



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ —— —— 🙠🙡🕮🙣🙢 BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: KINH TẾ VĨ MÔ 2
ĐỀ TÀI: Đại diện các nhà tư vấn và hoạch định Chính sách
Thực trạng nợ công ở một số nước và bài học cho Việt Nam
Giảng viên hướng dẫn: TS. Hoàng Anh Tuấn Nhóm thực hiện: 02 Lớp HP: 2206MAEC0311 Hà Nội, 2022 DANH SÁCH THÀNH VIÊN ST THọ và tên
Mã sinh viên Lớp hành chính Nhiệm vụ Đánh giá 11 Trần Xuân Hiếu 20D260019 K56EK1 Phần II: 2.1.1 Phần III: 3.1 Powerpoint 12 Nguyễn Thị Hoa 20D260080 K56EK2 Mở đầu, Kết luận Phần III: 3.2 13 Nguyễn Thị Hồng 20D260082 K56EK2 Phần II: 2.2 Phần III: 3.2 14 Lê Thu Hương 20D260025 K56EK1 Thuyết trình Phần II: 2.1.3 15 Phạm Thị Huyền 20D260084 K56EK2 Word Phần I 16 Phạm Bá Khải 20D260085 K56EK2 Phần II: 2.1.1 Phần III: 3.3 17 Đinh Quốc Khánh 20D260026 K56EK1 Phần II: 2.1.3 18 Nguyễn Duy Khánh 20D260086 K56EK2 Phần II: 2.2 19 Vũ Nam Khánh 20D260027 K56EK1 Phần II: 2.1.2 20 Ngô Minh Khôi 20D260087 K56EK2 Phần II: 2.1.2 Phần III: 3.1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc BIÊN BẢN HỌP NHÓM (Lần 1)
Thời gian: 22h – 23h ngày 03/04/2022 Địa điểm: Google Meet
Các thành viên tham gia gồm: Tham gia đầy đủ 10/10 thành viên ❖Nội dung họp:
●Các thành viên trong nhóm lên ý tưởng.
●Thống nhất ý tưởng, lên dàn ý và đề cương cho đề tài thảo luận.
●Nhóm trưởng phân công công việc cho các bạn trong nhóm làm
nội dung của mình trong bài thảo luận. ❖Kế hoạch cụ thể:
● Mọi người hoàn thành phần việc được giao và nộp lại cho nhóm
trưởng trước ngày 14/04/2022.
● Nhóm trưởng có trách nhiệm rà soát, đôn đốc các thành viên hoàn thành bài của mình.
● Tổng hợp những ý chưa đạt được và những khúc mắc để giải
quyết trong lần họp thứ 2 của nhóm.
● Dự kiến lần họp vào ngày 17/04/2022 để thống nhất và hoàn thiện bài thảo luận. Hà Nội, ngày 03/04/2022 Nhóm trưởng Phạm Bá Khải
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc BIÊN BẢN HỌP NHÓM (Lần 2)
Thời gian: 22h – 23h ngày 17/04/2022 Địa điểm: Google Meet
Các thành viên tham gia gồm: Tham gia đầy đủ 10/10 thành viên ❖Nội dung họp:
● Các thành viên trong nhóm bổ sung ý cho đề tài thảo luận.
● Duyệt bản PPT và thuyết trình. ❖Kế hoạch cụ thể:
● Mỗi thành viên đều cần nắm rõ tất cả nội dung bài thảo luận.
● Thành viên được giao thuyết trình chuẩn bị kỹ càng, cẩn thận.
● Thành viên được phân công trình chiếu slide cần chuẩn bị thiết bị,
đường mạng, tránh sự cố khi nhóm thuyết trình. Hà Nội, ngày 17/04/2022 Nhóm trưởng Phạm Bá Khải MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 2 I. Cơ sở lý thuyết 2 1.1. Khái niệm nợ công 2
1.2. Các đặc trưng cơ bản của nợ công 2 1.3. Phân loại nợ công 3
1.4. Tác động của nợ công đến kinh tế - xã hội 4 1.5. Nguyên nhân 5
II. Thực trạng nợ công ở việt nam và một số nước 5
2.1. Thực trạng nợ công ở một số nước 5
2.1.1. Thực trạng nợ công ở Hoa Kỳ 5
2.1.2. Thực trạng nợ công ở Nhật Bản 9
2.1.3. Thực trạng nợ công ở Trung Quốc 12
2.2. Thực trạng nợ công ở Việt Nam 16 III. Bài học cho việt nam 21 3.1. Bài học từ Hoa Kỳ 21
3.2. Bài học từ Nhật Bản 22
3.3. Bài học từ Trung Quốc 23 PHẦN KẾT LUẬN 24 TÀI LIỆU THAM KHẢO 25 PH N M Ầ Đ Ở Ầ U
Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 - 2009, nợ công ở các nền kinh tế
phát triển đã tăng lên đáng kể. Nguyên nhân đến từ việc đẩy mạnh các gói kích cầu,
quốc hữu hóa những khoản nợ tư nhân, kế hoạch giảm thuế… trong nỗ lực kéo nền
kinh tế thoát khỏi suy thoái. Tuy nhiên, nợ công không ch{ là câu chuyê |n của nước
Mỹ, đó đã trở thành vấn đề của nhiều nước với những nguy cơ và thách thức to lớn và
có thể gọi là khủng khoảng cũng không sai. Thời gian năm qua, khối nợ luôn là chủ đề
khiến các thị trường toàn cầu lo lắng. Dù kinh tế tăng trưởng và lãi suất thấp kỷ lục
giúp các chính phủ dễ trả nợ hơn, nó cũng khiến khối nợ chính phủ toàn cầu chạm mốc
63 nghìn tỷ USD năm 2017 (theo số liệu sẵn có của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) -
Global Debt Database).Theo ước tính sơ bộ, nợ toàn cầu của các chính phủ, tập đoàn
phi tài chính và hộ gia đình trong năm 2020 đạt 226 nghìn tỷ USD, tăng 27 nghìn tỷ
USD so với năm 2019. Đây là mức tăng lớn nhất từng được ghi nhận và vượt xa mức
nợ tích lũy 20 nghìn tỷ USD trong cả hai năm xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu 2008 - 2009. Trong những năm tới, nợ “dự kiến sẽ tiếp tục cao hơn mức dự kiến
trước đại dịch - ở các nền kinh tế tiên tiến, con số này được dự báo là cao hơn gần 20% cho đến năm 2026”.
Ở Việt Nam, tính đến năm 2021, Chính phủ cho biết, nợ công vẫn ở ngưỡng an
toàn khi tương đương 43,7% GDP, thấp hơn nhiều mức trần dưới 60% GDP Quốc hội
cho phép. Tỷ lệ nợ công/GDP từ 63,7% năm 2016 đã giảm dần về mức 55% năm
2019, ước năm 2020 đạt 56,8%. Ch{ tiêu nợ Chính phủ/GDP cũng giảm tương ứng từ
52,7% xuống 50,8% ước năm 2020. Trong những năm qua, việc trả nợ các khoản vay
của Chính phủ được tổ chức thực hiện chặt chẽ và đảm bảo đúng hạn, bao gồm cả
nghĩa vụ nợ trực tiếp của Chính phủ và nghĩa vụ nợ cho vay lại, không để xảy ra tình
trạng nợ quá hạn làm ảnh hưởng tới cam kết với các nhà đầu tư. Đặc biệt, trong giai
đoạn 2016 - 2020, Chính phủ đã tập trung nâng cao chất lượng các đợt làm việc
thường niên của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm tại Việt Nam khiến chi phí huy động
vốn nước ngoài của cả Chính phủ và doanh nghiệp sẽ giảm đi. Tuy nhiên, bài toán giải
ngân đầu tư công, trong đó vốn vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài vẫn đang làm khó
Chính phủ, giải ngân vốn còn chậm. Trong một buổi họp Chính phủ đánh giá về thực
trạng nợ công của Việt Nam và bàn về các giải pháp nhằm giảm tỷ lệ nợ công thông
qua các biện pháp cắt giảm chi tiêu chính phủ và tăng thuế. Trong bối cảnh bất ổn vĩ
mô trong và ngoài nước vẫn có thể còn tiếp diễn (nền kinh tế trong nước chưa khởi
sắc, xuất khẩu giảm sút, người tiêu dùng và nhà đầu tư vãn thắt chặt chi tiêu và đầu tư
hạn chế), đại diện các nhà Nghiên cứu Chính sách, nhóm 2 sẽ phân tích đánh giá tác
động của các biện pháp này đối với ngành mình phụ trách, thảo luận và đưa ra đề xuất với Chính phủ. 1 PH N N Ầ Ộ I DUNG I. Cơ s ở lý thuy ế t 1.1. Khái niệm nợ công
Khái niệm nợ công là một khái niệm tương đối phức tạp. Tuy nhiên, hầu hết
những cách tiếp cận hiện nay đều cho rằng, nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của
một quốc gia phải chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó. Chính vì vậy, thuật
ngữ nợ công thường được sử dụng cùng nghĩa với các thuật ngữ như nợ Nhà nước hay
nợ Chính phủ. Tuy nhiên, nợ công hoàn toàn khác với nợ quốc gia. Nợ quốc gia là
toàn bộ khoản nợ phải trả của một quốc gia, bao gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nước
và nợ của tư nhân (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân). Như vậy, nợ công ch{ là một bộ
phận của nợ quốc gia mà thôi.
Theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới (World Bank - WB), nợ công được
hiểu là nghĩa vụ nợ của bốn nhóm chủ thể bao gồm: (1) nợ của Chính phủ Trung Ương
và các Bộ, ban, ngành trung ương; (2) nợ của các cấp chính quyền địa phương; (3) nợ
của Ngân hàng trung ương; và (4) nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu
trên 50% vốn, hoặc việc quyết lập ngân sách phải được sự phê duyệt của Chính phủ
hoặc Chính phủ là người chịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ.
Cách định nghĩa này cũng tương tự như quan niệm của Hệ thống quản lý nợ và phân
tích tài chính của Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển (United
Nations Conference on Trade and Development - UNCTAD).
Theo Luật quản lý nợ công số 29/2009/QH12 ngày 17/06/2009 của Việt Nam, nợ
công bao gồm ba nhóm là nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. T rong đó:
Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài,
được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản
vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của
pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín
dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.
Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân t{nh, thành phố trực
thuộc trung ương (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp t{nh) ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành.
Như vậy, khái niệm về nợ công theo quy định của pháp luật Việt Nam được đánh
giá là hẹp hơn so với thông lệ quốc tế. Nhận định này cũng được nhiều chuyên gia uy
tín trong lĩnh vực chính sách công thừa nhận. 2
1.2. Các đặc trưng cơ bản của nợ công
Tuy có nhiều cách tiếp cận rộng hẹp khác nhau về nợ công, nhưng về cơ bản, nợ
công có những đặc trưng sau đây:
Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước. Khác với các
khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một khoản nợ mà Nhà nước (bao
gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trả khoản nợ ấy. Trách
nhiệm trả nợ của Nhà nước được thể hiện dưới hai góc độ trực tiếp và gián tiếp. Trực
tiếp được hiểu là cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ là người vay và do đó, cơ quan
nhà nước ấy sẽ chịu trách nhiệm trả nợ khoản vay (ví dụ: Chính phủ Việt Nam hoặc
chính quyền địa phương). Gián tiếp là trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đứng ra bảo lãnh để một chủ thể trong nước vay nợ, trong trường hợp bên vay
không trả được nợ thì trách nhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ quan đứng ra bảo lãnh (ví dụ:
Chính phủ bảo lãnh để Ngân hàng Phát triển Việt Nam vay vốn nước ngoài).
Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền. Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo
hai mục đích: một là, đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay và cao hơn
nữa là đảm bảo cán cân thanh toán vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia; hai là, để đạt
được những mục tiêu của quá trình sử dụng vốn. Bên cạnh đó, việc quản lý nợ công
một cách chặt chẽ còn có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị và xã hội. Theo quy định
của pháp luật Việt Nam, nguyên tắc quản lý nợ công là Nhà nước quản lý thống nhất,
toàn diện nợ công từ việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay đến việc trả nợ để đảm
bảo hai mục tiêu cơ bản như đã nêu trên.
Mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là phát triển kinh tế -
xã hội vì lợi ích chung. Nợ công được huy động và sử dụng không phải để thỏa mãn
những lợi ích riêng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, mà vì lợi ích chung của đất nước.
Xuất phát từ bản chất của Nhà nước là thiết chế để phục vụ lợi ích chung của xã hội,
Nhà nước là của dân, do dân và vì dân nên đương nhiên các khoản nợ công được quyết
định phải dựa trên lợi ích của nhân dân, mà cụ thể là để phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước và phải coi đó là điều kiện quan trọng nhất. 1.3. Phân loại nợ công
Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhau
trong việc quản lý và sử dụng nợ công.
Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay thì nợ công gồm có hai loại: nợ trong
nước và nợ nước ngoài. Nợ trong nước là nợ công mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức
Việt Nam. Nợ nước ngoài là nợ công mà bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, vùng
lãnh thổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài. Như vậy, theo pháp 3
luật Việt Nam, nợ nước ngoài không được hiểu là nợ mà bên cho vay là nước ngoài,
mà là toàn bộ các khoản nợ công không phải là nợ trong nước.
Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong quản
lý nợ. Việc phân loại này về mặt thông tin sẽ giúp xác định chính xác hơn tình hình
cán cân thanh toán quốc tế. Và ở một số khía cạnh, việc quản lý nợ nước ngoài còn
nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ của Nhà nước Việt Nam, vì các khoản vay nước ngoài
chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc tế khác.
Theo phương thức huy động vốn, thì nợ công có hai loại là nợ công từ thỏa thuận
trực tiếp và nợ công từ công cụ nợ. Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công
xuất phát từ những thỏa thuận vay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với
cá nhân, tổ chức cho vay. Phương thức huy động vốn này xuất phát từ những hợp đồng
vay, hoặc ở tầm quốc gia là các hiệp định, thỏa thuận giữa Nhà nước Việt Nam với bên
nước ngoài. Nợ công từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhà
nước có thẩm quyền phát hành các công cụ nợ để vay vốn. Các công cụ nợ này có thời
hạn ngắn hoặc dài, thường có tính vô danh và khả năng chuyển nhượng trên thị trường tài chính.
Theo tính chất ưu đãi của khoản vay làm phát sinh nợ công thì nợ công có ba loại
là nợ công từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ưu đãi và nợ thương mại thông thường.
Theo trách nhiệm đối với chủ nợ thì nợ công được phân loại thành nợ công phải
trả và nợ công bảo lãnh. Nợ công phải trả là các khoản nợ mà Chính phủ, chính quyền
địa phương có nghĩa vụ trả nợ. Nợ công bảo lãnh là khoản nợ mà Chính phủ có trách
nhiệm bảo lãnh cho người vay nợ, nếu bên vay không trả được nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa vụ trả nợ.
Theo cấp quản lý nợ thì nợ công được phân loại thành nợ công của trung ương và
nợ công của chính quyền địa phương. Nợ công của trung ương là các khoản nợ của
Chính phủ, nợ do Chính phủ bảo lãnh. Nợ công của địa phương là khoản nợ công mà
chính quyền địa phương là bên vay nợ và có nghĩa vụ trực tiếp trả nợ. Theo quy định
của Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 thì những khoản vay nợ của chính quyền địa
phương được coi là nguồn thu ngân sách và được đưa vào cân đối, nên về bản chất nợ
công của địa phương được Chính phủ đảm bảo chi trả thông qua khả năng bổ sung từ ngân sách trung ương.
1.4. Tác động của nợ công đến kinh tế - xã hội Tác động tích cực:
Nợ công làm gia tăng nguồn lực cho nhà nước. Nợ công giúp tăng cường nguồn
vốn phát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước. Nếu có
được chính sách huy động nợ công một cách hợp lý thì nhu cầu về vốn sẽ từng bước 4
được giải quyết để đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó giúp gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế.
Huy động nợ công sẽ góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhà rỗi trong dân
cư. Nhà nước vay nợ từ các khoản tiền nhàn rỗi từ bộ phận dân cư trong xã hội sẽ
mang lại hiệu quả kinh tế cho cả khu vực công lẫn khu vực tư.
Nợ công sẽ tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và tổ chức tài chính quốc tế.
Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế, ngoại giao quan trọng của các
nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũng như muốn hợp tác kinh tế song phương. Tác động tiêu cực:
Nợ công gia tăng sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản tài
trợ ngoài nước. Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo và thiếu cơ chế giám sát
chặt chẽ việc sử dụng và quản lý nợ công sẽ dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí
tràn lan. Tình trạng này làm thất thoát các nguồn lực, giảm hiệu quả đầu tư và điều
quan trọng hơn là giảm thu cho ngân sách. 1.5. Nguyên nhân
Việc gia tăng mạnh chi tiêu từ ngân sách nhà nước, lương và chi phí hoạt động
của bộ máy nhà nước,...đặc biệt cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế toàn cầu vừa qua
đã buộc nhiều nước phải chi rất nhiều để khắc phục.
Chính phủ không minh bạch các số liệu về tình trạng ngân sách của quốc gia,
kiểm soát chi tiêu và quản lí nợ của nhà nước còn yếu kém, không chặt chẽ, gây thất
thoát, lãng phí trong đầu tư và chi tiêu, tệ nạn tham nhũng phát triển.
Các nguồn thu (chủ yếu từ thuế) tăng không kịp với nhu cầu chi (cắt giảm thuế,
trốn thuế, tệ tham nhũng, hối lộ, kiểm soát không chặt chẽ...).
Tâm lí ảo tưởng về sức mạnh, uy tín quốc gia dẫn đến tình trạng vay nợ tràn lan,
đầu tư quá trớn, thiếu tính toán,...
Chính phủ không kịp thời khống chế hành vi cho vay thiếu trách nhiệm của một
số ngân hàng khi nền kinh tế tăng trưởng nóng tạo thành bong bóng. Mặt khác còn lựa
chọn bao cấp các ngân hàng này khi họ bị thua lỗ.
Tiết kiệm trong nước thấp làm cho thâm hụt ngân sách ngày càng tăng. II. Thự c trạ ng n ợ công ở vi ệ t nam và m ộ t s ố n ướ c
2.1. Thực trạng nợ công ở một số nước 2.1.1. Thự c tr ạ ng n ợ công ở Hoa Kỳ Thực trạng: 5
Từ năm 2000 trở lại đây ,nợ công của Mỹ luôn trên 50% và đặc biệt từ sau khủng
hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nợ công của Mỹ tăng rất cao, vượt qua 10.000 tỷ
USD vào năm 2008. Những năm tiếp theo do sự đầu tư những gói cứu trợ lớn và tiến
hành biện pháp giảm thuế để phục hồi kinh tế thì theo số liệu công bố ngày
15/12/2011, nợ công của Mỹ đã lên tới 15.098 tỷ USD, vượt quá mức 100% GDP.
Từ thời điểm cuối năm 2011 thì nợ công của Mỹ vẫn tăng tuy nhiên nhờ có biện
pháp nâng trần nợ từ Quốc hội mà tỷ lệ phần trăm nợ công so với GDP không quá
vượt trội, tính đến năm 2017 thị nợ công của quốc gia này lên tới 20.245 tỷ USD và có tỷ lệ 104% GDP. Sang năm
2018, 2019 nợ công của Mỹ vẫn tăng nhưng không quá
mạnh mẽ, tỷ lệ nợ công trên GDP tăng lên vài phần trăm lần lượt là 105% và 107% . Nhưng sang đến năm
2020 lại là một câu chuyện khác, ảnh hưởng bất ngờ của dịch
covid-19 khiến hoạt động kinh tế không đảm bảo, chính phủ cũng phải chi tiêu nhiều
hơn khiến nợ công tăng đột biến lên 27.748 tỷ USD và chiếm 129% so với GDP quốc gia này.
Hình 1: Mức nợ công của Mỹ đến tháng 2 năm 2022
Mức nợ công của Mỹ cứ tăng lên và đã tăng trên 30 nghìn tỷ đô la vào ngày 31
tháng 1 năm 2022. Nó đã tăng lên theo thời gian do suy thoái, chi tiêu quốc phòng và
các chương trình làm tăng thêm nợ như là như cắt giảm chi tiêu và thuế với mong
muốn phục hồi nền kinh tế và các các biện pháp khác.
Nguyên nhân nợ công ở Mỹ tăng cao: 6
Nguyên nhân chủ yếu làm nợ công của Mỹ tăng lên mức cao kỷ lục như hiện nay
là do hậu quả từ thâm hụt ngân sách liên bang kéo dài triền miên trong nhiều năm.
Nghĩa là Chính phủ Mỹ đã chi tiêu vượt mức thu nhập trong suốt một thời gian dài.
Ngoài chương trình cải tổ hệ thống y tế quốc gia, Mỹ còn phải chịu gánh nặng về
bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm vỡ nợ, hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính bắt
đầu từ năm 2008. Các khoản chi cho các gói kích thích kinh tế và một loạt chương
trình của dự trữ liên bang, kho bạc, Liên hiệp bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC). Tuy
nhiên vẫn không đem lại hiệu quả. Bên cạnh đó, việc chi tiêu cho các cuộc chiến tranh
cũng như tăng chi tiêu quân sự cũng tác động không nhỏ đến nợ công và sự phục hồi kinh tế của Mỹ.
Ngoài ra, một trong những nguyên nhân nữa khiến nợ công của Mỹ ngày càng
phình to là do việc trả lãi cho chính các khoản nợ công đó. Trong năm 2011, Hoa Kỳ
đã chi 227 tỷ USD, tương đương 1,5% GDP cho các khoản lãi ròng do nợ gây ra.
Mỹ luôn duy trì một môi trường kinh doanh tự do và hạn chế các can thiệp của
chính phủ bằng cách không thực hiện việc đánh thuế cao và vì vậy, khoản thu ngân
sách của Mỹ từ thuế thấp hơn nhiều so với các nước phát triển khác.
Mỹ dễ dàng vay nợ từ các nước khác. Bởi hiện nay các nước có thặng dư thương
mại với Mỹ như Nhật Bản, Trung Quốc và một số nước xuất khẩu dầu mỏ đều có dự
trữ ngoại hối khá lớn. Do đó, các nước đã dùng khoản tiền này để mua trái phiếu chính
phủ Mỹ mặc dù việc mua trái phiếu không đem lại lợi nhuận cao và nếu để ở ngân
hàng trung ương các nước thì khoản tiền này còn không sinh lợi, nhưng có hệ số an
toàn hơn các tài sản khác. Một nguyên nhân nữa khuyến khích sự vay mượn là giá trị
của đồng USD giảm xuống so với tất cả các đồng tiền mạnh trên thế giới, kể cả nhân
dân tệ của Trung Quốc. Với việc đồng tiền mất giá, việc đi vay ch{ có lợi cho người
vay, vì một đồng hôm nay mua được nhiều hàng hóa hơn so với lúc phải trả và xu thế
mất giá của đồng USD vẫn còn đang tiếp diễn.
Tác động của nợ công đối với nền kinh tế Mỹ:
●Nợ công làm gia tăng lạm phát:
Lạm phát được tạo ra bởi hai nguyên nhân chính: do tổng cầu tăng hoặc do chi
phí đẩy. Chính phủ tăng vay nợ bằng phát hành trái phiếu, một mặt làm tiêu dùng của
chính phủ tăng lên, mặt khác sẽ tạo áp lực đẩy lãi suất lên cao. Khi tăng vay nợ trong
nước, lãi suất tăng làm tăng chi phí đầu tư, tăng giá thành và giá bán sản phẩm. Bên
cạnh đó lãi suất tăng, người nắm giữ trái phiếu chính phủ cảm thấy mình trở nên giàu
có hơn và có thể tiêu dùng nhiều hơn. Tiêu dùng tư nhân tăng, chi tiêu công của chính
phủ tăng dẫn đến cầu hàng hóa, dịch vụ tăng, tạo áp lực lạm phát trong ngắn hạn, từ đó
tác động tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng thực của nền kinh tế. 7
Khi chính phủ tăng vay nợ nước ngoài, một dòng ngoại tệ lớn sẽ chảy vào trong
nước có thể làm giảm sức ép cân đối ngoại tệ trong ngắn hạn. Về mặt dài hạn, áp lực
trả nợ cả gốc và lãi bằng ngoại tệ sẽ đẩy cầu ngoại tệ tăng lên, đồng USD giảm giá làm
tăng chi phí đầu vào khi nhập khẩu nguyên liệu, máy móc, thiết bị,... dẫn đến nguy cơ
lạm phát. Tỷ giá tăng làm chi phí thanh toán nợ trở nên đắt đỏ hơn, nếu vượt quá sức
chịu đựng của ngân sách sẽ dẫn đến nguy cơ vỡ nợ.
Nợ công làm giảm nguồn cung trên thị trường vốn vay, từ đó làm tăng lãi suất
thực, gây ra hiện tượng thoái lui đầu tư, đầu tư nước ngoài ròng giảm và thâm hụt cán cân thương mại:
Nợ chính phủ làm giảm tiết kiệm quốc gia (bao gồm tiết kiệm của khu vực tư
nhân và tiết kiệm của chính phủ). Điều này sẽ làm giảm nguồn cung trên thị trường
vốn vay. Do nguồn cung vốn giảm nên lãi suất tăng nhằm cân bằng cung và cầu trên
thị trường vốn vay. Với mức lãi suất cao hơn, người vay vốn sẽ chọn biện pháp vay ít
hơn. Cụ thể là các hộ gia đình và doanh nghiệp sẽ hạn chế mua hàng hóa vốn. Do đó,
thâm hụt ngân sách sẽ gây ra hiện tượng thoái lui đầu tư.
Ngoài ra, nguồn cung vốn vay giảm còn làm cho đầu tư ròng của nước ngoài
giảm. Do đầu tư nước ngoài ròng giảm nên sẽ cần ít ngoại tệ để mua hàng hóa từ nước
ngoài, làm nguồn cung USD để đổi lấy ngoại tệ giảm. Điều này khiến cho tỷ giá hối
đoái thực tế tăng, tức là đồng USD trở nên có giá trị hơn so với các ngoại tệ khác. Điều
này khiến giá hàng nhập giảm xuống nên người dân sẽ có xu hướng tiêu dùng hàng
nước ngoài hơn so với hàng trong nước trong khi đó thì hàng xuất khẩu của Mỹ giá lại
tăng lên xuất khẩu giảm. Tóm lại chúng sẽ dẫn tới thâm hụt thương mại.
●Nợ công tăng cao có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Đồng USD mất giá làm cho các ch{ số niềm tin cả trong và ngoài nước suy giảm,
đồng USD không đi vào sản xuất kinh doanh mà đi tìm nơi trú ẩn là vàng, làm giá
vàng tăng vọt. Như vậy, lạm phát, giá cả tăng, thất nghiệp luôn ở mức cao, số việc làm
tạo ra không đáp ứng nhu cầu, đời sống nhân dân giảm sút, uy tín quốc tế của Mỹ suy
giảm, đó là hậu quả mà nền kinh tế Mỹ đang phải gánh chịu
Các biện pháp giải quyết của Mỹ về vấn đề nợ công:
Người Mỹ quan tâm đến nợ quốc gia, và một số công việc đã được chính phủ
thực hiện để giải quyết vấn đề này. Các giải pháp bao gồm tăng doanh thu (do đó tăng
thuế), cắt giảm chi tiêu và tăng GDP của đất nước.
Các lựa chọn chính sách như kế hoạch Simpson-Bowles (bao gồm các biện pháp
như tăng doanh thu, giảm chi tiêu, giới hạn chi tiêu quốc phòng và chi tiêu phi lý, đồng
thời giảm thuế suất) và Lực lượng đặc nhiệm Domenici-Rivlin (bao gồm tăng thu,
giảm chi, đóng băng chi tiêu quốc phòng và tùy ý trong nước, và đưa An sinh xã hội đi
theo con đường bền vững) đã nỗ lực tạo ra các kế hoạch để giảm nợ quốc gia. Các 8
trung tâm và viện như Viện Doanh nghiệp Hoa Kỳ, Trung tâm Chính sách lưỡng đảng,
Trung tâm Tiến bộ Hoa Kỳ và Viện Chính sách Kinh tế đều đề xuất những điều từ
tăng trưởng chậm đến giảm lợi ích cho những cá nhân có thu nhập cao.
Thanh niên trên khắp nước Mỹ đang được giáo dục về chính sách tài khóa và
thực hiện các thay đổi tại các trường cao đẳng và đại học của họ với Up to Us. Ký cam
kết để cho đại diện địa phương biết rằng bạn quan tâm đến tương lai tài chính của quốc
gia hoặc tham gia bằng cách tìm hiểu về cách bạn có thể tạo ra sự khác biệt trong cộng đồng của chính mình.
Giải pháp tình thế mà Mỹ sử dụng đó là nâng trần nợ công để tránh cho Mỹ
khỏi vỡ nợ. Tuy rằng đây không phải phương pháp triệt để vì nó gây bội chi ngân sách
lại tăng nhiều hơn. Sau đó Mỹ tập trung vào phát triển kinh tế để có thể có nguồn thu
từ thuế của hoạt động kinh doanh sản xuất, dịch vụ. Và khi mà tăng trưởng kinh tế
cũng sẽ khiến cho tỷ lệ nợ công/GDP giảm đi.
2.1.2. Thự c trạ ng nợ công ở Nhậ t B ả n Năm 2015:
Theo Bộ Tài chính Nhật Bản, tính tới cuối tháng 12/2015, nợ của Chính phủ
Nhật Bản đứng ở mức 1.044.590 tỷ yên (khoảng 9.100 tỷ USD), giảm 9.930 tỷ yên so
với 3 tháng trước đó. Bộ Tài chính cho biết số nợ này bao gồm 902.200 tỷ yên trái
phiếu chính phủ, 55.050 tỷ yên tiền vay chủ yếu từ các tổ chức tài chính, và 87.340 tỷ
yen hối phiếu và tín phiếu chính phủ thời hạn dưới 1 năm. Như vậy, tính tới ngày
31/12/2015, nợ chính phủ trên đầu người -tức là số nợ của chính phủ mà mỗi người
dân Nhật Bản phải gánh- là 8,24 triệu yên (tính trên dân số Nhật Bản là 126,82 triệu
người vào ngày 1/1/2015). Tổng số nợ này cao hơn gấp đôi Tổng sản phẩm trong nước
(GDP) danh nghĩa của Nhật Bản trong tài khóa 2013 (489.600 tỷ yên). Năm 2016:
Nợ công của Nhật Bản đạt mức cao kỷ lục 1.071,56 nghìn tỷ yên (9,4 nghìn tỷ đô
la Mỹ) vào cuối năm 2016. Theo dữ liệu từ Bộ Tài chính Nhật Bản, nợ chính phủ
trung ương tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2017 bao gồm 934,90 nghìn tỷ Yên trái
phiếu nói chung, 54,42 nghìn tỷ Yên vay từ các tổ chức tài chính và 82,24 nghìn tỷ
Yên tín phiếu tài trợ. Con số này đã tăng 22,19 nghìn tỷ yên so với cuối năm tài chính
2015, trong đó trái phiếu phổ thông dài hạn trên 10 năm tăng 36,03 nghìn tỷ yên lên
610,8 nghìn tỷ yên. Trong khi đó, các khoản nợ được chính phủ bảo lãnh còn tồn đọng
ở mức 40,28 nghìn tỷ yên, giảm 1,50 nghìn tỷ yên so với cuối năm tài chính 2016.
Chính phủ Nhật Bản đang phải đối mặt với tình trạng nợ nần chồng chất, vốn tiếp tục
đứng ở vị trí cao nhất trong thế giới công nghiệp hóa, lên tới hơn gấp đôi quy mô nền kinh tế Nhật Bản. Năm 2017: 9
Trong tổng chi tiêu (97,5 nghìn tỷ yên) trong tài khoản chung năm 2017, ch{
riêng chi phí liên quan đến an sinh xã hội đã chiếm một phần ba và khoản chi thứ ba,
là tổng chi phí trái phiếu chính phủ và trợ cấp thuế phân bổ địa phương, là một phần tư
tổng chi tiêu. Nó tăng lên 3. Nguồn thu từ thuế ch{ chiếm khoảng 60% doanh thu, phần
còn lại do phát hành trái phiếu chính phủ. Dư nợ công của chính phủ dự kiến sẽ đạt
khoảng 865 nghìn tỷ yên vào cuối năm tài chính này khi thâm hụt ngân sách lớn tiếp
tục. Nhìn vào tỷ lệ nợ trên GDP của chính quyền quốc gia và địa phương, tỷ lệ của các
nước phát triển lớn là khoảng 100%, tương xứng với quy mô nền kinh tế quốc dân,
nhưng ch{ có Nhật Bản là hơn 200%, là cực kỳ cao. Năm 2018:
Kinh tế Nhật Bản đối mặt với nhiều khó khăn, tăng trưởng ch{ đạt 0,8%, giảm
mạnh so với mức 1,9% năm 2017. Tăng trưởng không ổn định qua các quý (QI: -0,4%;
QII: 1,9%; QIII: -2,4%; QIV: 1,9%) trong đó quý III ghi nhận mức giảm mạnh nhất
trong hơn 4 năm do đầu tư đi xuống, tiêu dùng và xuất khẩu đều sụt giảm. Năm 2018
là năm đầu tiên kể từ năm 2015, cán cân thương mại của Nhật Bản thâm hụt (-11 tỷ
USD) khi xuất khẩu tăng chậm đáng kể do ảnh hưởng từ căng thẳng thương mại Mỹ-
Trung - hai đối tác thương mại hàng đầu của nước này. Thâm hụt ngân sách ở mức
3,8% GDP. Nợ công tăng từ 235% GDP năm 2017 lên 237% GDP năm 2018. Lạm
phát tăng từ mức 0,5% năm 2017 lên 1,0% năm 2018. Năm 2019:
Năm 2019, nợ công của Nhật Bản là 12.092.868 triệu USD, đã tăng 375.801 triệu
USD kể từ năm 2018. Con số này có nghĩa là nợ năm 2019 đạt 235,45% GDP của
Nhật Bản, tăng 2,94 điểm phần trăm so với năm 2018, khi nó là 232,51% GDP. Nợ
bình quân đầu người của Nhật Bản vào năm 2019 là 95.831 đô la cho mỗi người dân.
Năm 2018, con số này là 92.629 đô la, sau đó tăng 3.202 đô la. Năm 2020:
Nợ công bình quân đầu người của Nhật Bản tính đến ngày 31/3/2021 tăng lên
mức 9,7 triệu yên. Hiện, tỷ lệ nợ công/GDP (tổng sản phẩm thu nhập quốc nội) của
Nhật Bản cao nhất trong số các nền kinh tế phát triển. Cụ thể, nợ công Nhật Bản tăng
thêm 101.920 tỷ yên (tương đương 940 tỷ USD) trong tài khóa 2020 và đây cũng là
mức tăng cao nhất từng được Bộ Tài chính Nhật Bản ghi nhận. Trước đó, mức tăng nợ
công cao nhất của Nhật Bản là 78.400 tỷ yên, được ghi nhận trong tài khóa 2004.
Theo Bộ Tài chính Nhật Bản, trong số hơn 1,2 triệu tỷ yên nợ công của Nhật
Bản, có 1.074.160 tỷ yên nợ dưới dạng trái phiếu, 52.000 tỷ yên vay từ các tổ chức tài
chính và 90.300 tỷ yen hối phiếu tài chính hoặc tín phiếu ngắn hạn với kỳ hạn đến 1 năm.
Nợ công Nhật Bản tính đến tháng 3/2021 đã tăng lên 112.550 tỷ yên so với
32.560 tỷ yên theo kế hoạch ban đầu, GDP của Nhật Bản đã giảm 29,3% trong quý 10
II/2020 so với quý trước đó, mức giảm tồi tệ nhất được ghi nhận trong bối cảnh Chính
phủ nước này ban bố tình trạng khẩn cấp trước diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19. ⮚Nhận xét đánh giá:
Nợ của Nhật Bản bắt đầu “phình to” vào những năm 1990, khi bong bóng bất
động sản và tài chính của nước này vỡ và gây ra những tác động mạnh. Với những gói
kích thích kinh tế và dân số đang già hóa nhanh làm gia tăng các chi phí chăm sóc y tế
và an sinh xã hội, nợ của Nhật Bản đã phá ngưỡng 100% GDP vào cuối những năm
1990. Đến cuối năm 2019, nợ của Nhật Bản ở mức 1,328 triệu tỷ Yên, tương đương
khoảng 12.200 tỷ USD, ch{ hơn một nửa tổng số nợ của Mỹ tính theo số tuyệt đối,
nhưng khi so với quy mô nền kinh tế của Nhật Bản, thì đây lại là khối nợ lớn nhất thế
giới, tương đương gần 240% GDP của nước này (Khánh Ly, 2020). Mức nợ công của
Nhật Bản vượt xa con số 90% GDP mà các nhà kinh tế học cảnh báo về ngưỡng nợ
nguy hiểm. Đáng chú ý là, tăng trưởng GDP của Nhật Bản những năm gần đây khá
thấp, từ 2,168% năm 2017 giảm còn 0,323% năm 2018 và 0,27% năm 2019 (World
Bank, 2021). Năm 2020, Việc nợ công Nhật Bản tăng mạnh khiến cho nền kinh tế lớn
thứ 3 thế giới khó có thể phục hồi sức khỏe khi nền kinh tế đang bị đại dịch COVID- 19 tàn phá.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy Nhật Bản chưa bao giờ phải lo lắng về vấn đề nợ
công của mình. Với khối nợ cao gấp gần 2,5 lần quy mô nền kinh tế, Nhật Bản vẫn có
thể giữ lợi suất trái phiếu chính phủ ở mức siêu thấp và khiến giới đầu tư có niềm tin
vững chắc rằng nước này có thể tránh được kịch bản vỡ nợ. Vậy điều gì khiến cho
Nhật Bản với mức nợ công cao như vậy lại hoàn toàn tự tin về khả năng trả nợ của
mình? Qua nghiên cứu của tác giả, những nhân tố đóng góp vào mức an toàn nợ công
của Nhật Bản có thể kể đến như sau:
Thứ nhất, trái phiếu chính phủ ổn định, ít phụ thuộc vào giới đầu tư trái phiếu
quốc tế. Hầu hết trái phiếu chính phủ của Nhật Bản do người dân Nhật Bản nắm giữ.
Điều đó có nghĩa, dù nợ nhiều, nhưng Nhật Bản không bị áp lực tăng lãi suất của chủ
nợ hay bị áp lực trả lãi cao khi vay nợ nhiều. Nói cách khác, các khoản nợ của Nhật
Bản là “nước Nhật nợ người Nhật”, tức là chủ nợ và con nợ là người dân và Ngân
hàng Trung ương Nhật Bản. Điều đó cũng có nghĩa, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản
tự quyết định lãi suất. Hơn nữa, toàn bộ trái phiếu chính phủ Nhật Bản được định giá
bằng đồng Yen. Nhật Bản không có nợ bằng ngoại tệ.
Thứ hai, Nhật Bản cũng là chủ nợ của nhiều nước. Tính đến cuối năm 2019, giá
trị tài sản nước ngoài ròng mà Chính phủ, doanh nghiệp và nhà đầu tư cá nhân Nhật
Bản nắm giữ lên tới mức kỷ lục 364.530 tỷ Yên (3.400 tỷ USD). Nhật Bản hiện là
nước nắm giữ tài sản nước ngoài ròng lớn nhất thế giới trong năm thứ 29 liên tiếp (Anh Quân, 2020). 11
Trong vị thế là nước cho vay, Nhật Bản đã giúp tăng lòng tin của nhà đầu tư và
giảm các nguy cơ về tiền tệ. Nếu Nhật Bản khó khăn trong việc huy động vốn tài chính
trong nước, thì họ có thể sử dụng tài sản ở nước ngoài làm nguồn tài chính bổ sung.
Thứ ba, hệ số sử dụng vốn đầu tư ICOR của Nhật Bản hiệu quả và nguồn dự trữ
ngoại tệ lớn. Mặc dù tỷ lệ nợ công của Nhật Bản cao hơn GDP trên 200% trong nhiều
năm qua (Hình 2), song hệ số ICOR của nước này ch{ vào khoảng 3%, do vậy khả
năng trả nợ không quá khó. Mặt khác, dự trữ ngoại tệ của Nhật Bản cũng ở mức rất
cao, vì thế nợ công của Nhật Bản tuy cao, nhưng khó có thể trở thành mục tiêu tấn
công của giới đầu cơ quốc tế.
Qua thực tế ở Nhật Bản, có thể thấy, thực chất nợ công an toàn hay rủi ro phụ
thuộc vào các yếu tố đó là: nợ chính phủ là vay nợ trong nước hay vay nợ nước ngoài;
tình trạng “sức khỏe” và hiệu quả đầu tư chung của nền kinh tế; lượng dự trữ quốc gia.
Nền kinh tế tăng trưởng ổn định, mức sống người dân khá cao, lợi suất trái phiếu chính
phủ thấp cho thấy rủi ro vỡ nợ công thấp. Đó là lý do giải thích Nhật Bản nợ nhiều, song vẫn an toàn.
Hình 2: Tỷ lệ nợ công/GDP của Nhật Bản (đơn vị: %)
Nguồn: Trading Economics (2021) 12 2.1.3. Thự c tr ạ ng n ợ công ở Trung Qu ố c
Theo South China Morning Post, nợ Trung Quốc có thể chia thành hai loại: nợ
trong nước và nợ nước ngoài. Nợ trong nước của Trung Quốc được tính bằng đồng
NDT, bao gồm nợ doanh nghiệp, nợ gia đình và nợ công. Trong đó nợ công Trung
Quốc là sự kết hợp giữa nợ chính phủ và nợ địa phương.
Kể từ năm 2008, nợ trong nước của Trung Quốc đã tăng trưởng với tốc độ trung bình
hàng năm là khoảng 20%, nhanh hơn tăng trưởng GDP của nước này. Trong nỗ lực
chống lại tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Chính quyền Bắc Kinh
không thể ngừng nới lỏng tín dụng, tiền tệ để thúc đẩy nền kinh tế, dẫn đến sự gia tăng
vay mượn của chính quyền địa phương và các công ty nhà nước trong thời gian dài, hệ
quả tiếp tục làm nợ công tăng cao giai đoạn từ năm 2015-2020.
Hình 3: Tỷ lệ nợ công của Trung Quốc trên GDP từ năm 2015-2020 (đơn vị: %) Nguồn: Trading Economics
Vào cuối năm 2015, tổng nợ của Trung Quốc đã nhiều hơn gấp hai lần GDP của
nước này. Trong đó nợ công của Trung Quốc 10.659,96 tỷ nhân dân tệ (tương đương
1675,20 tỷ USD) ở cấp chính quyền trung ương và 18.000 tỷ nhân dân tệ (tương
đương 2828,68 tỷ USD) ở các cấp chính quyền địa phương. Một cuộc điều tra năm
2015 của Tạp chí Phố Wall ước tính rằng nợ chính quyền địa phương của Trung Quốc
đã chiếm một con số tương đương với 35,5% GDP của đất nước, phần lớn do là các
ngân hàng quốc doanh đã cho chính quyền địa phương vay để tài trợ cho các giao dịch
đất đai và tài sản rủi ro, đưa tổng nợ công năm 2015 lên mức là 41,5% GDP.
Sang năm 2016, tỷ lệ nợ công của Trung Quốc là 48,2% GDP, tăng 6,7% so với
năm 2015. Kể từ năm 2016, Trung Quốc cũng đã tăng cường nỗ lực giảm nợ để hạn
chế rủi ro tài chính theo chiến dịch xóa nợ do ngân hàng trung ương dẫn đầu. Tuy
nhiên tỷ lệ nợ công vẫn có xu hướng gia tăng liên tục. 13
Theo số liệu thống kê chính thức của IMF, nợ công đã tăng lên mức 51,7%
GDP trong năm 2017. Cuối năm 2017, tổng số nợ của Chính phủ Trung Quốc rơi vào
khoảng 30,1 nghìn tỷ nhân dân tệ (4,73 nghìn tỷ USD), tương đương 36,2% GDP,
giảm 5% so với năm 2016. Nợ chính quyền địa phương trong năm 2017 lại tăng 7,5%
lên 16,5 nghìn tỷ nhân dân tệ (2,6 nghìn tỷ USD).
Tới năm 2018, nền kinh tế tăng trưởng trì trệ do ảnh hưởng từ chiến tranh
thương mại với Mỹ, Trung Quốc quyết định thả lỏng các điều kiện tín dụng và tăng chi
tài khóa cho các dự án cơ sở hạ tầng để hỗ trợ kinh tế phát triển. Theo số liệu thống kê
chính thức của Chính phủ, nếu tính cả nợ của chính quyền trung ương – gần 13.500 tỷ
NDT vào cuối năm 2017, nợ công đã tăng lên 53,8% GDP trong năm . 2018 Tổng nợ
công của Trung Quốc đã vượt quá 70.000 tỷ NDT (hơn 10.000 tỷ USD), chiếm hơn 80% GDP của năm
2017. Như vậy, theo thống kê từ Bloomberg, tính đến hết tháng 11
năm 2018, Trung Quốc đã trở thành nơi sở hữu nhiều nợ công hơn bất kỳ thị trường mới nổi nào khác.
Cuộc chiến thương mại với Mỹ càng làm gia tăng những lo ngại lên vấn đề nợ
công tại Trung Quốc. Cuộc chiến thương mại đã làm chậm lại mức tăng trưởng tại nền
kinh tế lớn thứ 2 thế giới này. Theo các số liệu thống kê, tăng trưởng kinh tế Trung
Quốc năm 2018 đã giảm xuống còn 6,7%. Tăng trưởng kinh tế trong nước chậm lại tạo
áp lực lên khả năng trả nợ của Trung Quốc. Trong khi đó, sự gia tăng của lãi suất tại
Mỹ và kéo theo đó là việc tăng giá của lợi suất trái phiếu kho bạc liên tục càng đặt
lượng nợ trái phiếu của Trung Quốc bằng đồng USD vào tình trạng báo động.
Tuy nhiên, khả năng trả nợ của Trung Quốc tương đối tốt. Minh chứng rõ nhất
cho khả năng này là dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc rất lớn, ở thời điểm kinh tế nước
này sáng sủa nhất, con số này lên tới khoảng 4.000 tỷ USD và trong năm 2018 con số
vẫn hơn 3.000 tỷ USD. Tuy nhiên, để đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững của hệ
thống tài chính thì việc giải quyết vấn đề nợ công cũng là một ưu tiên hàng đầu của chính phủ Trung Quốc.
Sang năm 2019, Viện Tài chính Quốc tế, trụ sở tại Washington D.C (Hoa Kỳ),
công bố số liệu thống kê cho thấy nợ công của Trung Quốc tăng gần 304% so với GDP
trong 3 tháng đầu năm, tức
hơn 40 nghìn t{ USD (tương đương 15% tổng số nợ trên
toàn cầu). Cách đây hơn 2 năm, chính quyền Bắc Kinh triển khai chiến dịch giảm nợ
và các khoản cho vay rủi ro cao, nhưng do nền kinh tế tăng trưởng trì trệ do ảnh hưởng
từ chiến tranh thương mại với Hoa Kỳ, Trung Quốc quyết định thả lỏng các điều kiện
tín dụng và tăng chi tài khóa cho các dự án cơ sở hạ tầng để hỗ trợ kinh tế phát triển.
Kết quả từ các động thái kích thích nền kinh tế là tổng giá trị các khoản cho vay mới
trong 6 tháng đầu năm 2019 lên đến 9.670 tỷ CNY (1.520 tỷ USD), mức cao kỷ lục tại
các ngân hàng Trung Quốc. Năm 2019, Trung Quốc cũng đã phát hành các trái phiếu
của chính quyền địa phương trị giá lên đến 4,36 nghìn tỷ CNY (914 tỷ USD). So với 14
năm 2018, tổng mức nợ công cả năm của Trung Quốc tăng 3,3% lên mức 57,1% GDP
khiến nền kinh tế Trung Quốc đứng trước áp lực suy giảm mới.
Năm 2020, Trung Quốc duy trì chính sách tăng trưởng dựa vào đầu tư vốn xây
dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống các tuyến đường cao tốc kết hợp với
việc phải tăng chi tiêu cho công tác phòng, chống dịch Covid-19 cùng các chương
trình hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp và người dân trong khi nguồn thu bị hạn chế đã
khiến tỷ lệ nợ công tăng vọt lên 66,8% GDP, tổng nợ của chính quyền địa phương
Trung Quốc là 53 nghìn tỷ nhân dân tệ (8,2 nghìn tỷ USD) chiếm tới 25,6% GDP. Đặc
biệt 2 t{nh là Thanh Hải và Quý Châu có tỷ lệ nợ vượt qua mức cảnh báo quốc tế 60%
GDP, lần lượt là 81,7% GDP và 61,6% GDP.
Việc gia tăng nợ ở Trung Quốc đã làm giảm không gian tài khoá của chính quyền
các địa phương, thậm chí trong nhiều trường hợp, số vốn huy động được từ trái phiếu
mới đang được sử dụng ch{ để trả các khoản nợ cũ thay vì chi tiêu cho đầu tư phát
triển. Các số liệu thống kê cho thấy, tiền trả lãi trái phiếu do chính quyền địa phương
phát hành đã tăng 21,3% lên 796,3 tỷ CNY trong năm 2020 và tăng 27,4% lên 169 t{
CNY ch{ riêng trong quý I/2021. Trong số 477,1 tỷ CNY trái phiếu được các chính
quyền địa phương phát hành trong tháng 3/2021, có tới 440,7 tỷ CNY được sử dụng để
trả các khoản vay cũ. Điều này được xem là các rủi ro tài chính hàng đầu mà Trung
Quốc phải đối mặt và đặt ra yêu cầu cho nước này cần có những giải pháp để kiểm
soát tình trạng bong bóng nợ trên.
Động thái khắc phục hệ quả:
Lo ngại trước núi nợ ngày càng tăng, Ủy ban điều tiết ngân hàng Trung Quốc
(CBRC) đã đề xuất một số giải pháp cơ bản mà Trung Quốc đã và đang triển khai
nhằm giải quyết vấn đề gia tăng nợ công, đó là:
Thứ nhất, cứu trợ cho chính quyền địa phương Trung Quốc
Trung Quốc xem xét khoản cứu trợ lên tới 2.000 - 3.000 tỷ NDT giúp cho các
chính quyền địa phương mắc nợ nhằm tránh việc vỡ nợ hàng loạt có thể khiến nền
kinh tế suy sụp. Bên cạnh đó, Trung Quốc tăng cường trợ giúp châu Âu giảm nợ công
bởi lẽ châu Âu là thị trường xuất khẩu số một của Trung Quốc, cuộc khủng hoảng nợ
công châu Âu làm cho lượng hàng xuất khẩu của Trung Quốc vào thị trường châu Âu
giảm. Việc giảm xuất khẩu sẽ ảnh hưởng đến tăng kinh tế của Trung Quốc, trong khi
kinh tế Trung Quốc phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, xuất khẩu giảm, thất nghiệp sẽ
tăng, bất ổn xã hội sẽ cao. Vì vậy, giúp châu Âu giảm nợ công (thông qua đầu tư mua
trái phiếu chính phủ của các nước châu Âu) sẽ tạo ra tiền để trả được những khoản nợ của Trung Quốc.
Thứ hai, phát hành trái phiếu chính phủ.
Chương trình phát hành trái phiếu của Chính phủ Trung Quốc vừa giúp ngăn
chặn được làn sóng vay ngân hàng trong nước, vừa giúp chính quyền các địa phương 15