nếu nói “Interstellar” không gặp phải bất cứ sự cạnh tranh
nào trong năm 2014 thì bạn hẳn đã lầm to. Bởi lẽ, khi nhìn vào danh sách doanh
thu phòng vé cùng năm được IMDB cung cấp, bộ phim của Christopher Nolan chỉ
đứng trong top 10 với lượng doanh thu quốc nội rơi vào khoảng 188 triệu USD,
trong khi thu được 681 triệu USD trên toàn thế giới. Điều đáng nói là siêu phẩm
“Interstellar” vẫn xếp dưới một số các tác phẩm khoa học viễn tưởng khác như
“The Hunger Games: Mockingjay - Part 1” (755 triệu USD quốc tế; 337 triệu USD
quốc nội) hay tác phẩm dẫn đầu doanh thu là “Transformers: Age of Extinction”
(thu được tới hơn 1 tỷ USD phòng vé quốc tế, 245 triệu USD quốc nội). Sự thật là
“Interstellar” không phải bộ phim vượt trội nhất tính về mặt doanh thu tổng, bất kể
việc nó đã đem về cho Nolan doanh thu gấp 6 lần số vốn bỏ ra ban đầu (165 triệu
USD → 681 triệu USD). Nhưng suy cho cùng, bộ phim vẫn có thể gọi là đạt được
thành công “không tưởng” về mặt thương mại, thu hút được phần đông khán giả
đại chúng - nếu nhắc đến một trong những đỉnh cao khoa học viễn tưởng, thì phải
nói về “Interstellar” với sự cân bằng giữa hai yếu tố chính yếu thường thấy trong
điện ảnh sci-fi: con người và vũ trụ. Về điểm này, các đối thủ cạnh tranh cùng thời
với “Interstellar” dường như có phần nhạt nhòa hơn nhiều.
Ta có thể lý giải sự thể trên theo góc nhìn thể loại. Bởi lẽ, “Interstellar” được
coi là một bộ phim khoa học viễn tưởng - sử thi - chính kịch nếu nói về thể loại của
phim, thay vì chỉ là một tác phẩm sci-fi đơn nhất. So với sự kết hợp giữa thể loại
khoa học viễn tưởng và hành động của “Dawn of the planet of the Apes” và dòng 15
phim hành động phản địa đàng (phân nhánh từ chính khoa học viễn tưởng) như
trong “The Hunger Games: Mockingjay - Part 1”, việc khai thác chiều cạnh tình
cha con và bản chất con người (chính kịch) đặt trong đại cảnh du hành vũ trụ (sử
thi và khoa học viễn tưởng) đã nâng tầm bộ phim của Christopher Nolan thành một
thiên sử thi vừa giàu tính nhân văn, gần gũi với khán giả, vừa hùng vĩ, chân thật và choáng ngợp.
Trong khi "Gravity", "The Martian" và "Edge of Tomorrow" đều có những điểm
mạnh riêng, "Interstellar" nổi bật nhờ vào sự kết hợp tinh tế giữa cốt truyện triết lý
sâu sắc, kỹ xảo điện ảnh vượt trội, âm nhạc đầy cảm xúc và tính khoa học chính
xác. Christopher Nolan đã thành công trong việc tạo ra một tác phẩm điện ảnh
không chỉ giải trí mà còn kích thích trí tuệ và cảm xúc của khán giả. Nhờ những
yếu tố này, "Interstellar" đã ghi dấu ấn đậm nét và trở thành một trong những bộ
phim khoa học viễn tưởng kinh điển của thế kỷ 21. Bộ phim này thật sự đã tạo ra
một trải nghiệm điện ảnh đáng nhớ, để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng khán giả và
giới phê bình, chứng tỏ sức hút vượt thời gian của nó. 16
BẢNG PHÂN CÔNG NỘI DUNG STT HỌ VÀ TÊN - MSV NỘI DUNG 1
Phạm Khánh Ngọc – 24030379 I 2 Nguyễn Trà My – 24030376 I 3
Triệu Đàm Quang Nghĩa – 24030378 II 4
Nguyễn Ngọc Bảo Linh – 24030370 II 5 Vương Tâm My - 24030373 III 6
Nguyễn Bảo Ngọc – 24030381 III 7
Phạm Thị Thanh Mai – 24030373 IV 8 Đặng Tài Nam – 23031707 IV
Nguồn tài liệu tham khảo
1. Phong cách làm phim của Christopher Nolan – NSHS DENEBOLA
2. Movie plot explained: Interstellar – EMPIRE
3. Những sự kiện vũ trụ đáng chú ý nhất năm 2022 – VnExpress
4. Một số vấn đề về thể loại phim và phân tích thể loại phim – Tạp chí Nghiên cứu Sân khấu- Điện ảnh 17