Chương I
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên (1920 - 1930)
Bối cảnh lịch sử  Tình hình thế giới 
Tình hình Việt Nam và các phong trào yêu nước trước khi có Đảng
VN bị áp bức → HCM ra đi tìm đường cứu nước → CMT10 Nga và Luận cương Lênin → Tìm ra được con
đường đúng đắn là CMVS → chuẩn bị các điều kiện thành lập ĐCS
Vì sao trong quá trình tìm đường cứu nước, NAQ lựa chọn con đường cách mạng vô sản
- (Nếu hỏi trong quá trình tìm đường cứu nước, thì ko cần đoạn này)
Từ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, con đường cứu nước của Việt Nam rơi vào tình trạng bế tắc.
Những con đường mà Người biết đến từ rất sớm đều bị thất bại do nó có nhiều hạn chế, sai lầm lớn:
con đường cứu nước theo ý thức hệ phong kiến đã thất bại. Năm 1897, ngọn lửa Hương Sơn tắt,
phong trào Cần Vương thất bại chấm dứt thời kỳ đấu tranh dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu mang đậm tư tưởng
thấy rõ những hệ tư tưởng phong kiến hay tư sản mà họ dựa vào để chống thực dân Pháp đã trở nên
lỗi thời, yếu kém hơn rất nhiều so với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn đó. Do đó
Người không lựa chọn con đường cứu nước của họ và tự quyết định con đường nên đi.
- Trở lại cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước, chống thực dân, đế quốc ở nước ta
diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ nhưng tất cả đều không thành công, bị thực dân Pháp đàn áp dã man do
thiếu đường lối chính trị đúng đắn, tổ chức phong trào chưa chặt chẽ, không có cơ sở rộng rãi và
vững chắc trong quần chúng. Nhiệm vụ lịch sử cấp thiết đặt ra cho thế hệ yêu nước đương thời là cần
phải có một tổ chức cách mạng tiên phong, có đường lối cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc.
Trước yêu cầu cấp thiết đó, năm 1911, Nguyễn Tất Thành bắt đầu một cuộc hành trình lịch sử - đi tìm
mạng tư sản tiêu biểu như cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ nhưng cũng nhận thức rõ những hạn
chế của những cuộc cách mạng đó: là cách mạng tư sản, cách mạng không đến nơi, không giải phóng
những người lao động mà lại đi áp bức các dân tộc khác. Cách mạng Việt Nam không thể đi theo con đường đó.
Người đặc biệt quan tâm tìm hiểu Cách mạng Tháng Mười (năm 1917), Người kết luận: “Trong thế
giới bây giờ chỉ có Cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng
được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật.
Ngày 18-6-1919, NTT lấy tên Nguyễn Ái Quốc thay mặt Hội những người An Nam yêu nước tại
Pháp gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới Hội nghị Vécxây. Những yêu sách không được Hội
nghị đáp ứng nhung được báo chí tiến bộ Pháp công bố rộng rãi, gây tiếng vang lớn trong dư luận
nước Pháp. Kết luận mà NAQ rút ra từ sk này là: “Những lời tuyên bố dân tộc tự quyết của bọn đế
quốc chỉ là trò bịp bợm; các dân tộc bị áp bức muốn được độc lập tự do thực sự, trước hết phải dựa
vào lực lượng của bản thân mình, phải tự mình giải phóng cho mình.”
Tháng 7-1920, khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc
địa” của V.I.Lênin, Nguyễn Ái Quốc sớm nắm bắt được cái cốt lõi trong tư tưởng của Lênin là: Vô sản tất cả các nước
đường Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), bởi theo Người: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách
mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự
do, bình đẳng thật”. Việc lựa chọn con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô
sản, thể hiện tầm nhìn chiến lược và phù hợp với xu thế thời đại, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của
các tầng lớp nhân dân lao động. Đến thời điểm này, cách mạng vô sản là cuộc cách mạng toàn diện,
sâu sắc và triệt để nhất. Cuộc cách mạng đó không chỉ giải phóng giai cấp, mà gắn liền với nó là giải
phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945)
Bằng các sự kiện lịch sử có chọn lọc, chứng minh sự ra đời của ĐCSVN là một tất yếu lịch sử
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một quá trình vận động hoàn toàn khách quan, hợp quy luật của lịch sử.
ĐCS ra đời phù hợp với hoàn cảnh lịch sử Thế giới:
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga đã giành thắng lợi. Nhà nước Xô viết dựa trên nền tảng liên
minh công – nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích Nga ra đời. Chủ nghĩa Mác – Lênin từ lý
luận đã trở thành hiện thực, mở đầu một thời đại mới – “thời đại cách mạng chống đế quốc và giải
phóng dân tộc”. Cuộc cách mạng này đã cổ vũ mạnh mẽ phòng trào đầu tranh của giai cấp công
nhân, nhân dân các nước và là một trong những động lực thức đẩy sự ra đời của nhiều đảng cộng sản
ở Đức và Hungary (1918), Mỹ (1919), Anh và Pháp (1920), Trung Quốc và Mông Cổ (1921), Nhật
bản (1922),... Đặc biệt là đối với nước ta, Cách mạng Tháng Mười Nga là một tấm gương sáng trong
việc giải phóng các dân tộc bị áp bức. Vì sao cách mạng Nga thành công? Điều không thể phủ nhận
được đó là tầm quan trọng
áp bức trên lập trường cách mạng vô sản. Đặc biệt, đối với Việt Nam, chính nhờ Quốc tế Cộng sản
mà chủ nghĩa Mác – Lênin đã được truyền bá một cách rộng rãi. Điều này đã gây dựng được lòng tin
trong quần chúng nhân dân về một chính đảng có khả năng lãnh đạo đất nước giành độc lập. Vì thế,
Quốc tế Cộng sản đóng một vai trò quan trong dẫn tới sự thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam. Trong nước:
Thời kỳ đó, dân tộc Việt Nam đang trong cảnh lầm than, đen tối; xã hội Việt Nam là xã hội phong
kiến lạc hậu với hai giai cấp cơ bản (giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân); với nền kinh
tế sản xuất tiểu nông, cơ sở kinh tế, dịch vụ chưa phát triển. Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược, đặt
ách thống trị trên đất nước ta. Việt Nam trở thành một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc
bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác. Mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực
dân Pháp xâm lược và chế độ thuộc địa ngày một gay gắt, trở thành mâu thuẫn vừa cơ bản, vừa chủ yếu. Đoạn 4 trang 84
năng, năng lực lãnh đạo toàn dân hoàn thành sứ mệnh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và xây
dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa. Vì, giai cấp công nhân Việt Nam có đầy đủ đặc điểm của giai cấp
công nhân hiện đại, mang trên mình sứ mệnh lịch sử của thời đại. Nhưng để hoàn thành sứ mệnh lịch
sử của mình, giai cấp công nhân Việt Nam cần phải được tổ chức, được vũ trang về tư tưởng lý luận
và phải có đội tiên phong lãnh đạo.
Sự ra đời của Đảng là kết quả của quá trình lựa chọn con đường cứu nước và sự chuẩn bị kỹ lưỡng của Nguyễn Ái Quốc.
- Trước yêu cầu cấp thiết cần phải có một tổ chức cách mạng tiên phong, có đường lối cứu nước đúng
đắn để giải phóng dân tộc, năm 1911, Nguyễn Tất Thành bắt đầu một cuộc hành trình lịch sử - đi tìm
con đường cứu nước, con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam. Trong hành trình bôn ba, gian
khổ ấy, Người đã có những quyết định vô cùng quan trọng, mang bước ngoặt, thể hiện bản lĩnh, trí
tuệ, sự mẫn cảm chính trị, từng bước đưa Người đến với ánh sáng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm
thấy con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.
Trải qua gần 10 năm gian truân, thử thách, Hồ Chí Minh đã đi khắp các châu lục khảo sát nhiều nước
thuộc địa và các nước tư bản phát triển, Người nhận rõ: chủ nghĩa đế quốc là một hệ thống thế giới,
chúng vừa tranh giành, xâu xé thuộc địa, vừa vào hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ yếu trong
hệ thống thuộc địa của chúng. Mỗi thuộc địa là một mắt khâu của chủ nghĩa đế quốc, do vậy cuộc đấu tranh giải phóng
nắm bắt được cái cốt lõi trong tư tưởng của Lênin là: Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức
đoàn kết lại. Luận cương đã vạch ra đường lối cơ bản cho phong trào cách mạng ở các nước thuộc
địa và phụ thuộc, giải đáp cho Người về con đường giành độc lập dân tộc và tự do cho đồng bào Việt
Nam mà Người đang kỳ công tìm kiếm. Người viết: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm
động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong
buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau
khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!".
Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (tháng 12 năm 1920) Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia
nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước
ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người: từ người yêu nước trở thành người cộng sản
và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn “Muốn cứu nước phải giải phóng dân tộc không có con
đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Cách mạng giải phóng dân tộc, trong điều kiện của Việt Nam, muốn thắng lợi phải do đảng
cộng sản lãnh đạo.
Với điều kiện của Việt Nam, trong tác phẩm Đường cách mệnh năm 1927,
Người khẳng định: “: Cách mạnh trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức
dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách
mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải
có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không
có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam” Trang 86… Hợp nhất 3 đảng Công nhân yêu nc lê nin
Tại sao Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo cách mạng Việt Nam
(“Một đảng cầm quyền, lãnh đạo là độc tài, mất dân chủ!” là luận điệu của các thế lực chống phá, cổ súy cho
chế độ đa nguyên, đa đảng, với ý đồ phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tiễn lịch
sử và thành công của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là cơ sở thuyết phục
để khẳng định: ở Việt Nam không cần và không chấp nhận chế độ đa nguyên, đa đảng; xét về cả lý luận và
thực tiễn, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ,
kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.)
→ Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là sự lựa chọn tất yếu khách quan từ lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh giai
cấp và giải phóng dân tộc; vừa là sự lựa chọn duy nhất đúng của nhân dân Việt Nam; Đảng Cộng sản Việt
Nam sẽ mãi mãi là lực lượng chính trị duy nhất đủ khả năng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Lịch sử đã cho thấy, trong quá trình đấu tranh chống ách đô hộ của thực dân Pháp, không chỉ có Đảng Cộng
sản Việt Nam là đảng chính trị duy nhất có mục tiêu giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của ngoại bang.
Sau khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng xâm lược Việt Nam (9-1858), các cuộc khởi nghĩa chống
thực dân Pháp theo tiếng gọi “Cần Vương” do các văn thân, sĩ phu lãnh đạo đã nổ ra mạnh mẽ nhưng tất cả
đều bị đàn áp đẫm máu và lần lượt tan rã. Thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Khê (Hà Tĩnh) do Phan Đình
Phùng lãnh đạo (1895) đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của giai cấp phong kiến Việt Nam. Sau khi phong trào
Cần Vương thất bại, những năm đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước chống xâm lược Pháp lại liên tục nổ ra
như: Phong trào Đông Du (1905); Việt Nam Quang phục Hội (1912) do Phan Bội Châu khởi xướng; Phong
trào Duy Tân do Phan Châu Trinh phát động (1906-1908); Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) do Lương Văn Can, Nguyễn
bộ phận giai cấp tiểu tư sản chủ trương dương ngọn cờ tư tưởng tư sản để tập hợp quần chúng xung quanh
Việt Nam Quốc dân Đảng (12-1927), song do bất lực, nên sau bạo động Yên Bái, Việt Nam Quốc dân Đảng
đã tan rã, theo đó mà ngọn cờ phản đế, phản phong, ngọn cờ giải phóng dân tộc đã chuyển hẳn về tay giai
cấp vô sản Việt Nam. Vì vậy, yêu cầu khách quan khi đó là giai cấp vô sản Việt Nam phải được tiếp thu chủ
nghĩa Mác-Lênin để trở thành giai cấp đảm nhiệm sứ mệnh lãnh đạo cách mạng.
Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang chìm trong cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, Nguyễn
Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước và chính Người đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc.Chủ nghĩa
Mác-Lênin và những tài liệu tuyên hời gian ngắn, ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản được thành lập:
Đông Dương Cộng sản Đảng (6-1929); An Nam Cộng sản Đảng (7-1929); Đông Dương Cộng sản Liên đoàn
(9-1929). Sự ra đời của 03 tổ chức cộng sản đã tiếp tục thúc đẩy phong trào công nhân và phong trào yêu
nước phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, 03 tổ chức cộng sản lại hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng lẫn
nhau, tạo ra sự chia rẽ, mất đoàn kết, làm phân tán sức mạnh chung của phong trào, điều này nếu để lâu sẽ
không có lợi cho cách mạng Việt Nam. Do đó, ngay lúc này phải thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất ở
Việt Nam để có sự thống nhất về đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức và để tiếp tục đưa cách mạng tiến
lên. Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất 03 tổ chức cộng sản
là: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Như vậy,
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và trở thành Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng nước ta là tất yếu lịch
sử, đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường
lối cứu nước kéo dài mấy chục năm.
Từ thực tiễn lịch sử cho thấy, dù không ai tranh giành, không ai gạt bỏ, nhưng tất cả các đảng phái, tổ chức
chính trị ở Việt Nam (ngoại trừ Đảng Cộng sản Việt Nam) đều không nắm được quyền lãnh đạo cách mạng.
Các đảng phái, tổ chức chính trị dù là đảng của các nhân sĩ trí thức yêu nước nhiệt thành hay là đảng của giai
cấp tư sản dân tộc... cơ bản đều chưa có đường lối chính trị rõ ràng, thiếu hệ thống tổ chức chặt chẽ, có
những đảng viên của các tổ chức, gương kiên trung của Đảng đã tỏ rõ tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh
hùng cách mạng, kiên quyết hy sinh phấn đấu làm tròn sứ mệnh lịch sử giao phó. Do đó, Đảng Cộng sản
Việt Nam uy tín tập hợp được sức mạnh toàn dân tộc, lãnh đạo dân tộc đứng lên Tổng khởi nghĩa, giành
thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, quân và dân ta đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước, làm nên những thắng lợi vĩ đại trong thế kỷ XX.
Bên cạnh những thắng lợi vẻ vang, trong các chặng đường lịch sử, Đảng cũng không tránh khỏi những yếu
kém, khuyết điểm, thậm chí là sai lầm. Song, Đảng không trốn tránh, giấu giếm mà đã dũng cảm nhìn nhận,
đối diện, nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn để đáp lại niềm tin, sự kỳ
vọng của nhân dân bằng việc nỗ lực đưa đất nước phát triển bền vững
Tất nhiên, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, có lúc Đảng ta bị quân thù khủng bố ác liệt, toàn bộ Ban
Chấp hành Trung ương Đảng và Xứ ủy đều bị bắt, các tổ chức, cơ sở Đảng bị đánh phá dữ dội, thiệt hại nặng
nề. Nhưng vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng chưa khi nào bị đứt quãng, bị các đảng phái chính trị khác
tiếm quyền. Bởi trong những giờ a. Niềm tin của nhân dân đối với Đảng là sức mạnh làm nên mọi chiến
thắng của dân tộc ta. Chính niềm tin là cơ sở quan trọng nhất duy trì sự lãnh đạo liên tục của Đảng đối với cách mạng Việt Nam.
Những thế lực phản động, thù địch luôn lợi dụng những khuyết điểm, sai lầm để khoét sâu, thổi phồng nhằm
quy kết Đảng Cộng sản Việt Nam không đủ sức lãnh đạo cách mạng trong điều kiện mới. Một trong những
luận điệu được các thế lực thù địch tập trung hững quan điểm sai trái, thù địch đó.
Xét cả phương diện lý luận và thực tiễn, Việt Nam chỉ cần một đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền - Đảng
Cộng sản Việt Nam. Điều này được thể hiện trên các cơ sở: (i) Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam là tất yếu, khách quan, xuất phát từ chính yêu cầu thực tiễn lịch sử, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân
Việt Nam; (ii) Đảng Cộng sản Việt Nam
Rõ ràng, chỉ một Đảng cách mạng chân chính, có đường lối cách mạng đúng đắn, thực sự có bản lĩnh, trí
tuệ, phấn đấu vì mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, được nhân dân yêu mến, thừa nhận quyền
lãnh đạo, Đảng đó mới xứng đáng là Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
(Sau 35 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn, có ý
nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo nàn, cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội lạc hậu, trình
độ thấp, đến nay Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hóa, xã
hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; chính trị, xã
hội ổn định, quốc phòng - an ninh, tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”)
(Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả tất yếu trong quá trình vận động cách mạng Việt
Nam. Đánh dấu bước trưởng thành của giai cấp vô sản và chứng tỏ xu hướng cách mạng vô sản là phù hợp
với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời khẳng định giai cấp công nhân và đảng