



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 59691467
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC
KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN ĐỀ TÀI
THỰC TRẠNG NGÀNH DỆT MAY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LỚP:L19, NHÓM:1.3, HK202
GVHD: THS. VŨ QUỐC PHONG
SINH VIÊN THỰC HIỆN: % ĐIỂM ĐIỂM GHI STT MSSV HỌ TÊN BTL BTL CHÚ 1 1914048 Nguyễn Văn Lợi 22 2 1915807 Nông Công Tuyển 16 3 1915651 Lê Cao Minh Trí 18 4 1912581 Nguyễn Bùi Mai Anh 14 5 1915798 Lưu Hải Tuyên 15 6 1916035 Võ Cao Thảo Vy 15
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021 1 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU.
1. Tính cấp thiết của đề tài……………………….……………………………….…..3
2. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………………….…..3 lOMoAR cPSD| 59691467
3. Phạm vi nghiên cứu…………………………………………………………….….3
4. Mục tiêu nghiên cứu…………………………………………………………….…4
5. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………….….4
6. Kết cấu đề tài………………………………………………………………………4
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ HÀNG HÓA…………….………….…..5 1.1. Khái niệm hàng hoá và hai thuộc tính của hàng
hoá………………………..…..5 1.2. Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng
hóa………………………….….…….7
1.3. Lượng giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng
hóa……………………………………………………………………………………9
Chương 2: THỰC TRẠNG NGÀNH DỆT MAY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY……13 2.1 Khái niệm, vai trò, đặc điểm của ngành dệt
may……………………….………13
2.2 Tổng quan nền kinh tế và ngành dệt may Việt Nam hiện nay…………...….….17 2.3. Các thực trạng ngành dệt may ở Việt Nam hiện
nay……………..….……..….23 2.4. Nguyên nhân của các thực trạng
trên……………………………..….…..….…35 2.5. Giải pháp phát triển ngành dệt may ở Việt
Nam……………….……….….….36
KẾT LUẬN………………………………………………….……………………..41
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………….……..42 PHẦN MỞ ĐẦU lOMoAR cPSD| 59691467
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Dệt may là ngành công nghiệp trọng điểm tại Việt Nam, với 2,6 triệu lao động,
ngành đang giải quyết gần 5% tổng số lao động cả nước và đóng góp 12,4% vào tổng
kim ngạch xuất khẩu năm 2019 của Việt Nam. Là mặt hàng xuất khẩu chủ lực thứ ba
với giá trị gần gấp đôi giá trị xuất khẩu hàng nông sản, dệt may có đóng góp quan trọng
cho sự phát triển kinh tế Việt Nam. Ngành dệt may không chỉ tạo việc làm cho một số
lượng lớn lao động, tăng thu lợi nhuận, góp phần nâng cao mức sống, tăng giá trị sản
xuất mà còn là một trong các mặt hàng chủ lực của Việt Nam trong xu thế hội nhập ra
chuỗi cung ứng toàn cầu. Bằng chứng là các hiệp định vừa ký kết với các tổ chức khu
vực như Hiệp định EVFTA (Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU) hay CPTPP
(Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương)... đã mở ra nhiều cơ
hội cho ngành dệt may Việt Nam phát triển.
Tuy nhiên, ngành dệt may cũng tồn đọng nhiều vấn đề cấp thiết cần được giải quyết
như về nguồn cung nguyên liệu, lao động sản xuất, đầu ra cho sản phẩm hàng
hóa…không chỉ vậy, đại dịch COVID-19 xuất hiện đã khiến ngành dệt may gặp rất nhiều
khó khăn. Lần đầu tiên tất cả các mặt hàng xuất khẩu của ngành dệt may đều bị suy
giảm. Tất cả tạo nên một thực trạng u ám cho ngành dệt may Việt Nam trong vài năm
gần đây. Chính vì lẽ đó, nhóm chúng tôi đã quyết định sẽ làm một bài phân tích về các
thực trạng của ngành dệt may ở Việt Nam từ đó đưa ra các giải pháp cấp thiết cho ngành
dệt may trong tình hình hiện nay.
2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng ngành dệt may ở Việt Nam hiện nay.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Về không gian, phạm vi xem xét của đề tài là toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.
Về thời gian, đề tài nghiên cứu ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020.
4. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.
Thứ nhất, phân tích khái niệm và hai thuộc tính của hàng hóa, tính hai mặt của lao
động sản xuất hàng hóa, lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa. lOMoAR cPSD| 59691467
Thứ hai, hệ thống hóa lý luận về hàng hóa và ngành dệt may, giúp hiểu rõ các khái
niệm, thuộc tính và mối liên hệ, từ đó làm cơ sở nghiên cứu về các thực trạng trong
ngành dệt may của Việt Nam.
Thứ ba, nghiên cứu các thực trạng của ngành dệt may Việt Nam hiện nay.
Thứ tư, tìm ra nguyên nhân gây ra các thực trạng trên.
Thứ năm, đề xuất các giải pháp khắc phục thực trạng cho ngành dệt may Việt Nam.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Phương pháp phân tích tổng hợp.
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học.
Phương pháp biện chứng duy vật.
6. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI.
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm các nội dung nghiên cứu gồm:
- Chương 1: Cơ sở lý luận chung về hàng hóa.
- Chương 2: Thực trạng ngành dệt may ở Việt Nam hiện nay.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNG HÓA.
1.1. Khái niệm hàng hoá và hai thuộc tính của hàng hoá.
1.1.1. Khái niệm hàng hóa.
Hàng hoá là sản phẩm của lao động nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người,
đi vào quá trình tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán.
Hàng hóa có thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể. Từ khái niệm này, ta có
thể rút ra kết luận một đồ vật muốn trở thành hàng hoá cần phải thỏa mãn 3 yếu tố: -
Hàng hóa là sản phẩm của lao động lOMoAR cPSD| 59691467 -
Hàng hóa có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.
Hàng hóa có thể được phân thành nhiều loại như: Hàng hóa đặc biệt, hàng hóa thông
thường, hàng hóa thứ cấp,hàng hóa hữu hình,hàng hóa vô hình, hàng hóa công cộng, hàng hóa tư nhân...
1.1.2. Hai thuộc tính của hàng hóa.
Giá trị sử dụng: Giá trị sử dụng là công dụng của hàng hóa có thể thỏa mãn một số
nhu cầu nào đó của con người. (có thể là nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần, nhu cầu cá
nhân, nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất…). Đối với giá trị sử dụng, hàng hóa có các đặc điểm như sau: -
Giá trị sử dụng do thuộc tính tự nhiên của hàng hóa quyết định -
Hàng hóa không nhất thiết chỉ có một giá trị sử dụng duy nhất. Khi
khoa học kỹ thuật càng phát triển người ta càng phát hiện ra nhiều thuộc tính
mới của hàng hóa và sử dụng chúng cho nhiều mục đích khác nhau. -
Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn vì nó tồn tại trong mọi phương
thức hoặc mọi kiểu tổ chức sản xuất. -
Giá trị sử dụng không dành cho bản thân người sản xuất hàng hóa
mà cho người tiêu dùng hàng hóa (xã hội). Người mua có quyền sở hữu và sử
dụng hàng hóa theo mục đích của họ. Hay nói cách khác, sản phẩm hàng hóa
đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Giá trị hàng hóa: Giá trị hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa
kết tinh bên trong hàng hóa. Giá trị là nội dung bên trong của hàng hóa, nó được biểu
hiện ra bên ngoài bằng việc hai hàng hóa có thể trao đổi được với nhau. Giá trị hàng hóa
có những đặc trưng cơ bản như sau: -
Biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa. -
Là phạm trù lịch sử chỉ tồn tại ở kinh tế hàng hoá. lOMoAR cPSD| 59691467
Để dễ dàng trong việc hình dung khái niệm giá trị hàng hóa, chúng ta có thể xem
xét ví dụ sau: Giả sử một con vịt có thể được đổi lấy 15kg gạo. Có nghĩa là vịt và gạo là
vật mang giá trị trao đổi. Trong trường hợp này, có hai câu hỏi đặt ra:
Thứ nhất: Tại sao vịt và gạo là hai loại hàng hóa khác nhau, có giá trị sử dụng khác
nhau lại có thể trao đổi với nhau?
Thứ hai: Tại sao chúng ta lại trao đổi theo tỷ lệ nhất định 1:15
Cụ thể trong ví dụ này, hao phí lao động của người nuôi vịt sẽ bằng với hao phí lao
động của người trồng lúa, thu hoạch và sau cùng là xay thành gạo. Hay nói cách khác
thời gian lao động xã hội cần thiết để nuôi một con vịt sẽ bằng với thời gian lao động
xã hội cần thiết để có được 15kg gạo ⇒ 1 con vịt có giá trị bằng 15kg gạo.
Ở đây xuất hiện khái niệm “ Hao phí lao động” hay “Thời gian lao động xã hội
cần thiết”, đây là một khái niệm trong kinh tế chính trị Marx-Lenin dùng để chỉ về
khoảng thời giờ lao động cần phải tiêu tốn để sản xuất ra một hàng hóa nào đó trong
những điều kiện sản xuất bình thường của xã hội với một trình độ trang thiết bị trung
bình, với một trình độ thành thạo trung bình và một cường độ lao động trung bình trong
xã hội ở thời điểm đó. Thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa
sẽ quyết định đại lượng giá trị của hàng hóa đó.
1.1.3. Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa.
Mặt thống nhất: Hai thuộc tính này tồn tại đồng thời trong một sản phẩm, hàng
hóa. Phải có đủ hai thuộc tính này sản phẩm, vật phẩm đó mới được gọi là hàng hóa.
Nếu thiếu một trong hai thuộc tính, thì sản phẩm, vật phẩm không được coi là hàng hóa.
Mặt mâu thuẫn: Người sản xuất làm ra hàng hóa để bán, mục đích của họ là mặt
giá trị (tức là lợi nhuận) chứ không phải là giá trị sử dụng. Trong tay người bán có giá
trị sử dụng, tuy nhiên cái mà họ quan tâm là giá trị hàng hóa. Ngược lại, đối với người
mua, họ lại rất cần giá trị sử dụng. Nhưng để có giá trị sử dụng, trước hết họ cần thực
hiện giá trị hàng hóa sau đó mới có thể chi phối giá trị sử dụng. Vì vậy mâu thuẫn giữa
hai thuộc tính này chính là quá trình thực hiện giá trị sử dụng và giá trị hàng hóa là hai
quá trình khác nhau về thời gian và không gian. Quá trình thực hiện giá trị được thực lOMoAR cPSD| 59691467
hiện trước (trên thị trường), quá trình thực hiện giá trị sử dụng diễn ra sau (trong tiêu
dùng). Nếu giá trị của hàng hóa không được thực hiện thì sẽ dẫn đến khủng hoảng sản xuất.
Nói tóm lại, giá trị sử dụng và giá trị hàng hóa vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau.
1.2. Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa.
1.2.1 Lao động cụ thể.
Khái niệm: Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những
nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi một lao động cụ thể có mục đích, phương pháp,
công cụ lao động, đối tượng lao động và kết quả lao động riêng. Chính những cái riêng
đó phân biệt các loại lao động cụ thể khác nhau.
Trong xã hội có nhiều loại hàng hóa với những giá trị sử dụng khác nhau là do có
nhiều loại lao động cụ thể khác nhau. Nếu phân công lao động xã hội càng phát triển thì
càng có nhiều giá trị sử dụng khác nhau để đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Đặc điểm: Các loại lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã hội
ngày càng chi tiết; lao động cụ thể khác nhau tạo ra giá trị sử dụng khác nhau; lao động
cụ thể khác nhau về chất; là một phạm trù vĩnh viễn, bởi bất kỳ một giá trị sử dụng nào
nếu không phải do thiên nhiên trực tiếp ban cho thì đều do lao động cụ thể tạo ra.
Ta xét ví dụ sau: Lao động của người thợ may và lao động của người thợ mộc là hai
loại lao động cụ thể khác nhau. Lao động của người thợ may có mục đích là làm ra quần
áo chứ không phải là bàn ghế, còn phương pháp là may chứ không phải là bào, cưa, có
công cụ lao động là kim, chỉ, máy may chứ không phải là cái cưa, cái bào... và lao động
của người thợ may thì tạo ra quần áo để mặc, còn lao động của người thợ mộc thì tạo ra
ghế để ngồi... và tương tự như thế là thợ hồ và thợ máy. Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa.
1.2.2. Lao động trừu tượng lOMoAR cPSD| 59691467
Khái niệm: Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa khi đã
gạt bỏ những hình thức cụ thể của nó, hay nói cách khác, đó chính là sự tiêu hao sức lao
động (tiêu hao sức bắp thịt, thần kinh) của người sản xuất hàng hóa nói chung. Đặc điểm:
- Lao động trừu tượng giống nhau về chất, bởi thuần tuý là hao phí sức lực của con người.
- Chính lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa mới tạo ra giá trị của
hàng hóa. Như vậy, có thể nói, giá trị của hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản
xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Đó cũng chính là mặt chất của giá trị hàng hóa.
- Lao động trừu tượng mang phạm trù lịch sử của sản xuất hàng hóa.
Ta xét lại ví dụ ở trên, ta thấy lao động của người thợ mộc và lao động của người
thợ may nếu xét về mặt lao động cụ thể thì hoàn toàn khác nhau, nhưng nếu gạt bỏ tất
cả những sự khác nhau ấy sang một bên thì chúng chỉ còn có một cái chung, đều phải
hao phí sức óc, sức bắp thịt và sức thần kinh của con người.
1.3. Lượng giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa.
1.3.1. Khái niệm lượng giá trị của hàng hóa.
Lượng giá trị hàng hoá trong kinh tế chính trị Marx-Lenin chỉ về một đại lượng được
đo bằng lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hóa đó, lượng lao động tiêu hao đó
được tính bằng thời gian lao động, cụ thể là thời gian lao động xã hội cần thiết.
Lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất
ra một hàng hóa, mới quyết định đại lượng giá trị của hàng hóa.
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng.
Năng suất lao động.
- Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động. Nó được đo bằng số lượng
sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian lao động hao phí
để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. lOMoAR cPSD| 59691467
- Năng suất lao động tăng lên có nghĩa là cũng trong một thời gian lao động, nhưng
khối lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên làm cho thời gian lao động cần thiết để sản
xuất ra một đơn vị hàng hóa giảm xuống. Do đó, khi năng suất lao động tăng lên thì giá
trị của một đơn vị hàng hóa sẽ giảm xuống và ngược lại.
- Giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động. Năng suất lao động lại
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
+ Trình độ khéo léo (thành thạo) trung bình của người công nhân
+ Mức độ phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ
+ Mức độ ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất
+ Trình độ tổ chức quản lý
+ Quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất
+ Các điều kiện tự nhiên.
Cường độ lao động.
- Cường độ lao động là đại lượng chỉ mức độ hao phí sức lao động trong một đơn
vị thời gian. Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động.
Cường độ lao động tăng lên tức là mức hao phí sức cơ bắp, thần kinh trong một đơn vị
thời gian tăng lên, mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động tăng lên.
- Nếu cường độ lao động tăng lên thì số lượng (hoặc khối lượng) hàng hóa sản xuất
ra tăng lên và sức hao phí lao động cũng tăng lên tương ứng, vì vậy giá trị của một đơn
vị hàng hóa vẫn không đổi. Tăng cường độ lao động thực chất cũng như kéo dài thời
gian lao động cho nên hao phí lao động trong một đơn vị sản phẩm không đổi.
- Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động giống nhau là đều dẫn đến
lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng lên. Nhưng chúng khác nhau
là tăng năng suất lao động làm cho lượng sản phẩm (hàng hóa) sản xuất ra trong một
đơn vị thời gian tăng lên, nhưng làm cho giá trị của một đơn vị hàng hóa giảm
xuống.Tăng năng suất lao động có thể phụ thuộc nhiều vào máy móc, kỹ thuật, do đó, lOMoAR cPSD| 59691467
nó gần như là một yếu tố có "sức sản xuất" vô hạn, còn tăng cường độ lao động, làm
cho lượng sản phẩm sản xuất ra tăng lên trong một đơn vị thời gian, nhưng giá trị của
một đơn vị hàng hóa không đổi. Tăng cường độ lao động phụ thuộc nhiều vào thể chất
và tinh thần của người lao động, do đó, nó là yếu tố của "sức sản xuất" có giới hạn nhất
định. chính vì vậy, tăng năng suất lao động có ý nghĩa tích cực hơn đối với sự phát triển kinh tế.
Mức độ phức tạp của lao động.
- Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến số lượng giá trị của
hàng hóa. Theo mức độ phức tạp của lao động có thể chia lao động thành lao động giản
đơn và lao động phức tạp.
- Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một người bình thường nào có khả năng
lao động cũng có thể thực hiện được. Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được
đào tạo, huấn luyện thành lao động chuyên môn lành nghề mới có thể tiến hành được.
- Khi nghiên cứu tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, có một vấn đề
đặt ra là: phải chăng trong cùng một đơn vị thời gian lao động, thì bất cứ ai làm việc gì,
nghề gì cũng đều tạo ra một lượng giá trị như nhau?
- C.Mác chỉ rõ: trong một giờ lao động, người thợ sửa chữa đồng hồ tạo ra nhiều
giá trị hơn người rửa bát. Bởi vì, lao động của người rửa bát là lao động giản đơn, có
nghĩa là bất kỳ một người bình thường nào, không phải trải qua đào tạo, không cần có
sự phát triển đặc biệt, cũng có thể làm được. Còn lao động của người thợ sửa chữa đồng
hồ là lao động phức tạp đòi hỏi phải có sự đào tạo, phải có thời gian huấn luyện tay
nghề. Vì vậy, trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau, lao động phức tạp tạo
ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn. Lao động phức tạp là lao động giản
đơn được nhân gấp bội lên. Để cho các hàng hóa do lao động giản đơn tạo ra có thể quan
hệ bình đẳng với các hàng hóa do lao động phức tạp tạo ra, trong quá trình trao đổi người
ta quy mọi lao động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình.
- C.Mác viết: "Lao động phức tạp... chỉ là lao động giản đơn được nâng lên lũy
thừa, hay nói cho đúng hơn là lao động giản đơn được nhân lên...”. lOMoAR cPSD| 59691467
Như vậy, lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng thời gian lao động xã hội cần
thiết, giản đơn trung bình.
Cấu thành lượng giá trị hàng hóa.
Để sản xuất ra hàng hóa cần phải chi phí lao động, bao gồm lao động quá khứ tồn
tại trong các yếu tố tư liệu sản xuất như máy móc, công cụ, nguyên vật liệu và lao động
sống hao phí trong quá trình chế biến tư liệu sản xuất thành sản phẩm mới. Trong quá
trình sản xuất, lao động cụ thể của người sản xuất có vai trò bảo tồn và di chuyển giá trị
của tư liệu sản xuất vào sản phẩm, đây là bộ phận giá trị cũ trong sản phẩm (ký hiệu là
c), còn lao động trừu tượng (biểu hiện ở sự hao phí lao động sống trong quá trình sản
xuất ra sản phẩm) có vai trò làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm, đây là bộ phận giá trị
mới trong sản phẩm (ký hiệu là V + m).Vì vậy, cấu thành lượng giá trị hàng hóa bao
gồm hai bộ phận: giá trị cũ tái hiện và giá trị mới.
Nhận xét và kết luận.
Hàng hoá hiện hữu ở khắp mọi nơi trên thế giới. Chúng có thể ở dạng hữu hình hoặc
vô hình. Cùng với khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại hàng hóa đã biến tướng vô
cùng đa dạng. Vì vậy việc nghiên cứu hàng hoá và những thuộc tính của nó là một việc
quan trọng và cần thiết. Việc nghiên cứu này giúp đưa ra những giải pháp nhằm nâng
cao sức cạnh tranh cho hàng hoá. Mục đích chính của bất kể nền kinh tế nào cuối cùng
cũng là sản xuất ra hàng hoá đáp ứng nhu cầu của con người, chính vì thế hàng hoá có
vai trò rất quan trọng, ngày càng được quan tâm phát triển tiên tiến. Quốc gia nào muốn
trở thành cường quốc thì không chỉ chính trị, xã hội vững mạnh mà còn cần một nền
kinh tế phát triển mạnh mẽ. Và để nền kinh tế phát triển mạnh mẽ thì nền kinh tế đó ắt
phải có năng lực cạnh tranh hàng hoá cao đủ để thâu tóm thị trường mang về nguồn lợi
nhuận lớn. Cạnh tranh hàng hoá có mặt tốt và cũng có mặt xấu. Bất kể nhà nước chính
phủ nào hiện nay cũng cố gắng xây dựng nền kinh tế nước mình trở nên hùng mạnh
giảm thiểu những tiêu cực của cạnh tranh hàng hoá mang lại bằng những chính sách
khoa học thiết thực. Việt Nam cũng vậy với nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng thì
việc nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hoá đẩy nền kinh tế lên những bước khởi sắc sẽ
giúp cho nền kinh tế Việt Nam nhanh chóng trở thành nền kinh tế phát triển sang ngang
tầm với Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore,...
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGÀNH DỆT MAY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY. lOMoAR cPSD| 59691467
2.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của ngành dệt may.
2.1.1. Khái niệm ngành dệt may.
2.1.1.1.Định nghĩa.
Ngành dệt may là ngành công nghiệp liên quan đến việc sản xuất sợi, nhuộm, vải,
thiết kế sản phẩm, hoàn tất hàng may mặc và cuối cùng là phân phối hàng may mặc tới tay người tiêu dùng.
2.1.1.2. Lịch sử phát triển của ngành dệt may.
Ngành dệt may là một trong những ngành có lịch sử phát triển rất lâu đời. Nhưng
có thể xem xét qua 3 giai đoạn chính:
- Trước thế kỷ 19: Con đường tơ lụa là nơi giao thương sản phẩm dệt may đầu tiên.
Dệt may là một trong những hoạt động có từ xưa nhất của con người. Sau thời kỳ
nguyên thủy, lấy da thú che thân, từ khi biết canh tác, loài người đã bắt chước thiên
nhiên, đan lát các thứ cỏ cây làm thành nguyên liệu. Theo các nhà khảo cổ thì sợi lanh
(flax) là nguyên liệu dệt may đầu tiên của con người. Sau đó sợi len xuất hiện ở vùng
Lưỡng Hà (Mesopotamia) và sợi bông (cotton) ở ven sông Indus (Ấn Độ). Tơ tằm được
tình cờ phát hiện vào năm 2640 trước Công nguyên. Sau khi vua Phục Hy, vị hoàng đế
đầu tiên của Trung Quốc, khuyến khích dân chúng trồng dâu nuôi tằm, tơ lụa trở thành
một ngành phồn thịnh, một trong những hàng hoá đầu tiên trao đổi giữa Đông và Tây.
Trong nhiều thế kỷ, Trung Quốc là nước duy nhất sản xuất và xuất khẩu lụa và tơ tằm.
Con Đường Tơ Lụa (Silk Route), còn được truyền tụng đến ngày nay, không chỉ là địa
bàn của các nhà buôn mà còn mở đường cho các luồng giao lưu văn hoá, nghệ thuật, tôn
giáo, và cả các cuộc viễn chinh binh biến.
- Thế kỷ 19 – Đầu thế kỷ 20: Tiến bộ khoa học công nghệ là tiền đề cho đại chúng hóa sản phẩm may mặc.
+ Sự ra đời của sợi hóa học trong lĩnh vực dệt sợi.
Sợi tổng hợp đầu tiên Nilon Tại DuPont ở Hoa Kỳ được tạo ra từ nghiên cứu cơ
bản về polymer. Năm 1938, DuPont bắt đầu sản xuất nylon quy mô nhỏ. Thành công lOMoAR cPSD| 59691467
của sợi nylon không chỉ khởi đầu ngành công nghiệp polymer tổng hợp mà còn mang
đến cho mọi người hy vọng lớn về hóa học.
Được phát minh ở Anh bởi Winfield JR Whinfield và Dixon JT Dickson, và ICI đã
được thương mại hóa vào năm 1950 Sợi polyester. Được phát hiện là có đặc tính tuyệt
vời cho quần áo, và ngày nay nó đã trở thành sợi tổng hợp được sản xuất nhiều nhất thế
giới. Terylene được bán dưới nhãn hiệu Terylene ở Anh, Dacron Dacron ở Hoa Kỳ và
Tetoron ở Nhật Bản, nhưng nó đã được sản xuất bởi nhiều công ty và thường được gọi là polyester.
+ Sự ra đời của máy may trong lĩnh vực sản xuất hàng may mặc.
Năm 1846 Elias Howe đã phát minh chiếc máy may đầu tiên, sau đó các thế hệ
máy may được cải tiến bởi Nathan Wheeler và Allen B. Wilson. Chiếc máy may ra đời
đã làm thay đổi cả công nghiệp dệt may khi đó. Cụ thể, sản xuất quần áo đã có thể được
thực hiện theo dây chuyền trong nhà máy với mỗi công đoạn được thực hiện bởi các
công nhân khác nhau mà không cần người thợ lành nghề làm xuyên suốt cả quá trình.
- Thế kỷ 20: Ngành dệt may trở thành ngành công nghiệp sản xuất quy mô lớn.
Công nghiệp dệt may toàn cầu trải qua các lần dịch chuyển công đoạn sản xuất, xu
hướng dịch chuyển dần tới các nước Nam Á và châu Mỹ Latinh. Các quốc gia như Đài
Loan, Hàn Quốc, HongKong dần dần bị cạnh tranh về chi phí lao động giá rẻ từ các
nước Châu Á khác khiến giá sản phẩm xuất khẩu sang Châu Âu, Mỹ trở nên kém cạnh
tranh. Hơn nữa, giá trị tiền nội tệ của các quốc gia này tiếp tục tăng khiến khả năng
cạnh tranh bị ảnh hưởng. Đồng thời, các quốc gia phát triển (Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản)
để bảo hộ ngành dệt may trong nước đã đưa ra hạn ngạch nhập khẩu đối với sản phẩm
may mặc. Đây là tiền đề để các quốc gia này phát triển.
Hình 1: Thị phần nhu cầu của thị trường may mặc trên toàn thế giới từ năm 2005
đến năm 2020, theo khu vực. lOMoAR cPSD| 59691467
Nguồn: STATISTA, Apparel industry in Vietnam - Statistics & Facts.
2.1.2. Đặc điểm ngành dệt may.
Dệt may là ngành cung cấp sản phẩm thiết yếu nên có thị trường tiêu dùng rất lớn.
Chu kỳ sản xuất và sản phẩm thay đổi theo thời tiết và tùy thuộc vào thị hiếu tiêu dùng
hay phong tục tập quán ăn mặc. Là ngành sử dụng nhiều lao động nữ, không đòi hỏi
trình độ cao. Dệt may là ngành công nghiệp nhẹ, công nghệ bán tự động. Là ngành không
đòi hỏi vốn đầu tư lớn, phù hợp với sản xuất quy mô vừa và nhỏ.
Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu gồm 5 công đoạn cơ bản: Nguyên liệu thô đầu vào
(bao gồm sợi tự nhiên và sợi nhân tạo); Nguyên phụ liệu (bao gồm vải từ sợi tự nhiên
và vải từ sợi tổng hợp) được cung cấp bởi các công ty sợi; Mạng lưới sản xuất bao gồm
các công ty sản xuất hàng may mặc; Mạng lưới xuất khẩu bao gồm các trung gian
thương mại, các công ty may với thương hiệu riêng và Mạng lưới tiếp thị Marketing
phân phối bao gồm các nhà bán lẻ, cửa hàng phân phối sản phẩm tới người tiêu dùng.
Hình 2: Chuỗi giá trị ngành dệt may lOMoAR cPSD| 59691467
Nguồn: Gereffi và Memodovic (2003).
2.1.3. Vai trò ngành dệt may.
2.1.3.1. Giảm tình trạng thất nghiệp.
Với đặc điểm sử dụng nhiều lao động, lại không đòi hỏi trình độ cao, dệt may góp
phần giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp - một vấn đề nhức của nền kinh tế, đặc biệt đối với
Việt Nam là một nước nông nghiệp, dân số ở khu vực nông thôn chiếm 65,6% (2019)
với trình độ kiến thức hạn chế.
2.1.3.2. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Dệt may là một ngành, một bộ phận cấu thành nền công nghiệp Việt Nam trong cơ
cấu ngành kinh tế: Nông - lâm - ngư nghiệp, Công nghiệp - xây dựng, dịch vụ. Sự phát
triển của ngành dệt may tác động tích cực đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam.
Công nghiệp dệt may phát triển kéo theo sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác.
Trước tiên là chuyển đổi cơ cấu cây trồng nguyên liệu phục vụ cho dệt may như đay,
bông tằm… do đòi hỏi nông nghiệp phát triển theo. Vùng có ngành dệt may phát triển
sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành sản xuất phụ trợ cho dệt may và vả những ngành
sử dụng sản phẩm của dệt may như giày da, nội thất… từ đó tăng tỉ trọng công nghiệp lOMoAR cPSD| 59691467
trong cơ cấu nền kinh tế. Ngành dệt may cũng góp phần thúc đẩy các ngành khác phát
triển như điện, hóa chất, cơ khí, bưu điện, vận tải…
2.1.3.3. Mở rộng thương mại quốc tế, tăng thu ngoại tệ quốc tế.
Ngành dệt may là một trong những ngành đóng góp đáng kể vào quá trình tăng
trưởng kinh tế và mở rộng các mối quan hệ với khu vực và thế giới. Ngành dệt may đẩy
mạnh xuất khẩu theo hình thức gia công hoặc xuất khẩu trực tiếp (FOB) với nhiều nước
có nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, EU, Mỹ… các nước công nghiệp mới như Đài
Loan, Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc…
Với giá trị xuất khẩu tăng nhanh, xuất khẩu của dệt may chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng kim ngạch xuất khẩu của các ngành kinh tế ước tính đạt 35,27 tỷ USD (2020). Là
ngành cung cấp nhiều sản phẩm xuất khẩu và đang ngày càng mở rộng quan hệ thương
mại quốc tế, ngành đã thu hút một lượng ngoại tệ đáng kể.
2.2. Tổng quan ngành dệt may của Việt Nam hiện nay.
2.2.1. Giới thiệu chung.
Việt Nam là quốc gia có dân số đứng thứ 15 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực
Đông Nam Á. Lãnh thổ Việt Nam trải dài, nằm ở trung tâm Đông Nam Á, phía đông của
bán đảo Đông Dương, phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào và Campuchia. Với
diện tích 329.560 km vuông, phía Đông và phía Nam có bờ biển dài
3.260 km đóng vai trò chiến lược cho kinh tế phát triển.
Dân số Việt Nam ước tính khoảng 97.3 triệu người vào năm 2020 và dự kiến sẽ tăng
xa hơn nữa trong tương lai gần với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 1,14%.
Việt Nam cũng là nước xuất khẩu hàng dệt, may và quần áo lớn thứ tư trên toàn thế
giới sau Trung Quốc, Liên minh Châu Âu và Bangladesh. Năm 2018, ngành may mặc
đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 36 tỷ đô la Mỹ, trở thành ngành hàng xuất khẩu mạnh thứ
ba cả nước. Năm 2018, lĩnh vực sản xuất đóng góp 16% vào GDP của đất nước. Cùng
với hơn 2,7 triệu người làm việc trong ngành dệt may trên sáu nghìn công ty dệt may,
lĩnh vực này là một trụ cột quan trọng trong nền kinh tế của đất nước.
Hình 3: Giá trị dự báo của thị trường hàng may mặc tại Việt Nam từ năm 2018
đến năm 2022( tỷ USD). lOMoAR cPSD| 59691467
Nguồn: Apparel industry in Vietnam - Statistics & Facts.
2.2.2. Lịch sử phát triển ngành dệt may Việt Nam.
Giai đoạn trước năm 1986.
Năm 1954, sau khi hoà bình được lập lại, Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và
có điều kiện phát triển kinh tế chi viện Miền Nam đấu tranh chống đế quốc, thống nhất
đất nước. Thời kỳ này, ngành dệt may Việt Nam đã được Đảng và Chính phủ quan tâm
tạo điều kiện đầu tư phát triển. Năm 1975, sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, ngành
dệt may lại có thêm cơ hội phát triển khi được bổ sung đội ngũ thợ lành nghề của các
làng nghề trải dài từ miền Trung vào miền Nam. Tuy nhiên, trong giai đoạn này vẫn còn
những hạn chế do cơ chế chung của cả nền kinh tế. Các doanh nghiệp chỉ sản xuất theo
chỉ tiêu kế hoạch nhà nước giao, mà không có sự linh động sáng tạo trong sản xuất, cũng
như cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng. Sản phẩm chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu
dùng trong nước và xuất khẩu sang các nước Đông Âu.
Giai đoạn từ 1986 đến 1997.
Trong giai đoạn này, còn có những điểm đáng chú ý khác nữa là chính sách vĩ mô
của Nhà nước và Chính phủ đối với nền kinh tế quốc dân ngành dệt may đã mở rộng thị
trường xuất khẩu. Với chủ trương chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá, không chỉ
quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, các nước Đông Âu, mà còn từng bước thiết lập
quan hệ ngoại giao và thương mại với nhiều nước khác trên thế giới. Từ đó mở ra những
thị trường mới như EU, Nhật Bản, ASEAN… thông qua việc nộp đơn gia nhập WTO lOMoAR cPSD| 59691467
(1994), ASEAN (1995), ASEM (1996)...Đây là nguồn gốc tạo nên sự phát triển vượt bậc
trong ngành dệt may Việt Nam.
Giai đoạn từ năm 1998 đến nay.
Việt Nam mở rộng phát triển ra các thị trường trên thế giới. Tháng 11/1998, Việt
Nam được kết nạp vào APEC, Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ có hiệu
lực vào năm 2001 và gia nhập Hiệp định thành lập WTO (2006) đánh dấu mốc tăng
trưởng vượt bậc của xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng trung bình
đạt 17%/năm trong giai đoạn từ 1998 đến nay.
2.2.3. Tình hình ngành dệt may Việt Nam.
Hình 4: Một số thông tin về ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2015-2016.
Nguồn: FPTS tổng hợp. Chuỗi giá trị ngành dệt may Việt Nam:
- Nguồn cung cấp bông, xơ và sợi: Ngành trồng bông và kéo sợi là khâu ở đoạn
đầu của chuỗi dệt may và giữ vai trò trọng yếu trong việc cung cấp nguyên liệu đầu vào
cho các phân đoạn còn lại gồm dệt - nhuộm và may, nhưng cho đến nay khâu này vẫn
chưa phát triển cân xứng với nhau. Trong nhiều năm qua Việt Nam phải nhập khẩu hầu
hết các sản phẩm bông, xơ để phục vụ nhu cầu nguyên liệu cho ngành sợi. Số liệu cho
thấy, kể từ năm 2005 cho đến nay khối lượng và giá trị nhập khẩu các nguyên liệu đầu
vào cho ngành dệt may nước ta gia tăng liên tục ở tất cả các sản phẩm bông, xơ, và sợ lOMoAR cPSD| 59691467
- Hoạt động dệt, nhuộm và hoàn tất: Trong khi ngành may nước ta đã có những
bước tiến tương đối thì ngành dệt vải, in nhuộm và hoàn tất vẫn chưa phát triển được
như mong muốn. Công đoạn này của Việt Nam “đang chậm hơn các nước trong khu vực
20%, nhất là công đoạn nhuộm với 30% máy móc thiết bị cần khôi phục, hiện đại hóa
do đã sử dụng trên 20 năm. Những hạn chế này khiến năng suất dệt vải của Việt Nam
rất thấp, nếu so với Trung Quốc chỉ bằng 30% (CIEM, 2008). Năm 2012, ngành may có
nhu cầu sử dụng khoảng 7 tỷ mét vải trong khi tổng lượng vải sản xuất trong nước chỉ
đạt khoảng 1 tỷ mét, nước ta phải nhập khẩu 6 tỷ mét vải, tương đương 86% tổng nhu
cầu. Nước ta có khả năng nhuộm và hoàn tất 80.000 tấn vải dệt kim và 700 triệu mét vải
dệt thoi mỗi năm. Tuy nhiên, chỉ khoảng 20-25% lượng vải dệt thoi đủ chất lượng để
sản xuất thành phẩm xuất khẩu, còn vải dệt kim hầu hết không đủ tiêu chuẩn mà chủ
yếu sử dụng cho thị trường nội địa.Còn đối với năng suất chất lượng ngành may, may là
công đoạn mà ngành dệt may Việt Nam đang có lợi thế. Năng suất chất lượng sản phẩm
may của một số đơn vị trong ngành có thể tương đương với một số quốc gia trong khu
vực và trên thế giới xét trên góc độ cùng công nghệ sử dụng. Tuy nhiên, xét về tổng thể
thì năng suất ngành may của Việt Nam mới chỉ đạt mức trung bình khá do sự khác biệt
về mức độ tự động và chuyên dùng của thiết bị, tay nghề của người lao động cũng như
trình độ quản lý của DN.
- Hoạt động may: Ngành may xuất khẩu của Việt Nam đã phát triển nhanh chóng
kể từ cuối những năm 80 và đầu những năm 90, đặc biệt từ sau khi Hiệp định thương
mại song phương với Hoa Kỳ có hiệu lực vào năm 2001 đã thúc đẩy ngành dệt may Việt
Nam mở rộng thị trường xuất khẩu đáng kể. Số liệu kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may
từ năm 2012 đến 2018 cho thấy, trong tất cả các khâu của chuỗi giá trị thị trường may
là ngành có sự phát triển rõ rệt nhất ở Việt Nam.
Hình 5: Kim ngạch xuất khẩu và cơ cấu nhập khẩu nguyên vật liệu của ngành
dệt may Việt Nam giai đoạn 2012-2018. lOMoAR cPSD| 59691467
Nguồn: https://chungkhoan123.vn/tra-lai-vi-the-cho-nganh-det-may/.
Với thị trường xuất khẩu rộng, rõ ràng Việt Nam đang trở thành nhà cung cấp hàng
may mặc cạnh tranh trên thế giới. Nhưng Việt Nam vẫn chỉ cạnh tranh xuất khẩu ở những
mặt hàng tương đối hẹp, những sản phẩm may mặc mà đang xuất khẩu chủ yếu là các
sản phẩm từ bông và sợi tổng hợp cho phân khúc thị trường cấp trung và cấp thấp. Các
doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm may mặc của Việt Nam hiện nay vẫn đều sản xuất
theo phương thức gia công đơn giản, thiếu khả năng cung cấp trọn gói. Nếu so sánh mắt
xích sản xuất ngành dệt may Việt Nam so với thế giới, ta có thể thấy trong khi mắt xích
sản xuất của ngành dệt may Việt Nam đang ở mức may gia công là chủ yếu thì các nhà
sản xuất trên thế giới đang cạnh tranh với nhau bằng cách dịch chuyển lên phương thức
sản xuất FOB cấp III hay ODM nhằm đáp ứng những thay đổi quan trọng trên thị trường dệt may thế giới.
Hình 6: Cơ cấu doanh nghiệp may mặc Việt Nam theo phương thức sản xuất năm 2016.